<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I &#8211; Thiền Vipassana Do Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Phương Thuốc Chữa Bệnh Phiền Não Của Chúng Sinh</title>
	<atom:link href="https://thienvipassana.net/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/phan-tich-dao/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://thienvipassana.net</link>
	<description>Tổng Hợp Chia Sẻ Các Bài Pháp Về Thiền Vipassana (Thiền Tứ Niệm Xứ) Theo Phương Pháp Ngài Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Các Tài Liệu Dhamma, Trợ Duyên Ai Đó Hữu Duyên Được Vững Vàng Trên Con Đường Tu Tập Giải Thoát Khổ, Được An Lạc Thực Sự, Hoà Hợp Thực Sự, Hạnh Phúc Thực Sự. #vipassana #dhamma #goenka #thienvipassana #buddha #phatphap #phatgiao #thiền</description>
	<lastBuildDate>Fri, 12 Mar 2021 15:50:15 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9.4</generator>

<image>
	<url>https://thienvipassana.net/wp-content/uploads/2020/05/cropped-LOGO-PHÁP-BẢO-ORIGINAL-7-32x32.png</url>
	<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I &#8211; Thiền Vipassana Do Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Phương Thuốc Chữa Bệnh Phiền Não Của Chúng Sinh</title>
	<link>https://thienvipassana.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I &#8211; MỤC LỤC</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-dao-i-muc-luc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 17 May 2020 00:55:09 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=9053</guid>

					<description><![CDATA[MỤC LỤC *****     A. MAHĀVAGGO &#8211; PHẨM CHÍNH YẾU:   Mātikā &#8211; Tiêu Đề Ñāṇakathā &#8211; Giảng về Trí:]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">MỤC LỤC</span></strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 12pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>   </b></span></p>
<p><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">A. MAHĀVAGGO &#8211; PHẨM CHÍNH YẾU:</span></strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Mātikā &#8211; Tiêu Đề</strong></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Ñāṇakathā &#8211; Giảng về Trí:</b></span></p>
<ol>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sutamayañāṇa &#8211; Trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe    </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sīlamayañāṇa &#8211; Trí về yếu tố tạo thành giới</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Samādhibhāvanāmayañāṇa &#8211; Trí về yếu tố tạo thành việc tu tập định  </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dhammaṭṭhitiñāṇa &#8211; Trí về sự hiện diện của các pháp    </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sammasanañāṇa &#8211; Trí về sự thấu hiểu </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Udayabbayānupassanañāṇa &#8211; Trí quán xét sự sanh diệt    </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vipassanañāṇa &#8211; Trí về minh sát     </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ādīnavañāṇa &#8211; Trí về điều tai hại</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Saṅkhārupekkhāñāṇa &#8211; Trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Gotrabhūñāṇa &#8211; Trí chuyển tộc</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Maggañāṇa &#8211; Trí về Đạo     </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phalañāṇa &#8211; Trí về Quả</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vimuttiñāṇa &#8211; Trí về giải thoát </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Paccavekkhanañāṇa &#8211; Trí về việc quán xét lại    </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vatthunānattañāṇa &#8211; Trí về tính chất khác biệt của các vật nương</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Gocaranānattañāṇa &#8211; Trí về tính chất khác biệt của các hành xứ   </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cariyānānattañāṇa &#8211; Trí về tính chất khác biệt của các hành vi    </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bhūminānattañāṇa &#8211; Trí về tính chất khác biệt của các lãnh vực</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dhammanānattañāṇa &#8211; Trí về tính chất khác biệt của các pháp  </span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">20 &#8211; 24. Ñāṇapañcaka &#8211; Năm loại trí<br />
</span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">25 &#8211; 28. Paṭisambhidāñāṇa &#8211; Trí về sự phân tích<br />
</span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">29 -31. Ñāṇattaya &#8211; Ba loại trí</span></p>
<ol start="32">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ānantarikasamādhiñāṇa &#8211; Trí về định không gián đoạn  </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Araṇavihārañāṇa &#8211; Trí về sự an trú không uế nhiễm   </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nirodhasamāpattiñāṇa &#8211; Trí về sự chứng đạt thiền diệt </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Parinibbānañāṇa &#8211; Trí về sự viên tịch Niết Bàn</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Samasīsaṭṭhañāṇa &#8211; Trí về ý nghĩa của các pháp đứng đầu được tịnh lặng    </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sallekhaṭṭhañāṇa &#8211; Trí về ý nghĩa của việc dứt trừ </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Viriyārambhañāṇa &#8211; Trí về việc khởi sự tinh tấn    </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Atthasandassanañāṇa &#8211; Trí về sự trực nhận ý nghĩa</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dassanavisuddhiñāṇa &#8211; Trí về sự thanh tịnh trong việc nhận thức </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Khantiñāṇa &#8211; Trí về việc chấp nhận  </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Pariyogāhanañāṇa &#8211; Trí về sự thâm nhập</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Padesavihārañāṇa &#8211; Trí về sự an trú vào các lãnh vực</span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">44 &#8211; 49. Vivaṭṭañāṇachakka &#8211; Trí về sự ly khai (nhóm 6) </span></p>
<ol start="50">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Iddhividhañāṇa &#8211; Trí về thể loại của thần thông</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Sotadhātuvisuddhiñāṇa &#8211; Trí thanh tịnh của nhĩ giới </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cetopariyañāṇa &#8211; Trí biết được tâm   </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Pubbenivāsānussatiñāṇa &#8211; Trí nhớ về các kiếp sống trước      </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dibbacakkhuñāṇa &#8211; Trí về thiên nhãn  </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Āsavakkhayañāṇa &#8211; Trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc   </span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">56 &#8211; 63.  Saccañāṇacatukkadvaya &#8211; Trí về Chân Lý (Hai nhóm bốn)<br />
</span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">64 &#8211; 67.  Suddhikapaṭisambhidāñāṇa &#8211; Trí về sự phân tích có tính chất thuần túy</span></p>
<ol start="68">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Indriyaparopariyattañāṇa &#8211; Trí biết được khả năng của người khác về các quyền    </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Āsayānusayañāṇa &#8211; Trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm  </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Yamakapāṭihīrañāṇa &#8211; Trí song thông</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Mahākaruṇāsamāpattiñāṇa &#8211; Trí về sự thể nhập đại bi</span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">72 &#8211; 73.  Sabbaññuta-anāvaraṇañāṇa &#8211; Trí Toàn Giác không bị ngăn che </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Diṭṭhikathā &#8211; Giảng về Kiến</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Diṭṭhipucchā &#8211; Các câu hỏi về Kiến     </span></p>
<ol>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Assādadiṭṭhi &#8211; Khoái lạc kiến</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Attānudiṭṭhi &#8211; Tùy ngã kiến   </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Micchādiṭṭhi &#8211; Tà kiến   </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sakkāyadiṭṭhi &#8211; Thân kiến     </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sakkāyavatthukāsassatadiṭṭhi &#8211; Thường kiến lấy thân làm nền tảng,  </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sakkāyavatthukā-ucchedadiṭṭhi &#8211; Đoạn kiến lấy thân làm nền tảng</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Antaggāhikādiṭṭhi &#8211; Hữu biên kiến    </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Pubbantānudiṭṭhi &#8211; Quá khứ hữu biên kiến</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Aparantānudiṭṭhi &#8211; Vị lai hữu biên kiến   </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Saṃyojanikādiṭṭhi &#8211; Kiến có sự ràng buộc      </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Ahantimānavinibandhādiṭṭhi &#8211; Kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi,’     </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mamantimānavinibandhādiṭṭhi &#8211; Kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi,’    </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Attavādapaṭisaṃyuttādiṭṭhi &#8211; Kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lokavādapaṭisaṃyuttādiṭṭhi &#8211; Kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới    </span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">15 &#8211; 16. Bhavadiṭṭhi Vibhavadiṭṭhi &#8211; Hữu kiến Phi hữu kiến </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>III. Ānāpānasatikathā &#8211; Giảng về Niệm Hơi Thở Vào Hơi Thở Ra</b></span></p>
<ol>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Gaṇanuddesa &#8211; Liệt Kê Số Lượng      </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Paripantha-upakārasoḷasañāṇa &#8211; 16 Trí Ngăn Trở và Hỗ Trợ    </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Upakkilesañāṇa &#8211; Trí về tùy phiền não</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vodānañāṇa &#8211; Trí trong việc Thanh Lọc    </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Satokāriñāṇa &#8211; Trí về việc Thực Hành Niệm</span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">6 &#8211; 11. Ñāṇarāsichakkaṃ &#8211; Nhóm Sáu về Trí </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Indriyakathā &#8211; Giảng về Quyền</b></span></p>
<ol>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Paṭhamasutta &#8211; Bài Kinh thứ nhất     </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dutiyasutta &#8211; Bài Kinh thứ nhì     </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tatiyasutta &#8211; Bài Kinh thứ ba </span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Catutthasutta &#8211; Bài Kinh thứ tư    </span></li>
</ol>
<p><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Indriyasamodhānaya &#8211; Tổng Hợp về Quyền    </span></strong></p>
<ol>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Vimokkhakathā &#8211; Giảng về Giải Thoát</b></span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Gatikathā &#8211; Giảng về Cõi Tái Sanh</b></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>VII. Kammakathā &#8211; Giảng về Nghiệp</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>VIII. Vipallāsakathā &#8211; Giảng về sự Lầm Lạc</b></span></p>
<ol>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Maggakathā &#8211; Giảng về Đạo</b></span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Maṇḍapeyyakathā &#8211; Giảng về Tịnh Thủy Nên Uống</b></span></li>
</ol>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/tieu-bo/phan-tich-dao/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Tỳ-khưu Indacanda</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/tang-kinh-tieu-bo-phan-tich-dao-tap-1/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Tỳ-khưu Indacanda</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I – PAṬISAMBHIDĀMAGGO</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-dao-i-pa%e1%b9%adisambhidamaggo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 17 May 2020 01:00:43 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=9058</guid>

					<description><![CDATA[TẠNG KINH &#8211; TIỂU BỘ PHÂN TÍCH ĐẠO   Tập Một Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">TẠNG KINH &#8211; TIỂU BỘ</span></strong></p>
<h1 style="text-align: center;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>PHÂN TÍCH ĐẠO</strong>  </span></h1>
<h1 style="text-align: center;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tập Một</span></h1>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri! </span></p>
<h2 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhóm mười lăm thứ nhất</span></h2>
<h2><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">A. PHẨM CHÍNH YẾU:</span></h2>
<h2><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tiêu Đề:</span></h2>
<ol>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">  Tuệ (<i>paññā</i>) về sự ghi nhận ở tai là trí (<i>ñāṇaṃ</i>) về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">  Sau khi đã nghe, tuệ về sự thu thúc là trí về yếu tố tạo thành giới.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">  Sau khi đã thu thúc, tuệ về sự tập trung là trí về yếu tố tạo thành việc tu tập định.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">  Tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">  Sau khi đã tổng hợp các pháp trong quá khứ hiện tại và vị lai, tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">  Tuệ về việc quán xét sự chuyển biến của các pháp đang hiện hữu là trí về việc quán xét sự sanh diệt.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">  Sau khi đã phân biệt rõ đối tượng, tuệ về việc quán xét sự tan rã là trí về minh sát.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">  Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi là trí về điều tai hại.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">  Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thoát ra và ly khai ngoại phần là trí chuyển tộc.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự tịnh lặng của việc thực hành là trí về Quả.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc quán xét phiền não đã được cắt lìa là trí về giải thoát.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc nhìn thấy các pháp đã được khởi lên vào khi ấy là trí về việc quán xét lại.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc xác định nội phần là trí về tính chất khác biệt của các vật nương.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc xác định ngoại phần là trí về tính chất khác biệt của các hành xứ.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc xác định hành vi là trí về tính chất khác biệt của các hành vi.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc xác định bốn pháp là trí về tính chất khác biệt của các lãnh vực.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc xác định chín pháp là trí về tính chất khác biệt của các pháp.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự biết rõ là trí về ý nghĩa của điều đã được biết.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự biết toàn diện là trí về ý nghĩa của quyết đoán.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự dứt bỏ là trí về ý nghĩa của buông bỏ.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự tu tập là trí về ý nghĩa của nhất vị.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự tác chứng là trí về ý nghĩa của sự chạm đến.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về tính chất khác biệt của các ý nghĩa là trí về sự phân tích các ý nghĩa.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về tính chất khác biệt của các pháp là trí về sự phân tích các pháp.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về tính chất khác biệt của các ngôn từ là trí về sự phân tích các ngôn từ.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về tính chất khác biệt của các phép biện giải là trí về sự phân tích các phép biện giải.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về tính chất khác biệt của các sự an trú là trí về ý nghĩa của các sự an trú.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về tính chất khác biệt của các sự chứng đạt là trí về ý nghĩa của các sự chứng đạt.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về tính chất khác biệt của các sự an trú và chứng đạt là trí về ý nghĩa của các sự an trú và chứng đạt.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự đoạn trừ các lậu hoặc do tính chất hoàn toàn trong sạch của sự không tản mạn là trí về định không gián đoạn.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là pháp chủ đạo ở việc nhận thức và có sự an trú đắc chứng thanh tịnh, tuệ có khuynh hướng cao quý là trí về sự an trú không uế nhiễm.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ có tính chất hội đủ với hai lực và có ưu thế với sự tịnh lặng của ba hành, với mười sáu hành vi của trí, và với chín hành vi của định là trí về sự chứng đạt thiền diệt.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự chấm dứt việc vận hành ở vị có sự nhận biết rõ rệt là trí về sự viên tịch Niết Bàn.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ có tính chất không thiết lập ở sự đoạn trừ hoàn toàn và ở sự diệt tận đối với tất cả các pháp là trí về ý nghĩa của các pháp đứng đầu được tịnh lặng.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự chấm dứt các quyền lực riêng biệt có bản chất khác nhau hoặc giống nhau là trí về ý nghĩa của việc dứt trừ.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về ý nghĩa của việc ra sức có trạng thái không thối giảm và có tính năng động là trí về việc khởi sự tinh tấn.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ làm sáng tỏ các pháp khác biệt là trí về sự trực nhận ý nghĩa.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thấu triệt tính tổng hợp chung và về bản chất khác nhau hoặc giống nhau của tất cả các pháp là trí về sự thanh tịnh trong việc nhận thức.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ với trạng thái đã được biết là trí về việc chấp nhận.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ với trạng thái đã được chạm đến là trí về sự thâm nhập.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự phối hợp lại là trí về sự an trú vào các lãnh vực.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ với trạng thái chủ đạo là trí về sự ly khai do tưởng.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về bản chất khác nhau là trí về sự ly khai do suy nghĩ.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự khẳng định là trí về sự ly khai do tâm.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về không tánh là trí về sự ly khai do trí.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự xả ly là trí về sự ly khai do giải thoát.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về ý nghĩa của thực thể là trí về sự ly khai do sự thật.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với sự xác định cả thân lẫn tâm là một, tuệ về ý nghĩa của sự thành tựu do năng lực của sự chú nguyện lạc tưởng và khinh tưởng là trí về thể loại của thần thông.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thâm nhập các hiện tướng âm thanh có bản chất khác nhau hoặc giống nhau bằng cách triển khai tầm là trí thanh tịnh của nhĩ giới.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với tính chất triển khai của ba loại tâm, tuệ về sự thâm nhập các hành vi của thức có bản chất khác nhau hoặc giống nhau bằng năng lực tự tin của các quyền là trí biết được tâm.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thâm nhập bằng năng lực triển khai các nghiệp có bản chất khác nhau hoặc giống nhau đối với các pháp có sự vận hành do duyên là trí nhớ về các kiếp sống trước.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về ý nghĩa của việc nhìn thấy các hiện tướng của sắc có bản chất khác nhau hoặc giống nhau nhờ vào năng lực của ánh sáng là trí về thiên nhãn.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về chủ thể đối với ba quyền theo sáu mươi bốn biểu hiện là trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về ý nghĩa biết toàn diện là trí về Khổ.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về ý nghĩa dứt bỏ là trí về nhân sanh (Khổ).</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về ý nghĩa tác chứng là trí về sự diệt tận (Khổ).</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về ý nghĩa tu tập là trí về Đạo.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về Khổ.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về nhân sanh Khổ.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về sự diệt tận Khổ.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về sự phân tích ý nghĩa.[1]</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về sự phân tích pháp.[2]</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về sự phân tích ngôn từ.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về sự phân tích phép biện giải.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí biết được khả năng của người khác về các quyền.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm của chúng sanh.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về song thông.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về sự thể nhập đại bi.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí Toàn Giác.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí không bị ngăn che.</span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là bảy mươi ba loại trí. Trong số bảy mươi ba loại trí này, sáu mươi bảy loại trí là phổ thông đến các vị Thinh Văn, sáu loại trí (68-73) là không phổ thông đến các vị Thinh Văn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần tiêu đề.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/tieu-bo/phan-tich-dao/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Tỳ-khưu Indacanda</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/tang-kinh-tieu-bo-phan-tich-dao-tap-1/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Tỳ-khưu Indacanda</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I – PAṬISAMBHIDĀMAGGO II</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-dao-i-pa%e1%b9%adisambhidamaggo-ii/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 17 May 2020 01:02:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=9060</guid>

					<description><![CDATA[2. Trí về yếu tố tạo thành giới: Sau khi đã nghe, tuệ về sự thu thúc là trí về]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">2. Trí về yếu tố tạo thành giới:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi đã nghe, tuệ về sự thu thúc là trí về yếu tố tạo thành giới là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có năm loại giới: giới có sự thanh tịnh giới hạn, giới có sự thanh tịnh không giới hạn, giới có sự thanh tịnh toàn vẹn, giới có sự thanh tịnh chưa được tuyệt đối, giới có sự thanh tịnh tĩnh lặng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, giới có sự thanh tịnh giới hạn là thế nào? Là đối với các điều học đã được giới hạn của những người chưa tu lên bậc trên; đây là giới có sự thanh tịnh giới hạn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới có sự thanh tịnh không giới hạn là thế nào? Là đối với các điều học không được giới hạn của những người đã tu lên bậc trên; đây là giới có sự thanh tịnh không giới hạn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới có sự thanh tịnh toàn vẹn là thế nào? Là của các phàm nhân hoàn thiện, gắn bó với các thiện pháp, có sự thực hành đầy đủ các phần đã được giới hạn dành cho bậc hữu học, không xem trọng thân thể và sanh mạng, có mạng sống đã được buông bỏ; đây là giới có sự thanh tịnh toàn vẹn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới có sự thanh tịnh chưa tuyệt đối là thế nào? Là của bảy hạng hữu học; đây là giới có sự thanh tịnh chưa tuyệt đối.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới có sự thanh tịnh tĩnh lặng là thế nào? Là của các vị Thinh Văn của đức Như Lai có các lậu hoặc đã được đoạn tận, của các vị Phật Độc Giác, của các đức Như Lai A-la-hán Chánh Đẳng Giác; đây là giới có sự thanh tịnh tĩnh lặng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có loại giới bị hạn chế, có loại giới không bị hạn chế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, loại giới bị hạn chế ấy là thế nào? Có loại giới bị hạn chế vì lợi, có loại giới bị hạn chế vì danh, có loại giới bị hạn chế vì thân quyến, có loại giới bị hạn chế vì chi phần (thân thể), có loại giới bị hạn chế vì mạng sống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới bị hạn chế vì lợi ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân lợi, do duyên lợi, do động cơ lợi vi phạm điều học đã được thọ trì; đây chính là giới bị hạn chế vì lợi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới bị hạn chế vì danh ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân danh vọng, do duyên danh vọng, do động cơ danh vọng vi phạm điều học đã được thọ trì; đây chính là giới bị hạn chế vì danh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới bị hạn chế vì thân quyến ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân thân quyến, do duyên thân quyến, do động cơ thân quyến vi phạm điều học đã được thọ trì; đây chính là giới bị hạn chế vì thân quyến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới bị hạn chế vì chi phần (thân thể) ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân chi phần (thân thể), do duyên chi phần (thân thể), do động cơ chi phần (thân thể) vi phạm điều học đã được thọ trì; đây chính là giới bị hạn chế vì chi phần (thân thể).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới bị hạn chế vì mạng sống ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân mạng sống, do duyên mạng sống, do động cơ mạng sống vi phạm điều học đã được thọ trì; đây chính là giới bị hạn chế vì mạng sống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các giới có hình thức như vậy là bị sứt mẻ, bị đổ vỡ, có các vết lấm, có các đốm nhơ, không làm cho giải thoát, không được bậc trí ngợi khen, bị tiêm nhiễm, không đưa đến định, không là các nền tảng cho sự không ăn năn, không là các nền tảng cho sự hân hoan, không là các nền tảng cho hỷ, không là các nền tảng cho tịnh, không là các nền tảng cho lạc, không là các nền tảng cho định, không là các nền tảng cho sự biết và thấy đúng theo thực thể, không đưa đến sự nhàm chán toàn diện, sự ly tham ái, sự diệt tận, sự an tịnh, thắng trí, sự giác ngộ hoàn toàn, Niết Bàn; đây là giới bị hạn chế ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới không bị hạn chế ấy là thế nào? Có giới không bị hạn chế vì lợi, có giới không bị hạn chế vì danh, có giới không bị hạn chế vì thân quyến, có giới không bị hạn chế vì chi phần (thân thể), có giới không bị hạn chế vì mạng sống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới không bị hạn chế vì lợi ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân lợi, do duyên lợi, do động cơ lợi vẫn không khởi tâm vi phạm điều học đã được thọ trì, vậy vị ấy sẽ vi phạm điều gì? Đây chính là giới không bị hạn chế vì lợi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới không bị hạn chế vì danh ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân danh vọng, do duyên danh vọng, do động cơ danh vọng vẫn không khởi tâm vi phạm điều học đã được thọ trì, vậy vị ấy sẽ vi phạm điều gì? Đây chính là giới không bị hạn chế vì danh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới không bị hạn chế vì thân quyến ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân thân quyến, do duyên thân quyến, do động cơ thân quyến vẫn không khởi tâm vi phạm điều học đã thọ trì, vậy vị ấy sẽ vi phạm điều gì? Đây chính là giới không bị hạn chế vì thân quyến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới không bị hạn chế vì chi phần (thân thể) ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân chi phần (thân thể), do duyên chi phần (thân thể), do động cơ chi phần (thân thể) vẫn không khởi tâm vi phạm điều học đã được thọ trì, vậy vị ấy sẽ vi phạm điều gì? Đây chính là giới không bị hạn chế vì chi phần (thân thể).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới không bị hạn chế vì mạng sống ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân mạng sống, do duyên mạng sống, do động cơ mạng sống vẫn không khởi tâm vi phạm điều học đã được thọ trì, vậy vị ấy sẽ vi phạm điều gì? Đây chính là giới không bị hạn chế vì mạng sống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các giới có hình thức như vậy là không bị sứt mẻ, không bị đổ vỡ, không có các vết lấm, không có các đốm nhơ, làm cho giải thoát, được các bậc trí ngợi khen, không bị tiêm nhiễm, đưa đến định, là các nền tảng cho sự không ăn năn, là các nền tảng cho sự hân hoan, là các nền tảng cho hỷ, là các nền tảng cho tịnh, là các nền tảng cho lạc, là các nền tảng cho định, là các nền tảng cho sự biết và thấy đúng theo thực thể, đưa đến sự nhàm chán toàn diện, sự ly tham ái, sự diệt tận, sự an tịnh, thắng trí, sự giác ngộ hoàn toàn, Niết Bàn. Đây là giới không bị hạn chế ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giới là gì? Có bao nhiêu loại giới? Giới có nguồn sanh khởi là gì? Giới có sự liên kết với bao nhiêu pháp?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Giới là gì</b>? Sự cố ý là giới, thuộc về tâm là giới, sự thu thúc là giới, sự không vi phạm là giới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có bao nhiêu loại giới</b>? Có ba loại giới: thiện giới, bất thiện giới, vô ký giới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Giới có nguồn sanh khởi là gì</b>? Thiện giới có nguồn sanh khởi là các tâm thiện, bất thiện giới có nguồn sanh khởi là các tâm bất thiện, vô ký giới có nguồn sanh khởi là các tâm vô ký.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Giới có sự liên kết với bao nhiêu pháp</b>? Giới có sự liên kết với sự thu thúc, giới có sự liên kết với sự không vi phạm, giới có sự liên kết với sự cố ý đã sanh lên trong trường hợp như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự giết hại sanh mạng theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Trộm cắp theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Hành động sai trái trong các dục theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Nói láo theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Nói đâm thọc theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Nói độc ác theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Nói nhảm nhí theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Tham ác theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Sân độc theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Tà kiến theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do sự thoát ly, sự ước muốn trong các dục theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Do sự không sân độc, sự sân độc theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Do sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, sự lờ đờ buồn ngủ &#8230;(như trên)&#8230; Do sự không tản mạn, sự phóng dật &#8230;(như trên)&#8230; Do sự xác định pháp, sự hoài nghi &#8230;(như trên)&#8230; Do trí, vô minh &#8230;(như trên)&#8230; Do sự hân hoan, sự không hứng thú theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do sơ thiền, các pháp ngăn che &#8230;(như trên)&#8230; Do nhị thiền, tầm tứ &#8230;(như trên)&#8230; Do tam thiền, hỷ &#8230; Do tứ thiền, lạc và khổ &#8230; Do sự chứng đạt không vô biên xứ, sự nghĩ tưởng về sắc, nghĩ tưởng về bất bình, nghĩ tưởng về sự khác biệt &#8230; Do sự chứng đạt thức vô biên xứ, sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ &#8230; Do sự chứng đạt vô sở hữu xứ, sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ &#8230; Do sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do quán xét về vô thường, sự nghĩ tưởng về thường còn &#8230;(như trên)&#8230; Do quán xét về khổ, sự nghĩ tưởng về lạc &#8230;(như trên)&#8230; Do quán xét về vô ngã, sự nghĩ tưởng về ngã &#8230; Do quán xét về nhàm chán, sự vui thích &#8230; Do quán xét về ly tham ái, tham ái &#8230; Do quán xét về diệt tận, nhân sanh khởi &#8230; Do quán xét về từ bỏ, sự nắm giữ &#8230; Do quán xét về đoạn tận, sự nghĩ tưởng về sự tiếp nối &#8230; Do quán xét về biến hoại, (nghiệp) tích lũy &#8230; Do quán xét về chuyển biến, sự nghĩ tưởng về vững chắc &#8230; Do quán xét về vô tướng, hiện tướng &#8230; Do quán xét về vô nguyện, sự nguyện ước &#8230; Do quán xét về không tánh, sự cố chấp &#8230; Do minh sát các pháp bằng thắng tuệ, sự cố chấp trong việc chấp giữ mãnh lực (của lòng ham muốn là thường còn) &#8230; Do quán xét về sự biết và thấy đúng theo thực thể, sự cố chấp vào sự lầm lẫn &#8230; Do quán xét về tai hại, sự cố chấp vào sự nương tựa &#8230; Do quán xét về phân biệt rõ, sự không phân biệt rõ &#8230;(như trên)&#8230; Do quán xét về ly khai, sự cố chấp vào sự ràng buộc &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do Đạo Nhập Lưu, các phiền não thuần về tà kiến &#8230;(như trên)&#8230; Do Đạo Nhất Lai, các phiền não thô thiển &#8230; Do Đạo Bất Lai, các phiền não có tính chất vi tế &#8230; Do Đạo A-la-hán, toàn bộ phiền não theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Năm loại giới</b>: Đối với việc giết hại mạng sống, sự dứt bỏ là giới, sự ngăn ngừa là giới, sự cố ý là giới, sự thu thúc là giới, sự không vi phạm là giới. Các giới có hình thức như vậy đưa đến sự không ăn năn của tâm, đưa đến sự hân hoan, đưa đến hỷ, đưa đến tịnh, đưa đến tâm vui mừng, đưa đến sự rèn luyện, đưa đến sự tu tập, đưa đến hành động được sung mãn, đưa đến việc thực hiện được đầy đủ, đưa đến điều thiết yếu, đưa đến điều phụ trợ, đưa đến sự vẹn toàn, đưa đến sự nhàm chán toàn diện, đưa đến ly tham ái, đưa đến sự diệt tận, đưa đến sự an tịnh, đưa đến thắng trí, đưa đến sự giác ngộ hoàn toàn, đưa đến Niết Bàn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự thanh tịnh do thu thúc đối với các giới có hình thức như vậy là thắng giới. Tâm trụ vào sự thanh tịnh do thu thúc không đi đến tản mạn, sự thanh tịnh do không tản mạn là thắng tâm. (Hành giả) nhận thấy một cách đúng đắn sự thanh tịnh do thu thúc, nhận thấy một cách đúng đắn sự thanh tịnh do không tản mạn, sự thanh tịnh trong sự nhận thấy là thắng tuệ. Ở đây, việc nào có ý nghĩa thu thúc, việc ấy là sự học tập về thắng giới. Ở đây, việc nào có ý nghĩa không tản mạn, việc ấy là sự học tập về thắng tâm. Ở đây, việc nào có ý nghĩa nhận thấy, việc ấy là sự học tập về thắng tuệ.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi hướng tâm đến ba sự học tập này, vị ấy học tập. Trong khi nhận biết, vị ấy học tập. Trong khi nhận thấy, vị ấy học tập. Trong khi quán xét lại, vị ấy học tập. Trong khi khẳng định tâm, vị ấy học tập. Trong khi hướng đến đức tin, vị ấy học tập. Trong khi ra sức tinh tấn, vị ấy học tập. Trong khi thiết lập niệm, vị ấy học tập. Trong khi tập trung tâm, vị ấy học tập. Trong khi nhận biết bởi tuệ, vị ấy học tập. Trong khi biết rõ điều cần được biết rõ, vị ấy học tập. Trong khi biết toàn diện điều cần được biết toàn diện, vị ấy học tập. Trong khi dứt bỏ điều cần được dứt bỏ, vị ấy học tập. Trong khi tu tập điều cần được tu tập, vị ấy học tập. Trong khi tác chứng điều cần được tác chứng, vị ấy học tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Năm loại giới</b>: Đối với trộm cắp &#8230;(nt)&#8230; Đối với hành động sai trái trong các dục &#8230;(nt)&#8230; Đối với lời nói láo &#8230; Đối với lời nói đâm thọc &#8230; Đối với lời nói độc ác &#8230; Đối với lời nói nhảm nhí &#8230; Đối với tham ác &#8230; Đối với sân độc &#8230; Đối với tà kiến &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do sự thoát ly, đối với ước muốn trong các dục &#8230;(như trên)&#8230; Do sự không sân độc, đối với sân độc &#8230; Do sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, đối với sự lờ đờ buồn ngủ &#8230; Do sự không tản mạn, đối với sự phóng dật &#8230; Do sự xác định pháp, đối với sự hoài nghi &#8230; Do trí, đối với vô minh &#8230; Do sự hân hoan, đối với sự không hứng thú &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do sơ thiền, đối với các pháp ngăn che &#8230;(như trên)&#8230; Do nhị thiền, đối với tầm tứ &#8230;(như trên)&#8230; Do tam thiền, đối với hỷ &#8230; Do tứ thiền, đối với lạc và khổ &#8230; Do sự chứng đạt không vô biên xứ, đối với sự nghĩ tưởng về sắc, nghĩ tưởng về bất bình, nghĩ tưởng về sự khác biệt &#8230; Do sự chứng đạt thức vô biên xứ, đối với sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ &#8230; Do sự chứng đạt vô sở hữu xứ, đối với sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ &#8230; Do sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, đối với sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do quán xét về vô thường, đối với sự nghĩ tưởng về thường còn &#8230;(như trên)&#8230; Do quán xét về khổ não, đối với sự nghĩ tưởng về lạc &#8230; Do quán xét về vô ngã, đối với sự nghĩ tưởng về ngã &#8230; Do quán xét về nhàm chán, đối với sự vui thích &#8230; Do quán xét về ly tham ái, đối với tham ái &#8230; Do quán xét về diệt tận, đối với nhân sanh khởi &#8230; Do quán xét về từ bỏ, đối với sự nắm giữ &#8230; Do quán xét về đoạn tận, đối với sự nghĩ tưởng về sự tiếp nối &#8230; Do quán xét về biến hoại, đối với (nghiệp) tích lũy &#8230; Do quán xét về chuyển biến, đối với sự nghĩ tưởng về sự vững chắc &#8230; Do quán xét về vô tướng, đối với hiện tướng &#8230; Do quán xét về vô nguyện, đối với sự nguyện ước &#8230; Do quán xét về không tánh, đối với sự cố chấp &#8230; Do minh sát các pháp bằng thắng tuệ, đối với sự cố chấp trong việc chấp giữ mãnh lực (của lòng ham muốn là thường còn) &#8230; Do quán xét về sự biết và thấy đúng theo thực thể, đối với cố chấp vào sự lầm lẫn &#8230; Do quán xét về tai hại, đối với sự cố chấp vào sự nương tựa &#8230; Do quán xét về phân biệt rõ, đối với sự không phân biệt rõ &#8230; Do quán xét về ly khai, đối với sự cố chấp vào sự ràng buộc &#8230;(như trên)&#8230;  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do đạo Nhập Lưu, đối với các phiền não thuần về tà kiến &#8230;(nt)&#8230; Do Đạo Nhất Lai, đối với các phiền não thô thiển &#8230;(nt)&#8230; Do Đạo Bất Lai, đối với các phiền não có tính chất vi tế &#8230;(nt)&#8230; Do Đạo A-la-hán, đối với toàn bộ phiền não sự dứt bỏ là giới, sự ngăn ngừa là giới, sự cố ý là giới, sự thu thúc là giới, sự không vi phạm là giới. Các giới có hình thức như vậy đưa đến sự không ăn năn, đưa đến sự hân hoan, đưa đến hỷ, đưa đến tịnh, đưa đến tâm vui mừng, đưa đến sự rèn luyện, đưa đến sự tu tập, đưa đến hành động được sung mãn, đưa đến việc thực hiện được đầy đủ, đưa đến điều thiết yếu, đưa đến điều phụ trợ, đưa đến sự vẹn toàn, đưa đến sự nhàm chán toàn diện, đưa đến ly tham ái, đưa đến sự diệt tận, đưa đến sự an tịnh, đưa đến thắng trí, đưa đến sự giác ngộ hoàn toàn, đưa đến Niết Bàn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với các giới có hình thức như vậy, sự thanh tịnh do thu thúc là thắng giới. Tâm đã được trụ vào sự thanh tịnh do thu thúc không đi đến tản mạn, sự thanh tịnh do không tản mạn là thắng tâm. (Hành giả) nhận thấy một cách đúng đắn sự thanh tịnh do thu thúc, nhận thấy một cách đúng đắn sự thanh tịnh do không tản mạn, sự thanh tịnh trong sự nhận thấy là thắng tuệ. Ở đây, việc nào có ý nghĩa thu thúc, việc ấy là sự học tập về thắng giới. Ở đây, việc nào có ý nghĩa không tản mạn, việc ấy là sự học tập về thắng tâm. Ở đây, việc nào có ý nghĩa nhận thấy, việc ấy là sự học tập về thắng tuệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi hướng tâm đến ba sự học tập này, vị ấy học tập. Trong khi nhận biết, vị ấy học tập. Trong khi nhận thấy, &#8230; Trong khi quán xét lại, &#8230; Trong khi khẳng định tâm, &#8230; Trong khi hướng đến đức tin, &#8230; Trong khi ra sức tinh tấn, &#8230; Trong khi thiết lập niệm, &#8230; Trong khi tập trung tâm, &#8230; Trong khi nhận biết bởi tuệ, &#8230; Trong khi biết rõ điều cần được biết rõ, &#8230; Trong khi biết toàn diện điều cần được biết toàn diện, &#8230; Trong khi dứt bỏ điều cần được dứt bỏ, &#8230; Trong khi tác chứng điều cần được tác chứng, vị ấy học tập. Trong khi tu tập điều cần được tu tập, vị ấy học tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Sau khi đã nghe, tuệ về sự thu thúc là trí về yếu tố tạo thành giới</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về yếu tố tạo thành giới.’ </b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">3. Trí về yếu tố tạo thành việc tu tập định:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi đã thu thúc, tuệ về sự tập trung là trí về yếu tố tạo thành việc tu tập định là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một loại định: là trạng thái chuyên nhất của tâm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai loại định: là định thuộc thế gian và định vượt trên thế gian.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba loại định: là định có tầm có tứ, định không tầm có tứ, định không tầm không tứ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bốn loại định: là định đưa đến sự từ bỏ, định đưa đến bền vững, định đưa đến thù thắng, định đưa đến thấu triệt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm loại định: là trạng thái lan tỏa của hỷ, trạng thái lan tỏa của lạc, trạng thái lan tỏa của xả, trạng thái lan tỏa của ánh sáng, hiện tướng của sự quán xét lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sáu loại định: là định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của việc tưởng niệm đến (ân đức) Phật, định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của việc tưởng niệm đến (ân đức) Pháp, định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của việc tưởng niệm đến (ân đức) Tăng, định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của việc tưởng niệm đến (đức tính của) giới, định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của việc tưởng niệm đến (đức tính của) sự xả bỏ, định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của việc tưởng niệm đến (đức tính của) chư thiên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bảy loại định: là thiện xảo trong định, thiện xảo trong việc thể nhập định, thiện xảo trong việc duy trì định, thiện xảo trong việc ra khỏi định, thiện xảo về thể chất của định, thiện xảo về hành xứ của định, thiện xảo về sự quả quyết của định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tám loại định: là định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của đề mục đất, &#8230; do năng lực của đề mục nước, &#8230; do năng lực của đề mục lửa, &#8230; do năng lực của đề mục gió, &#8230; do năng lực của đề mục xanh, &#8230; do năng lực của đề mục vàng, &#8230; do năng lực của đề mục đỏ, &#8230; do năng lực của đề mục trắng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chín loại định: là định sắc giới có hạng thấp kém, có hạng trung bình, có hạng cao quý, định vô sắc giới có hạng thấp kém, có hạng trung bình, có hạng cao quý, không tánh định, vô tướng định, vô nguyện định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mười loại định: là định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của tưởng về sự sình trương (của xác chết), &#8230; do năng lực của tưởng về sự đổi màu xanh (của xác chết), &#8230; do năng lực của tưởng về sự chảy nước vàng (của xác chết), &#8230; do năng lực của tưởng về sự nứt nẻ (của xác chết), &#8230; do năng lực của tưởng về sự bị (thú) gặm nhắm (của xác chết), &#8230; do năng lực của tưởng về sự bị hoại rã (của xác chết), &#8230; do năng lực của tưởng về sự bị cắt đứt lìa (của xác chết), &#8230; do năng lực của tưởng về máu me (của xác chết), &#8230; do năng lực của tưởng về giòi bọ (của xác chết), định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của tưởng về bộ xương khô (của xác chết).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là năm mươi lăm loại định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hơn nữa, còn có hai mươi lăm ý nghĩa về định của định: định theo ý nghĩa gìn giữ, định theo ý nghĩa phụ trợ, định theo ý nghĩa hoàn bị, định theo ý nghĩa chuyên nhất, định theo ý nghĩa không tản mạn, định theo ý nghĩa ra sức, định theo ý nghĩa không tán loạn, định theo ý nghĩa không xao động, định theo ý nghĩa không loạn động, định theo ý nghĩa giải thoát, định có sự trụ vững của tâm do năng lực thiết lập tính nhất thể, ‘tầm cầu sự thuần chủng’ là định, ‘không tầm cầu sự không thuần chủng’ là định, trạng thái đã tầm cầu sự thuần chủng là định, trạng thái đã không tầm cầu sự không thuần chủng là định, ‘nắm giữ sự thuần chủng’ là định, ‘không nắm giữ sự không thuần chủng’ là định, trạng thái đã nắm giữ sự thuần chủng là định, trạng thái đã không nắm giữ sự không thuần chủng là định, ‘thực hành sự thuần chủng’ là định, ‘không thực hành sự không thuần chủng’ là định, trạng thái đã thực hành sự thuần chủng là định, trạng thái đã không thực hành sự không thuần chủng là định, ‘tham thiền sự thuần chủng’ là định, ‘làm cho thiêu đốt sự không thuần chủng’ là định, trạng thái đã tham thiền sự thuần chủng là định, trạng thái đã làm cho thiêu đốt sự không thuần chủng là định. Đây là hai mươi lăm ý nghĩa về định của định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Sau khi đã thu thúc, tuệ về sự tập trung là trí về yếu tố tạo thành việc tu tập định</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về yếu tố tạo thành việc tu tập định.’ </b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">4. Trí về sự hiện diện của các Pháp:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Đối với các hành, vô minh là sự hiện diện của sự sanh lên, là sự hiện diện của sự vận hành, là sự hiện diện của hiện tướng, là sự hiện diện của (nghiệp) tích lũy, là sự hiện diện của sự ràng buộc, là sự hiện diện của sự vướng bận, là sự hiện diện của sự sanh khởi, là sự hiện diện của nhân, và là sự hiện diện của duyên. Do chín biểu hiện này, vô minh là duyên, các hành được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, đối với các hành, vô minh là sự hiện diện của sự sanh lên, là sự hiện diện của sự vận hành, là sự hiện diện của hiện tướng, là sự hiện diện của (nghiệp) tích lũy, là sự hiện diện của sự ràng buộc, là sự hiện diện của sự vướng bận, là sự hiện diện của sự sanh khởi, là sự hiện diện của nhân, và là sự hiện diện của duyên. Do chín biểu hiện này, vô minh là duyên, các hành được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Đối với thức, các hành &#8230;(nt)&#8230; Đối với danh sắc, thức &#8230;(nt)&#8230; Đối với sáu xứ, danh sắc &#8230;(nt)&#8230; Đối với xúc, sáu xứ &#8230;(nt)&#8230; Đối với thọ, xúc &#8230;(nt)&#8230; Đối với ái, thọ &#8230;(nt)&#8230; Đối với thủ, ái &#8230;(nt)&#8230; Đối với hữu, thủ &#8230;(nt)&#8230; Đối với sanh, hữu &#8230;(nt)&#8230; Đối với lão tử, sanh là sự hiện diện của sự sanh lên, là sự hiện diện của sự vận hành, là sự hiện diện của hiện tướng, là sự hiện diện của (nghiệp) tích lũy, là sự hiện diện của sự ràng buộc, là sự hiện diện của sự vướng bận, là sự hiện diện của sự sanh khởi, là sự hiện diện của nhân, và là sự hiện diện của duyên. Do chín biểu hiện này, sanh là duyên, lão tử được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai,  đối với các hành, sanh là sự hiện diện của sự sanh lên, là sự hiện diện của sự vận hành, là sự hiện diện của hiện tướng, là sự hiện diện của (nghiệp) tích lũy, là sự hiện diện của sự ràng buộc, là sự hiện diện của sự vướng bận, là sự hiện diện của sự sanh khởi, là sự hiện diện của nhân, và là sự hiện diện của duyên. Do chín biểu hiện này, sanh là duyên, lão tử được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên,’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Vô minh là nhân, các hành được sanh lên do nhân, luôn cả hai pháp này được sanh lên do nhân;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy. ‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, vô minh là nhân, các hành được sanh lên do nhân, luôn cả hai pháp này được sanh lên do nhân;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Các hành là nhân, thức được sanh lên do nhân, &#8230; ‘Thức là nhân, danh sắc được sanh lên do nhân, &#8230; ‘Danh sắc là nhân, sáu xứ được sanh lên do nhân, &#8230; ‘Sáu xứ là nhân, xúc được sanh lên do nhân, &#8230; ‘Xúc là nhân, thọ được sanh lên do nhân, &#8230; ‘Thọ là nhân, ái được sanh lên do nhân, &#8230; ‘Ái là nhân, thủ được sanh lên do nhân, &#8230; ‘Thủ là nhân, hữu được sanh lên do nhân, &#8230; ‘Hữu là nhân, sanh được sanh lên do nhân, &#8230; ‘Sanh là nhân, lão tử được sanh lên do nhân, luôn cả hai pháp này được sanh lên do nhân;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy. ‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, sanh là nhân, lão tử được sanh lên do nhân, luôn cả hai pháp này được sanh lên do nhân;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Tùy thuận vô minh, các hành được tùy thuận sanh lên, luôn cả hai pháp này được tùy thuận sanh lên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy. ‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, tùy thuận vô minh, các hành được tùy thuận sanh lên, luôn cả hai pháp này được tùy thuận sanh lên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Tùy thuận các hành, thức được tùy thuận sanh lên &#8230;(như trên)&#8230; ‘Tùy thuận thức, danh sắc được tùy thuận sanh lên, &#8230;(như trên)&#8230; ‘Tùy thuận danh sắc, sáu xứ được tùy thuận sanh lên, &#8230;(như trên)&#8230; ‘Tùy thuận sáu xứ, xúc được tùy thuận sanh lên, &#8230;(như trên)&#8230;     ‘Tùy thuận xúc, thọ được tùy thuận sanh lên, &#8230;(như trên)&#8230;                   ‘Tùy thuận thọ, ái được tùy thuận sanh lên, &#8230;(như trên)&#8230;                  ‘Tùy thuận ái, thủ được tùy thuận sanh lên, &#8230;(như trên)&#8230;                  ‘Tùy thuận thủ, hữu được tùy thuận sanh lên, &#8230;(như trên)&#8230;              ‘Tùy thuận hữu, sanh được tùy thuận sanh lên, &#8230;(như trên)&#8230;       ‘Tùy thuận sanh, lão tử được tùy thuận sanh lên, luôn cả hai pháp này được tùy thuận sanh lên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy. ‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, tùy thuận sanh, lão tử được tùy thuận sanh lên, luôn cả hai pháp này được tùy thuận sanh lên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Vô minh là duyên, các hành được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy. ‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, vô minh là duyên, các hành được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Các hành là duyên, thức được sanh lên do duyên. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Thức là duyên, danh sắc được sanh lên do duyên. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Danh sắc là duyên, sáu xứ được sanh lên do duyên. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Sáu xứ là duyên, xúc được sanh lên do duyên. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Xúc là duyên, thọ được sanh lên do duyên. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Thọ là duyên, ái được sanh lên do duyên. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Ái là duyên, thủ được sanh lên do duyên. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Thủ là duyên, hữu được sanh lên do duyên. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Hữu là duyên, sanh được sanh lên do duyên. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Sanh là duyên, lão tử được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy. ‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, sanh là duyên, lão tử được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Về sự hiện hữu ở nghiệp quá khứ, si là vô minh, (nghiệp) tích lũy là các hành, sự ham thích là ái, sự đạt đến là thủ, sự cố ý là hữu; năm pháp này hiện diện ở nghiệp quá khứ (và) là duyên cho sự tái sanh ở thời hiện tại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong thời hiện tại, sự tái sanh là thức, sự hạ sanh là danh sắc, sự hiển hiện là xứ, (hiện tượng) được chạm đến là xúc, (hiện tượng) được cảm nhận là thọ; năm pháp này hiện hữu trong sự sanh lên ở thời hiện tại (và) do duyên của nghiệp đã tạo trong quá khứ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do trạng thái chín muồi của các xứ trong thời hiện tại, si là vô minh, (nghiệp) tích lũy là các hành, sự ham thích là ái, sự đạt đến là thủ, sự cố ý là hữu; năm pháp này hiện diện ở nghiệp hiện tại (và) là duyên cho sự tái sanh ở thời vị lai.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong thời vị lai, sự tái sanh là thức, sự hạ sanh là danh sắc, sự hiển hiện là xứ, (hiện tượng) được chạm đến là xúc, (hiện tượng) được cảm nhận là thọ; năm pháp này hiện hữu trong sự sanh lên ở thời vị lai (và) do duyên của nghiệp đã tạo trong hiện tại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Như thế (hành giả) biết, thấy, nhận biết, thấu triệt bốn phần tổng hợp này,[1] ba thời kỳ,[2]ba sự tiếp nối[3] là tùy thuận sanh khởi theo hai mươi biểu hiện.[4] Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về sự hiện diện của các pháp.’</b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">5. Trí về sự thấu hiểu:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi đã tổng hợp các pháp trong (ba thời) quá khứ hiện tại vị lai, tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bất cứ sắc nào thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai, nội phần hoặc ngoại phần, thô hoặc tế, thấp kém hoặc cao quý, là ở xa hoặc ở gần, (hành giả) xác định toàn bộ sắc ấy là vô thường, (đây là) một sự thấu hiểu; (hành giả) xác định toàn bộ sắc ấy là khổ não, (đây là) một sự thấu hiểu; (hành giả) xác định toàn bộ sắc ấy là vô ngã, (đây là) một sự thấu hiểu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bất cứ thọ nào &#8230;(như trên)&#8230; Bất cứ tưỏng nào &#8230;(như trên)&#8230; Bất cứ các hành nào &#8230;(như trên)&#8230; Bất cứ thức nào thuộc quá khứ, hiện tại, hoặc vị lai, nội phần hoặc ngoại phần, thô hoặc tế, thấp kém hoặc cao quý, là ở xa hoặc gần, (hành giả) xác định toàn bộ thức ấy là vô thường, (đây là) một sự thấu hiểu; (hành giả) xác định toàn bộ thức ấy là khổ não, (đây là) một sự thấu hiểu; (hành giả) xác định toàn bộ thức ấy là vô ngã, (đây là) một sự thấu hiểu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mắt &#8230;(như trên)&#8230; Lão tử thuộc quá khứ, hiện tại, hoặc vị lai, (hành giả) xác định là vô thường, (đây là) một sự thấu hiểu; (hành giả) xác định là khổ não, (đây là) một sự thấu hiểu; (hành giả) xác định là vô ngã, (đây là) một sự thấu hiểu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Sắc thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường theo ý nghĩa đoạn tận, là khổ não theo ý nghĩa kinh hãi, là vô ngã theo ý nghĩa không có cốt lỏi,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu. Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Thọ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Tưởng &#8230;(như trên)&#8230; ‘Các hành &#8230;(như trên)&#8230; ‘Thức &#8230;(như trên)&#8230; ‘Mắt &#8230;(như trên)&#8230; Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Lão tử thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường theo ý nghĩa đoạn tận, là khổ não theo ý nghĩa kinh hãi, là vô ngã theo ý nghĩa không có cốt lỏi,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Sắc thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu. Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Thọ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Tưởng &#8230;(như trên)&#8230; ‘Các hành &#8230;(như trên)&#8230; ‘Thức &#8230;(như trên)&#8230; ‘Mắt &#8230;(như trên)&#8230; Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Lão tử thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Lão tử do duyên là sanh, nếu không có sự sanh thì không có lão tử,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu. Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, lão tử do duyên là sanh, nếu không có sự sanh thì không có lão tử,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Sanh do duyên là hữu, nếu không có &#8230;(như trên)&#8230; ‘Hữu do duyên là thủ, nếu không có &#8230;(như trên)&#8230; ‘Thủ do duyên là ái, nếu không có &#8230;(nt)&#8230; ‘Ái do duyên là thọ, nếu không có &#8230;(nt)&#8230; ‘Thọ do duyên là xúc, nếu không có &#8230;(nt)&#8230; ‘Xúc do duyên là sáu xứ, nếu không có &#8230;(nt)&#8230; ‘Sáu xứ do duyên là danh sắc, nếu không có &#8230;(nt)&#8230; ‘Danh sắc do duyên là thức, nếu không có &#8230;(nt)&#8230; ‘Thức do duyên là các hành, nếu không có các hành &#8230;(như trên)&#8230; ‘Các hành do duyên là vô minh, nếu không có vô minh thì không có các hành,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Ngay cả trong thời quá khứ xa xăm, ngay cả trong thời vị lai xa xăm, các hành do duyên là vô minh, nếu không có vô minh thì không có các hành,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Sau khi đã tổng hợp các pháp trong quá khứ hiện tại vị lai, tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về sự thấu hiểu’ là phần thứ năm.</b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">6. Trí về sự sanh diệt:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc quán xét sự chuyển biến của các pháp đang hiện hữu là trí quán xét sự sanh diệt là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sắc được sanh lên là đang hiện hữu, hiện tướng tái tạo của pháp ấy là sự sanh, hiện tướng chuyển biến là sự diệt, sự quán xét là trí.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thọ được sanh lên &#8230;(như trên)&#8230; Tưởng được sanh lên &#8230;(như trên)&#8230; Các hành được sanh lên &#8230;(như trên)&#8230; Thức được sanh lên &#8230;(như trên)&#8230; Mắt được sanh lên &#8230;(như trên)&#8230; Hữu được sanh lên là đang hiện hữu, hiện tướng tái tạo của pháp ấy là sự sanh, hiện tướng chuyển biến là sự diệt, sự quán xét là trí.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với năm uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy bao nhiêu hiện tướng, trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy bao nhiêu hiện tướng, trong khi nhận thấy sự sanh diệt thì nhận thấy bao nhiêu hiện tướng?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với năm uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy hai mươi lăm hiện tướng, trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy hai mươi lăm hiện tướng, trong khi nhận thấy sự sanh diệt thì nhận thấy năm mươi hiện tướng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sắc uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy bao nhiêu hiện tướng, trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy bao nhiêu hiện tướng, trong khi nhận thấy sự sanh diệt thì nhận thấy bao nhiêu hiện tướng? Đối với thọ uẩn, &#8230;(như trên)&#8230; Đối với tưởng uẩn, &#8230;(như trên)&#8230; Đối với hành uẩn, &#8230;(như trên)&#8230; Đối với thức uẩn, &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sắc uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy năm hiện tướng, trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy năm hiện tướng, trong khi nhận thấy sự sanh diệt thì nhận thấy mười hiện tướng. Đối với thọ uẩn, &#8230;(như trên)&#8230; Đối với tưởng uẩn, &#8230;(nt)&#8230; Đối với hành uẩn, &#8230;(nt)&#8230; Đối với thức uẩn, &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sắc uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy năm hiện tướng gì? (Hành giả) nhận thấy sự sanh của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên: ‘Do sự sanh khởi của vô minh, có sự sanh khởi của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự sanh của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên: ‘Do sự sanh khởi của ái, có sự sanh khởi của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự sanh của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên: ‘Do sự sanh khởi của nghiệp, có sự sanh khởi của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự sanh của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên: ‘Do sự sanh khởi của vật thực, có sự sanh khởi của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự sanh của sắc uẩn ngay cả trong khi nhận thấy hiện tướng của sự tái tạo. Đối với sắc uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy năm hiện tướng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> (Đối với sắc uẩn), (hành giả) trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy năm hiện tướng gì? (Hành giả) nhận thấy sự diệt của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên: ‘Do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự diệt của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên: ‘Do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự diệt của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên: ‘Do sự diệt tận của nghiệp, có sự diệt tận của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự diệt của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên: ‘Do sự diệt tận của vật thực, có sự diệt tận của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự diệt của sắc uẩn ngay cả trong khi nhận thấy hiện tướng của sự chuyển biến. Đối với sắc uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy năm hiện tướng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Đối với sắc uẩn), trong khi nhận thấy sự sanh diệt, (hành giả) nhận thấy mười hiện tướng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với thọ uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy năm hiện tướng gì? (Hành giả) nhận thấy sự sanh của thọ uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên: ‘Do sự sanh khởi của vô minh, có sự sanh khởi của thọ,’ &#8230; ‘Do sự sanh khởi của ái, có sự sanh khởi của thọ,’ &#8230; ‘Do sự sanh khởi của nghiệp, có sự sanh khởi của thọ,’ &#8230; ‘Do sự sanh khởi của xúc, có sự sanh khởi của thọ,’ (hành giả) nhận thấy sự sanh của thọ uẩn ngay cả trong khi nhận thấy hiện tướng của sự tái tạo. Đối với thọ uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy năm hiện tướng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Đối với thọ uẩn), (hành giả) trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy năm hiện tướng gì? (Hành giả) nhận thấy sự diệt của thọ uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên: ‘Do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của thọ,’ &#8230; ‘Do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của thọ,’ &#8230; ‘Do sự diệt tận của nghiệp, có sự diệt tận của thọ,’ &#8230; ‘Do sự diệt tận của vật thực, có sự diệt tận của thọ,’ (hành giả) nhận thấy sự diệt của thọ uẩn ngay cả trong khi nhận thấy hiện tướng của sự chuyển biến. Đối với thọ uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy năm hiện tướng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Đối với thọ uẩn), trong khi nhận thấy sự sanh diệt, (hành giả) nhận thấy mười hiện tướng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với tưởng uẩn, &#8230;(như trên)&#8230; Đối với hành uẩn, &#8230;(như trên)&#8230; Đối với thức uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy năm hiện tướng gì? (Hành giả) nhận thấy sự sanh của thức uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên: ‘Do sự sanh khởi của vô minh, có sự sanh khởi của thức,’ &#8230; ‘Do sự sanh khởi của ái, có sự sanh khởi của thức,’ &#8230; ‘Do sự sanh khởi của nghiệp, có sự sanh khởi của thức,’ &#8230; ‘Do sự sanh khởi của xúc, có sự sanh khởi của thức,’ (hành giả) nhận thấy sự sanh của thức uẩn ngay cả trong khi nhận thấy hiện tướng của sự tái tạo. Đối với thức uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy năm hiện tướng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Đối với thức uẩn), (hành giả) trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy năm hiện tướng gì? (hành giả) nhận thấy sự diệt của thức uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên: ‘Do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của thức,’ &#8230; ‘Do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của thức,’ &#8230; ‘Do sự diệt tận của nghiệp, có sự diệt tận của thức,’ &#8230; ‘Do sự diệt tận của vật thực, có sự diệt tận của thức,’ (hành giả) nhận thấy sự diệt của thức uẩn ngay cả trong khi nhận thấy hiện tướng của sự chuyển biến. Đối với thức uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy năm hiện tướng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Đối với thức uẩn), trong khi nhận thấy sự sanh diệt, (hành giả) nhận thấy mười hiện tướng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với năm uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy hai mươi lăm hiện tướng này, trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy hai mươi lăm hiện tướng này, trong khi nhận thấy sự sanh diệt thì nhận thấy năm mươi hiện tướng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về việc quán xét sự chuyển biến của các pháp đang hiện hữu là trí quán xét sự sanh diệt</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sắc uẩn có sự sanh khởi là vật thực. Ba uẩn thọ, tưởng, hành có sự sanh khởi là xúc. Thức uẩn có sự sanh khởi là danh sắc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về sự sanh diệt.’ </b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">7. Trí quán xét về sự tan rã:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi đã phân biệt rõ đối tượng, tuệ về việc quán xét sự tan rã là trí về minh sát là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với sắc là đối tượng, tâm sanh lên rồi bị phân hủy. Sau khi đã phân biệt rõ đối tượng ấy, (hành giả) quán xét về sự tan rã của tâm ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Hành giả) quán xét</b>: Quán xét là (có ý nghĩa) thế nào? Quán xét là vô thường, không phải là thường. Quán xét là khổ não, không phải là lạc. Quán xét là vô ngã, không phải là ngã. (Hành giả) nhàm chán, không vui thích. (Hành giả) ly tham ái, không tham ái. (Hành giả) làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi. (Hành giả) từ bỏ, không nắm giữ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi quán xét là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; trong khi quán xét là khổ não, (hành giả) dứt bỏ lạc tưởng; trong khi quán xét là vô ngã, (hành giả) dứt bỏ ngã tưởng; trong khi nhàm chán, (hành giả) dứt bỏ sự vui thích; trong khi ly tham ái, (hành giả) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (hành giả) dứt bỏ sự sanh khởi; trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với thọ là đối tượng, &#8230;(như trên)&#8230; Với tưởng là đối tượng, &#8230;(như trên)&#8230; Với các hành là đối tượng, &#8230;(như trên)&#8230; Với thức là đối tượng, &#8230;(như trên)&#8230; Với mắt là đối tượng, &#8230;(như trên)&#8230; Với lão tử là đối tượng, tâm sanh lên rồi bị phân hủy. Sau khi đã phân biệt rõ đối tượng ấy, (hành giả) quán xét sự tan rã của tâm ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Hành giả) quán xét</b>, quán xét là (có ý nghĩa) thế nào? Quán xét là vô thường, không phải là thường. Quán xét là khổ não, không phải là lạc. Quán xét là vô ngã, không phải là ngã. (Hành giả) nhàm chán, không vui thích. (Hành giả) ly tham ái, không tham ái. (Hành giả) làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi. (Hành giả) từ bỏ, không nắm giữ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi quán xét là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; trong khi quán xét là khổ não, (hành giả) dứt bỏ lạc tưởng; trong khi quán xét là vô ngã, (hành giả) dứt bỏ ngã tưởng; trong khi nhàm chán, (hành giả) dứt bỏ sự vui thích; trong khi ly tham ái, (hành giả) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (hành giả) dứt bỏ sự sanh khởi; trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ.</span></p>
<ol>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">  <i>Do tiếp cận sự việc</i>,               </span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>và ly khai bằng tưởng,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>với lực do hướng tâm, </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>phân rõ là minh sát</i>.</span></p>
<ol start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">  <i>Với sự tiếp nối cảnh,           </i></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>xác định chung cả hai,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>quyết đoán về diệt tận,             </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>minh sát tướng hoại diệt</i>.</span></p>
<ol start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">  <i>Do phân biệt rõ cảnh,         </i></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>quán xét sự tan rã,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>và thiết lập không tánh,           </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>thắng tuệ là minh sát</i>.</span></p>
<ol start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">  <i>Thiện xảo ba quán xét</i>,[5]     </span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>và về bốn minh sát</i>,[6]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>thiện xảo ba thiết lập</i>,[7]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>không động vì tà kiến</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Sau khi đã phân biệt rõ đối tượng, tuệ về việc quán xét sự tan rã là trí về minh sát</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí quán xét về sự tan rã.’ </b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">8. Trí về điều tai hại:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi là trí về điều tai hại là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự tái sanh là kinh hãi’ là trí về điều tai hại. Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự vận hành là kinh hãi’ &#8230; ‘Hiện tướng là kinh hãi’ &#8230; ‘(Nghiệp) tích lũy là kinh hãi’ &#8230; ‘Mầm tái sanh là kinh hãi’ &#8230; ‘Cảnh giới tái sanh là kinh hãi’ &#8230; ‘Sự tái tạo là kinh hãi’ &#8230; ‘Sự sanh lên là kinh hãi’ &#8230; ‘Sự sanh (ra) là kinh hãi’ &#8230; ‘Sự già là kinh hãi’ &#8230; ‘Sự bệnh là kinh hãi’ &#8230; ‘Sự chết là kinh hãi’ &#8230; ‘Sự sầu muộn là kinh hãi’ &#8230; ‘Sự than vãn là kinh hãi’ &#8230; ‘Sự thất vọng là kinh hãi’ là trí về điều tai hại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không tái sanh là an ổn.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không vận hành là an ổn.’ &#8230;(nt)&#8230; Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không thất vọng là an ổn.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự tái sanh là kinh hãi, sự không tái sanh là an ổn.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự vận hành là kinh hãi, sự không vận hành là an ổn.’ &#8230;(nt)&#8230; Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự thất vọng là kinh hãi, sự không thất vọng là an ổn.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự tái sanh là khổ’ là trí về điều tai hại. Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự vận hành là khổ’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Sự thất vọng là khổ’ là trí về điều tai hại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về trạng thái bình yên rằng:  ‘Sự không tái sanh là lạc.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không vận hành là lạc.’ &#8230;(như trên)&#8230; Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không thất vọng là lạc.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự tái sanh là khổ, sự không tái sanh là lạc.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự vận hành là khổ, sự không vận hành là lạc.’ &#8230;(như trên)&#8230; Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự thất vọng là khổ, sự không thất vọng là lạc.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự tái sanh là hệ lụy vật chất’ là trí về điều tai hại. Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự vận hành là hệ lụy vật chất’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Sự thất vọng là hệ lụy vật chất’ là trí về điều tai hại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không tái sanh là không hệ lụy vật chất.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không vận hành là không hệ lụy vật chất.’ &#8230;(như trên)&#8230; Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không thất vọng là không hệ lụy vật chất.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự tái sanh là hệ lụy vật chất, sự không tái sanh là không hệ lụy vật chất.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự vận hành là hệ lụy vật chất, sự không vận hành là không hệ lụy vật chất.’ &#8230;(nt)&#8230; Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự thất vọng là hệ lụy vật chất, sự không thất vọng là không hệ lụy vật chất.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự tái sanh là pháp hữu vi’  là trí về điều tai hại. Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự vận hành là pháp hữu vi’ &#8230;(như trên)&#8230; Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự thất vọng là pháp hữu vi’ là trí về điều tai hại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không tái sanh là Niết Bàn.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không vận hành là Niết Bàn.’ &#8230;(như trên)&#8230; Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không thất vọng là Niết Bàn.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự tái sanh là pháp hữu vi, sự không tái sanh là Niết Bàn.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự vận hành là pháp hữu vi, sự không vận hành là Niết Bàn.’ &#8230;(như trên)&#8230; Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự thất vọng là pháp hữu vi, sự không thất vọng là Niết Bàn.’  </span></p>
<ol>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị nhận thức tái sanh</i>,          </span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>vận hành, tướng, tích nghiệp, </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>mầm tái sanh là ‘khổ,’               </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>trí này là tai hại</i>.</span></p>
<ol start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Không sanh, không vận hành,       </i></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>không tướng, không tích nghiệp, </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>không mầm sanh là ‘lạc,’          </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>trí này là bình yên</i>.</span></p>
<ol start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Đây trí về tai hại,                </i></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>sanh lên ở năm chốn</i>,[8]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>bình yên về năm nơi</i>,               </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>vị nhận ra mười trí</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Người thiện xảo hai trí</i>,          </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>không động vì tà kiến</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi là trí về điều tai hại</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về điều tai hại.’ </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">9. Trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với sự tái sanh là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với sự vận hành &#8230;(như trên)&#8230; đối với hiện tướng &#8230;(như trên)&#8230; đối với (nghiệp) tích lũy &#8230;(nt)&#8230; đối với mầm tái sanh &#8230;(nt)&#8230; đối với cảnh giới tái sanh &#8230;(nt)&#8230; đối với sự tái tạo &#8230;(nt)&#8230; đối với sự sanh lên &#8230;(nt)&#8230; đối với sự sanh (ra) &#8230;(nt)&#8230; đối với sự già &#8230;(nt)&#8230; đối với sự bệnh &#8230;(nt)&#8230; đối với sự chết &#8230;(nt)&#8230; đối với sự sầu muộn &#8230;(nt)&#8230; đối với sự than vãn &#8230;(như trên)&#8230; Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với sự thất vọng là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự tái sanh là khổ’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự vận hành là khổ’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Sự thất vọng là khổ’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự tái sanh là kinh hãi’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự vận hành là kinh hãi’ &#8230;(nt)&#8230; ‘Sự thất vọng là kinh hãi’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự tái sanh là hệ lụy vật chất’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự vận hành là hệ lụy vật chất’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Sự thất vọng là hệ lụy vật chất’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự tái sanh là pháp hữu vi’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự vận hành là pháp hữu vi’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Sự thất vọng là pháp hữu vi’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Sự tái sanh là pháp hữu vi, (hành giả) dửng dưng đối với các pháp hữu vi ấy,’ như thế là trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. ‘Các pháp hữu vi và trạng thái xả, cả hai điều này đều là các pháp hữu vi, (hành giả) dửng dưng đối với các pháp hữu vi ấy,’ như thế là trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Sự vận hành là pháp hữu vi, &#8230;(nt)&#8230; ‘Hiện tướng là pháp hữu vi, &#8230; ‘(Nghiệp) tích lũy &#8230; ‘Mầm tái sanh &#8230; ‘Cảnh giới tái sanh &#8230; ‘Sự tái tạo &#8230; ‘Sự sanh lên &#8230; ‘Sự sanh (ra) &#8230; ‘Sự già &#8230; ‘Sự bệnh &#8230; ‘Sự chết &#8230; ‘Sự sầu muộn &#8230; ‘Sự than vãn &#8230; ‘Sự thất vọng là pháp hữu vi, (hành giả) dửng dưng đối với các pháp hữu vi ấy,’ như thế là trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. ‘Các pháp hữu vi và trạng thái xả, cả hai điều này đều là các pháp hữu vi, (hành giả) dửng dưng đối với các pháp hữu vi ấy,’ như thế là trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với bao nhiêu biểu hiện? Sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với tám biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với phàm nhân, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với bao nhiêu biểu hiện? Đối với vị hữu học, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với bao nhiêu biểu hiện? Đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với phàm nhân, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với hai biểu hiện. Đối với vị hữu học, sự quả quyết của tâm &#8230; là với ba biểu hiện. Đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với ba biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với phàm nhân, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với hai biểu hiện gì? Phàm nhân hoặc là thích thú trạng thái xả đối với các pháp hữu vi hoặc là minh sát (trạng thái ấy). Đối với phàm nhân, sự quả quyết của tâm &#8230; là với hai biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị hữu học, sự quả quyết của tâm &#8230; là với ba biểu hiện gì? Vị hữu học hoặc là thích thú, hoặc là minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, hoặc là phân biệt rõ rồi thể nhập thiền quả. Đối với vị hữu học, sự quả quyết của tâm &#8230; là với ba biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm &#8230; là với ba biểu hiện gì? Vị đã lìa tham ái hoặc là minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, hoặc là phân biệt rõ rồi thể nhập thiền quả, hoặc là dửng dưng với điều ấy rồi an trú với sự an trú không tánh, với sự an trú vô tướng, hoặc với sự an trú vô nguyện. Đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm &#8230; là với ba biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với phàm nhân và đối với vị hữu học, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi có cùng một bản chất là thế nào? Đối với phàm nhân, trong khi thích thú trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, tâm sẽ bị ô nhiễm, là sự ngăn trở cho việc tu tập, là chướng ngại cho sự thấu triệt, là duyên cho mầm tái sanh trong tương lai. Ngay cả đối với vị hữu học, trong khi thích thú trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, tâm bị sẽ ô nhiễm, là sự ngăn trở cho việc tu tập, &#8230; là duyên cho mầm tái sanh trong tương lai. Đối với phàm nhân và đối với vị hữu học, sự quả quyết của tâm &#8230; có cùng một bản chất theo ý nghĩa thích thú là như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm &#8230; có cùng một bản chất là thế nào? Phàm nhân minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là vô thường, là khổ não, là vô ngã. Vị hữu học cũng minh sát &#8230; là vô thường, là khổ não, là vô ngã. Vị đã lìa tham ái cũng minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là vô thường, là khổ não, là vô ngã. Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm &#8230; có cùng một bản chất theo ý nghĩa quả quyết là như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là có bản chất khác biệt như thế nào? Đối với phàm nhân, trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là thiện. Đối với vị hữu học, trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là thiện. Đối với vị đã lìa tham ái, trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là vô ký. Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm &#8230; là có bản chất khác biệt theo ý nghĩa thiện và vô ký là như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi có bản chất khác biệt là thế nào? Đối với phàm nhân, trạng thái xả đối với các pháp hữu vi có lúc biết được rõ rệt có lúc không biết được rõ rệt. Luôn cả đối với vị hữu học, trạng thái xả &#8230; Đối với vị đã lìa tham ái, trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là biết được hoàn toàn rõ rệt. Sự quả quyết của tâm &#8230; của phàm nhân, của vị hữu học, và của vị đã lìa tham ái có bản chất khác biệt theo ý nghĩa đã được biết và theo ý nghĩa đã không được biết là như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm &#8230; có bản chất khác biệt là thế nào? Phàm nhân minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi không được toàn vẹn. Vị hữu học minh sát &#8230; cũng không được toàn vẹn. Vị đã lìa tham ái minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi được toàn vẹn. Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm &#8230; có bản chất khác biệt theo ý nghĩa được toàn vẹn và theo ý nghĩa không được toàn vẹn là như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm &#8230; có bản chất khác biệt là thế nào? Phàm nhân minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhập Lưu để dứt bỏ ba sự ràng buộc.[9] Vị hữu học minh sát &#8230; nhằm mục đích thành tựu cao hơn do trạng thái đã được dứt bỏ ba sự ràng buộc. Vị đã lìa tham ái minh sát &#8230; nhằm mục đích lạc trú trong hiện tại do trạng thái đã được dứt bỏ toàn bộ phiền não. Sự quả quyết của tâm &#8230; của phàm nhân, của vị hữu học, và của vị đã lìa tham ái là có bản chất khác biệt theo ý nghĩa đã được dứt bỏ và theo ý nghĩa chưa được dứt bỏ là như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị hữu học và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm &#8230; có bản chất khác biệt là thế nào? Vị hữu học hoặc là thích thú, hoặc là minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, hoặc là phân biệt rõ rồi thể nhập thiền quả. Vị đã lìa tham ái hoặc là minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, hoặc là phân biệt rõ rồi thể nhập thiền quả, hoặc là dửng dưng đối với điều ấy rồi an trú với sự an trú không tánh, với sự an trú vô tướng, hoặc với sự an trú vô nguyện. Đối với vị hữu học và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là có bản chất khác biệt theo ý nghĩa an trú và thể nhập là như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có bao nhiêu trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của chỉ tịnh? Có bao nhiêu trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của minh sát? Có tám trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của chỉ tịnh. Có mười trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của minh sát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tám trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của chỉ tịnh là gì? Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ các pháp ngăn che nhằm mục đích thành tựu sơ thiền là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ tầm tứ nhằm mục đích thành tựu nhị thiền là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ hỷ nhằm mục đích thành tựu tam thiền là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ lạc và khổ nhằm mục đích thành tựu tứ thiền là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ sự nghĩ tưởng về sắc, sự nghĩ tưởng về bất bình, sự nghĩ tưởng về khác biệt nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt không vô biên xứ là trí về các trạng thái xả &#8230; Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt thức vô biên xứ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt vô sở hữu xứ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Đây là tám trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của chỉ tịnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mười trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của minh sát là gì? Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ sự tái sanh, sự vận hành, hiện tướng, (nghiệp) tích lũy, mầm tái sanh, cảnh giới tái sanh, sự tái tạo, sự sanh lên, sự sanh (ra), sự già, sự bệnh, sự chết, sự sầu muộn, sự than vãn, sự thất vọng nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhập Lưu là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ sự tái sanh, &#8230;(như trên)&#8230; nhằm mục đích chứng đạt Quả Nhập Lưu &#8230; nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhất Lai &#8230; nhằm mục đích chứng đạt Quả Nhất Lai &#8230; nhằm mục đích thành tựu Đạo Bất Lai &#8230; nhằm mục đích chứng đạt Quả Bất Lai &#8230; nhằm mục đích thành tựu Đạo A-la-hán &#8230; nhằm mục đích chứng đạt Quả A-la-hán &#8230; nhằm mục đích chứng đạt sự an trú không tánh &#8230; nhằm mục đích chứng đạt sự an trú vô tướng là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Đây là mười trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của minh sát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có bao nhiêu trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là thiện? Có bao nhiêu là bất thiện? Có bao nhiêu là vô ký? Có mười lăm trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là thiện. Có ba trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là vô ký. Không có trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là bất thiện.           </span></p>
<ol>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tuệ phân biệt, bình thản</i>,       </span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tám hành xứ của tâm:</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hai thuộc về phàm nhân,                      </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hữu học ba hành xứ,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>vị lìa ái có ba,                             </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tâm ly khai với chúng</i>.</span></p>
<ol start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tám do duyên của định</i>,           </span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>mười hành xứ của trí,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>mười tám xả các hành              </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>là duyên ba giải thoát</i>.[10]</span></p>
<ol start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Mười tám biểu hiện này,     </i></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>vị có tuệ hiểu rõ,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>thiện xảo trong xả hành,          </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>không động vì tà kiến</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.’ </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">10. Trí chuyển tộc:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thoát ra và ly khai ngoại phần là trí chuyển tộc là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Vượt trên sự tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Vượt trên sự vận hành’ là chuyển tộc. ‘Vượt trên hiện tướng’ &#8230; ‘Vượt trên (nghiệp) tích lũy’ &#8230; ‘Vượt trên mầm tái sanh’ &#8230; ‘Vượt trên cảnh giới tái sanh’ &#8230; ‘Vượt trên sự tái tạo’ &#8230; ‘Vượt trên sự sanh lên’ &#8230; ‘Vượt trên sự sanh (ra)’ &#8230; ‘Vượt trên sự già’ &#8230; ‘Vượt trên sự bệnh’ &#8230; ‘Vượt trên sự chết’ &#8230; ‘Vượt trên sự sầu muộn’ &#8230; ‘Vượt trên sự than vãn’ &#8230; ‘Vượt trên sự thất vọng’ là chuyển tộc. ‘Vượt trên hiện tướng của các hành ở ngoại phần’ là chuyển tộc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Dự phần vào[11] sự không tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Dự phần vào sự không vận hành’ là chuyển tộc. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Dự phần vào sự diệt tận Niết Bàn’ là chuyển tộc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Sau khi đã vượt trên sự tái sanh rồi dự phần vào sự không tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Sau khi đã vượt trên sự vận hành rồi dự phần vào sự không vận hành’ &#8230; ‘Sau khi đã vượt trên hiện tướng rồi dự phần vào không hiện tướng’ là chuyển tộc. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Sau khi đã vượt trên hiện tướng của các hành ở ngoại phần rồi dự phần vào sự diệt tận Niết Bàn’ là chuyển tộc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Thoát ra khỏi sự tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Thoát ra khỏi sự vận hành’ là chuyển tộc. ‘Thoát ra khỏi hiện tướng’ &#8230; ‘Thoát ra khỏi (nghiệp) tích lũy’ &#8230; ‘Thoát ra khỏi mầm tái sanh’ &#8230; ‘Thoát ra khỏi cảnh giới tái sanh’ &#8230; ‘Thoát ra khỏi sự tái tạo’ &#8230; ‘Thoát ra khỏi sự sanh lên’ &#8230; ‘Thoát ra khỏi sự sanh (ra)’ &#8230; ‘Thoát ra khỏi sự già’ &#8230; ‘Thoát ra khỏi sự bệnh’ &#8230; ‘Thoát ra khỏi sự chết’ &#8230; ‘Thoát ra khỏi sự sầu muộn’ &#8230; ‘Thoát ra khỏi sự than vãn’ &#8230; ‘Thoát ra khỏi sự thất vọng’ là chuyển tộc. ‘Thoát ra khỏi hiện tướng của các hành ở ngoại phần’ là chuyển tộc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> ‘Dự phần vào sự không tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Dự phần vào sự không vận hành’ là chuyển tộc. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Dự phần vào sự diệt tận Niết Bàn’ là chuyển tộc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Sau khi thoát ra khỏi <i>sự tái sanh</i> rồi dự phần vào <i>sự không tái sanh</i>’ là chuyển tộc. ‘Sau khi thoát ra khỏi <i>sự vận hành</i> rồi dự phần vào <i>sự không vận hành</i>’ là chuyển tộc. ‘Sau khi thoát ra khỏi <i>hiện tướng</i> &#8230; <i>không hiện tướng</i> &#8230;(nt)&#8230; (nghiệp) tích lũy &#8230; không (nghiệp) tích lũy &#8230;(nt)&#8230; mầm tái sanh &#8230; không mầm tái sanh &#8230;(nt)&#8230; cảnh giới tái sanh &#8230; không cảnh giới tái sanh &#8230;(nt)&#8230; sự tái tạo &#8230; sự không tái tạo &#8230;(nt)&#8230; sự sanh lên &#8230; sự không sanh lên &#8230;(nt)&#8230; sự sanh (ra) &#8230; sự không sanh (ra) &#8230;(nt)&#8230; sự già &#8230; sự không già &#8230;(nt)&#8230; sự bệnh &#8230; sự không bệnh &#8230;(nt)&#8230; sự chết &#8230; sự không chết &#8230;(nt)&#8230; sự sầu muộn &#8230; sự không sầu muộn &#8230;(nt)&#8230; sự than vãn &#8230; sự không than vãn &#8230;(nt)&#8230; sự thất vọng &#8230; sự không thất vọng &#8230; ‘Sau khi thoát ra khỏi <i>hiện tướng của các hành ở ngoại phần</i> rồi dự phần vào <i>sự diệt tận Niết Bàn</i>’ là chuyển tộc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Ly khai khỏi sự tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Ly khai khỏi sự vận hành’ là chuyển tộc. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Ly khai khỏi hiện tướng của các hành ở ngoại phần’ là chuyển tộc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Dự phần vào sự không tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Dự phần vào sự không vận hành’ là chuyển tộc. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Dự phần vào sự diệt tận Niết Bàn’ là chuyển tộc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Sau khi đã ly khai khỏi sự tái sanh rồi dự phần vào sự không tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Sau khi đã ly khai khỏi sự vận hành rồi dự phần vào sự không vận hành’ là chuyển tộc. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Sau khi đã ly khai khỏi hiện tướng của các hành ở ngoại phần rồi dự phần vào sự diệt tận Niết Bàn’ là chuyển tộc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có bao nhiêu sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của chỉ tịnh? Có bao nhiêu sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của minh sát? Có tám sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của chỉ tịnh. Có mười sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của minh sát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tám sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của chỉ tịnh là gì? ‘Vượt trên các pháp ngăn che nhằm mục đích thành tựu sơ thiền’ là chuyển tộc. ‘Vượt trên tầm tứ nhằm mục đích thành tựu nhị thiền’ &#8230; ‘Vượt trên hỷ nhằm mục đích thành tựu tam thiền’ &#8230; ‘Vượt trên lạc và khổ nhằm mục đích thành tựu tứ thiền’ &#8230; ‘Vượt trên sự nghĩ tưởng về sắc, sự nghĩ tưởng về bất bình, sự nghĩ tưởng về khác biệt nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt không vô biên xứ’ &#8230; ‘Vượt trên sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt thức vô biên xứ’ &#8230; ‘Vượt trên sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt vô sở hữu xứ’ &#8230; ‘Vượt trên sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ’ là chuyển tộc. Đây là tám sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của chỉ tịnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mười sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của minh sát là gì? ‘Vượt trên sự tái sanh, sự vận hành, hiện tướng, (nghiệp) tích lũy, mầm tái sanh, cảnh giới tái sanh, sự tái tạo, sự sanh lên, sự sanh (ra), sự già, sự bệnh, sự chết, sự sầu muộn, sự than vãn, sự thất vọng, hiện tướng của các hành ở ngoại phần nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhập Lưu’ là chuyển tộc. ‘Vượt trên sự tái sanh, sự vận hành, hiện tướng, (nghiệp) tích lũy, mầm tái sanh, &#8230;(như trên)&#8230; nhằm mục đích chứng đạt Quả Nhập Lưu’ &#8230;(như trên)&#8230; nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhất Lai &#8230;(như trên)&#8230; nhằm mục đích chứng đạt Quả Nhất Lai &#8230;(như trên)&#8230; nhằm mục đích thành tựu Đạo Bất Lai &#8230;(như trên)&#8230; nhằm mục đích chứng đạt Quả Bất Lai &#8230;(như trên)&#8230; nhằm mục đích thành tựu Đạo A-la-hán’ &#8230;(như trên)&#8230; nhằm mục đích chứng đạt Quả A-la-hán &#8230;(như trên)&#8230; nhằm mục đích chứng đạt sự an trú không tánh &#8230;(như trên)&#8230; ‘Vượt trên sự tái sanh, sự vận hành, hiện tướng, (nghiệp) tích lũy, mầm tái sanh, cảnh giới tái sanh, sự tái tạo, sự sanh lên, sự sanh (ra), sự già, sự bệnh, sự chết, sự sầu muộn, sự than vãn, sự thất vọng, hiện tướng của các hành ở ngoại phần nhằm mục đích chứng đạt sự an trú vô tướng’ là chuyển tộc. Đây là mười sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của minh sát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có bao nhiêu sự chuyển tộc là thiện? Có bao nhiêu là bất thiện? Có bao nhiêu là vô ký? Có mười lăm sự chuyển tộc là thiện. Có ba sự chuyển tộc là vô ký. Không có sự chuyển tộc là bất thiện.</span></p>
<ol>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> Vật chất, không vật chất,    </i></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>có nguyện và vô nguyện,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>ràng buộc, không ràng buộc,   </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>thoát được và không thoát.</i></span></p>
<ol start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> Tám do duyên của định,                 </i></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>mười hành xứ của trí,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>mười tám sự chuyển tộc          </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>là duyên ba giải thoát.</i></span></p>
<ol start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> Mười tám biểu hiện này,     </i></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>vị có tuệ hiểu rõ,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>khéo ly khai, thoát khỏi,                       </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>không động vì tà kiến.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự thoát ra và ly khai ngoại phần là trí chuyển tộc</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí chuyển tộc.’ </b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">11. Trí về Đạo:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo Nhập Lưu: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, thoát ra khỏi tà kiến, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh tư duy, theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), thoát ra khỏi tà tư duy, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh ngữ, theo ý nghĩa gìn giữ, thoát ra khỏi tà ngữ, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh nghiệp, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, thoát ra khỏi tà nghiệp, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh mạng, theo ý nghĩa trong sạch, thoát ra khỏi tà mạng, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy &#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh tinh tấn, theo ý nghĩa ra sức, thoát ra khỏi tà tinh tấn, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy &#8230;  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh niệm, theo ý nghĩa thiết lập, thoát ra khỏi tà niệm, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi tà định, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo Nhất Lai: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, &#8230;(như trên)&#8230; Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, thoát ra khỏi ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo Bất Lai: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, &#8230;(như trên)&#8230; Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, thoát ra khỏi ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo A-la-hán: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, &#8230;(như trên)&#8230; Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, thoát ra khỏi ngã mạn ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo</i>.”</span></p>
<ol>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> Sanh thiêu đốt vô sanh</i>,     </span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>vì thế gọi tham thiền,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>thiện xảo thiền, giải thoát,      </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>không động vì tà kiến</i>.</span></p>
<ol start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Như thế định rồi quán,                   </i></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>cũng vậy quán ở định,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>khi ấy quán và chỉ                     </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hành bình đẳng tương hợp</i>.</span></p>
<ol start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Thấy ‘Các hành là khổ,        </i></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>diệt tận là an lạc,’</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tuệ thoát khỏi cả hai                 </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>đạt được Đạo Bất Tử</i>.</span></p>
<ol start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị biết hành giải thoát,                  </i></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>rành rẽ dị và đồng,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>thiện xảo về hai trí,                   </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>không động vì tà kiến</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về Đạo.’ </b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">12. Trí về Quả:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự tịnh lặng của việc thực hành[12] là trí về Quả là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo Nhập Lưu: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, thoát ra khỏi tà kiến, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh kiến được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh tư duy, theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), thoát ra khỏi tà tư duy, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh tư duy được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh ngữ, theo ý nghĩa gìn giữ, thoát ra khỏi tà ngữ, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh ngữ được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh nghiệp, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, thoát ra khỏi tà nghiệp, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh nghiệp được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh mạng, theo ý nghĩa trong sạch, thoát ra khỏi tà mạng, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh mạng được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh tinh tấn, theo ý nghĩa ra sức, thoát ra khỏi tà tinh tấn, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh tinh tấn được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh niệm, theo ý nghĩa thiết lập, thoát ra khỏi tà niệm, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh niệm được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi tà định, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh định được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo Nhất Lai: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, &#8230;(như trên)&#8230; Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, thoát ra khỏi ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh định được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo Bất Lai: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, &#8230;(như trên)&#8230; Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, thoát ra khỏi ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh định được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo A-la-hán: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, &#8230;(như trên)&#8230; Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, thoát ra khỏi ngã mạn ngủ ngầm, hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh định được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự tịnh lặng của việc thực hành là trí về Quả</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về Quả.’</b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">13. Trí về Giải Thoát:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc quán xét phiền não đã được cắt lìa là trí về giải thoát là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhờ vào Đạo Nhập Lưu, sự nhận thức sai trái về thân, sự hoài nghi, sự bám víu vào giới và nghi thức, tà kiến ngủ ngầm, hoài nghi ngủ ngầm là các tùy phiền não thuộc tâm của hành giả được đoạn trừ hoàn toàn. Tâm được giải thoát, được hoàn toàn giải thoát khỏi năm tùy phiền não này và các sự xâm nhập (của chúng). Việc giải thoát ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về việc quán xét phiền não đã được cắt lìa là trí về giải thoát</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhờ vào Đạo Nhất Lai, sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm là các tùy phiền não có tính chất thô thiển thuộc tâm của hành giả được đoạn trừ hoàn toàn. Tâm được giải thoát, được hoàn toàn giải thoát khỏi bốn tùy phiền não này và các sự xâm nhập (của chúng). Việc giải thoát ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về việc quán xét phiền não đã được cắt lìa là trí về giải thoát</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhờ vào Đạo Bất Lai, sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế là các tùy phiền não thuộc tâm của hành giả được đoạn trừ hoàn toàn. Tâm được giải thoát, được hoàn toàn giải thoát khỏi bốn tùy phiền não này và các sự xâm nhập (của chúng). Việc giải thoát ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về việc quán xét phiền não đã được cắt lìa là trí về giải thoát</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhờ vào Đạo A-la-hán, ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ngã mạn ngủ ngầm, hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm là các tùy phiền não thuộc tâm của hành giả được đoạn trừ hoàn toàn. Tâm được giải thoát, được hoàn toàn giải thoát khỏi tám tùy phiền não này và các sự xâm nhập (của chúng). Việc giải thoát ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về việc quán xét phiền não đã được cắt lìa là trí về giải thoát</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về việc quán xét phiền não đã được cắt lìa là trí về giải thoát</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về giải thoát.’</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">14. Trí về việc quán xét lại:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc nhìn thấy các pháp đã được sanh khởi vào khi ấy là trí về việc quán xét lại là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo Nhập Lưu: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh tư duy, theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh ngữ, theo ý nghĩa gìn giữ, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh nghiệp, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh mạng, theo ý nghĩa trong sạch, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh tinh tấn, theo ý nghĩa ra sức, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh niệm, theo ý nghĩa thiết lập, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, đã được sanh khởi vào khi ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Niệm giác chi, theo ý nghĩa thiết lập, đã được sanh khởi vào khi ấy. Trạch pháp giác chi, theo ý nghĩa suy xét, đã được sanh khởi vào khi ấy. Cần giác chi, theo ý nghĩa ra sức, đã được sanh khởi vào khi ấy. Hỷ giác chi, theo ý nghĩa lan tỏa, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tịnh giác chi, theo ý nghĩa an tịnh, đã được sanh khởi vào khi ấy. Định giác chi, theo ý nghĩa không tản mạn, đã được sanh khởi vào khi ấy. Xả giác chi, theo ý nghĩa phân biệt rõ, đã được sanh khởi vào khi ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tín lực, theo ý nghĩa không dao động ở sự không có đức tin, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tấn lực, theo ý nghĩa không dao động ở sự biếng nhác, đã được sanh khởi vào khi ấy. Niệm lực, theo ý nghĩa không dao động ở sự buông lung, đã được sanh khởi vào khi ấy. Định lực, theo ý nghĩa không dao động ở sự phóng dật, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tuệ lực, theo ý nghĩa không dao động ở sự không sáng suốt, đã được sanh khởi vào khi ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tín quyền, theo ý nghĩa cương quyết, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tấn quyền, theo ý nghĩa ra sức, đã được sanh khởi vào khi ấy. Niệm quyền, theo ý nghĩa thiết lập, đã được sanh khởi vào khi ấy. Định quyền, theo ý nghĩa không tản mạn, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tuệ quyền, theo ý nghĩa nhận thức, đã được sanh khởi vào khi ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các quyền, theo ý nghĩa pháp chủ đạo, đã được sanh khởi vào khi ấy. Các lực, theo ý nghĩa không dao động, đã được sanh khởi vào khi ấy. Các giác chi, theo ý nghĩa dẫn xuất (ra khỏi luân hồi), đã được sanh khởi vào khi ấy. Đạo, theo ý nghĩa chủng tử, đã được sanh khởi vào khi ấy. Các sự thiết lập niệm, theo ý nghĩa thiết lập, đã được sanh khởi vào khi ấy. Các chánh cần, theo ý nghĩa nỗ lực, đã được sanh khởi vào khi ấy. Các nền tảng của thần thông, theo ý nghĩa thành tựu, đã được sanh khởi vào khi ấy. Các chân lý, theo ý nghĩa của thực thể, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chỉ tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, đã được sanh khởi vào khi ấy. Minh sát, theo ý nghĩa quán xét, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chỉ tịnh và minh sát, theo ý nghĩa nhất vị, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sự kết hợp chung, theo ý nghĩa không vượt trội, đã được sanh khởi vào khi ấy. Giới thanh tịnh, theo ý nghĩa thu thúc, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tâm thanh tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, đã được sanh khởi vào khi ấy. Kiến thanh tịnh, theo ý nghĩa nhận thức, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sự giải thoát, theo ý nghĩa được phóng thích, đã được sanh khởi vào khi ấy. Minh, theo ý nghĩa thấu triệt, đã được sanh khởi vào khi ấy. Giải thoát, theo ý nghĩa buông bỏ, đã được sanh khởi vào khi ấy. Trí về sự đoạn tận, theo ý nghĩa đoạn trừ, đã được sanh khởi vào khi ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ước muốn, theo ý nghĩa nguồn cội, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tác ý, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, đã được sanh khởi vào khi ấy. Xúc, theo ý nghĩa liên kết, đã được sanh khởi vào khi ấy. Thọ, theo ý nghĩa hội tụ, đã được sanh khởi vào khi ấy. Định, theo ý nghĩa dẫn đầu, đã được sanh khởi vào khi ấy. Niệm, theo ý nghĩa pháp chủ đạo, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tuệ, theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sự giải thoát, theo ý nghĩa cốt lỏi, đã được sanh khởi vào khi ấy. Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sau khi đã thoát ra vị ấy quán xét lại. Đây là các pháp đã được sanh khởi vào khi ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Quả Nhập Lưu: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh tư duy, theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), đã được sanh khởi vào khi ấy. &#8230;(như trên)&#8230; Trí về sự vô sanh, theo ý nghĩa tĩnh lặng, đã được sanh khởi vào khi ấy. Ước muốn, theo ý nghĩa nguồn cội, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tác ý, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, đã được sanh khởi vào khi ấy. Xúc, theo ý nghĩa liên kết, đã được sanh khởi vào khi ấy. Thọ, theo ý nghĩa hội tụ, đã được sanh khởi vào khi ấy. Định, theo ý nghĩa dẫn đầu, đã được sanh khởi vào khi ấy. Niệm, theo ý nghĩa pháp chủ đạo, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tuệ, theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sự giải thoát, theo ý nghĩa cốt lỏi, đã được sanh khởi vào khi ấy. Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sau khi đã thoát ra vị ấy quán xét lại. Đây là các pháp đã được sanh khởi vào khi ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo Nhất Lai: &#8230;(như trên)&#8230; Vào sát-na Quả Nhất Lai: &#8230;(như trên)&#8230; Vào sát-na Đạo Bất Lai: &#8230;(như trên)&#8230; Vào sát-na Quả Bất Lai: &#8230;(như trên)&#8230; Vào sát-na Đạo A-la-hán: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, đã được sanh khởi vào khi ấy. &#8230;(như trên)&#8230; Trí về sự đoạn tận, theo ý nghĩa đoạn trừ, đã được sanh khởi vào khi ấy. Ước muốn, theo ý nghĩa nguồn cội, đã được sanh khởi vào khi ấy. &#8230;(như trên)&#8230; Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sau khi đã thoát ra vị ấy quán xét lại. Đây là các pháp đã được sanh khởi vào khi ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Quả A-la-hán: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, đã được sanh khởi vào khi ấy. &#8230;(như trên)&#8230; Trí về sự vô sanh, theo ý nghĩa tĩnh lặng, đã được sanh khởi vào khi ấy. Ước muốn với nguồn cội, đã được sanh khởi vào khi ấy. &#8230;(như trên)&#8230; Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sau khi đã thoát ra vị ấy quán xét lại. Đây là các pháp đã được sanh khởi vào khi ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về việc nhìn thấy các pháp đã được sanh khởi vào khi ấy là trí về việc quán xét lại</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về việc quán xét lại.’ </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">15. Trí về tính chất khác biệt của các vật nương:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc xác định nội phần là trí về tính chất khác biệt của các vật nương là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định các pháp thuộc nội phần là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định mắt thuộc nội phần, xác định tai thuộc nội phần, xác định mũi thuộc nội phần, xác định lưỡi thuộc nội phần, xác định thân thuộc nội phần, xác định ý thuộc nội phần.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định mắt thuộc nội phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Mắt được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Mắt được hiện hữu do ái,’ xác định rằng: ‘Mắt được hiện hữu do nghiệp,’ xác định rằng: ‘Mắt được hiện hữu do vật thực,’ xác định rằng: ‘Mắt nương vào tứ đại,’ xác định rằng: ‘Mắt được sanh lên,’ xác định rằng: ‘Mắt được hiện khởi,’ xác định rằng: ‘Mắt đã là không hiện hữu, sau khi hiện hữu sẽ không tồn tại,’ xác định mắt có sự hạn chế, xác định rằng: ‘Mắt là pháp không vững chắc, không thường còn, có sự chuyển biến,’ xác định rằng: ‘Mắt là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với mắt, (hành giả) xác định là vô thường, không phải là thường; (hành giả) xác định là khổ não, không phải là lạc; (hành giả) xác định là vô ngã, không phải là ngã; (hành giả) nhàm chán, không vui thích; (hành giả) ly tham ái, không tham ái; (hành giả) làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi; (hành giả) từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi xác định là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; trong khi xác định là khổ não, (hành giả) dứt bỏ lạc tưởng; trong khi xác định là vô ngã, (hành giả) dứt bỏ ngã tưởng; trong khi nhàm chán, (hành giả) dứt bỏ sự vui thích; trong khi ly tham ái, (hành giả) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (hành giả) dứt bỏ sự sanh khởi; trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ. Xác định mắt thuộc nội phần là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định tai thuộc nội phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Tai được hiện hữu do vô minh.’ &#8230;(như trên)&#8230; Xác định tai thuộc nội phần là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định mũi thuộc nội phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Mũi được hiện hữu do vô minh.’ &#8230;(như trên)&#8230; Xác định mũi thuộc nội phần là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định lưỡi thuộc nội phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Lưỡi được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Lưỡi được hiện hữu do ái,’ xác định rằng: ‘Lưỡi được hiện hữu do nghiệp,’ xác định rằng: ‘Lưỡi được hiện hữu do vật thực,’ xác định rằng: ‘Lưỡi nương vào tứ đại,’ xác định rằng: ‘Lưỡi được sanh lên,’ xác định rằng: ‘Lưỡi được hiện khởi,’ xác định rằng: ‘Lưỡi đã là không hiện hữu, sau khi hiện hữu sẽ không tồn tại,’ xác định lưỡi có sự hạn chế, xác định rằng: ‘Lưỡi là pháp không vững chắc, không thường còn, có sự chuyển biến,’ xác định rằng: ‘Lưỡi là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với lưỡi, (hành giả) xác định là vô thường, không phải là thường; &#8230;(như trên)&#8230; (hành giả) từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi xác định là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; &#8230;(như trên)&#8230; trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ. Xác định lưỡi thuộc nội phần là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định thân thuộc nội phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Thân được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Thân được hiện hữu do ái,’ xác định rằng: ‘Thân được hiện hữu do nghiệp,’ xác định rằng: ‘Thân được hiện hữu do vật thực,’ xác định rằng: ‘Thân nương vào tứ đại,’ xác định rằng: ‘Thân được sanh lên,’ &#8230;(như trên)&#8230; Đối với thân, (hành giả) xác định là vô thường, không phải là thường; (hành giả) xác định là khổ não, không phải là lạc; &#8230;(như trên)&#8230; (hành giả) từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi xác định là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; trong khi xác định là khổ não, (hành giả) dứt bỏ lạc tưởng; &#8230;(như trên)&#8230; trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ. Xác định thân thuộc nội phần là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định ý thuộc nội phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Ý được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Ý được hiện hữu do ái,’ xác định rằng: ‘Ý được hiện hữu do nghiệp,’ xác định rằng: ‘Ý được hiện hữu do vật thực,’ xác định rằng: ‘Ý được sanh lên,’ xác định rằng: ‘Ý được hiện khởi,’ xác định rằng: ‘Ý đã là không hiện hữu, sau khi hiện hữu sẽ không tồn tại,’ xác định ý có sự hạn chế, xác định rằng: ‘Ý là pháp không vững chắc, không thường còn, có sự chuyển biến,’ xác định rằng: ‘Ý là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận.’ Đối với ý, (hành giả) xác định là vô thường, không phải là thường; (hành giả) xác định là khổ não, không phải là lạc; (hành giả) xác định là vô ngã, không phải là ngã; (hành giả) nhàm chán, không vui thích; (hành giả) ly tham ái, không tham ái; (hành giả) làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi; (hành giả) từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi xác định là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; trong khi xác định là khổ não, (hành giả) dứt bỏ lạc tưởng; trong khi xác định là vô ngã, (hành giả) dứt bỏ ngã tưởng; trong khi nhàm chán, (hành giả) dứt bỏ sự vui thích; trong khi ly tham ái, (hành giả) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (hành giả) dứt bỏ sự sanh khởi; trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ. Xác định ý thuộc nội phần là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về việc xác định nội phần là trí về tính chất khác biệt của các vật nương</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về tính chất khác biệt của các vật nương.’ </b>  </span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">16. Trí về tính chất khác biệt của các hành xứ:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc xác định ngoại phần là trí về tính chất khác biệt của các hành xứ là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định các pháp thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định các sắc thuộc ngoại phần, xác định các thinh thuộc ngoại phần, xác định các khí thuộc ngoại phần, xác định các vị thuộc ngoại phần, xác định các xúc thuộc ngoại phần, xác định các pháp thuộc ngoại phần.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định các sắc thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Các sắc được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Các sắc được hiện hữu do ái,’ xác định rằng: ‘Các sắc được hiện hữu do nghiệp,’ xác định rằng: ‘Các sắc được hiện hữu do vật thực,’ xác định rằng: ‘Các sắc nương vào tứ đại,’ xác định rằng: ‘Các sắc được sanh lên,’ xác định rằng: ‘Các sắc được hiện khởi,’ xác định rằng: ‘Các sắc đã là không hiện hữu, sau khi hiện hữu sẽ không tồn tại,’ xác định các sắc có sự hạn chế, xác định rằng: ‘Các sắc là pháp không vững chắc, không thường còn, có sự chuyển biến,’ xác định rằng: ‘Các sắc là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với các sắc, (hành giả) xác định là vô thường, không phải là thường; (hành giả) xác định là khổ não, không phải là lạc; (hành giả) xác định là vô ngã, không phải là ngã; (hành giả) nhàm chán, không vui thích; (hành giả) ly tham ái, không tham ái; (hành giả) làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi; (hành giả) từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi xác định là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; trong khi xác định là khổ não, (hành giả) dứt bỏ lạc tưởng; trong khi xác định là vô ngã, (hành giả) dứt bỏ ngã tưởng; trong khi nhàm chán, (hành giả) dứt bỏ sự vui thích; trong khi ly tham ái, (hành giả) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (hành giả) dứt bỏ sự sanh khởi; trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ. Xác định các sắc thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định các thinh thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Các thinh nương vào tứ đại,’ xác định rằng: ‘Các thinh được sanh lên,’ xác định rằng: ‘Các thinh được hiện khởi,’ xác định rằng: ‘Các thinh đã là không hiện hữu, sau khi hiện hữu sẽ không tồn tại,’ xác định các thinh có sự hạn chế, xác định rằng: ‘Các thinh là pháp không vững chắc, không thường còn, có sự chuyển biến,’ xác định rằng: ‘Các thinh là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với các thinh, (hành giả) xác định là vô thường, không phải là thường; &#8230;(như trên)&#8230; Xác định các thinh thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định các khí thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Các khí được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Các khí được hiện hữu do ái.’ &#8230;(như trên)&#8230; Xác định các khí thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định các vị thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Các vị được hiện hữu do vô minh.’ &#8230;(như trên)&#8230; Xác định các vị thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định các xúc thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Các xúc được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Các xúc được hiện hữu do ái,’ xác định rằng: ‘Các xúc được hiện hữu do nghiệp,’ xác định rằng: ‘Các xúc được hiện hữu do vật thực,’ xác định rằng: ‘Các xúc được sanh lên,’ xác định rằng: ‘Các xúc được hiện khởi.’ &#8230;(như trên)&#8230; Xác định các xúc thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định các pháp thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Các pháp được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Các pháp được hiện hữu do ái,’ xác định rằng: ‘Các pháp được hiện hữu do nghiệp,’ xác định rằng: ‘Các pháp được hiện hữu do vật thực,’ xác định rằng: ‘Các pháp nương vào tứ đại,’ xác định rằng: ‘Các pháp được sanh lên,’ xác định rằng: ‘Các pháp được hiện khởi,’ xác định rằng: ‘Các pháp đã là không hiện hữu, sau khi hiện hữu sẽ không tồn tại,’ xác định các pháp có sự hạn chế, xác định rằng: ‘Các pháp là pháp không vững chắc, không thường còn, có sự chuyển biến,’ xác định rằng: ‘Các pháp là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với các pháp, (hành giả) xác định là vô thường, không phải là thường; (hành giả) xác định là khổ não, không phải là lạc; (hành giả) xác định là vô ngã, không phải là ngã; (hành giả) nhàm chán, không vui thích; (hành giả) ly tham ái, không tham ái; (hành giả) làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi; (hành giả) từ bỏ, không nắm giữ. &#8230;(như trên)&#8230; Trong khi xác định là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; trong khi xác định là khổ não, (hành giả) dứt bỏ lạc tưởng; trong khi xác định là vô ngã, (hành giả) dứt bỏ ngã tưởng; trong khi nhàm chán, (hành giả) dứt bỏ sự vui thích; trong khi ly tham ái, (hành giả) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (hành giả) dứt bỏ sự sanh khởi; trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ. Xác định các pháp thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về việc xác định ngoại phần là trí về tính chất khác biệt của các hành xứ</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về tính chất khác biệt của các hành xứ.’ </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">17. Trí về tính chất khác biệt của các hành vi:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc xác định hành vi là trí về tính chất khác biệt của các hành vi là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành vi</b>: Có ba hành vi: hành vi của thức, hành vi của vô trí, hành vi của trí.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành vi của thức là gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích nhìn thấy các sắc là hành vi của thức. Ý nghĩa của việc nhìn thấy các sắc, tức là nhãn thức, là hành vi của thức. Bản thể của việc đã nhìn thấy các sắc, tức là ý giới tiếp thâu kết quả việc gắn chặt (tâm vào cảnh), là hành vi của thức. Bản thể của việc đã được gắn chặt vào các sắc, tức là ý thức giới quan sát kết quả, là hành vi của thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích nghe các thinh là hành vi của thức. Ý nghĩa của việc nghe các thinh, tức là nhĩ thức, là hành vi của thức. Bản thể của việc đã nghe được các thinh, tức là ý giới tiếp thâu kết quả việc gắn chặt (tâm vào cảnh), là hành vi của thức. Bản thể của việc đã được gắn chặt vào các thinh, tức là ý thức giới quan sát kết quả, là hành vi của thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích ngửi các khí là hành vi của thức. Ý nghĩa của việc ngửi các khí, tức là tỷ thức, là hành vi của thức. Bản thể của việc đã ngửi được các khí tức là ý giới tiếp thâu kết quả việc gắn chặt (tâm vào cảnh), là hành vi của thức. Bản thể của việc đã được gắn chặt vào các khí, tức là ý thức giới quan sát kết quả, là hành vi của thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích nếm các vị là hành vi của thức. Ý nghĩa của việc nếm các vị, tức là thiệt thức, là hành vi của thức. Bản thể của việc đã nếm được các vị tức là ý giới tiếp thâu kết quả việc gắn chặt (tâm vào cảnh), là hành vi của thức. Bản thể của việc đã được gắn chặt vào các vị, tức là ý thức giới quan sát kết quả, là hành vi của thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích đụng chạm các xúc là hành vi của thức. Ý nghĩa của việc đụng chạm các xúc, tức là thân thức, là hành vi của thức. Bản thể của việc đã đụng chạm các xúc, tức là ý giới tiếp thâu kết quả việc gắn chặt (tâm vào cảnh), là hành vi của thức. Bản thể của việc đã được gắn chặt vào các xúc, tức là ý thức giới quan sát kết quả, là hành vi của thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích nhận biết các pháp là hành vi của thức. Ý nghĩa của việc nhận biết các pháp, tức là ý thức, là hành vi của thức. Bản thể của việc đã được nhận biết các pháp, tức là ý giới tiếp thâu kết quả việc gắn chặt (tâm vào cảnh), là hành vi của thức. Bản thể của việc đã được gắn chặt vào các pháp, tức là ý thức giới quan sát kết quả, là hành vi của thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành vi của thức:</b> Hành vi của thức theo ý nghĩa gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Hành xử không có tham ái’ là hành vi của thức. ‘Hành xử không có sân’ là hành vi của thức. ‘Hành xử không có si’ là hành vi của thức. ‘Hành xử không có ngã mạn’ là hành vi của thức. ‘Hành xử không có tà kiến’ là hành vi của thức. ‘Hành xử không có phóng dật’ &#8230; ‘Hành xử không có hoài nghi’ là hành vi của thức. ‘Hành xử không có (yếu tố) ngủ ngầm’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với tham ái’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với sân’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với si’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với ngã mạn’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với tà kiến’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với phóng dật’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với hoài nghi’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với (yếu tố) ngủ ngầm’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp thiện’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp bất thiện’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp có tội’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp không có tội’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp đen’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp trắng’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp tăng trưởng lạc’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp tăng trưởng khổ’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp có kết quả lạc’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp có kết quả khổ’ &#8230; ‘Hành xử khi đã biết (cảnh)’ là hành vi của thức. ‘Hành vi có hình thức như thế của thức’ là hành vi của thức. ‘Tâm này thanh tịnh ở trạng thái tự nhiên theo ý nghĩa xa lìa phiền não’ là hành vi của thức. Đây là hành vi của thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành vi của vô trí là gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của tham ái đối với các sắc thích ý là hành vi của thức, do sự thôi thúc của tham ái là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của sân đối với các sắc không thích ý là hành vi của thức, do sự thôi thúc của sân là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của si đối với đối tượng không có sự quan tâm bởi một trong hai (tham ái hoặc sân) là hành vi của thức, do sự thôi thúc của si là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của ngã mạn cố chấp là hành vi của thức, do sự thôi thúc của ngã mạn là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của tà kiến đã tiêm nhiễm là hành vi của thức, do sự thôi thúc của tà kiến là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của phóng dật đưa đến sự tản mạn là hành vi của thức, do sự thôi thúc của phóng dật là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của hoài nghi đưa đến không quyết đoán là hành vi của thức, do sự thôi thúc của hoài nghi là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của ngủ ngầm đưa đến động lực là hành vi của thức, do sự thôi thúc của ngủ ngầm là hành vi của vô trí.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của tham ái đối với các thinh hợp ý &#8230;(như trên)&#8230; đối với các khí hợp ý &#8230;(như trên)&#8230; đối với các vị hợp ý &#8230;(như trên)&#8230; đối với các xúc hợp ý &#8230;(như trên)&#8230; đối với các pháp hợp ý là hành vi của thức, do sự thôi thúc của tham ái là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của sân đối với các pháp không hợp ý là hành vi của thức, do sự thôi thúc của sân là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của si đối với đối tượng không có sự quan tâm bởi một trong hai (tham ái hoặc sân) là hành vi của thức, do sự thôi thúc của si là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của ngã mạn cố chấp là hành vi của thức, do sự thôi thúc của ngã mạn là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của tà kiến đã tiêm nhiễm là hành vi của thức, do sự thôi thúc của tà kiến là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của phóng dật đưa đến sự tản mạn là hành vi của thức, do sự thôi thúc của phóng dật là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của hoài nghi đưa đến không quyết đoán là hành vi của thức, do sự thôi thúc của hoài nghi là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của ngủ ngầm đưa đến động lực là hành vi của thức, do sự thôi thúc của ngủ ngầm là hành vi của vô trí.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành vi của vô trí:</b> Với ý nghĩa gì là hành vi của vô trí?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Hành xử do tham ái’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do sân’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do si’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do ngã mạn’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do tà kiến ‘ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do phóng dật’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do hoài nghi’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do (yếu tố) ngủ ngầm’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do liên kết với tham ái’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do liên kết với sân’ &#8230; ‘Hành xử do liên kết với si’ &#8230; ‘Hành xử do liên kết với ngã mạn’ &#8230; ‘Hành xử do liên kết với tà kiến’ &#8230; ‘Hành xử do liên kết với phóng dật’ &#8230; ‘Hành xử do liên kết với hoài nghi’ &#8230; ‘Hành xử do liên kết với (yếu tố) ngủ ngầm’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp thiện’ &#8230; ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp bất thiện’ &#8230; ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp có tội’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp không có tội’ &#8230; ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp đen’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp trắng’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp tăng trưởng lạc’ &#8230; ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp tăng trưởng khổ’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp có kết quả lạc’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp có kết quả khổ’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử khi chưa biết (cảnh)’ là hành vi của vô trí. ‘Hành vi có hình thức như thế của vô trí’ là hành vi của vô trí. Đây là hành vi của vô trí.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành vi của trí là gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích quán xét về vô thường là hành vi của thức, sự quán xét về vô thường là hành vi của trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích quán xét về khổ não là hành vi của thức, sự quán xét về khổ não là hành vi của trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích quán xét về vô ngã là hành vi của thức, sự quán xét về vô ngã là hành vi của trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích quán xét về nhàm chán &#8230;, nhằm mục đích quán xét về ly tham ái &#8230;, nhằm mục đích quán xét về diệt tận &#8230;, nhằm mục đích quán xét về từ bỏ &#8230;, nhằm mục đích quán xét về đoạn tận &#8230;, nhằm mục đích quán xét về biến hoại &#8230;, nhằm mục đích quán xét về chuyển biến &#8230;, nhằm mục đích quán xét về vô tướng &#8230;, nhằm mục đích quán xét về vô nguyện &#8230;, nhằm mục đích quán xét về không tánh &#8230;, nhằm mục đích quán xét các pháp bằng thắng tuệ &#8230;, nhằm mục đích của sự biết và thấy đúng theo thực thể &#8230;, nhằm mục đích quán xét về sự tai hại &#8230; nhằm mục đích quán xét về phân biệt rõ là hành vi của thức, sự quán xét về phân biệt rõ là hành vi của trí. Sự quán xét về ly khai là hành vi của trí. Đạo Nhập Lưu là hành vi của trí. Sự chứng đạt Quả Nhập Lưu là hành vi của trí. Đạo Nhất Lai &#8230; Sự chứng đạt Quả Nhất Lai &#8230; Đạo Bất Lai &#8230; Sự chứng đạt Quả Bất Lai &#8230; Đạo A-la-hán là hành vi của trí. Sự chứng đạt Quả A-la-hán là hành vi của trí.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành vi của trí:</b> Với ý nghĩa gì là hành vi của trí?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Hành xử không có tham ái’ là hành vi của trí. ‘Hành xử không có sân’ là hành vi của trí. ‘Hành xử không có si’ là hành vi của trí. ‘Hành xử không có ngã mạn’ là hành vi của trí. ‘Hành xử không có tà kiến’ là hành vi của trí. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp thiện’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp bất thiện’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp có tội’ &#8230; ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp không có tội’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp đen’ &#8230; ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp trắng’ &#8230; ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp tăng trưởng lạc’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp tăng trưởng khổ’ &#8230; ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp có kết quả lạc’ &#8230; ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp có kết quả khổ’ &#8230; ‘Hành xử khi đã biết’ &#8230; ‘Hành vi có hình thức như thế của trí’ là hành vi của trí. Đây là hành vi của trí.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Như thế, hành vi của thức là loại khác, hành vi của vô trí là loại khác, hành vi của trí là loại khác (nữa). Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về việc xác định hành vi là trí về tính chất khác biệt của các hành vi.</i>”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về tính chất khác biệt của các hành vi.’ </b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">18. Trí về tính chất khác biệt của các lãnh vực:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc xác định bốn pháp là trí về tính chất khác biệt của các lãnh vực là (có ý nghĩa) thế nào? Có bốn lãnh vực: lãnh vực dục giới, lãnh vực sắc giới, lãnh vực vô sắc giới, lãnh vực không bị lệ thuộc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lãnh vực dục giới là gì? Lấy ranh giới bên dưới là địa ngục Vô Gián và lấy giới hạn bên trên là chư thiên Tha Hóa Tự Tại, khoảng giữa này là nơi mà­các uẩn, các giới, các xứ, các sắc, các thọ, các tưởng, các hành, và thức­có sự sinh hoạt ở nơi ấy, bị giới hạn ở nơi ấy; đây là lãnh vực dục giới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lãnh vực sắc giới là gì? Lấy ranh giới bên dưới là thế giới Phạm Thiên và lấy giới hạn bên trên là chư thiên Sắc Cứu Cánh, khoảng giữa này là nơi mà­các pháp về tâm và sở hữu tâm của vị đang thể nhập, hoặc của vị đã được sanh lên, hoặc của vị có sự an trú lạc trong hiện tại­có sự sinh hoạt ở nơi ấy, bị giới hạn ở nơi ấy; đây là lãnh vực sắc giới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lãnh vực vô sắc giới là gì? Lấy ranh giới bên dưới là chư thiên đạt đến Không Vô Biên Xứ và lấy giới hạn bên trên là chư thiên đạt đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, khoảng giữa này là nơi mà­các pháp về tâm và sở hữu tâm của vị đang thể nhập, hoặc của vị đã được sanh lên, hoặc của vị có sự an trú lạc trong hiện tại­có sự sinh hoạt ở nơi ấy, bị giới hạn ở nơi ấy; đây là lãnh vực vô sắc giới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lãnh vực không bị lệ thuộc là gì? Các Đạo, các Quả của Đạo, và Niết Bàn là không bị lệ thuộc; đây là lãnh vực không bị lệ thuộc. Đây là bốn lãnh vực.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Còn có bốn lãnh vực khác nữa là bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn như ý túc, bốn thiền, bốn vô lượng (tâm), bốn sự chứng đạt vô sắc, bốn phân tích, bốn sự thực hành,[13]bốn cảnh,[14] bốn truyền thống của bậc Thánh,[15] bốn sự việc thâu phục,[16] bốn bánh xe (đưa đến tiến hóa),[17] bốn nền tảng trong pháp;[18] đây là bốn lãnh vực.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về việc xác định bốn pháp là trí về tính chất khác biệt của các lãnh vực</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về tính chất khác biệt của các lãnh vực.’ </b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">19. Trí về tính chất khác biệt của các pháp:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về việc xác định chín pháp là trí về tính chất khác biệt của các pháp là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xác định các pháp là (có ý nghĩa) thế nào? Về các pháp dục giới, (hành giả) xác định thiện, xác định bất thiện, xác định vô ký. Về các pháp sắc giới, (hành giả) xác định thiện, xác định vô ký. Về các pháp vô sắc giới, (hành giả) xác định thiện, xác định vô ký. Về các pháp không bị lệ thuộc, (hành giả) xác định thiện, xác định vô ký.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Về các pháp dục giới, xác định thiện, xác định bất thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) thế nào? Về mười phương thức của nghiệp thiện, (hành giả) xác định là thiện. Về mười phương thức của nghiệp bất thiện, (hành giả) xác định là bất thiện. Về sắc, nghiệp quả, và duy tác, (hành giả) xác định là vô ký. Về các pháp dục giới, xác định thiện, xác định bất thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Về các pháp sắc giới, xác định thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) thế nào? Về bốn thiền của vị hiện ở thế gian này, (hành giả) xác định là thiện. Về bốn thiền của vị đã tái sanh đến nơi ấy, (hành giả) xác định là vô ký. Về các pháp sắc giới, xác định thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Về các pháp vô sắc giới, xác định thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) thế nào? Về bốn sự chứng đạt vô sắc giới của vị hiện ở thế gian này, (hành giả) xác định là thiện. Về bốn sự chứng đạt vô sắc giới của vị đã tái sanh đến nơi ấy, (hành giả) xác định là vô ký. Về các pháp vô sắc giới, xác định thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Về các pháp không bị lệ thuộc, xác định thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) thế nào? Về bốn Thánh Đạo, (hành giả) xác định là thiện. Về bốn Quả tương ứng và Niết Bàn, (hành giả) xác định là vô ký. Về các pháp không bị lệ thuộc, xác định thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) như thế. Như vậy là xác định các pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chín cội nguồn của sự hân hoan</b>: Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về vô thường. Khi (hành giả) được hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi tâm có hỷ, thân trở nên tịnh. Khi thân được tịnh, (hành giả) nhận biết lạc. Khi có lạc, tâm được định. Khi tâm được định, (hành giả) nhận biết và thấy đúng theo thực thể. Khi nhận biết và thấy đúng theo thực thể, (hành giả) nhàm chán. Khi nhàm chán, (hành giả) ly tham ái. Do ly tham ái, (hành giả) được giải thoát. Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về khổ não, &#8230;(như trên)&#8230; Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về vô ngã, &#8230;(như trên)&#8230; </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về sắc là vô thường. &#8230;(nt)&#8230; Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về sắc là khổ não. &#8230;(nt)&#8230; Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về sắc là vô ngã. &#8230;(nt)&#8230; Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về thọ &#8230; tưởng &#8230; các hành &#8230; thức &#8230; mắt &#8230; lão tử là vô thường. &#8230;(nt)&#8230; Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về lão tử là khổ não. &#8230;(nt)&#8230; Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về lão tử là vô ngã. Khi (hành giả) được hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi tâm có hỷ, thân trở nên tịnh. Khi thân được tịnh, (hành giả) nhận biết lạc. Khi có lạc, tâm được định. Khi tâm được định, (hành giả) nhận biết và thấy đúng theo thực thể. Khi nhận biết và thấy đúng theo thực thể, (hành giả) nhàm chán. Khi nhàm chán, (hành giả) ly tham ái. Do ly tham ái, (hành giả) được giải thoát. Đây là chín cội nguồn của sự hân hoan.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chín cội nguồn của sự tác ý đúng đường lối:</b> Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về vô thường. Khi (hành giả) được hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi tâm có hỷ, thân trở nên tịnh. Khi thân được tịnh, (hành giả) nhận biết lạc. Khi có lạc, tâm được định, do tâm được định, (hành giả) nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về khổ não. Khi (hành giả) được hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi tâm có hỷ, thân trở nên tịnh. Khi thân được tịnh, (hành giả) nhận biết lạc. Khi có lạc, tâm được định, do tâm được định, (hành giả) nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ &#8230; ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ &#8230; ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về vô ngã. &#8230;(nt)&#8230; Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về sắc là vô thường. &#8230;(nt)&#8230; Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về sắc là khổ não. &#8230;(nt)&#8230; Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về sắc là vô ngã. &#8230;(nt)&#8230; Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về thọ &#8230; tưởng &#8230; các hành &#8230; thức &#8230; mắt &#8230; lão tử là vô thường. &#8230;(nt)&#8230; Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về lão tử là khổ não. &#8230;(nt)&#8230; Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về lão tử là vô ngã. Khi (hành giả) được hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi tâm có hỷ, thân trở nên tịnh. Khi thân được tịnh, (hành giả) nhận biết lạc. Khi có lạc, tâm được định. Khi tâm được định, (hành giả) nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ &#8230; ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ &#8230; ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’ Đây là 9 cội nguồn của sự tác ý đúng đường lối.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chín tính chất khác biệt: </b>Tùy thuận vào tính chất khác biệt của giới (như mắt, tai, v.v&#8230;), tính chất khác biệt của xúc được sanh lên. Tùy thuận vào tính chất khác biệt của xúc, tính chất khác biệt của thọ được sanh lên. Tùy thuận vào tính chất khác biệt của thọ, tính chất khác biệt của tưởng được sanh lên. Tùy thuận vào tính chất khác biệt của tưởng, tính chất khác biệt của tư được sanh lên. Tùy thuận vào tính chất khác biệt của tư, tính chất khác biệt của ước muốn được sanh lên. Tùy thuận vào tính chất khác biệt của ước muốn, tính chất khác biệt của trạng thái bực bội được sanh lên. Tùy thuận vào tính chất khác biệt của trạng thái bực bội, tính chất khác biệt của tầm cầu được sanh lên. Tùy thuận vào tính chất khác biệt của tầm cầu, tính chất khác biệt của sự thành tựu được sanh lên. Đây là chín tính chất khác biệt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về việc xác định chín pháp là trí về tính chất khác biệt của các pháp</i>.”</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/tieu-bo/phan-tich-dao/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Tỳ-khưu Indacanda</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/tang-kinh-tieu-bo-phan-tich-dao-tap-1/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Tỳ-khưu Indacanda</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I – PAṬISAMBHIDĀMAGGO III &#8211; TRÍ TOÀN GIÁC</title>
		<link>https://thienvipassana.net/9062-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 17 May 2020 01:04:04 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=9062</guid>

					<description><![CDATA[20-24. Năm loại Trí: Tuệ về sự biết rõ là trí về ý nghĩa của điều đã được biết, tuệ]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">20-24. Năm loại Trí:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự biết rõ là trí về ý nghĩa của điều đã được biết, tuệ về sự biết toàn diện là trí về ý nghĩa của quyết đoán, tuệ về sự dứt bỏ là trí về ý nghĩa của buông bỏ, tuệ về sự tu tập là trí về ý nghĩa của nhất vị, tuệ về sự tác chứng là trí về ý nghĩa của sự chạm đến là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Những pháp nào đã được biết rõ, những pháp ấy là đã được biết; những pháp nào đã được biết toàn diện, những pháp ấy là đã được quyết đoán; những pháp nào đã được dứt bỏ, những pháp ấy là đã được buông bỏ; những pháp nào đã được tu tập, những pháp ấy là có nhất vị; những pháp nào đã được tác chứng, những pháp ấy là đã được chạm đến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự biết rõ là trí về ý nghĩa của điều đã được biết, tuệ về sự biết toàn diện là trí về ý nghĩa của quyết đoán, tuệ về sự dứt bỏ là trí về ý nghĩa của buông bỏ, tuệ về sự tu tập là trí về ý nghĩa của nhất vị, tuệ về sự tác chứng là trí về ý nghĩa của sự chạm đến</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích về ‘Năm loại Trí.’</b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">25-28. Trí về sự phân tích:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về tính chất khác biệt của các ý nghĩa là trí về sự phân tích các ý nghĩa, tuệ về tính chất khác biệt của các pháp là trí về sự phân tích các pháp, tuệ về tính chất khác biệt của các ngôn từ là trí về sự phân tích các ngôn từ, tuệ về tính chất khác biệt của các phép biện giải là trí về sự phân tích các phép biện giải là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tín quyền là pháp, tấn quyền là pháp, niệm quyền là pháp, định quyền là pháp, tuệ quyền là pháp. Tín quyền là pháp khác, tấn quyền là pháp khác, niệm quyền là pháp khác (nữa), định quyền là pháp khác (nữa), tuệ quyền là pháp khác (nữa). Do trí nào các pháp khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các pháp khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các pháp là trí về sự phân tích các pháp</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ý nghĩa của sự cương quyết là ý nghĩa, ý nghĩa của sự ra sức là ý nghĩa, ý nghĩa của sự thiết lập là ý nghĩa, ý nghĩa của sự không tản mạn là ý nghĩa, ý nghĩa của sự nhận thức là ý nghĩa. Ý nghĩa của sự cương quyết là ý nghĩa khác, ý nghĩa của sự ra sức là ý nghĩa khác, ý nghĩa của sự thiết lập là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự không tản mạn là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự nhận thức là ý nghĩa khác (nữa). Do trí nào các ý nghĩa khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ý nghĩa khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các ý nghĩa là trí về sự phân tích các ý nghĩa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ năm pháp. Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ năm ý nghĩa. Các ngôn từ của các pháp là khác, các ngôn từ của các ý nghĩa là khác. Do trí nào các ngôn từ khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ngôn từ khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các ngôn từ là trí về sự phân tích các ngôn từ</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có các trí về năm pháp, có các trí về năm ý nghĩa, có các trí về mười ngôn từ. Các trí về các pháp là khác, các trí về các ý nghĩa là khác, các trí về ngôn từ là khác (nữa). Do trí nào các trí khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các trí khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các phép biện giải là trí về sự phân tích các phép biện giải</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tín lực là pháp, tấn lực là pháp, niệm lực là pháp, định lực là pháp, tuệ lực là pháp. Tín lực là pháp khác, tấn lực là pháp khác, niệm lực là pháp khác (nữa), định lực là pháp khác (nữa), tuệ lực là pháp khác (nữa). Do trí nào các pháp khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các pháp khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các pháp là trí về sự phân tích các pháp</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ý nghĩa không dao động ở sự không có đức tin là ý nghĩa, ý nghĩa không dao động ở sự biếng nhác là ý nghĩa, ý nghĩa không dao động ở sự buông lung là ý nghĩa, ý nghĩa không dao động ở sự phóng dật là ý nghĩa, ý nghĩa không dao động ở sự không sáng suốt là ý nghĩa. Ý nghĩa không dao động ở sự không có đức tin là ý nghĩa khác, ý nghĩa không dao động ở sự biếng nhác là ý nghĩa khác, ý nghĩa không dao động ở sự buông lung  là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa không dao động ở sự phóng dật  là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa không dao động ở sự không sáng suốt là ý nghĩa khác (nữa). Do trí nào các ý nghĩa khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ý nghĩa khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các ý nghĩa là trí về sự phân tích các ý nghĩa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ năm pháp. Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ năm ý nghĩa. Các ngôn từ của các pháp là khác, các ngôn từ của các ý nghĩa là khác (nữa). Do trí nào các ngôn từ khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ngôn từ khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các ngôn từ là trí về sự phân tích các ngôn từ.</i>”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có các trí về năm pháp, có các trí về năm ý nghĩa, có các trí về mười ngôn từ. Các trí về các pháp là khác, các trí về các ý nghĩa là khác, các trí về ngôn từ là khác (nữa). Do trí nào các trí khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các trí khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các phép biện giải là trí về sự phân tích các phép biện giải</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Niệm giác chi là pháp, trạch pháp giác chi là pháp, cần giác chi là pháp, hỷ giác chi là pháp, tịnh giác chi là pháp, định giác chi là pháp, xả giác chi là pháp. Niệm giác chi là pháp khác, trạch pháp giác chi là pháp khác, cần giác chi là pháp khác (nữa), hỷ giác chi là pháp khác (nữa), tịnh giác chi là pháp khác (nữa), định giác chi là pháp khác (nữa), xả giác chi là pháp khác (nữa). Do trí nào các pháp khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các pháp khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các pháp là trí về sự phân tích các pháp</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ý nghĩa của sự thiết lập là ý nghĩa, ý nghĩa của sự suy xét là ý nghĩa, ý nghĩa của sự ra sức là ý nghĩa, ý nghĩa của sự lan tỏa là ý nghĩa, ý nghĩa của sự an tịnh là ý nghĩa, ý nghĩa của sự không tản mạn là ý nghĩa, ý nghĩa của sự phân biệt rõ là ý nghĩa. Ý nghĩa của sự thiết lập là ý nghĩa khác, ý nghĩa của sự suy xét là ý nghĩa khác, ý nghĩa của sự ra sức là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự lan tỏa là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự an tịnh là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự không tản mạn là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự phân biệt rõ là ý nghĩa khác (nữa). Do trí nào các ý nghĩa khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ý nghĩa khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các ý nghĩa là trí về sự phân tích các ý nghĩa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ bảy pháp. Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ bảy ý nghĩa. Các ngôn từ của pháp là khác, các ngôn từ của ý nghĩa là khác (nữa). Do trí nào các ngôn từ khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ngôn từ khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các ngôn từ là trí về sự phân tích các ngôn từ</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có các trí về bảy pháp, có các trí về bảy ý nghĩa, có các trí về mười bốn ngôn từ. Các trí về các pháp là khác, các trí về các ý nghĩa là khác, các trí về ngôn từ là khác (nữa). Do trí nào các trí khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các trí khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các phép biện giải là trí về sự phân tích các phép biện giải</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh kiến là pháp, chánh tư duy là pháp, chánh ngữ là pháp, chánh nghiệp là pháp, chánh mạng là pháp, chánh tinh tấn là pháp, chánh niệm là pháp, chánh định là pháp. Chánh kiến là pháp khác, chánh tư duy là pháp khác, chánh ngữ là pháp khác (nữa), chánh nghiệp là pháp khác (nữa), chánh mạng là pháp khác (nữa), chánh tinh tấn là pháp khác (nữa), chánh niệm là pháp khác (nữa), chánh định là pháp khác (nữa). Do trí nào các pháp khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các pháp khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các pháp là trí về sự phân tích các pháp</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ý nghĩa của sự nhận thức là ý nghĩa, ý nghĩa của sự gắn chặt (tâm vào cảnh) là ý nghĩa, ý nghĩa của sự gìn giữ là ý nghĩa, ý nghĩa của nguồn sanh khởi là ý nghĩa, ý nghĩa của sự trong sạch là ý nghĩa, ý nghĩa của sự ra sức là ý nghĩa, ý nghĩa của sự thiết lập là ý nghĩa, ý nghĩa của sự không tản mạn là ý nghĩa. Ý nghĩa của sự nhận thức là ý nghĩa khác, ý nghĩa của sự gắn chặt (tâm vào cảnh) là ý nghĩa khác, ý nghĩa của sự gìn giữ là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của nguồn sanh khởi là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự trong sạch là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự ra sức là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự thiết lập là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự không tản mạn là ý nghĩa khác (nữa). Do trí nào các ý nghĩa khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ý nghĩa khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các ý nghĩa là trí về sự phân tích các ý nghĩa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ tám pháp. Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ tám ý nghĩa. Các ngôn từ của pháp là khác, các ngôn từ của ý nghĩa là khác. Do trí nào các ngôn từ khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ngôn từ khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các ngôn từ là trí về sự phân tích các ngôn từ</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có các trí về tám pháp, có các trí về tám ý nghĩa, có các trí về mười sáu ngôn từ. Các trí về các pháp là khác, các trí về các ý nghĩa là khác, các trí về các ngôn từ là khác (nữa). Do trí nào các trí khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các trí khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các phép biện giải là trí về sự phân tích các phép biện giải</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các ý nghĩa là trí về sự phân tích các ý nghĩa, tuệ về tính chất khác biệt của các pháp là trí về sự phân tích các pháp, tuệ về tính chất khác biệt của các ngôn từ là trí về sự phân tích các ngôn từ, tuệ về tính chất khác biệt của các phép biện giải là trí về sự phân tích các phép biện giải</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về sự phân tích.’</b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">29-31. Ba loại Trí:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về tính chất khác biệt của các sự an trú là trí về ý nghĩa của các sự an trú, tuệ về tính chất khác biệt của các sự chứng đạt là trí về ý nghĩa của các sự chứng đạt, tuệ về tính chất khác biệt của các sự an trú và chứng đạt là trí về ý nghĩa của các sự an trú và chứng đạt là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; vô tướng là sự an trú. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; vô nguyện là sự an trú. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; không tánh là sự an trú.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng. Sau khi dửng dưng (có trạng thái xả) với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô tướng là sự chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô nguyện là sự chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; không tánh là sự chứng đạt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi dửng dưng (có trạng thái xả) với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô tướng là sự an trú và chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô nguyện là sự an trú và chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; không tánh là sự an trú và chứng đạt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng của sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; vô tướng là sự an trú. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước về sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; vô nguyện là sự an trú. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp vào sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; không tánh là sự an trú.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng của sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng. Sau khi dửng dưng (có trạng thái xả) với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô tướng là sự chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước về sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô nguyện là sự chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp vào sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; không tánh là sự chứng đạt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng của sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi dửng dưng (có trạng thái xả) với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô tướng là sự an trú và chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước về sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô nguyện là sự an trú và chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp vào sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; không tánh là sự an trú và chứng đạt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ñāṇattayaniddeso.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng của thọ &#8230;(như trên)&#8230; hiện tướng của tưởng &#8230;(nt)&#8230; hiện tướng của các hành &#8230;(nt)&#8230; hiện tướng của thức &#8230;(nt)&#8230; hiện tướng của mắt &#8230;(nt)&#8230; hiện tướng của lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; vô tướng là sự an trú. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước về lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; vô nguyện là sự an trú. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp vào lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; không tánh là sự an trú.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng của lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô tướng là sự chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước về lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện. Sau khi &#8230; hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô nguyện là sự chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp vào lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; không tánh là sự chứng đạt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng của lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô tướng là sự an trú và chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước về lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi &#8230; hướng tâm đến vô nguyện là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô nguyện là sự an trú và chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp về lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi &#8230; hướng tâm đến không tánh là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; không tánh là sự an trú và chứng đạt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vô tướng là sự an trú khác, vô nguyện là sự an trú khác, không tánh là sự an trú khác (nữa). Sự chứng đạt vô tướng là khác, sự chứng đạt vô nguyện là khác, sự chứng đạt không tánh là khác (nữa). Sự an trú và chứng đạt vô tướng là khác, sự an trú và chứng đạt vô nguyện là khác, sự an trú và chứng đạt không tánh là khác (nữa).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về tính chất khác biệt của các sự an trú là trí về ý nghĩa của các sự an trú, tuệ về tính chất khác biệt của các sự chứng đạt là trí về ý nghĩa của các sự chứng đạt, tuệ về tính chất khác biệt của các sự an trú và chứng đạt là trí về ý nghĩa của các sự an trú và chứng đạt</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Ba loại Trí.’</b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">32. Trí về định không gián đoạn:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự đoạn trừ các lậu hoặc do tính chất hoàn toàn trong sạch của sự không tản mạn là trí về định không gián đoạn là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do tác động của sự thoát ly, có trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là định. Do tác động của định ấy, trí được sanh lên. Do trí ấy, các lậu hoặc được cạn kiệt. Như thế, trước tiên là chỉ tịnh, sau đó là trí. Do trí ấy, có sự đoạn tận của các lậu hoặc. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự đoạn trừ các lậu hoặc do tính chất hoàn toàn trong sạch của sự không tản mạn là trí về định không gián đoạn</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Lậu hoặc:</b> Các lậu hoặc ấy là gì? Là dục lậu, hữu lậu, (tà) kiến lậu, vô minh lậu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các lậu hoặc này được cạn kiệt tại đâu? Do Đạo Nhập Lưu, toàn thể (tà) kiến lậu được cạn kiệt, dục lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, hữu lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, vô minh lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt; các lậu hoặc này được cạn kiệt tại đây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do Đạo Nhất Lai, dục lậu thô thiển được cạn kiệt, hữu lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt, vô minh lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt; các lậu hoặc này được cạn kiệt tại đây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do Đạo Bất Lai, toàn thể dục lậu được cạn kiệt, hữu lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt, vô minh lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt; các lậu hoặc này được cạn kiệt tại đây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do Đạo A-la-hán, toàn thể hữu lậu được cạn kiệt, toàn thể vô minh lậu được cạn kiệt; các lậu hoặc này được cạn kiệt tại đây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do tác động của sự không sân độc, &#8230;(như trên)&#8230; Do tác động của sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, &#8230; Do tác động của sự không tản mạn, &#8230; Do tác động của của sự xác định pháp, &#8230; Do tác động của trí, &#8230; Do tác động của sự hân hoan &#8230;. Do tác động của sơ thiền, &#8230; của nhị thiền, &#8230; của tam thiền, &#8230; của tứ thiền &#8230;. của sự chứng đạt không vô biên xứ, &#8230; của sự chứng đạt thức vô biên xứ, &#8230; của sự chứng đạt vô sở hữu xứ, &#8230; của sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, &#8230; của đề mục đất, &#8230; của đề mục nước, &#8230; của đề mục lửa, &#8230; của đề mục gió, &#8230; của đề mục xanh, &#8230; của đề mục vàng, &#8230; của đề mục đỏ, &#8230; của đề mục trắng, &#8230; của đề mục hư không, &#8230; của đề mục thức, &#8230; của việc tưởng niệm đến (ân đức) Phật, &#8230; của việc tưởng niệm đến (ân đức) Pháp, &#8230; của việc tưởng niệm đến (ân đức) Tăng, &#8230; của việc tưởng niệm đến (đức tính của) giới, &#8230; của việc tưởng niệm đến (đức tính của) sự xả bỏ, &#8230; của việc tưởng niệm đến (đức tính của) chư thiên &#8230; của việc niệm hơi thở ra vào, &#8230; Do tác động của việc niệm sự chết, &#8230; Do tác động của việc niệm (32 thể trược của) thân, &#8230; Do tác động của của việc niệm sự  an tịnh, &#8230; Do tác động của tưởng về sự sình trương (của xác chết), &#8230; Do tác động  của  tưởng  về sự đổi màu xanh</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> (của xác chết), &#8230; Do tác động của tưởng về sự chảy nước vàng (của xác chết), &#8230; của tưởng về sự nứt nẻ (của xác chết), &#8230; của tưởng về sự bị (thú) gặm nhắm (của xác chết), &#8230; của tưởng về sự bị hoại rã (của xác chết), &#8230; của tưởng về sự bị cắt đứt lìa (của xác chết), &#8230; của tưởng về máu me (của xác chết), &#8230; của tưởng về giòi bọ (của xác chết), &#8230; của tưởng về bộ xương khô (của xác chết), &#8230; Do tác động của hơi thở vào dài, &#8230; của hơi thở ra dài, &#8230; của hơi thở vào ngắn, &#8230; của hơi thở ra ngắn, &#8230; Cảm giác toàn thân do tác động của hơi thở vào,  &#8230; Cảm giác toàn thân do tác động của hơi thở ra, &#8230; Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân do tác động của hơi thở vào, &#8230; Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân do tác động của hơi thở ra, &#8230; Cảm giác hỷ do tác động của hơi thở vào, &#8230; Cảm giác hỷ do tác động của hơi thở ra, &#8230; Cảm giác lạc do tác động của hơi thở vào, &#8230; Cảm giác lạc do tác động của hơi thở ra, &#8230; Cảm giác sự tạo tác của tâm do tác động của hơi thở vào, &#8230; Cảm giác sự tạo tác của tâm do tác động của hơi thở ra, &#8230; Làm an tịnh sự tạo tác của tâm do tác động của hơi thở vào, &#8230; Làm an tịnh sự tạo tác của tâm do tác động của hơi thở ra, &#8230; Cảm giác tâm do tác động của hơi thở vào, &#8230; Cảm giác tâm do tác động của hơi thở ra, &#8230;. Làm cho tâm được hân hoan do tác động của hơi thở vào, &#8230; Làm cho tâm được hân hoan do tác động của hơi thở ra, &#8230; Làm cho tâm được định tĩnh &#8230; Làm cho tâm được giải thoát &#8230; Quán xét về vô thường &#8230; Quán xét về ly tham ái. &#8230; Quán xét về diệt tận &#8230; Quán xét về từ bỏ do tác động của hơi thở vào, &#8230; Quán xét về từ bỏ do tác động của hơi thở ra, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là định. Do tác động của định ấy, trí được sanh lên. Do trí ấy, các lậu hoặc được cạn kiệt. Như thế, trước tiên là chỉ tịnh, sau đó là trí. Do trí ấy, có sự đoạn tận của các lậu hoặc. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự đoạn trừ các lậu hoặc do tính chất hoàn toàn trong sạch của sự không tản mạn là trí về định không gián đoạn</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Lậu hoặc: </b>Các lậu hoặc ấy là gì? Là dục lậu, hữu lậu, (tà) kiến lậu, vô minh lậu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các lậu hoặc này được cạn kiệt tại đâu? Do Đạo Nhập Lưu, toàn thể (tà) kiến lậu được cạn kiệt, dục lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, hữu lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, vô minh lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt; các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do Đạo Nhất Lai, dục lậu thô thiển được cạn kiệt, &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do Đạo Bất Lai, toàn thể dục lậu được cạn kiệt, &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do Đạo A-la-hán, toàn thể hữu lậu được cạn kiệt, toàn thể vô minh lậu được cạn kiệt; các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự đoạn trừ các lậu hoặc do tính chất hoàn toàn trong sạch của sự không tản mạn là trí về định không gián đoạn</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về định không gián đoạn.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">33. Trí về sự an trú không uế nhiễm:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là pháp chủ đạo trong việc nhận thức và có sự an trú đắc chứng thanh tịnh, tuệ có khuynh hướng cao quý là trí về sự an trú không uế nhiễm là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Pháp chủ đạo trong việc nhận thức:</b> Quán xét về vô thường là pháp chủ đạo trong việc nhận thức, quán xét về khổ não &#8230;, quán xét về vô ngã &#8230;, quán xét về vô thường ở sắc &#8230;, quán xét về khổ não ở sắc &#8230;, quán xét về vô ngã ở sắc &#8230;, quán xét về vô thường ở thọ &#8230; ở tưởng &#8230; ở các hành &#8230; ở thức &#8230; ở mắt là pháp chủ đạo trong việc nhận thức, quán xét về vô thường ở lão tử là pháp chủ đạo trong việc nhận thức, quán xét về khổ não ở lão tử &#8230;, quán xét về vô ngã ở lão tử là pháp chủ đạo trong việc nhận thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự an trú đắc chứng thanh tịnh:</b> An trú không tánh là sự an trú đắc chứng thanh tịnh, an trú vô tướng là sự an trú đắc chứng thanh tịnh, an trú vô nguyện là sự an trú đắc chứng thanh tịnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khuynh hướng cao quý:</b> Khuynh hướng về không tánh là khuynh hướng cao quý, khuynh hướng về vô tướng là khuynh hướng cao quý, khuynh hướng về vô nguyện là khuynh hướng cao quý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự an trú không uế nhiễm:</b> Sơ thiền là sự an trú không uế nhiễm, nhị thiền là sự an trú không uế nhiễm, tam thiền là sự an trú không uế nhiễm, tứ thiền là sự an trú không uế nhiễm, sự chứng đạt không vô biên xứ là sự an trú không uế nhiễm, &#8230;(như trên)&#8230; sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ là sự an trú không uế nhiễm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự an trú không uế nhiễm:</b> Sự an trú không uế nhiễm theo ý nghĩa gì? ‘Nhờ vào sơ thiền loại bỏ các pháp ngăn che’ là sự an trú không uế nhiễm. ‘Nhờ vào nhị thiền loại bỏ tầm và tứ’ là sự an trú không uế nhiễm. ‘Nhờ vào tam thiền loại bỏ hỷ’ là sự an trú không uế nhiễm. ‘Nhờ vào tứ thiền loại bỏ lạc và khổ’ là sự an trú không uế nhiễm. ‘Nhờ vào sự chứng đạt không vô biên xứ loại bỏ sự nghĩ tưởng về sắc nghĩ tưởng về bất bình nghĩ tưởng về sự khác biệt’ là sự an trú không uế nhiễm. ‘Nhờ vào sự chứng đạt thức vô biên xứ loại bỏ sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ’ là sự an trú không uế nhiễm. ‘Nhờ vào sự chứng đạt vô sở hữu xứ loại bỏ sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ’ là sự an trú không uế nhiễm. ‘Nhờ vào sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ loại bỏ sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ’ là sự an trú không uế nhiễm. Đây là sự an trú không uế nhiễm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Là pháp chủ đạo trong việc nhận thức và có sự an trú đắc chứng thanh tịnh, tuệ có khuynh hướng cao quý là trí về sự an trú không uế nhiễm</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về sự an trú không uế nhiễm.’</b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">34. Trí về sự chứng đạt thiền diệt:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ có tính chất hội đủ với hai lực và có ưu thế với sự tịnh lặng của ba hành, với mười sáu hành vi của trí, và với chín hành vi của định là trí về sự chứng đạt thiền diệt là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Với hai lực</b>: Hai lực: là lực của chỉ tịnh và lực của minh sát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lực của chỉ tịnh là gì? Do tác động của sự thoát ly, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. Do tác động của sự không sân độc, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. Do tác động của sự nghĩ tưởng đến ánh sáng  trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. &#8230;(như trên)&#8230; Quán xét về từ bỏ do tác động của hơi thở vào, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. Quán xét về từ bỏ do tác động của hơi thở ra, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Lực của chỉ tịnh</b>: Lực của chỉ tịnh theo ý nghĩa gì? ‘Nhờ vào sơ thiền, (hành giả) không rung động đối với các pháp ngăn che’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào nhị thiền, (hành giả) không rung động đối với tầm và tứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào tam thiền, (hành giả) không rung động đối với hỷ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào tứ thiền, (hành giả) không rung động đối với lạc và khổ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào sự chứng đạt không vô biên xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về sắc, đối với sự nghĩ tưởng về bất bình, đối với sự nghĩ tưởng về sự khác biệt’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào sự chứng đạt thức vô biên xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào sự chứng đạt vô sở hữu xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘(Hành giả) không rung động không chuyển động không chao động đối với các sự phóng dật, đối với các phiền não và các uẩn đi cùng với phóng dật’ là lực của chỉ tịnh. Đây là lực của chỉ tịnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lực của minh sát là gì? Quán xét về vô thường là lực của minh sát, quán xét về khổ não là lực của minh sát, quán xét về vô ngã là lực của minh sát, quán xét về nhàm chán là lực của minh sát, quán xét về ly tham ái là lực của minh sát, quán xét về diệt tận là lực của minh sát, quán xét về từ bỏ là lực của minh sát. Quán xét về vô thường ở sắc là lực của minh sát, &#8230;(như trên)&#8230; quán xét về từ bỏ ở sắc là lực của minh sát, quán xét về từ bỏ ở thọ &#8230; ở tưởng &#8230; ở các hành &#8230; ở thức &#8230; ở mắt &#8230;  ở lão tử là lực của minh sát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Lực của minh sát:</b> Lực của minh sát theo ý nghĩa gì? ‘Do quán xét về vô thường, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về thường’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về khổ não, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về lạc’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về vô ngã, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về ngã’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về nhàm chán, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về sự vui thích’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về ly tham ái, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về tham ái’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về diệt tận, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về nhân sanh khởi’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về từ bỏ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về nắm giữ’ là lực của minh sát. ‘(Hành giả) không rung động không chuyển động không chao động đối với vô minh, đối với các phiền não đi cùng với vô minh, và đối với các uẩn’ là lực của minh sát. Điều này được gọi là lực của minh sát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Với sự tịnh lặng của ba hành:</b> Với sự tịnh lặng của ba hành nào? Đối với (hành giả) thể nhập nhị thiền, các hành của khẩu là tầm và tứ được tịnh lặng. Đối với (hành giả) thể nhập tứ thiền, các hành của thân là hơi thở ra và hơi thở vào được tịnh lặng. Đối với (hành giả) thể nhập sự diệt tận của thọ và tưởng, các hành của tâm là tưởng và thọ được tịnh lặng. Là với sự tịnh lặng của ba hành này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Với mười sáu hành vi của trí:</b> Với mười sáu hành vi gì của trí? Quán xét về vô thường là hành vi của trí, quán xét về khổ não là hành vi của trí, quán xét về vô ngã là hành vi của trí, quán xét về nhàm chán là hành vi của trí, quán xét về ly tham ái là hành vi của trí, quán xét về diệt tận là hành vi của trí, quán xét về từ bỏ là hành vi của trí, quán xét về ly khai là hành vi của trí, Đạo Nhập Lưu là hành vi của trí, sự chứng đạt Quả Nhập Lưu là hành vi của trí, Đạo Nhất Lai là hành vi của trí, sự chứng đạt Quả Nhất Lai là hành vi của trí, Đạo Bất Lai là hành vi của trí, sự chứng đạt Quả Bất Lai là hành vi của trí, Đạo A-la-hán là hành vi của trí, sự chứng đạt Quả A-la-hán là hành vi của trí. Là với mười sáu hành vi này của trí.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Với chín hành vi của định:</b> Với chín hành vi gì của định? Sơ thiền là hành vi của định, nhị thiền là hành vi của định, tam thiền là hành vi của định, tứ thiền là hành vi của định, sự chứng đạt không vô biên xứ &#8230;, sự chứng đạt thức vô biên xứ &#8230;, sự chứng đạt vô sở hữu xứ &#8230;, sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ là hành vi của định, tầm tứ hỷ lạc và sự chuyên nhất của tâm nhằm mục đích thành tựu sơ thiền &#8230;(như trên)&#8230; tầm tứ hỷ lạc và sự chuyên nhất của tâm nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ (là hành vi của định). Là với chín hành vi này của định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự thuần thục:</b> Có năm sự thuần thục: Sự thuần thục về hướng tâm, sự thuần thục về thể nhập, sự thuần thục về chú nguyện, sự thuần thục về thoát ra, sự thuần thục về quán xét lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Hành giả) hướng tâm đến sơ thiền ở bất cứ đâu theo ước muốn, bất cứ khi nào theo ước muốn, và kéo dài theo ước muốn, ‘không có trạng thái bị trì trệ trong việc hướng tâm’ là sự thuần thục về hướng tâm. (Hành giả) thể nhập sơ thiền ở bất cứ đâu &#8230; ‘không có trạng thái bị trì trệ trong việc thể nhập’ là sự thuần thục về thể nhập. (Hành giả) chú nguyện sơ thiền ở bất cứ đâu &#8230; ‘không có trạng thái bị trì trệ trong việc chú nguyện’ là sự thuần thục về chú nguyện. (Hành giả) thoát ra khỏi sơ thiền ở bất cứ đâu &#8230; ‘không có trạng thái bị trì trệ trong việc thoát ra’ là sự thuần thục về thoát ra. (Hành giả) quán xét lại sơ thiền ở bất cứ đâu &#8230; ‘không có trạng thái bị trì trệ trong việc quán xét lại’ là sự thuần thục về quán xét lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Hành giả) hướng tâm đến nhị thiền &#8230;(như trên)&#8230; đến sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ ở bất cứ đâu theo ước muốn, bất cứ khi nào theo ước muốn, và kéo dài theo ước muốn, ‘không có trạng thái bị trì trệ trong việc hướng tâm’ là sự thuần thục về hướng tâm. (Hành giả) thể nhập &#8230;(như trên)&#8230; chú nguyện &#8230;(như trên)&#8230; thoát ra &#8230;(như trên)&#8230; quán xét lại sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ ở bất cứ đâu theo ước muốn, bất cứ khi nào theo ước muốn, và kéo dài theo ước muốn, ‘không có trạng thái bị trì trệ trong việc quán xét lại’ là sự thuần thục về quán xét lại. Đây là năm sự thuần thục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ có tính chất hội đủ với hai lực và có ưu thế với sự tịnh lặng của ba hành, với mười sáu hành vi của trí, và với chín hành vi của định là trí về sự chứng đạt thiền diệt</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về sự chứng đạt thiền diệt.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">35. Trí về sự viên tịch Niết Bàn:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự chấm dứt vận hành của vị có sự nhận biết rõ rệt[1] là trí về sự viên tịch Niết Bàn là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, (hành giả) có sự nhận biết rõ rệt rằng: Do sự thoát ly, sự vận hành của ước muốn trong các dục được chấm dứt. Do không sân độc, sự vận hành của sân độc được chấm dứt. Do sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, sự vận hành của lờ đờ buồn ngủ được chấm dứt. Do không tản mạn, sự vận hành của phóng dật được chấm dứt. Do xác định pháp, sự vận hành của hoài nghi được chấm dứt. &#8230;(như trên)&#8230; Do trí, sự vận hành của vô minh được chấm dứt. Do hân hoan, sự vận hành của không hứng thú được chấm dứt. Do sơ thiền, sự vận hành của các pháp ngăn che được chấm dứt. &#8230;(như trên)&#8230; Do Đạo A-la-hán, sự vận hành của toàn bộ phiền não được chấm dứt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vả lại, đối với vị có sự nhận biết rõ rệt đang viên tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót, chính sự vận hành này của mắt được chấm dứt và sự vận hành khác của mắt không sanh lên, chính sự vận hành này của tai &#8230; của mũi &#8230; của lưỡi &#8230; của thân &#8230; của ý được chấm dứt và sự vận hành khác của ý không được sanh lên, tuệ về sự chấm dứt vận hành của vị có sự nhận biết rõ rệt điều này là trí về sự viên tịch Niết Bàn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự chấm dứt vận hành của vị có sự nhận biết rõ rệt là trí về sự viên tịch Niết Bàn</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về sự viên tịch Niết Bàn.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">36. Trí về ý nghĩa của các pháp đứng đầu được tịnh lặng:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ có tính chất không thiết lập ở sự đoạn trừ hoàn toàn và ở sự diệt tận đối với tất cả các pháp là trí về ý nghĩa của các pháp đứng đầu được tịnh lặng là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đối với tất cả các pháp</b>: là năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, các pháp thiện, các pháp bất thiện, các pháp vô ký, các pháp dục giới, các pháp sắc giới, các pháp vô sắc giới, các pháp không bị lệ thuộc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ở sự đoạn trừ hoàn toàn:</b> Do sự thoát ly, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn ước muốn trong các dục. Do không sân độc, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn sân độc. Do sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, &#8230; sự lờ đờ buồn ngủ. Do không tản mạn, &#8230; phóng dật. Do xác định pháp, &#8230; hoài nghi. Do trí, &#8230; vô minh. Do hân hoan, &#8230; không hứng thú. Do sơ thiền, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn các pháp ngăn che. &#8230;(nt)&#8230; Do Đạo A-la-hán, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn toàn bộ phiền não.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ở sự diệt tận:</b> Do sự thoát ly, (hành giả) diệt tận ước muốn trong các dục. Do không sân độc, (hành giả) diệt tận sân độc. Do nghĩ tưởng ánh sáng, &#8230; lờ đờ buồn ngủ. Do không tản mạn, &#8230; phóng dật. Do xác định pháp, &#8230; hoài nghi. Do trí, &#8230; vô minh. Do hân hoan, &#8230; không hứng thú. Do sơ thiền, (hành giả) diệt tận các pháp ngăn che. &#8230;(nt)&#8230; Do Đạo A-la-hán, (hành giả) diệt tận toàn bộ phiền não.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tính chất không thiết lập:</b> Ở vị đã thành tựu sự thoát ly, ước muốn trong các dục không thiết lập. Ở vị đã thành tựu không sân độc, sân độc không thiết lập. Ở vị đã thành tựu sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, sự lờ đờ buồn ngủ &#8230; Ở vị đã thành tựu sự không tản mạn, sự phóng dật &#8230; Ở vị đã thành tựu sự xác định pháp, hoài nghi &#8230; Ở vị đã thành tựu trí, vô minh không thiết lập. Ở vị đã thành tựu hân hoan, sự không hứng thú không thiết lập. Ở vị đã thành tựu sơ thiền, các pháp ngăn che không thiết lập. &#8230;(như trên)&#8230; Ở vị đã thành tựu Đạo A-la-hán, toàn bộ phiền não không thiết lập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Được tịnh lặng:</b> Do trạng thái dứt bỏ sự ước muốn các dục, sự thoát ly được tịnh lặng. Do trạng thái dứt bỏ sân độc, không sân độc được tịnh lặng. &#8230; sự lờ đờ buồn ngủ, sự nghĩ tưởng đến ánh sáng &#8230; phóng dật, sự không tản mạn &#8230; hoài nghi, sự xác định pháp &#8230; vô minh, trí &#8230; sự không hứng thú, hân hoan &#8230; Do trạng thái dứt bỏ các pháp ngăn che, sơ thiền được tịnh lặng. &#8230;(như trên)&#8230; Do trạng thái dứt bỏ toàn bộ phiền não, Đạo A-la-hán được tịnh lặng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Pháp đứng đầu:</b> Có mười ba pháp đứng đầu: Đứng đầu các sự vướng bận là ái, đứng đầu các sự trói buộc là ngã mạn, đứng đầu các pháp tiêm nhiễm là tà kiến, đứng đầu các sự tản mạn là phóng dật, đứng đầu các phiền não là vô minh, đứng đầu các sự cương quyết là tín, đứng đầu các sự ra sức là tấn, đứng đầu các sự thiết lập là niệm, đứng đầu các sự không tản mạn là định, đứng đầu các sự nhận thức là tuệ, đứng đầu các sự vận hành là mạng quyền, đứng đầu các hành xứ là giải thoát, đứng đầu các hành là sự diệt tận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ có tính chất không thiết lập ở sự đoạn trừ hoàn toàn và ở sự diệt tận đ/v tất cả các pháp là trí về ý nghĩa của các pháp đứng đầu được tịnh lặng</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về ý nghĩa của các pháp đứng đầu được tịnh lặng.’ </b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">37. Trí về ý nghĩa của việc dứt trừ:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự chấm dứt các quyền lực riêng biệt có bản chất khác nhau hoặc giống nhau là trí về ý nghĩa của việc dứt trừ là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Riêng biệt:</b> Tham ái là riêng biệt, sân là riêng biệt, si &#8230;, giận dữ …, căm hận …, gièm pha …, thù oán …, ganh ghét …, bỏn xẻn …, xảo trá …, khoác lác …, bướng bỉnh …, kiêu căng …, ngã mạn …, tự cao …, tự phụ …, buông lung …, tất cả phiền não …, tất cả ác hạnh …, tất cả các thắng hành<a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/37/Pts_03.htm#_ftn2" name="_ftnref2" rel="nofollow noopener" target="_blank">[2]</a> …, tất cả nghiệp đưa đến hữu là riêng biệt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có bản chất khác nhau hoặc giống nhau:</b> Ước muốn trong các dục là khác nhau, sự thoát ly là giống nhau. Sân độc là khác nhau, sự không sân độc là giống nhau. Sự lờ đờ buồn ngủ là khác nhau, sự nghĩ tưởng đến ánh sáng là giống nhau. Phóng dật&#8230; sự không tản mạn &#8230; Hoài nghi &#8230; sự xác định pháp &#8230; Vô minh &#8230; trí &#8230; Sự không hứng thú &#8230; hân hoan &#8230; Các pháp ngăn che &#8230; sơ thiền &#8230; Tất cả phiền não là khác nhau, Đạo A-la-hán là giống nhau.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quyền lực:</b> Có 5 quyền lực: quyền lực của hạnh kiểm, quyền lực của đức độ, quyền lực của tuệ, quyền lực của phước, quyền lực của chánh pháp. Quyền lực của ác giới được chấm dứt do bị thiêu đốt bởi quyền lực của hạnh kiểm. Quyền lực của không đức độ &#8230; bởi quyền lực của đức độ. Quyền lực của ác tuệ &#8230; bởi quyền lực của tuệ. Quyền lực của vô phước &#8230; bởi quyền lực của phước. Quyền lực của phi pháp được chấm dứt do bị thiêu đốt bởi quyền lực của chánh pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt trừ:</b> Ước muốn trong các dục là sự không dứt trừ, thoát ly là sự dứt trừ. Sân độc là sự không dứt trừ, không sân độc là sự dứt trừ. Lờ đờ buồn ngủ &#8230; nghĩ tưởng đến ánh sáng &#8230; Phóng dật&#8230; sự không tản mạn &#8230; Hoài nghi &#8230; sự xác định pháp &#8230; Vô minh &#8230; trí &#8230; Sự không hứng thú &#8230; hân hoan &#8230; Các pháp ngăn che &#8230; sơ thiền &#8230; Tất cả phiền não là sự không dứt trừ, Đạo A-la-hán là sự dứt trừ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự chấm dứt các quyền lực riêng biệt có bản chất khác nhau hoặc giống nhau là trí về ý nghĩa của việc dứt trừ</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về ý nghĩa của việc dứt trừ.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">38. Trí về việc khởi sự tinh tấn:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về ý nghĩa của việc ra sức có trạng thái không thối giảm và có tính năng động là trí về việc khởi sự tinh tấn là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về ý nghĩa của việc ra sức có trạng thái không thối giảm và có tính năng động đưa đến việc không sanh khởi các pháp ác và bất thiện chưa được sanh khởi là trí về việc khởi sự tinh tấn. Tuệ về ý nghĩa của việc ra sức &#8230; đưa đến việc dứt bỏ các pháp ác và bất thiện đã được sanh khởi &#8230; đưa đến việc sanh khởi các pháp thiện chưa được sanh khởi &#8230; đưa đến việc duy trì, đưa đến sự không lẫn lộn, đưa đến trạng thái phát triển, đưa đến sự tiến triển, đưa đến sự tăng trưởng, đưa đến sự toàn vẹn của các pháp thiện đã được sanh khởi là trí về việc khởi sự tinh tấn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về ý nghĩa của việc ra sức có trạng thái không thối giảm và có tính năng động đưa đến việc không sanh khởi ước muốn trong các dục chưa được sanh khởi &#8230; đưa đến việc dứt bỏ ước muốn trong các dục đã được sanh khởi &#8230; đưa đến việc sanh khởi sự thoát ly chưa được sanh khởi &#8230; đưa đến việc duy trì, đưa đến sự không lẫn lộn, đưa đến trạng thái phát triển, đưa đến sự tiến triển, đưa đến sự tăng trưởng, đưa đến sự toàn vẹn của sự thoát ly đã được sanh khởi là trí về việc khởi sự tinh tấn. &#8230;(như trên)&#8230; Tuệ về ý nghĩa của việc ra sức có trạng thái không thối giảm và có tính năng động đưa đến việc không sanh khởi tất cả phiền não chưa được sanh khởi &#8230; đưa đến việc dứt bỏ tất cả phiền não đã được sanh khởi &#8230; đưa đến việc sanh khởi Đạo A-la-hán chưa được sanh khởi &#8230; đưa đến việc duy trì, đưa đến sự không lẫn lộn, đưa đến trạng thái phát triển, đưa đến sự tiến triển, đưa đến sự tăng trưởng, đưa đến sự toàn vẹn của Đạo A-la-hán đã được sanh khởi là trí về việc khởi sự tinh tấn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về ý nghĩa của việc ra sức có trạng thái không thối giảm và có tính năng động là trí về việc khởi sự tinh tấn</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về việc khởi sự tinh tấn.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">39. Trí về sự trực nhận ý nghĩa:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ làm sáng tỏ các pháp khác biệt là trí về sự trực nhận ý nghĩa là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các pháp khác biệt: là năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, các pháp thiện, các pháp bất thiện, các pháp vô ký, các pháp dục giới, các pháp sắc giới, các pháp vô sắc giới, các pháp không bị lệ thuộc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự làm sáng tỏ:</b> (Hành giả) làm sáng tỏ sắc là vô thường, làm sáng tỏ sắc là khổ não, làm sáng tỏ sắc là vô ngã, làm sáng tỏ thọ &#8230;(như trên)&#8230; tưởng &#8230;(như trên)&#8230; các hành &#8230;(như trên)&#8230; thức &#8230;(như trên)&#8230; mắt &#8230;(như trên)&#8230; làm sáng tỏ lão tử là vô thường, làm sáng tỏ lão tử là khổ não, làm sáng tỏ lão tử là vô ngã.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Việc trực nhận ý nghĩa:</b> Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, hành giả trực nhận ý nghĩa của thoát ly; trong khi dứt bỏ sân độc, trực nhận ý nghĩa của không sân độc; trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, trực nhận ý nghĩa của sự nghĩ tưởng đến ánh sáng; trong khi dứt bỏ phóng dật, trực nhận ý nghĩa của sự không tản mạn; trong khi dứt bỏ hoài nghi, trực nhận ý nghĩa của sự xác định pháp; trong khi dứt bỏ vô minh, trực nhận ý nghĩa của trí; trong khi dứt bỏ sự không hứng thú, trực nhận ý nghĩa của hân hoan; trong khi dứt bỏ các pháp ngăn che, trực nhận ý nghĩa của sơ thiền; trong khi dứt bỏ tất cả phiền não, trực nhận ý nghĩa của Đạo A-la-hán.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ làm sáng tỏ các pháp khác biệt là trí về sự trực nhận ý nghĩa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về sự trực nhận ý nghĩa.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">40. Trí về sự thanh tịnh trong việc nhận thức:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thấu triệt tính tổng hợp chung và về bản chất khác nhau hoặc giống nhau của tất cả các pháp là trí về sự thanh tịnh trong việc nhận thức là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tất cả các pháp:</b> là năm uẩn, mười hai xứ, &#8230;(như trên)&#8230;, các pháp không bị lệ thuộc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tính tổng hợp chung:</b> Tất cả các pháp có tính tổng hợp chung là với mười hai biểu hiện: theo ý nghĩa của thực thể, theo ý nghĩa của vô ngã, theo ý nghĩa của sự thật, theo ý nghĩa của sự thấu triệt, theo ý nghĩa của sự biết rõ, theo ý nghĩa của sự biết toàn diện, theo ý nghĩa của pháp, theo ý nghĩa của sự việc, theo ý nghĩa đã được biết, theo ý nghĩa của sự tác chứng, theo ý nghĩa của sự chạm đến, theo ý nghĩa của sự lãnh hội. Tất cả các pháp có tính tổng hợp chung là với mười hai biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khantiñāṇaniddeso.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> <b>Có bản chất khác nhau hoặc giống nhau:</b> Ước muốn trong các dục là khác nhau, sự thoát ly là giống nhau. &#8230;(như trên)&#8230; Tất cả phiền não là khác nhau, Đạo A-la-hán là giống nhau.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự thấu triệt:</b> (Hành giả) thấu triệt chân lý về Khổ với sự thấu triệt do biết toàn diện, (hành giả) thấu triệt chân lý về nhân sanh (Khổ) với sự thấu triệt do dứt bỏ, (hành giả) thấu triệt chân lý về sự diệt tận (Khổ) với sự thấu triệt do tác chứng, (hành giả) thấu triệt chân lý về Đạo với sự thấu triệt do tu tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự thanh tịnh trong việc nhận thức:</b> Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, sự nhận thức được thanh tịnh. Vào sát-na Quả Nhập Lưu, sự nhận thức được thanh tịnh. Vào sát-na Đạo Nhất Lai, sự nhận thức được thanh tịnh. Vào sát-na Quả Nhất Lai, sự nhận thức được thanh tịnh. Vào sát-na Đạo Bất Lai, sự nhận thức được thanh tịnh. Vào sát-na Quả Bất Lai, sự nhận thức được thanh tịnh. Vào sát-na Đạo A-la-hán, sự nhận thức được thanh tịnh. Vào sát-na Quả A-la-hán, sự nhận thức được thanh tịnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự thấu triệt tính tổng hợp chung và về bản chất khác nhau hoặc giống nhau của tất cả các pháp là trí về sự thanh tịnh trong việc nhận thức</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về sự thanh tịnh trong việc nhận thức.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">41. Trí về việc chấp nhận:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ với trạng thái đã được biết là trí về việc chấp nhận là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sắc là vô thường là điều đã được biết, sắc là khổ não là điều đã được biết, sắc là vô ngã là điều đã được biết, điều nào là đã được biết (hành giả) chấp nhận điều ấy, tuệ với trạng thái đã được biết là trí về việc chấp nhận. Thọ &#8230; Tưởng &#8230; Các hành &#8230; Thức &#8230; Mắt &#8230; Lão tử là vô thường là điều đã được biết, lão tử là khổ não là điều đã được biết, lão tử là vô ngã là điều đã được biết, ‘điều nào là đã được biết (hành giả) chấp nhận điều ấy,’ như thế tuệ với trạng thái đã được biết là trí về việc chấp nhận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ với trạng thái đã được biết là trí về việc chấp nhận</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về việc chấp nhận.’</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">42. Trí về sự thâm nhập:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ với trạng thái đã được chạm đến là trí về sự thâm nhập là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Hành giả) chạm đến sắc là vô thường, chạm đến sắc là khổ não, chạm đến sắc là vô ngã, ‘điều nào chạm đến, (hành giả) thâm nhập điều ấy,’ như thế tuệ với trạng thái đã được chạm đến là trí về sự thâm nhập. &#8230; thọ &#8230; tưởng &#8230; các hành &#8230; thức &#8230; mắt &#8230; (Hành giả) chạm đến lão tử là vô thường, chạm đến lão tử là khổ não, chạm đến lão tử là vô ngã, ‘điều nào chạm đến, (hành giả) thâm nhập điều ấy,’ như thế tuệ với trạng thái đã được chạm đến là trí về sự thâm nhập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ với trạng thái đã được chạm đến là trí về sự thâm nhập</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về sự thâm nhập.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">43. Trí về sự an trú vào các lãnh vực:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự phối hợp lại là trí về sự an trú vào các lãnh vực là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do duyên tà kiến có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của tà kiến có được cảm thọ. Do duyên chánh kiến có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của chánh kiến có được cảm thọ. Do duyên tà tư duy có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của tà tư duy có được cảm thọ. Do duyên chánh tư duy có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của chánh tư duy có được cảm thọ. &#8230;(như trên)&#8230; Do duyên tà giải thoát có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của tà giải thoát có được cảm thọ. Do duyên chánh giải thoát có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của chánh giải thoát có được cảm thọ. Do duyên ước muốn có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của ước muốn có được cảm thọ. Do duyên tầm có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của tầm có được cảm thọ. Do duyên tưởng có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của tưởng có được cảm thọ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ước muốn là không vắng lặng, tầm là không vắng lặng, tưởng là không vắng lặng, cũng do duyên của việc ấy, có được cảm thọ. Ước muốn được vắng lặng, tầm là không vắng lặng, tưởng là không vắng lặng, &#8230; Ước muốn được vắng lặng, tầm được vắng lặng, tưởng là không vắng lặng, &#8230; Ước muốn được vắng lặng, tầm được vắng lặng, tưởng được vắng lặng, &#8230; Có sự nỗ lực nhằm đạt được điều chưa đạt được (Quả A-la-hán), khi vị trí ấy chưa được đạt đến, cũng do duyên của việc ấy có được cảm thọ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự phối hợp lại là trí về sự an trú vào các lãnh vực</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ­‘Trí về sự an trú vào các lãnh vực.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">44-49. Nhóm sáu của Trí về sự ly khai:</span></h3>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(44. Trí về sự ly khai do tưởng):</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ với tính chất chủ đạo là trí về sự ly khai do tưởng là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Tuệ với thoát ly là tính chất chủ đạo ly khai khỏi ước muốn trong các dục do tưởng,’ như thế tuệ với tính chất chủ đạo là trí về sự ly khai do tưởng. ‘Tuệ với không sân độc là tính chất chủ đạo ly khai khỏi sân độc do tưởng,’ như thế tuệ với tính chất chủ đạo là trí về sự ly khai do tưởng. ‘Tuệ với sự nghĩ tưởng đến ánh sáng là tính chất chủ đạo ly khai khỏi sự lờ đờ buồn ngủ do tưởng,’ &#8230; ‘Tuệ với sự không tản mạn là tính chất chủ đạo ly khai khỏi phóng dật do tưởng,’ &#8230; ‘Tuệ với sự xác định pháp là tính chất chủ đạo ly khai khỏi hoài nghi do tưởng,’ &#8230; ‘Tuệ với trí là tính chất chủ đạo ly khai khỏi vô minh do tưởng,’ &#8230; ‘Tuệ với sự hân hoan là tính chất chủ đạo ly khai khỏi sự không hứng thú do tưởng,’ &#8230; ‘Tuệ với sơ thiền là tính chất chủ đạo ly khai khỏi các pháp ngăn che do tưởng,’ như thế tuệ với tính chất chủ đạo là trí về sự ly khai do tưởng. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Tuệ với tính chất Đạo A-la-hán ly khai khỏi toàn bộ phiền não do tưởng,’ như thế tuệ với tính chất chủ đạo là trí về sự ly khai do tưởng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ với tính chất chủ đạo là trí về sự ly khai do tưởng</i>.”</span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(45. Trí về sự ly khai do suy nghĩ):</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về bản chất khác nhau là trí về sự ly khai do suy nghĩ là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Ước muốn trong các dục là khác nhau, sự thoát ly là giống nhau. Trong khi suy nghĩ về bản chất giống nhau của sự thoát ly, tâm ly khai khỏi ước muốn trong các dục,’ như thế tuệ về bản chất khác nhau là trí về sự ly khai do suy nghĩ. ‘Sân độc là khác nhau, sự không sân độc là giống nhau. Trong khi suy nghĩ về bản chất giống nhau của không sân độc, tâm ly khai khỏi sân độc,’ như thế tuệ về bản chất khác nhau là trí về sự ly khai do suy nghĩ. ‘Sự lờ đờ buồn ngủ là khác nhau, sự nghĩ tưởng đến ánh sáng là giống nhau. Trong khi suy nghĩ về bản chất giống nhau của sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, tâm ly khai khỏi sự lờ đờ buồn ngủ,’ như thế tuệ về bản chất khác nhau là trí về sự ly khai do suy nghĩ. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Tất cả phiền não là khác nhau, Đạo A-la-hán là giống nhau. Trong khi suy nghĩ về bản chất giống nhau của Đạo A-la-hán, tâm ly khai khỏi tất cả phiền não,’ như thế tuệ về bản chất khác nhau là trí về sự ly khai do suy nghĩ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về bản chất khác nhau là trí về sự ly khai do suy nghĩ</i>.”</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> (46. Trí về sự ly khai do tâm):</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự khẳng định là trí về sự ly khai do tâm là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, do tác động của sự thoát ly tâm được khẳng định,’ như thế tuệ về sự khẳng định là trí về sự ly khai do tâm. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc, do tác động của sự không sân độc tâm được khẳng định,’ &#8230; ‘Trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, do tác động của sự nghĩ tưởng đến ánh sáng tâm được khẳng định,’ như thế tuệ về sự khẳng định là trí về sự ly khai do tâm. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Trong khi dứt bỏ tất cả phiền não, do tác động của Đạo A-la-hán tâm được khẳng định,’ như thế tuệ về sự khẳng định là trí về sự ly khai do tâm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự khẳng định là trí về sự ly khai do tâm</i>.”</span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(47. Trí về sự ly khai do trí):</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về không tánh là trí về sự ly khai do trí là (có ý nghĩa) thế nào? ‘Trong khi biết và thấy đúng theo thực thể rằng: ‘Mắt là rỗng không về bản ngã, về sở hữu của bản ngã, về thường còn, về vững chắc, về vĩnh viễn, hoặc về pháp không chuyển biến,’ trí ly khai khỏi sự cố chấp về mắt,’ như thế tuệ về không tánh là trí về sự ly khai do trí. ‘Trong khi biết và thấy đúng theo thực thể rằng: ‘Tai là rỗng không &#8230; ‘Mũi là rỗng không &#8230; ‘Lưỡi là rỗng không &#8230; ‘Thân là rỗng không &#8230; ‘Ý là rỗng không về bản ngã, về sở hữu của bản ngã, về thường còn, về vững chắc, về vĩnh viễn, hoặc về pháp không chuyển biến,’ trí ly khai khỏi sự cố chấp về ý,’ như thế tuệ về không tánh là trí về sự ly khai do trí. </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về không tánh là trí về sự ly khai do trí</i>.”</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(48. Trí về sự ly khai do giải thoát):</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự xả ly là trí về sự ly khai do giải thoát là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Xả ly ước muốn trong các dục nhờ vào sự thoát ly,’ như thế tuệ về sự xả ly là trí về sự ly khai do giải thoát. ‘Xả ly sân độc nhờ vào sự không sân độc,’ &#8230; ‘Xả ly sự lờ đờ buồn ngủ nhờ vào sự nghĩ tưởng đến ánh sáng,’ &#8230; ‘Xả ly phóng dật nhờ vào sự không tản mạn,’ &#8230; ‘Xả ly hoài nghi nhờ vào sự xác định pháp,’ như thế tuệ về sự xả ly là trí về sự ly khai do giải thoát. &#8230; ‘Xả ly tất cả phiền não nhờ vào Đạo A-la-hán,’ như thế tuệ về sự xả ly là trí về sự ly khai do giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự xả ly là trí về sự ly khai do giải thoát</i>.”</span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> (49. Trí về sự ly khai do sự thật):</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về ý nghĩa của thực thể là trí về sự ly khai do sự thật là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trong khi biết toàn diện về ý nghĩa áp bức, ý nghĩa tạo tác, ý nghĩa nóng nảy, ý nghĩa chuyển biến của khổ, (hành giả) ly khai,’ như thế tuệ về ý nghĩa của thực thể là trí về sự ly khai do sự thật. ‘Trong khi dứt bỏ ý nghĩa (nghiệp) tích lũy, ý nghĩa căn nguyên, ý nghĩa ràng buộc, ý nghĩa vướng bận của nhân sanh, (hành giả) ly khai,’ như thế tuệ về ý nghĩa của thực thể là trí về sự ly khai do sự thật. ‘Trong khi tác chứng ý nghĩa xuất ly, ý nghĩa viễn ly, ý nghĩa không tạo tác, ý nghĩa bất tử của Niết Bàn, (hành giả) ly khai,’ như thế tuệ về ý nghĩa của thực thể là trí về sự ly khai do sự thật. ‘Trong khi tu tập ý nghĩa dẫn xuất, ý nghĩa chủng tử, ý nghĩa nhận thức, ý nghĩa pháp chủ đạo của Đạo, (hành giả) ly khai, ‘ như thế tuệ về ý nghĩa của thực thể là trí về sự ly khai do sự thật.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự ly khai do tưởng, sự ly khai do suy nghĩ, sự ly khai do tâm, sự ly khai do trí, sự ly khai do giải thoát, sự ly khai do sự thật. ‘Trong khi suy tưởng, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do tưởng. ‘Trong khi suy nghĩ, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do suy nghĩ. ‘Trong khi nhận biết, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do tâm. ‘Trong khi sử dụng trí, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do trí. ‘Trong khi xả ly, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do giải thoát. ‘Theo ý nghĩa của thực thể, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do sự thật.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nơi nào có sự ly khai do tưởng, nơi ấy có sự ly khai do suy nghĩ. Nơi nào có sự ly khai do suy nghĩ, nơi ấy có sự ly khai do tưởng. Nơi nào có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, nơi ấy có sự ly khai do tâm. Nơi nào có sự ly khai do tâm, nơi ấy có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ. Nơi nào có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, nơi ấy có sự ly khai do trí. Nơi nào có sự ly khai do trí, nơi ấy có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm. Nơi nào có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm,, có sự ly khai do trí, nơi ấy có sự ly khai do giải thoát. Nơi nào có sự ly khai do giải thoát, nơi ấy có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, có sự ly khai do trí. Nơi nào có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, có sự ly khai do trí, có sự ly khai do giải thoát, nơi ấy có sự ly khai do sự thật. Nơi nào có sự ly khai do sự thật, nơi ấy có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, có sự ly khai do trí, có sự ly khai do giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về ý nghĩa của thực thể là trí về sự ly khai do sự thật</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Nhóm sáu của Trí về sự ly khai.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">50. Trí về các sự thành tựu:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với sự xác định cả thân lẫn tâm là một, tuệ về ý nghĩa của sự thành tựu do năng lực của sự chú nguyện lạc tưởng và khinh tưởng là trí về thể loại của thần thông là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu trong Giáo Pháp này tu tập về nền tảng của thần thông[3] hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn và các tạo tác do nỗ lực,[4] &#8230; hội đủ (các yếu tố) định do tinh tấn và các tạo tác do nỗ lực, &#8230; hội đủ (các yếu tố) định do nhận thức và các tạo tác do nỗ lực, tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực. Vị ấy làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến, có thể sử dụng được ở bốn nền tảng của thần thông này. Sau khi đã làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến, có thể sử dụng được ở bốn nền tảng của thần thông này, vị ấy kết hợp thân với tâm, kết hợp tâm với thân, uốn nắn tâm theo tác động của thân, uốn nắn thân theo tác động của tâm, chú nguyện tâm theo tác động của thân, chú nguyện thân theo tác động của tâm. Sau khi đã uốn nắn tâm theo tác động của thân, sau khi đã uốn nắn thân theo tác động của tâm, sau khi đã chú nguyện tâm theo tác động của thân, sau khi đã chú nguyện thân theo tác động của tâm, vị ấy nhập vào lạc tưởng và khinh tưởng ở thân rồi an trú. Với tâm được tu tập, được hoàn toàn trong sạch, được tinh khiết như thế, vị ấy quả quyết, hướng dẫn tâm vào trí thuộc về thần thông. Vị ấy kinh nghiệm nhiều thể loại thần thông: là một hóa thành nhiều, là nhiều hóa thành một, hiện ra, biến mất, đi xuyên qua vách nhà, qua tường thành, qua núi non không bị chướng ngại như là ở khoảng không, trồi lên và chìm xuống vào trong trái đất như ở trong nước, đi ở trên nước mà không làm chao động như ở trên đất, di chuyển với thế kiết già ở trên hư không như loài chim có cánh, bằng bàn tay sờ đến chạm vào ngay cả mặt trăng và mặt trời này (là những vật) có đại thần lực như thế có đại oai lực như thế. Bằng thân vị ấy thể hiện sự tác động đến tận cõi Phạm Thiên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Với sự xác định cả thân lẫn tâm là một, tuệ về ý nghĩa của sự thành tựu do năng lực của sự chú nguyện lạc tưởng và khinh tưởng là trí về thể loại của thần thông</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về các sự thành tựu.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">51. Trí thanh tịnh của nhĩ giới:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thâm nhập các hiện tướng âm thanh có bản chất khác nhau hoặc giống nhau bằng cách triển khai tầm là trí thanh tịnh của nhĩ giới là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu trong Giáo Pháp này tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn &#8230; định do tinh tấn &#8230; định do nhận thức &#8230; định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực. Vị ấy làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến, có thể sử dụng được ở bốn nền tảng của thần thông này. Sau khi đã làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến, có thể sử dụng được ở bốn nền tảng của thần thông này, vị ấy chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở xa, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở kề cận, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh thô tháo, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh êm dịu, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh nhỏ nhẹ, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng đông, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng tây, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng bắc, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng nam, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng đông nam, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng tây bắc, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng đông bắc, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng tây nam, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng dưới, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng trên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với tâm được phát triển, hoàn toàn trong sạch, tinh khiết như thế, vị ấy quả quyết, hướng dẫn tâm vào trí thanh tịnh của nhĩ giới. Nhờ vào thiên nhĩ giới thanh tịnh vượt trội loài người, vị ấy nghe được cả hai loại âm thanh ở cõi trời và ở loài người, ở xa và ở kề cận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự thâm nhập các hiện tướng âm thanh có bản chất khác nhau hoặc giống nhau bằng cách triển khai tầm là trí thanh tịnh của nhĩ giới</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí thanh tịnh của nhĩ giới.’</b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">52. Trí biết được tâm:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với tính chất triển khai của ba loại tâm, tuệ về sự thâm nhập các hành vi của thức có bản chất khác nhau hoặc giống nhau bằng năng lực tự tin của các quyền là trí biết được tâm là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu trong Giáo Pháp này tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn &#8230; định do tinh tấn &#8230; định do nhận thức &#8230; định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực. Vị ấy làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến, có thể sử dụng được ở bốn nền tảng của thần thông này. Sau khi đã làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến, có thể sử dụng được ở bốn nền tảng của thần thông này, vị ấy biết rõ như vầy: ‘Đây là sắc được sanh khởi do hỷ quyền, đây là sắc được sanh khởi do ưu quyền, đây là sắc được sanh khởi do xả quyền.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với tâm được phát triển, hoàn toàn trong sạch, tinh khiết như thế, vị ấy quả quyết, hướng dẫn tâm vào trí biết được tâm. Sau khi xem xét, vị ấy nhận biết tâm của các chúng sanh khác của các cá nhân khác bằng tâm. (Vị ấy) nhận biết tâm có tham ái là: ‘Tâm có tham ái,’ hoặc nhận biết tâm lìa khỏi tham ái là: ‘Tâm lìa khỏi tham ái,’ hoặc nhận biết tâm có sân, &#8230; tâm lìa khỏi sân &#8230; tâm có si &#8230; tâm lìa khỏi si, &#8230; tâm bị thâu hẹp &#8230; tâm bị tán loạn &#8230; tâm đại hành<a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/37/Pts_03.htm#_ftn5" name="_ftnref5" rel="nofollow noopener" target="_blank">[5]</a> &#8230; tâm không đại hành &#8230; tâm vô thượng &#8230; tâm không vô thượng &#8230; tâm định tĩnh &#8230; tâm không định tĩnh &#8230; tâm giải thoát &#8230;, hoặc nhận biết tâm không giải thoát là: ‘Tâm không giải thoát.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Với tính chất triển khai của ba loại tâm, tuệ về sự thâm nhập các hành vi của thức có bản chất khác nhau hoặc giống nhau bằng năng lực tự tin của các quyền là trí biết được tâm</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí biết được tâm.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">53. Trí nhớ về các kiếp sống trước:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thâm nhập bằng năng lực triển khai các nghiệp có bản chất khác nhau hoặc giống nhau đối với các pháp có sự vận hành do duyên là trí nhớ về các kiếp sống trước là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu trong Giáo Pháp này tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn &#8230;(nt)&#8230; sau khi làm thành nhu nhuyến có thể sử dụng được, vị ấy nhận biết như vầy: ‘Khi điều này hiện hữu, điều kia hiện hữu, do sự sanh lên của điều này, điều kia sanh lên, tức là các hành do duyên vô minh, thức do duyên các hành, danh sắc do duyên thức, sáu xứ do duyên danh sắc, xúc do duyên sáu xứ, thọ do duyên xúc, ái do duyên thọ, thủ do duyên ái, hữu do duyên thủ, sanh do duyên hữu, lão tử do duyên sanh, sầu muộn-than vãn-khổ đau-ưu phiền-thất vọng hiện khởi. Như thế là sự sanh khởi của toàn bộ khổ uẩn này.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với tâm được phát triển, hoàn toàn trong sạch, tinh khiết như thế, vị ấy quả quyết, hướng dẫn tâm đến trí nhớ về các kiếp sống trước. Vị ấy nhớ lại nhiều kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh, ba lần sanh, bốn lần sanh, năm lần sanh, mười lần sanh, hai mươi lần sanh, ba mươi lần sanh, bốn mươi lần sanh, năm mươi lần sanh, một trăm lần sanh, một ngàn lần sanh, một trăm ngàn lần sanh, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp: ‘Vào kiếp sống ấy, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ chỗ ấy, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại nơi này.’ Như thế, vị ấy nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét cá biệt và đại cương.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về sự thâm nhập bằng năng lực triển khai các nghiệp có bản chất khác nhau hoặc giống nhau đối với các pháp có sự vận hành do duyên là trí nhớ về các kiếp sống trước</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí nhớ về các kiếp sống trước.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">54. Trí về thiên nhãn:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về ý nghĩa của việc nhìn thấy các hiện tướng của sắc có bản chất khác nhau hoặc giống nhau nhờ vào năng lực của ánh sáng là trí về thiên nhãn là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu trong Giáo Pháp này tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn &#8230; định do tinh tấn &#8230; định do nhận thức &#8230; định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực. Vị ấy làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến có thể sử dụng ở bốn nền tảng của thần thông này. Sau khi làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến có thể sử dụng ở bốn nền tảng của thần thông này, vị ấy chú ý đến tưởng về ánh sáng, chú nguyện tưởng về ban ngày: ‘Ban ngày thế nào, ban đêm thế ấy, ban đêm thế nào, ban ngày thế ấy.’ Với tâm được mở ra và không bị che lấp như thế, vị ấy phát triển tâm có ánh sáng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với tâm được phát triển, hoàn toàn trong sạch, tinh khiết như thế, vị ấy quả quyết, hướng dẫn tâm đến trí về sự sanh tử của chúng sanh. Bằng thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, vị ấy nhìn thấy chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, và nhận biết rằng chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng đến chốn an vui, (hay) đọa vào cõi khổ: ‘Quả vậy, những chúng sanh đang hiện hữu này có thân ác hạnh, có khẩu ác hạnh, có ý ác hạnh, vu khống các bậc Thánh, theo tà kiến, tán thành hành động do tà kiến, khi tan rã thân xác và chết đi, họ bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Trái lại, những chúng sanh đang hiện hữu này có thân thiện hạnh, có khẩu thiện hạnh, có ý thiện hạnh, không vu khống các bậc Thánh, theo chánh kiến, tán thành hành động do chánh kiến, khi tan rã thân xác và chết đi, họ được sanh vào chốn an vui, cõi trời, loài người.’ Như thế, bằng thiên nhãn thuần tịnh vượt trội loài người, vị ấy nhìn thấy chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, và biết rõ rằng chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng đến chốn an vui, (hay) đọa vào cõi khổ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về ý nghĩa của việc nhìn thấy các hiện tướng của sắc có bản chất khác nhau hoặc giống nhau nhờ vào năng lực của ánh sáng là trí về thiên nhãn</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về thiên nhãn.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">55. Trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về chủ thể đối với ba quyền theo sáu mươi bốn biểu hiện là trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Của ba quyền nào? Của vị tri quyền, của dĩ tri quyền, của cụ tri quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tri quyền đi đến bao nhiêu vị thế? Dĩ tri quyền đi đến bao nhiêu vị thế? Cụ tri quyền đi đến bao nhiêu vị thế? Vị tri quyền đi đến một vị thế là Đạo Nhập Lưu. Dĩ tri quyền đi đến sáu vị thế là Quả Nhập Lưu, Đạo Nhất Lai, Quả Nhất Lai, Đạo Bất Lai, Quả Bất Lai, Đạo A-la-hán. Cụ tri quyền đi đến một vị thế là Quả A-la-hán.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, đối với vị tri quyền, tín quyền có sự cương quyết là phụ trợ, tấn quyền có sự ra sức là phụ trợ, niệm quyền có sự thiết lập là phụ trợ, định quyền có sự không tản mạn là phụ trợ, tuệ quyền có sự nhận thức là phụ trợ, ý quyền có sự nhận biết là phụ trợ, hỷ quyền có sự tràn ngập là phụ trợ, mạng quyền có pháp chủ đạo trong việc duy trì sự vận hành là phụ trợ. Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, các pháp được sanh ra, ngoại trừ sắc có nguồn phát sanh là tâm, tất cả (các pháp còn lại) đều là thiện, tất cả đều không có lậu hoặc, tất cả đều có tánh dẫn xuất, tất cả đều đưa đến sự không tích lũy, tất cả đều là vượt trên thế gian, tất cả đều có cảnh là Niết Bàn. Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, đối với vị tri quyền, tám quyền này là các phụ trợ đồng sanh, là các phụ trợ có sự (tác động) qua lại, là các phụ trợ có sự nương tựa, là các phụ trợ được liên kết, là đồng hành, là đồng sanh, là kết hợp, là liên kết. Chính tám quyền này vừa là biểu hiện vừa là phụ trợ của vị tri quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Quả Nhập Lưu, đối với dĩ tri quyền, tín quyền có sự cương quyết là phụ trợ, tấn quyền có sự ra sức là phụ trợ, niệm quyền có sự thiết lập là phụ trợ, định quyền có sự không tản mạn là phụ trợ, tuệ quyền có sự nhận thức là phụ trợ, ý quyền có sự nhận biết là phụ trợ, hỷ quyền có sự tràn ngập là phụ trợ, mạng quyền có pháp chủ đạo trong việc duy trì sự vận hành là phụ trợ. Vào sát-na Quả Nhập Lưu, các pháp được sanh ra, ngoại trừ sắc có nguồn phát sanh là tâm, tất cả (các pháp còn lại) đều là vô ký, tất cả đều không có lậu hoặc, tất cả đều là vượt trên thế gian, tất cả đều có cảnh là Niết Bàn. Vào sát-na Quả Nhập Lưu, đối với dĩ tri quyền, tám quyền này là các phụ trợ đồng sanh, là các phụ trợ có sự (tác động) qua lại, là các phụ trợ có sự nương tựa, là các phụ trợ được liên kết, là đồng hành, là đồng sanh, là kết hợp, là liên kết. Chính tám quyền này vừa là biểu hiện vừa là phụ trợ của dĩ tri quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo Nhất Lai, &#8230;(như trên)&#8230; Vào sát-na Quả Nhất Lai, &#8230;(như trên)&#8230; Vào sát-na Đạo Bất Lai, &#8230;(như trên)&#8230; Vào sát-na Quả Bất Lai, &#8230;(như trên)&#8230; Vào sát-na Đạo A-la-hán, đối với dĩ tri quyền, tín quyền của có sự cương quyết là phụ trợ, &#8230;(như trên)&#8230; mạng quyền có pháp chủ đạo trong việc duy trì sự vận hành là phụ trợ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo A-la-hán, các pháp được sanh ra ngoại trừ sắc có nguồn phát sanh là tâm, tất cả (các pháp còn lại) đều là thiện, tất cả đều không có lậu hoặc, tất cả đều có tánh dẫn xuất, tất cả đều đưa đến sự không tích lũy, tất cả đều là vượt trên thế gian, tất cả đều có cảnh là Niết Bàn. Vào sát-na Đạo A-la-hán, đối với dĩ tri quyền, tám quyền này[6] là các phụ trợ đồng sanh, là các phụ trợ có sự (tác động) qua lại, là các phụ trợ có sự nương tựa, là các phụ trợ được liên kết, là đồng hành, là đồng sanh, là kết hợp, là liên kết. Chính tám quyền này vừa là biểu hiện vừa là phụ trợ của dĩ tri quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Quả A-la-hán, đối với cụ tri quyền, tín quyền có sự cương quyết là phụ trợ, tấn quyền &#8230;(nt)&#8230; mạng quyền có pháp chủ đạo trong việc duy trì sự vận hành là phụ trợ. Vào sát-na Quả A-la-hán, các pháp được sanh ra, ngoại trừ sắc có nguồn phát sanh là tâm, tất cả (các pháp còn lại) đều là vô ký, tất cả đều không có lậu hoặc, tất cả đều là vượt trên thế gian, tất cả đều có cảnh là Niết Bàn. Vào sát-na Quả A-la-hán, đối với cụ tri quyền, tám quyền này là các phụ trợ đồng sanh, &#8230;(nt)&#8230; là liên kết. Chính tám quyền này vừa là biểu hiện vừa là phụ trợ của cụ tri quyền. Như thế, 8 lần 8 này là 64.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Lậu hoặc:</b> Các lậu hoặc ấy là gì? Là dục lậu, hữu lậu, (tà) kiến lậu, vô minh lậu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đâu? Do Đạo Nhập Lưu, toàn thể (tà) kiến lậu được cạn kiệt, dục lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, hữu lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, vô minh lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do Đạo Nhất Lai, dục lậu thô thiển được cạn kiệt, hữu lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt, vô minh lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do Đạo Bất Lai, toàn thể dục lậu được cạn kiệt, hữu lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt, vô minh lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do Đạo A-la-hán, toàn thể hữu lậu được cạn kiệt, toàn thể vô minh lậu được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về chủ thể đối với ba quyền theo sáu mươi bốn biểu hiện là trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">56-63. Hai nhóm bốn của trí về chân lý:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về ý nghĩa biết toàn diện là trí về Khổ, tuệ về ý nghĩa dứt bỏ là trí về nhân sanh (Khổ), tuệ về ý nghĩa tác chứng là trí về sự diệt tận (Khổ), tuệ về ý nghĩa tu tập là trí về Đạo là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với Khổ là ý nghĩa áp bức, là ý nghĩa tạo tác, là ý nghĩa nóng nảy, là ý nghĩa chuyển biến, là ý nghĩa biết toàn diện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với nhân sanh (Khổ) là ý nghĩa (nghiệp) tích lũy, là ý nghĩa căn nguyên, là ý nghĩa ràng buộc, là ý nghĩa vướng bận, là ý nghĩa dứt bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sự diệt tận (Khổ) là ý nghĩa xuất ly, là ý nghĩa viễn ly, là ý nghĩa vô vi, là ý nghĩa bất tử, là ý nghĩa tác chứng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với Đạo là ý nghĩa dẫn xuất, là ý nghĩa chủng tử, là ý nghĩa nhận thức, là ý nghĩa pháp chủ đạo, là ý nghĩa tu tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Tuệ về ý nghĩa biết toàn diện là trí về Khổ; Tuệ về ý nghĩa dứt bỏ là trí về nhân sanh (Khổ); Tuệ về ý nghĩa tác chứng là trí về sự diệt tận (Khổ); Tuệ về ý nghĩa tu tập là trí về Đạo</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về Khổ, trí về nhân sanh Khổ, trí về sự diệt tận Khổ, trí về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí của vị có dự phần ở Đạo cũng là trí về Khổ, đây cũng là trí về nhân sanh Khổ, đây cũng là trí về sự diệt tận Khổ, đây cũng là trí về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong trường hợp ấy, trí về Khổ là gì? Điều gì sanh lên có liên quan đến Khổ: sự nhận biết (của trí), sự nhận biết (của tuệ), sự chọn lọc, sự tuyển lựa, sự chọn lọc pháp, sự suy xét, sự khảo cứu, sự khảo sát, sự thông thái, sự rành rẽ, sự khôn ngoan, sự sáng suốt, sự suy nghĩ, sự nghiên cứu, sự uyên thâm, sự mẫn tiệp, sự lãnh đạo, sự minh sát, sự tỉnh giác, sự sắc sảo, tuệ, tuệ quyền, tuệ lực, tuệ là vũ khí, tuệ là thành trì, tuệ là ánh sáng, tuệ là hào quang, tuệ là ngọn đèn, tuệ là báu vật, sự vô si, sự chọn lọc pháp, chánh kiến, (mỗi một) điều ấy được gọi là trí về Khổ. Điều gì sanh lên có liên quan đến nhân sanh Khổ: &#8230;(nt)&#8230; Điều gì sanh lên có liên quan đến sự diệt tận Khổ: &#8230;(nt)&#8230; Điều gì sanh lên có liên quan đến sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ: &#8230;(nt)&#8230; sự vô si, sự chọn lọc pháp, chánh kiến, (mỗi một) điều ấy được gọi là trí về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Trí về Khổ, trí về nhân sanh Khổ, trí về sự diệt tận Khổ, trí về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Hai nhóm bốn của trí về chân lý.’</b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">64-67. Trí về các sự phân tích thuần túy:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về sự phân tích ý nghĩa, trí về sự phân tích pháp, trí về sự phân tích ngôn từ, trí về sự phân tích phép biện giải là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về các ý nghĩa là sự phân tích ý nghĩa, trí về các pháp là sự phân tích pháp, trí về các ngôn từ là sự phân tích ngôn từ, trí về các phép biện giải là sự phân tích phép biện giải.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về bản chất khác nhau của các ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về bản chất khác nhau của các pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về bản chất khác nhau của các ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về bản chất khác nhau của các phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự xác định ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự xác định pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự xác định ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự xác định phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự suy xét ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự suy xét pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự suy xét ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự suy xét phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự khảo cứu ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự khảo cứu pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự khảo cứu ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự khảo cứu phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự phân loại ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự phân loại pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự phân loại ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự phân loại phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự thể hiện ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự thể hiện pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự thể hiện ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự thể hiện phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự làm sáng tỏ ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự làm sáng tỏ pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự làm sáng tỏ ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự làm sáng tỏ phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự làm rõ rệt ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự làm rõ rệt pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự làm rõ rệt ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự làm rõ rệt phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về sự công bố ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự công bố pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự công bố ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự công bố phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “<i>Trí về sự phân tích ý nghĩa, trí về sự phân tích pháp, trí về sự phân tích ngôn từ, trí về sự phân tích phép biện giải</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về các sự phân tích thuần túy.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">68. Trí biết được khả năng của người khác:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí biết được khả năng của người khác của đức Như Lai là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, đức Như Lai nhìn thấy các chúng sanh: có tầm nhìn bị vấy bụi ít, có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều, có giác quan sắc sảo, có giác quan cùn lụt, có tánh khí tốt, có tánh khí tồi, dễ hướng dẫn, khó hướng dẫn, một số chúng sanh thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, một số chúng sanh không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có tầm nhìn bị vấy bụi ít, có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều</b>: Người có đức tin là có tầm nhìn bị vấy bụi ít, người không có đức tin là có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều. Người có sự cố gắng tinh tấn là có tầm nhìn bị vấy bụi ít, người biếng nhác là có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều. Người có niệm được thiết lập là có tầm nhìn bị vấy bụi ít, người có niệm bị quên lãng là có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều. Người được định tĩnh là có tầm nhìn bị vấy bụi ít, người không được định tĩnh là có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều. Người có tuệ là có tầm nhìn bị vấy bụi ít, người có tuệ kém là có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có giác quan sắc sảo, có giác quan cùn lụt</b>: Người có đức tin là có giác quan sắc sảo, người không có đức tin là có giác quan cùn lụt. Người có sự cố gắng tinh tấn là có giác quan sắc sảo, người biếng nhác là có giác quan cùn lụt. Người có niệm được thiết lập là có giác quan sắc sảo, người có niệm bị quên lãng là có giác quan cùn lụt. Người được định tĩnh là có giác quan sắc sảo, người không được định tĩnh là có giác quan cùn lụt. Người có tuệ là có giác quan sắc sảo, người có tuệ kém là có giác quan cùn lụt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có tánh khí tốt, có tánh khí tồi</b>: Người có đức tin là có tánh khí tốt, người không có đức tin là có tánh khí tồi. Người có sự cố gắng tinh tấn là có tánh khí tốt, người biếng nhác là có tánh khí tồi. Người có niệm được thiết lập là có tánh khí tốt, người có niệm bị quên lãng là có tánh khí tồi. Người được định tĩnh là có tánh khí tốt, người không được định tĩnh là có tánh khí tồi. Người có tuệ là có tánh khí tốt, người có tuệ kém là có tánh khí tồi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dễ hướng dẫn, khó hướng dẫn</b>: Người có đức tin là dễ hướng dẫn, người không có đức tin là khó hướng dẫn. Người có sự cố gắng tinh tấn là dễ hướng dẫn, người biếng nhác là khó hướng dẫn. Người có niệm được thiết lập là dễ hướng dẫn, người có niệm bị quên lãng là khó hướng dẫn. Người được định tĩnh là dễ hướng dẫn, người không được định tĩnh là khó hướng dẫn. Người có tuệ là dễ hướng dẫn, người có tuệ kém là khó hướng dẫn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Một số chúng sanh thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, một số chúng sanh không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác:</b>Người có đức tin là thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, người không có đức tin là không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác. Người có sự cố gắng tinh tấn là thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, người biếng nhác là không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác. Người có niệm được thiết lập là thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, người có niệm bị quên lãng là không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác. Người được định tĩnh là thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, người không được định tĩnh là không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác. Người có tuệ là thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, người có tuệ kém là không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thế giới:</b> Thế giới của các uẩn, thế giới của các giới, thế giới của các xứ, thế giới có sự bất hạnh, thế giới đem lại sự bất hạnh, thế giới có sự thuận lợi, thế giới đem lại sự thuận lợi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một thế giới là tất cả chúng sanh được tồn tại nhờ vật thực. Hai thế giới là danh và sắc. Ba thế giới là ba thọ. Bốn thế giới là bốn loại vật thực. Năm thế giới là năm thủ uẩn. Sáu thế giới là sáu nội xứ. Bảy thế giới là bảy trụ xứ của thức. Tám thế giới là tám pháp thế gian. Chín thế giới là chín nơi cư trú của chúng sanh. Mười thế giới là mười xứ.[7] Mười hai thế giới là mười hai xứ.[8] Mười tám thế giới là mười tám giới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội lỗi:</b> Tất cả ô nhiễm là tội lỗi, tất cả ác hạnh là tội lỗi, tất cả các thắng hành là tội lỗi, tất cả nghiệp đưa đến hữu là tội lỗi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Như thế, tưởng đến sự kinh hãi sắc bén về thế giới này và về tội lỗi này đã được đề cập, cũng giống như (tưởng đến sự kinh hãi) về cuộc chém giết có thanh gươm đã được vung lên. Đức Như Lai biết được, thấy được, hiểu được, thấu triệt năm quyền này thông qua năm mươi biểu hiện[9] này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là trí biết được khả năng của người khác của đức Như Lai.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí biết được khả năng của người khác.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">69. Trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí của đức Như Lai về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm của chúng sanh là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, đức Như Lai biết thiên kiến của chúng sanh, biết xu hướng ngủ ngầm, biết sở hành, biết tánh khí, biết chúng sanh có khả năng hay không có khả năng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thiên kiến gì của chúng sanh? ‘Thế giới là thường còn,’ ‘Thế giới là không thường còn,’ ‘Thế giới là có giới hạn,’ ‘Thế giới là không có giới hạn,’ ‘Mạng sống là vật ấy thân thể là vật ấy,’ ‘Mạng sống là vật khác thân thể là vật khác,’ ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ hay ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ chúng sanh nương tựa vào hữu kiến hoặc nương tựa vào phi hữu kiến là như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trái lại, có những chúng sanh không tiếp cận hai thái cực này rồi  thành tựu sự chấp nhận hợp theo các pháp được tùy thuận sanh lên do tính chất của duyên ấy, hoặc (đạt được) trí đúng theo thực thể.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ngài biết về người đang theo đuổi (ngũ) dục rằng: ‘Người này nặng về dục, có thiên kiến về dục, có tánh khí về dục;’ biết về người đang theo đuổi (ngũ) dục rằng: ‘Người này nặng về thoát ly, có thiên kiến về thoát ly, có tánh khí về thoát ly;’ biết về người đang theo đuổi thoát ly rằng: ‘Người này nặng về thoát ly, có thiên kiến về thoát ly, có tánh khí về thoát ly;’ biết về người đang theo đuổi thoát ly rằng: ‘Người này nặng về dục, có thiên kiến về dục, có tánh khí về dục.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ngài biết về người đang theo đuổi sân độc rằng: ‘Người này nặng về sân độc, có thiên kiến về sân độc, có tánh khí về sân độc;’ biết về người đang theo đuổi sân độc rằng: ‘Người này nặng về không sân độc, có thiên kiến về không sân độc, có tánh khí về không sân độc;’ biết về người đang theo đuổi không sân độc rằng: ‘Người này nặng về không sân độc, có thiên kiến về không sân độc, có tánh khí về không sân độc;’ biết về người đang theo đuổi không sân độc rằng: ‘Người này nặng về sân độc, có thiên kiến về sân độc, có tánh khí về sân độc.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ngài biết về người đang theo đuổi sự lờ đờ và buồn ngủ rằng: ‘Người này nặng về lờ đờ và buồn ngủ, có thiên kiến về lờ đờ và buồn ngủ, có tánh khí về lờ đờ và buồn ngủ;’ biết về người đang theo đuổi sự lờ đờ và buồn ngủ rằng: ‘Người này nặng về quang tưởng, có thiên kiến về quang tưởng, có tánh khí về quang tưởng;’ biết về người đang theo đuổi quang tưởng rằng: ‘Người này nặng về quang tưởng, có thiên kiến về quang tưởng, có tánh khí về quang tưởng;’ biết về người đang theo đuổi quang tưởng rằng: ‘Người này nặng về lờ đờ và buồn ngủ, có thiên kiến về lờ đờ và buồn ngủ, có tánh khí về lờ đờ và buồn ngủ.’ Đây là thiên kiến của chúng sanh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xu hướng ngủ ngầm gì của chúng sanh? Có bảy xu hướng ngủ ngầm: Ái dục ngủ ngầm, bất bình ngủ ngầm, ngã mạn ngủ ngầm, tà kiến ngủ ngầm, hoài nghi ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đời, có sắc gì đáng yêu đáng mến, ái dục ngủ ngầm của chúng sanh tiềm ẩn ở sắc ấy. Ở đời, có sắc gì không đáng yêu không đáng mến, bất bình ngủ ngầm của chúng sanh tiềm ẩn ở sắc ấy. Như thế vô minh khởi lên ở hai pháp này; ngã mạn, tà kiến, và hoài nghi có cùng ý nghĩa với điều ấy cần được nhìn thấy. Đây là xu hướng ngủ ngầm của chúng sanh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sở hành gì của chúng sanh? Sự tạo tác đem lại phước báu, sự tạo tác không đem lại phước báu, sự tạo tác có kết quả không thay đổi có nền tảng nhỏ bé hoặc có nền tảng to lớn. Đây là sở hành của chúng sanh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tánh khí gì của chúng sanh? Có các chúng sanh có tánh khí thấp kém, có các chúng sanh có tánh khí cao quý. Các chúng sanh có tánh khí thấp kém giao thiệp, gần gũi, thân cận với các chúng sanh có tánh khí thấp kém, các chúng sanh có tánh khí cao quý giao thiệp, gần gũi, thân cận với các chúng sanh có tánh khí cao quý. Vào thời quá khứ xa xăm, các chúng sanh có tánh khí thấp kém cũng đã giao thiệp, gần gũi, thân cận với các chúng sanh có tánh khí thấp kém, các chúng sanh có tánh khí cao quý cũng đã giao thiệp, gần gũi, thân cận với các chúng sanh có tánh khí cao quý. Vào thời tương lai xa xăm, các chúng sanh có tánh khí thấp kém cũng sẽ giao thiệp, gần gũi, thân cận với các chúng sanh có tánh khí thấp kém, các chúng sanh có tánh khí cao quý cũng sẽ giao thiệp, gần gũi, thân cận với các chúng sanh có tánh khí cao quý. Đây là tánh khí của chúng sanh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chúng sanh nào không có khả năng? Những chúng sanh nào có sự chướng ngại do nghiệp, có sự chướng ngại do phiền não, có sự chướng ngại do quả thành tựu (của nghiệp), không có đức tin, không có ước muốn, tuệ kém, không chắc chắn có khả năng nhập vào bản thể chơn chánh trong các thiện pháp, những chúng sanh này đây là không có khả năng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chúng sanh nào có khả năng? Những chúng sanh nào không có sự chướng ngại do nghiệp, không có sự chướng ngại do phiền não, không có sự chướng ngại do quả thành tựu, có đức tin, có ước muốn, có tuệ, chắc chắn có khả năng nhập vào bản thể chơn chánh trong các thiện pháp; những chúng sanh này đây là có khả năng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là trí của đức Như Lai về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm của chúng sanh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích về ‘Trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">70. Trí về song thông:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về song thông của đức Như Lai là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, đức Như Lai thực hiện song thông không phổ cập đến các Thinh Văn: Ngài phát ra khối lửa từ phần thân phía trên, phát ra nguồn nước từ phần thân phía dưới. Ngài phát ra khối lửa từ phần thân phía dưới, phát ra nguồn nước từ phần thân phía trên. Ngài phát ra khối lửa từ phần thân phía trước, phát ra nguồn nước từ phần thân phía sau. Ngài phát ra khối lửa từ phần thân phía sau, phát ra nguồn nước từ phần thân phía trước. Ngài phát ra khối lửa từ con mắt bên phải, phát ra nguồn nước từ con mắt bên trái. Ngài phát ra khối lửa từ con mắt bên trái, phát ra nguồn nước từ con mắt bên phải. Ngài phát ra khối lửa từ lỗ tai bên phải, phát ra nguồn nước từ lỗ tai bên trái. Ngài phát ra khối lửa từ lỗ tai bên trái, phát ra nguồn nước từ lỗ tai bên phải. Ngài phát ra khối lửa từ lỗ mũi bên phải, phát ra nguồn nước từ lỗ mũi bên trái. Ngài phát ra khối lửa từ lỗ mũi bên trái, phát ra nguồn nước từ lỗ mũi bên phải. Ngài phát ra khối lửa từ chóp vai bên phải, phát ra nguồn nước từ chóp vai bên trái. Ngài phát ra khối lửa từ chóp vai bên trái, phát ra nguồn nước từ chóp vai bên phải. Ngài phát ra khối lửa từ cánh tay phải, phát ra nguồn nước từ cánh tay trái. Ngài phát ra khối lửa từ cánh tay trái, phát ra nguồn nước từ cánh tay phải. Ngài phát ra khối lửa từ hông bên phải, phát ra nguồn nước từ hông bên trái. Ngài phát ra khối lửa từ hông bên trái, phát ra nguồn nước từ hông bên phải. Ngài phát ra khối lửa từ bàn chân phải, phát ra nguồn nước từ bàn chân trái. Ngài phát ra khối lửa từ bàn chân trái, phát ra nguồn nước từ bàn chân phải. Ngài phát ra khối lửa từ các ngón tay và ngón chân, phát ra nguồn nước từ các kẻ của các ngón tay và ngón chân. Ngài phát ra khối lửa từ các kẻ của các ngón tay và ngón chân, phát ra nguồn nước từ các ngón tay và ngón chân. Ngài phát ra khối lửa từ mỗi một sợi lông, phát ra nguồn nước từ mỗi một sợi lông. Ngài phát ra khối lửa từ từng lỗ chân lông, phát ra nguồn nước từ từng lỗ chân lông gồm có sáu màu sắc là xanh, vàng, đỏ, trắng, đỏ tía, màu ánh sáng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Thế Tôn đi kinh hành, còn hình biến hóa (của Ngài) đứng, hoặc ngồi, hoặc ở tư thế nằm; đức Thế Tôn đứng, còn hình biến hóa đi kinh hành, hoặc ngồi, hoặc ở tư thế nằm; đức Thế Tôn ngồi, còn hình biến hóa đi kinh hành, hoặc đứng, hoặc ở tư thế nằm; đức Thế Tôn ở tư thế nằm, còn hình biến hóa đi kinh hành, hoặc đứng, hoặc ngồi; hình biến hóa đi kinh hành, còn đức Thế Tôn đứng, hoặc ngồi, hoặc ở tư thế nằm; hình biến hóa đứng, còn đức Thế Tôn đi kinh hành, hoặc ngồi, hoặc ở tư thế nằm; hình biến hóa ngồi, còn đức Thế Tôn đi kinh hành, hoặc đứng, hoặc ở tư thế nằm; hình biến hóa ở tư thế nằm, còn đức Thế Tôn đứng, hoặc ngồi, hoặc đi kinh hành.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là trí về song thông của đức Như Lai.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí về song thông.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">71. Trí thể nhập đại bi:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí về sự thể nhập đại bi của đức Như Lai là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lòng đại bi đối với chúng sanh hiện khởi ở chư Phật Thế Tôn trong lúc xem xét theo nhiều phương thức. Lòng đại bi đối với chúng sanh hiện khởi ở chư Phật Thế Tôn trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị đốt cháy.’ Lòng đại bi đối với chúng sanh hiện khởi ở chư Phật Thế Tôn trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị bận rộn.’ Lòng đại bi đối với chúng sanh hiện khởi ở chư Phật Thế Tôn trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian diễn tiến.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian thực hành theo đạo lộ xấu xa.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Thế gian đưa đến (già chết) và không bền vững.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Thế gian là không có sự bảo vệ, không có chủ thể.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Thế gian là không có sở hữu chủ, mọi thứ sẽ dứt bỏ và ra đi.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Thế gian là thiếu thốn, không được thỏa mãn, là nô lệ của tham ái.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là không nơi bảo vệ.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là không nơi cư trú.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là không nơi nương tựa.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là tình trạng không có sự nương tựa.’ &#8230;  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Thế gian là hỗn độn, không bình lặng.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian có mũi tên, bị xuyên thủng bởi những mũi tên to lớn,<a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/37/Pts_03.htm#_ftn10" name="_ftnref10" rel="nofollow noopener" target="_blank">[10]</a> ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người nhổ lên những mũi tên.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian có sự che phủ bởi bóng tối của vô minh, là ở trong quả trứng, là bị ném vào ngục tù của phiền não, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người chỉ cho thấy ánh sáng.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là đi đến vô minh, là ở trong quả trứng, bị che đậy, như là ổ kén, như là tổ chim, được làm bằng các thứ cỏ dại, không vượt khỏi luân hồi là tình trạng gánh chịu đọa xứ, khổ cảnh.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là bị vấy bẩn bởi sự độc hại và xấu xa của vô minh, là vũng bùn của phiền não.’ &#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị quấn vào cuộn rối của tham ái sân hận si mê, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người tháo gỡ cuộn rối.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị trói chặt vào sự kết nối của ái.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị bao bọc bởi mạng lưới của ái.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị cuốn trôi bởi giòng nước của ái.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị ràng buộc bởi sự ràng buộc của ái.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị tiềm ẩn bởi xu hướng ngủ ngầm của ái.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị nung nóng bởi ngọn lửa của ái.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị thiêu đốt bởi nguồn nhiệt của ái.’ &#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị trói chặt vào sự kết nối của tà kiến.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị bao bọc bởi mạng lưới tà kiến.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị cuốn trôi bởi giòng nước tà kiến.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị ràng buộc bởi sự ràng buộc của tà kiến.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị tiềm ẩn bởi xu hướng ngủ ngầm của tà kiến.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị nung nóng bởi ngọn lửa của tà kiến.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị thiêu đốt bởi nguồn nhiệt của tà kiến.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị tiếp nối bởi sự sanh.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị đeo đuổi bởi sự già.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị cai trị bởi bệnh tật.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị thống trị bởi sự chết.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị thiết lập ở trong đau khổ.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị chộp lấy bởi ái.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị vây quanh bởi hàng rào của sự già.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị vây quanh bởi bẫy sập của tử thần.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị trói buộc bởi những sự trói buộc lớn là sự trói buộc của tham ái, sự trói buộc của sân, sự trói buộc của si, sự trói buộc của ngã mạn, sự trói buộc của tà kiến, sự trói buộc của phiền não, sự trói buộc của ác hạnh, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người mở ra sự trói buộc.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian đi vào sự chật chội đông đúc, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người chỉ cho thấy khoảng trống.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị vướng bận bởi sự vướng bận lớn, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người cắt đứt sự vướng bận.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị rơi vào vực thẳm lớn, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người đưa lên khỏi vực thẳm.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là đi vào khu rừng lớn, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người giúp cho vượt qua khu rừng.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là đi vào luân hồi vĩ đại, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người giúp cho giải thoát khỏi luân hồi.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị quay vòng trong pháo đài rộng lớn, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người đưa lên khỏi pháo đài.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị chìm vào vũng lầy rộng lớn, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người đưa lên khỏi vũng lầy.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là bị thống trị.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là bị thiêu đốt bởi lửa tham ái, bởi lửa sân, bởi lửa si, bởi sự sanh, bởi sự già, bởi sự chết, bởi sầu muộn, bởi than vãn, bởi khổ đau, bởi ưu phiền, bởi thất vọng, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người dập tắt.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là kẻ bị lôi kéo đi, bị giết chết, thường xuyên bị hành hạ, là kẻ trộm thọ lãnh hành phạt.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là bị trói buộc bởi sự trói buộc của tội lỗi, được tồn tại ở sự hãm hại, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người làm cho giải thoát.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là không có người cai quản, đã đạt đến trạng thái vô cùng thảm hại, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người bảo hộ.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là tràn ngập khổ đau, đã bị hành hạ thời gian dài lâu.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là đòi hỏi, thường xuyên bị đói khát.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là tối tăm không có sự nhìn thấy.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian đã bị mất người hướng dẫn, không có người lãnh đạo.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian có sự rơi vào đạo lộ sai trái, đã đi sái đường, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người đem lại đạo lộ của các bậc Thánh.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian có sự rơi vào cơn lũ lớn, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người nâng lên ra khỏi cơn lũ.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị xâm nhập bởi hai (tà) kiến.’[11] &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian thực hành sái quấy theo ba ác hạnh.’[12] &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị quàng vào bởi bốn ách, bị máng vào bởi bốn ách.’[13]&#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị bó buộc bởi bốn phược.’[14] &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị chấp chặt bởi bốn thủ.’[15] &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là bị đọa vào năm cảnh giới.’[16] &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị nhiễm bởi năm phần dục lạc.’ &#8230;  ‘Đời sống ở thế gian bị bao bọc bởi năm sự ngăn che.’[17] &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian tranh cãi với sáu nguồn gốc của tranh cãi.’[18] &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị nhiễm bởi sáu nhóm ái.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị xâm nhập bởi sáu (tà) kiến.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị tiềm ẩn bởi bảy xu hướng ngủ ngầm.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị ràng buộc bởi bảy sự ràng buộc.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là kiêu hãnh với bảy ngã mạn.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị quay cuồng bởi tám pháp thế gian.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị dẫn dắt bởi tám sự sai trái.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị hư hỏng bởi tám sự hư hỏng của con người.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị hãm hại bởi chín nền tảng của sự hãm hại.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là kiêu hãnh với chín cách ngã mạn.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị ái nhiễm bởi chín nguồn gốc của ái.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị ô nhiễm bởi mười nền tảng của phiền não.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị hãm hại bởi mười nền tảng của sự hãm hại.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian hội đủ mười phương thức của nghiệp bất thiện.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị ràng buộc bởi mười sự ràng buộc.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị dẫn dắt bởi mười sự sai trái.’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian hội đủ tà kiến theo mười nền tảng[19].’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian hội đủ hữu biên kiến theo mười nền tảng[20].’ &#8230; trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị trì hoãn bởi sự trì hoãn của một trăm lẻ tám ái.’ Lòng đại bi đối với chúng sanh hiện khởi ở chư Phật Thế Tôn trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị xâm nhập bởi sáu mươi hai tà kiến.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lòng đại bi đối với chúng sanh hiện khởi ở chư Phật Thế Tôn trong lúc xem xét rằng: ‘Ta đã vượt qua và thế gian là chưa vượt qua. Ta đã giải thoát và thế gian chưa giải thoát. Ta đã được rèn luyện và thế gian chưa được rèn luyện. Ta được an tịnh và thế gian chưa được an tịnh. Ta được tự tại và thế gian chưa được tự tại. Ta đã được hoàn toàn dập tắt và thế gian chưa được hoàn toàn dập tắt. Quả vậy, Ta đã vượt qua để làm cho vượt qua, đã giải thoát để làm cho giải thoát, đã được rèn luyện để làm cho được rèn luyện, đã được an tịnh để làm cho được an tịnh, đã được tự tại để làm cho tự tại, đã được hoàn toàn dập tắt để làm cho hoàn toàn dập tắt.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là trí về sự thể nhập đại bi của đức Như Lai.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích về ‘Trí thể nhập đại bi.’ </b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">72 &#8211; 73. Trí Toàn Giác &#8211; không bị ngăn che:</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí Toàn Giác của đức Như Lai là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Biết tất cả (pháp) hữu vi và vô vi không có thiếu sót’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Biết tất cả việc đã qua’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Biết tất cả việc chưa đến’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Biết tất cả việc hiện tại’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Mắt và luôn cả các sắc, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che. ‘Tai và luôn cả các thinh, &#8230; ‘Mũi và luôn cả các khí, &#8230; ‘Lưỡi và luôn cả các vị, &#8230; ‘Thân và luôn cả các xúc, &#8230; ‘Ý và luôn cả các pháp, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến ý nghĩa của vô thường, ý nghĩa của khổ não, ý nghĩa của vô ngã, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che. ‘Cho đến ý nghĩa vô thường, ý nghĩa khổ não, ý nghĩa vô ngã của sắc, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che. ‘Cho đến ý nghĩa vô thường, ý nghĩa khổ não, ý nghĩa vô ngã của thọ, &#8230; của tưởng, &#8230; của các hành, &#8230; của thức, &#8230; của mắt, &#8230; của lão tử, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến ý nghĩa của sự biết rõ đối với sự biết rõ, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che. ‘Cho đến ý nghĩa của sự biết toàn diện đối với sự biết toàn diện&#8230; ‘Cho đến ý nghĩa của sự dứt bỏ đối với sự dứt bỏ &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa của sự tu tập đối với sự tu tập &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa của sự tác chứng đối với sự tác chứng, &#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến ý nghĩa của uẩn đối với các uẩn, &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa của giới đối với các giới &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa của xứ đối với các xứ &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa của pháp hữu vi đối với các pháp hữu vi &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa của pháp vô vi đối với pháp vô vi, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến các pháp thiện, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che. ‘Cho đến các pháp bất thiện &#8230; ‘Cho đến các pháp vô ký, &#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến các pháp dục giới, &#8230; ‘Cho đến các pháp sắc giới, &#8230; ‘Cho đến các pháp vô sắc giới, &#8230; ‘Cho đến các pháp không bị lệ thuộc, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến ý nghĩa của Khổ đối với Khổ, &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa về nhân sanh (Khổ) đối với nhân sanh (Khổ), &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa về sự diệt tận (Khổ) đối với sự diệt tận (Khổ), &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa về Đạo của Đạo, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến ý nghĩa về sự phân tích ý nghĩa đối với sự phân tích ý nghĩa, &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa về sự phân tích pháp đối với sự phân tích pháp, &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa về sự phân tích ngôn từ đối với sự phân tích ngôn từ, &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa về sự phân tích phép biện giải đối với sự phân tích phép biện giải, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến trí biết được khả năng của người khác, &#8230; ‘Cho đến trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm của chúng sanh, &#8230; ‘Cho đến trí về song thông, &#8230; ‘Cho đến trí về sự thể nhập đại bi, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến điều đã được thấy, đã được nghe, đã được cảm giác, đã được nhận thức, đã đạt đến, đã được tầm cầu, đã được đeo đuổi bởi tâm trí của thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<ol>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Không gì ở nơi đây</i>  </span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>không được thấy bởi Ngài,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hoặc không nhận thức được,    </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hoặc không thể biết đến.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ngài biết rõ tất cả                         </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>mọi điều có thể biết,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>vì thế đức Như Lai                        </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>là vị có Toàn Nhãn</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Toàn Nhãn:</b> Toàn Nhãn theo ý nghĩa gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mười bốn Phật trí: Trí về Khổ là Phật trí. Trí về nhân sanh Khổ là Phật trí. Trí về sự diệt tận Khổ là Phật trí. Trí về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ là Phật trí. Trí về sự phân tích ý nghĩa &#8230; Trí về sự phân tích pháp &#8230; Trí về sự phân tích ngôn từ &#8230; Trí về sự phân tích phép biện giải &#8230; Trí biết được khả năng của người khác &#8230; Trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm của chúng sanh &#8230; Trí về song thông &#8230; Trí về sự thể nhập đại bi &#8230; Trí Toàn Giác là Phật trí. Trí không bị ngăn che là Phật trí. Đây là mười bốn Phật trí. Trong số mười bốn Phật trí này, tám loại trí là phổ thông đến các vị Thinh Văn, sáu loại trí là không phổ thông đến các vị Thinh Văn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến ý nghĩa về Khổ của Khổ, tất cả đã được biết. Không có ý nghĩa về Khổ là không được biết’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến ý nghĩa về Khổ của Khổ, tất cả đã được thấy, &#8230; đã được hiểu, &#8230; đã được tác chứng, &#8230; đã được chạm đến bởi tuệ. Không có ý nghĩa về Khổ là không được chạm đến bởi tuệ’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến ý nghĩa về nhân sanh của nhân sanh, &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa về diệt tận của diệt tận, &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa về đạo của Đạo, &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa về phân tích ý nghĩa của sự phân tích ý nghĩa, &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa về phân tích pháp của sự phân tích pháp, &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa về phân tích ngôn từ của sự phân tích ngôn từ, &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa về phân tích phép biện giải của sự phân tích phép biện giải, tất cả đã được biết, &#8230; tất cả đã được thấy, &#8230; tất cả đã được hiểu, &#8230; tất cả đã được tác chứng, &#8230; tất cả đã được chạm đến bởi tuệ. Không có ý nghĩa của sự phân tích phép biện giải là không được chạm đến bởi tuệ’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> ‘Cho đến trí biết được khả năng của người khác, &#8230; ‘Cho đến trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm của chúng sanh, &#8230; ‘Cho đến trí về song thông, &#8230; ‘Cho đến trí về sự thể nhập đại bi, tất cả đã được biết, &#8230; tất cả đã được thấy, &#8230; tất cả đã được hiểu, &#8230; tất cả đã được tác chứng, &#8230; tất cả đã được chạm đến bởi tuệ. Không có trí về sự thể nhập đại bi là không được chạm đến bởi tuệ’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến điều đã được thấy, đã được nghe, đã được cảm giác, đã được nhận thức, đã đạt, đã tầm cầu, đã đeo đuổi bởi tâm trí của thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người, tất cả đã được biết, &#8230; tất cả đã được thấy, &#8230; tất cả đã được hiểu, &#8230; tất cả đã được tác chứng, &#8230; tất cả đã được chạm đến bởi tuệ. Không có trí về sự thể nhập đại bi là không được chạm đến bởi tuệ’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Không gì ở nơi đây            </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> không được thấy bởi Ngài,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hoặc không nhận thức được,    </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hoặc không thể biết đến.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ngài biết rõ tất cả                         </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>mọi điều có thể biết,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>vì thế đức Như Lai                        </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>là vị có Toàn Nhãn.</i></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích ‘Trí Toàn Giác.’ </b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giảng về Trí được đầy đủ.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211; </span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/tieu-bo/phan-tich-dao/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Tỳ-khưu Indacanda</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/tang-kinh-tieu-bo-phan-tich-dao-tap-1/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Tỳ-khưu Indacanda</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I – PAṬISAMBHIDĀMAGGO IV &#8211; GIẢNG VỀ KIẾN</title>
		<link>https://thienvipassana.net/9065-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 17 May 2020 01:05:43 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=9065</guid>

					<description><![CDATA[II. GIẢNG VỀ KIẾN  Kiến là gì? Có bao nhiêu cơ sở của kiến? Có bao nhiêu cơ sở xâm]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">II. GIẢNG VỀ KIẾN</span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Kiến là gì? Có bao nhiêu cơ sở của kiến? Có bao nhiêu cơ sở xâm nhập của kiến? Có bao nhiêu loại kiến? Có bao nhiêu sự cố chấp của kiến? Điều gì là sự tiêu diệt cơ sở của kiến?</span></p>
<ol>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Kiến là gì? Sự cố chấp và bám víu là kiến.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có bao nhiêu cơ sở của kiến? Có tám cơ sở của kiến.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có bao nhiêu cơ sở xâm nhập của kiến? Có mười tám cơ sở xâm nhập của kiến.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có bao nhiêu loại kiến? Có mười sáu loại kiến.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có bao nhiêu sự cố chấp của kiến? Có ba trăm sự cố chấp của kiến.</span></li>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều gì là sự tiêu diệt cơ sở của kiến? Đạo Nhập Lưu là sự tiêu diệt cơ sở của kiến.</span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu là kiến là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về sắc rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến. Sự cố chấp và bám víu về thọ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về tưởng rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về các hành rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thức rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về mắt rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về tai rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về mũi rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về lưỡi rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thân rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về ý rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến. Sự cố chấp và bám víu về cảnh sắc rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về cảnh thinh rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về cảnh khí rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về cảnh vị rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về cảnh xúc rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về cảnh pháp rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về nhãn thức rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về nhĩ thức rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về tỷ thức rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thiệt thức rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thân thức rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về ý thức rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về nhãn xúc rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về nhĩ xúc rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về tỷ xúc rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thiệt xúc rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thân xúc rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về ý xúc rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về thọ sanh ra từ nhãn xúc rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thọ sanh ra từ nhĩ xúc &#8230; về thọ sanh ra từ tỷ xúc &#8230; về thọ sanh ra từ thiệt xúc &#8230; về thọ sanh ra từ thân xúc &#8230; về thọ sanh ra từ ý xúc rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về sắc tưởng rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thinh tưởng rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về khí tưởng &#8230; về vị tưởng &#8230; về xúc tưởng &#8230; về pháp tưởng rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về sắc tư rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thinh tư rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về khí tư rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về vị tư rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về xúc tư rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về pháp tư rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về sắc ái rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thinh ái rằng: ‘Cái này là của tôi&#8230; về khí ái rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về vị ái &#8230; về xúc ái &#8230; về pháp ái rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về sắc tầm rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thinh tầm rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về khí tầm rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về vị tầm rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về xúc tầm rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về pháp tầm rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về sắc tứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thinh tứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về khí tứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về vị tứ &#8230; về xúc tứ &#8230; về pháp tứ rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về địa giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thủy giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về hỏa giới &#8230; về phong giới &#8230; về hư không giới &#8230; về thức giới rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về đề mục đất rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về đề mục nước rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về đề mục lửa &#8230; về đề mục gió &#8230; về đề mục xanh &#8230; về đề mục vàng &#8230; về đề mục đỏ &#8230; về đề mục trắng &#8230; về đề mục hư không rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về đề mục thức rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về tóc rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về lông rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về móng rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về răng rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về da rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thịt rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về gân &#8230; về xương &#8230; về tủy xương &#8230; về thận &#8230; về tim rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về gan rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về cơ hoành rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về lá lách rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về phổi rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về ruột rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về màng ruột rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thực phẩm chưa tiêu rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về phân rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về mật rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về đàm rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về mủ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về máu rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về mồ hôi rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về mỡ &#8230; về nước mắt &#8230; về nước mỡ (huyết tương) &#8230; về nước miếng &#8230; về nước mũi &#8230; về nước ở khớp xương &#8230; về nước tiểu&#8230; về tủy não rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về nhãn xứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về sắc xứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về nhĩ xứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thinh xứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về tỷ xứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về khí xứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thiệt xứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về vị xứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thân xứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về xúc xứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về ý xứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về pháp xứ rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về nhãn giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về sắc giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về nhãn thức giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về nhĩ giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thinh giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về nhĩ thức giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về tỷ giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về khí giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về tỷ thức giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thiệt giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về vị giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thiệt thức giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thân giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về xúc giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thân thức giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về ý giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về pháp giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về ý thức giới rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về nhãn quyền rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về nhĩ quyền &#8230; về tỷ quyền &#8230; về thiệt quyền &#8230; về thân quyền &#8230; về ý quyền &#8230; về mạng quyền &#8230; về nữ quyền &#8230; về nam quyền &#8230; về lạc quyền &#8230; về khổ quyền &#8230; về hỷ quyền &#8230; về ưu quyền &#8230; về xả quyền &#8230; về tín quyền &#8230; về tấn quyền &#8230; về niệm quyền &#8230; về định quyền &#8230; về tuệ quyền rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về dục giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về sắc giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về vô sắc giới rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về dục hữu rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về sắc hữu rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về vô sắc hữu rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về tưởng hữu rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về phi tưởng hữu rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về phi tưởng phi phi tưởng hữu rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về nhất uẩn hữu rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về tứ uẩn hữu rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về ngũ uẩn hữu rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về sơ thiền rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về nhị thiền rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về tam thiền rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về tứ thiền rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về từ tâm giải thoát rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về bi tâm giải thoát rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về hỷ tâm giải thoát rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về xả tâm giải thoát rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về sự chứng đạt không vô biên xứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về sự chứng đạt thức vô biên xứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về sự chứng đạt vô sở hữu xứ rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu về vô minh rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về các hành rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về thức &#8230; về danh sắc &#8230; về sáu xứ &#8230; về xúc &#8230; về thọ &#8230; về ái &#8230; về thủ &#8230; về hữu &#8230; về sanh rằng: ‘Cái này là của tôi &#8230; về lão tử rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự cố chấp và bám víu là kiến là (có ý nghĩa) như thế.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tám cơ sở của kiến là gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Uẩn là cơ sở của kiến, vô minh cũng là cơ sở của kiến, xúc cũng là cơ sở của kiến, tưởng cũng là cơ sở của kiến, tầm cũng là cơ sở của kiến, tác ý không đúng đắn cũng là cơ sở của kiến, bạn xấu cũng là cơ sở của kiến, lời nói của kẻ khác cũng là cơ sở của kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các uẩn là nhân, các uẩn là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế các uẩn là cơ sở của kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vô minh là nhân, vô minh là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế vô minh cũng là cơ sở của kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xúc là nhân, xúc là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế xúc cũng là cơ sở của kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tưởng là nhân, tưởng là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế tưởng cũng là cơ sở của kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tầm là nhân, tầm là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế tầm cũng là cơ sở của kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tác ý không đúng đắn là nhân, tác ý không đúng đắn là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế tác ý không đúng đắn cũng là cơ sở của kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạn xấu là nhân, bạn xấu là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế bạn xấu cũng là cơ sở của kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lời nói của kẻ khác là nhân, lời nói của kẻ khác là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế lời nói của kẻ khác cũng là cơ sở của kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đây là tám cơ sở của kiến. </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mười tám cơ sở xâm nhập của kiến là gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Kiến (tạo nên) thiên lệch, kiến (tạo nên) nắm giữ, kiến (tạo nên) hiểm độc, kiến (tạo nên) mâu thuẫn, kiến (tạo nên) dao động, kiến (tạo nên) ràng buộc, kiến (tạo nên) xuyên suốt, kiến (tạo nên) áp chế, kiến (tạo nên) vướng bận, kiến (tạo nên) trói buộc, kiến (tạo nên) sa đọa, kiến (tạo nên) ngủ ngầm, kiến (tạo nên) thiêu đốt, kiến (tạo nên) thống khổ, kiến (tạo nên) khúc mắc, kiến (tạo nên) chấp thủ, kiến (tạo nên) cố chấp, kiến (tạo nên) bám víu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đây là mười tám cơ sở xâm nhập của kiến.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>M</b>ười sáu loại kiến là gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khoái lạc kiến, tùy ngã kiến, tà kiến, thân kiến, thường kiến lấy thân làm nền tảng, đoạn kiến lấy thân làm nền tảng, hữu biên kiến, quá khứ hữu biên kiến, vị lai hữu biên kiến, kiến có sự ràng buộc, kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi,’ kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi,’ kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã, kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới, hữu kiến, phi hữu kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đây là mười sáu loại kiến.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba trăm sự cố chấp của kiến là gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do khoái lạc kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do tùy ngã kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do tà kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do thân kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do thường kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do đoạn kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do quá khứ hữu biên kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do vị lai hữu biên kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có sự ràng buộc, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi,’ có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi,’ có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do phi hữu kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do khoái lạc kiến, có sự cố chấp với 35 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do tùy ngã kiến, có sự cố chấp với 20 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do tà kiến, có sự cố chấp với 10 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do thân kiến, có sự cố chấp với 20 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do thường kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với 15 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do đoạn kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với 5 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến, có sự cố chấp với 50 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do quá khứ hữu biên kiến, có sự cố chấp với 18 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do vị lai hữu biên kiến, có sự cố chấp với 44 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có sự ràng buộc, có sự cố chấp với 18 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi,’ có sự cố chấp với 18 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi,’ có sự cố chấp với 18 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã, có sự cố chấp với 20 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới, có sự cố chấp với 8 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu kiến, có sự cố chấp với 1 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do phi hữu kiến, có sự cố chấp với 1 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">***</span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">1. Khoái Lạc Kiến</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do khoái lạc kiến, có sự cố chấp với 35 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Lạc và hỷ tâm sanh lên tùy thuộc vào sắc là sự khoái lạc đối với sắc’ là kiến. Kiến không phải là sự khoái lạc, sự khoái lạc không phải là kiến; kiến là điều khác, sự khoái lạc là điều khác; (cả hai) kiến và sự khoái lạc được gọi là Khoái Lạc Kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khoái lạc kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến, người có sự hư hỏng về kiến ấy là (người) bị hư hỏng về kiến. Không nên tiếp cận, không nên kết thân, không nên gần gũi người bị hư hỏng về kiến. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác. Ái nào do kiến, ái ấy không phải là kiến, kiến không phải là ái, kiến là điều khác, ái là điều khác, (cả hai) kiến và ái được gọi là ái do kiến. Người có kiến ấy và ái ấy là (người) bị nhiễm ái do kiến. Vật thí cho đến người bị nhiễm ái do kiến không có quả báu lớn, không có lợi ích lớn. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khoái lạc kiến là tà kiến. Có hai cảnh giới (tái sanh) đối với người có tà kiến là địa ngục hoặc loài súc sanh. Thân nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, khẩu nghiệp nào &#8230;, ý nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, ý định nào, ước muốn nào, nguyện vọng nào, và các hành nào của người có tà kiến, tất cả các pháp ấy đều đưa đến điều không muốn, không thích, không vừa ý, không tốt đẹp, khổ đau. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác. Cũng giống như hạt giống cây <i>nimba</i> hoặc hạt giống cây<i>kosātakī</i>, hoặc hạt giống cây <i>tittakālābu</i> được gieo xuống đất ẩm. Vị nào của đất đã được tiếp thâu và vị nào của nước đã được tiếp thâu, tất cả (các) vị ấy đều đưa đến tính chất chát, tính chất cay, tính chất không dịu ngọt. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì hạt giống của cây ấy là ác. Tương tợ như thế, thân nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, khẩu nghiệp nào &#8230;, ý nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, ý định nào, ước muốn nào, nguyện vọng nào, và các hành nào của người có tà kiến, tất cả các pháp ấy đều đưa đến điều không muốn, không thích, không vừa ý, không tốt đẹp, khổ đau. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khoái lạc kiến là tà kiến, tà kiến là kiến (tạo nên) thiên lệch, kiến (tạo nên) nắm giữ, kiến (tạo nên) hiểm độc, kiến (tạo nên) mâu thuẫn, kiến (tạo nên) dao động, kiến (tạo nên) ràng buộc, kiến (tạo nên) xuyên suốt, kiến (tạo nên) áp đặt, kiến (tạo nên) vướng bận, kiến (tạo nên) trói buộc, kiến (tạo nên) sa đọa, kiến (tạo nên) ngủ ngầm, kiến (tạo nên) thiêu đốt, kiến (tạo nên) thống khổ, kiến (tạo nên) khúc mắc, kiến (tạo nên) chấp thủ, kiến (tạo nên) cố chấp, kiến (tạo nên) bám víu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có những ràng buộc là kiến, và có những ràng buộc không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Những ràng buộc nào là kiến? Thân kiến, sự cố chấp vào giới và nghi thức; những điều này vừa là sự ràng buộc vừa là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Những ràng buộc nào không phải là kiến? Sự ràng buộc với ái dục, sự ràng buộc với bất bình, sự ràng buộc với ngã mạn, sự ràng buộc với hoài nghi, sự ràng buộc với hữu ái, sự ràng buộc với ganh tỵ, sự ràng buộc với bỏn xẻn, sự ràng buộc với tình quyến luyến, sự ràng buộc với vô minh; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Lạc và hỷ tâm nào sanh lên tùy thuộc vào thọ, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào tưởng, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào các hành, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào thức, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào mắt, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào tai, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào mũi, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào lưỡi, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào thân, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào ý, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào các sắc, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào các thinh, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào các khí, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào các vị, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào các xúc, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào các pháp, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào nhãn thức, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào nhĩ thức, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào tỷ thức, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào thiệt thức, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào thân thức, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào ý thức, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào nhãn xúc, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào nhĩ xúc, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào tỷ xúc, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào thiệt xúc, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào thân xúc, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào ý xúc, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào thọ sanh ra từ nhãn xúc, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào thọ sanh ra từ nhĩ xúc, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào thọ sanh ra từ tỷ xúc, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào thọ sanh ra từ thiệt xúc, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào thọ sanh ra từ thân xúc, &#8230;(như trên)&#8230; tùy thuộc vào thọ sanh ra từ ý xúc, điều ấy là sự khoái lạc đối với thọ sanh ra từ ý xúc’ là kiến. Kiến không phải là sự khoái lạc, sự khoái lạc không phải là kiến; kiến là điều khác, sự khoái lạc là điều khác; (cả hai) kiến và sự khoái lạc được gọi là Khoái Lạc Kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khoái lạc kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. Người có sự hư hỏng về kiến ấy là (người) bị hư hỏng về kiến. Không nên tiếp cận, không nên kết thân, không nên gần gũi người bị hư hỏng về kiến. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác. Ái nào do kiến, ái ấy không phải là kiến, kiến không phải là ái, kiến là điều khác, ái là điều khác; (cả hai) kiến và ái được gọi là ái do kiến. Người có kiến ấy và ái ấy là (người) bị nhiễm ái do kiến. Vật thí cho đến người bị nhiễm ái do kiến không có quả báu lớn, không có lợi ích lớn. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khoái lạc kiến là tà kiến. Có hai cảnh giới (tái sanh) đối với người có tà kiến là địa ngục hoặc loài súc sanh. Thân nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, khẩu nghiệp nào &#8230;(như trên)&#8230;, ý nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, ý định nào, ước muốn nào, nguyện vọng nào, và các hành nào của người có tà kiến, tất cả các pháp ấy đều đưa đến điều không muốn, không thích, không vừa ý, không tốt đẹp, khổ đau. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác. Cũng giống như hạt giống cây <i>nimba</i> hoặc hạt giống cây <i>kosātakī</i>, hoặc hạt giống cây <i>tittakālābu</i> được gieo xuống đất ẩm. Vị nào của đất đã được tiếp thâu và vị nào của nước đã được tiếp thâu, tất cả (các) vị ấy đều đưa đến tính chất chát, tính chất cay, tính chất không dịu ngọt. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì hạt giống của cây ấy là ác. Tương tợ như thế, thân nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, khẩu nghiệp nào &#8230;(như trên)&#8230;, ý nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, ý định nào, ước muốn nào, nguyện vọng nào, và các hành nào của người có tà kiến, tất cả các pháp ấy đều đưa đến điều không muốn, không thích, không vừa ý, không tốt đẹp, khổ đau. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác. Khoái lạc kiến là tà kiến. Tà kiến là kiến (tạo nên) thiên lệch, kiến (tạo nên) nắm giữ, &#8230;(như trên)&#8230;, kiến (tạo nên) cố chấp, kiến (tạo nên) bám víu. Có sự ràng buộc đối với tâm đã bị xâm nhập với 18 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có những ràng buộc là kiến, và có những ràng buộc không phải là kiến. Những ràng buộc nào là kiến? Thân kiến, sự cố chấp vào giới và nghi thức; những điều này vừa là sự ràng buộc vừa là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Những ràng buộc nào không phải là kiến? Sự ràng buộc với ái dục, sự ràng buộc với bất bình, sự ràng buộc với ngã mạn, sự ràng buộc với hoài nghi, sự ràng buộc với hữu ái, sự ràng buộc với ganh tỵ, sự ràng buộc với bỏn xẻn, sự ràng buộc với tình quyến luyến, sự ràng buộc với vô minh; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do khoái lạc kiến, có sự cố chấp với 35 biểu hiện này.</span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">2. Tùy Ngã Kiến</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do tùy ngã kiến, có sự cố chấp với 20 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, kẻ phàm phu không lắng nghe, không có sự nhận thức của các bậc Thánh, không rành rẽ Thánh pháp, không được huấn luyện về Thánh pháp, không có sự nhận thức của các bậc chân nhân, không rành rẽ pháp chân nhân, không được huấn luyện về pháp chân nhân nhận thấy sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; nhận thấy thọ &#8230; nhận thấy tưởng &#8230; nhận thấy các hành &#8230; nhận thấy thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy sắc là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy đề mục đất là tự ngã rằng: “Cái gì là đề mục đất, cái ấy là tôi; cái gì là tôi, cái ấy là đề mục đất,” (vị ấy) nhận thấy đề mục đất và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng (nghĩ rằng): “Cái gì là ngọn lửa, cái ấy là ánh sáng; cái gì là ánh sáng, cái ấy là ngọn lửa,” (vị ấy) nhận thấy ngọn lửa và ánh sáng chỉ là một. Tương tợ như thế, có người nhận thấy đề mục đất là tự ngã rằng: “Cái gì là đề mục đất, cái ấy là tôi; cái gì là tôi, cái ấy là đề mục đất,” (vị ấy) nhận thấy đề mục đất và tự ngã chỉ là một. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có sắc là nền tảng—thứ nhất. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230; Tùy ngã kiến là tà kiến. Đối với người có tùy ngã kiến, có hai cảnh giới (tái sanh) &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, có người nhận thấy đề mục nước &#8230; đề mục lửa &#8230; đề mục gió &#8230; đề mục xanh &#8230; đề mục vàng &#8230; đề mục đỏ &#8230; đề mục trắng là tự ngã rằng: “Cái gì là đề mục trắng, cái ấy là tôi; cái gì là tôi, cái ấy là đề mục trắng,” (vị ấy) nhận thấy đề mục trắng và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng (nghĩ rằng): “Cái gì là ngọn lửa, cái ấy là ánh sáng; cái gì là ánh sáng, cái ấy là ngọn lửa,” (vị ấy) nhận thấy ngọn lửa và ánh sáng chỉ là một. Tương tợ như thế, có người &#8230;(như trên)&#8230; nhận thấy đề mục trắng và tự ngã chỉ là một. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có sắc là nền tảng—thứ nhất. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy sắc là tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy tự ngã có sắc là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thọ, tưởng, các hành, thức là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật có sắc bởi vì sắc này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã có sắc. Cũng giống như cội cây là có bóng cây, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là cội cây, cái này là bóng cây, cội cây là cái khác, bóng cây là cái khác. Hơn nữa, cội cây này đây quả thật là có bóng cây bởi vì bóng cây này;” (vị ấy) nhận thấy cội cây là có bóng cây. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy thọ, tưởng, các hành, thức là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật có sắc bởi vì sắc này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã có sắc. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có sắc là nền tảng—thứ nhì. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã có sắc là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy sắc ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thọ, tưởng, các hành, thức là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, sắc này là ở trong tự ngã này;” (vị ấy) nhận thấy sắc ở trong tự ngã. Cũng giống như bông hoa là có mùi thơm, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là bông hoa, cái này là mùi thơm; bông hoa là cái khác, mùi thơm là cái khác; hơn nữa, mùi thơm này đây là ở trong bông hoa này;” (vị ấy) nhận thấy mùi thơm ở trong bông hoa. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy thọ, tưởng, các hành, thức là tự ngã. Vị ấy &#8230;(nt)&#8230; nhận thấy sắc ở trong tự ngã. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có sắc là nền tảng—thứ ba. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(nt)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy sắc ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy tự ngã ở trong sắc là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thọ, tưởng, các hành, thức là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là ở trong sắc này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã ở trong sắc. Cũng giống như viên ngọc ma-ni được đặt trong cái hộp, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là viên ngọc ma-ni, cái này là cái hộp; viên ngọc ma-ni là cái khác, cái hộp là cái khác; hơn nữa, viên ngọc ma-ni này đây quả thật là ở trong cái hộp này;” (vị ấy) nhận thấy viên ngọc ma-ni ở trong cái hộp. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy thọ, tưởng, các hành, thức là tự ngã. Vị ấy &#8230;(như trên)&#8230; nhận thấy tự ngã ở trong sắc. Sự cố chấp và bám víu là kiến. &#8230;(như trên)&#8230; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có sắc là nền tảng—thứ tư. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã ở trong sắc là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy thọ là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thọ sanh ra từ nhãn xúc &#8230; thọ sanh ra từ nhĩ xúc &#8230; thọ sanh ra từ tỷ xúc &#8230; thọ sanh ra từ thiệt xúc &#8230; thọ sanh ra từ thân xúc &#8230; thọ sanh ra từ ý xúc là tự ngã rằng: “Cái gì là thọ sanh ra từ ý xúc, cái ấy là ta; cái gì là ta, cái ấy là thọ sanh ra từ ý xúc,” (vị ấy) nhận thấy thọ sanh ra từ ý xúc và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng (nghĩ rằng): “Cái gì là ngọn lửa, cái ấy là ánh sáng; cái gì là ánh sáng, cái ấy là ngọn lửa,” (vị ấy) nhận thấy ngọn lửa và ánh sáng chỉ là một. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy thọ sanh ra từ ý xúc là tự ngã rằng: “Cái gì là thọ sanh ra từ ý xúc, cái ấy là ta; cái gì là ta, cái ấy là thọ sanh ra từ ý xúc,” (vị ấy) nhận thấy thọ sanh ra từ ý xúc và tự ngã chỉ là một. Sự cố chấp và bám víu là kiến. &#8230;(nt)&#8230; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thọ là nền tảng—thứ nhất. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(nt)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy thọ là tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy tự ngã có thọ là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy tưởng, các hành, thức, sắc là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là có thọ bởi vì thọ này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã có thọ. Cũng giống như cội cây là có bóng cây, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là cội cây, cái này là bóng cây; cội cây là cái khác, bóng cây là cái khác. Hơn nữa, cội cây này đây quả thật là có bóng cây bởi vì bóng cây này;” (vị ấy) nhận thấy cội cây là có bóng cây. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy tưởng, các hành, thức, sắc là tự ngã. Vị ấy &#8230;(như trên)&#8230; nhận thấy tự ngã có thọ. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thọ là nền tảng—thứ nhì. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã có thọ là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy thọ ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy tưởng, các hành, thức, sắc là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, thọ này ở trong tự ngã này;” (vị ấy) nhận thấy thọ ở trong tự ngã. Cũng giống như bông hoa là có mùi thơm, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là bông hoa, cái này là mùi thơm; bông hoa là cái khác, mùi thơm là cái khác. Hơn nữa, mùi thơm này đây là ở trong bông hoa này;” (vị ấy) nhận thấy mùi thơm ở trong bông hoa. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy tưởng, các hành, thức, thọ là tự ngã. Vị ấy &#8230;(nt)&#8230; nhận thấy thọ ở trong tự ngã. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thọ là nền tảng—thứ ba. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(nt)&#8230; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy thọ ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy tự ngã ở trong thọ là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy tưởng, các hành, thức, sắc là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là ở trong thọ này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã ở trong thọ. Cũng giống như viên ngọc ma-ni được đặt trong cái hộp, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là viên ngọc ma-ni, cái này là cái hộp; viên ngọc ma-ni là cái khác, cái hộp là cái khác. Hơn nữa, viên ngọc ma-ni này đây quả thật là ở trong cái hộp này;” (vị ấy) nhận thấy viên ngọc ma-ni ở trong cái hộp. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy tưởng, các hành, thức, sắc là tự ngã. Vị ấy &#8230;(như trên)&#8230; nhận thấy tự ngã ở trong thọ. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thọ là nền tảng—thứ tư. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(nt)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã ở trong thọ là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy tưởng là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy tưởng sanh ra từ nhãn xúc &#8230; tưởng sanh ra từ nhĩ xúc &#8230; tưởng sanh ra từ tỷ xúc &#8230; tưởng sanh ra từ thiệt xúc &#8230; tưởng sanh ra từ thân xúc &#8230; tưởng sanh ra từ ý xúc là tự ngã rằng: “Cái gì là tưởng sanh ra từ ý xúc, cái ấy là ta; cái gì là ta, cái ấy là tưởng sanh ra từ ý xúc,” (vị ấy) nhận thấy tưởng sanh ra từ ý xúc và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng (nghĩ rằng): “Cái gì là ngọn lửa, cái ấy là ánh sáng; cái gì là ánh sáng, cái ấy là ngọn lửa,” (vị ấy) nhận thấy ngọn lửa và ánh sáng chỉ là một. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy &#8230;(như trên)&#8230; tưởng sanh ra từ ý xúc và tự ngã chỉ là một. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có tưởng là nền tảng—thứ nhất. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tưởng là tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy tự ngã có tưởng là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy các hành, thức, sắc, thọ là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta là có tưởng bởi vì tưởng này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã có tưởng. Cũng giống như cội cây là có bóng cây, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là cội cây, cái này là bóng cây; cội cây là cái khác, bóng cây là cái khác. Hơn nữa, cội cây này đây quả thật là có bóng cây bởi vì bóng cây này;” (vị ấy) nhận thấy cội cây là có bóng cây. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy &#8230;( như trên)&#8230; tự ngã có tưởng. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có tưởng là nền tảng—thứ nhì. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã có tưởng là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy tưởng ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy các hành, thức, sắc, thọ là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tưởng này ở trong tự ngã này;” (vị ấy) nhận thấy tưởng ở trong tự ngã. Cũng giống như bông hoa là có mùi thơm, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là bông hoa, cái này là mùi thơm; bông hoa là cái khác, mùi thơm là cái khác. Hơn nữa, mùi thơm này đây là ở trong bông hoa này;” (vị ấy) nhận thấy mùi thơm ở trong bông hoa. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy &#8230;(như trên)&#8230; tưởng ở trong tự ngã. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có tưởng là nền tảng—thứ ba. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tưởng ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy tự ngã ở trong tưởng là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy các hành, thức, sắc, thọ là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là ở trong tưởng này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã ở trong tưởng. Cũng giống như viên ngọc ma-ni được đặt trong cái hộp, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là viên ngọc ma-ni, cái này là cái hộp; viên ngọc ma-ni là cái khác, cái hộp là cái khác. Hơn nữa, viên ngọc ma-ni này đây quả thật là ở trong cái hộp này;” (vị ấy) nhận thấy viên ngọc ma-ni ở trong cái hộp. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy các hành, thức, sắc, thọ là tự ngã. Vị ấy &#8230;(nt)&#8230; nhận thấy tự ngã ở trong tưởng. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có tưởng là nền tảng—thứ tư. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(nt)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã ở trong tưởng là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy các hành là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy tư sanh ra từ nhãn xúc &#8230; tư sanh ra từ nhĩ xúc &#8230; tư sanh ra từ tỷ xúc &#8230; tư sanh ra từ thiệt xúc &#8230; tư sanh ra từ thân xúc &#8230; tư sanh ra từ ý xúc là tự ngã rằng: “Cái gì là tư sanh ra từ ý xúc, cái ấy là ta; cái gì là ta, cái ấy là tư sanh ra từ ý xúc,” (vị ấy) nhận thấy tư sanh ra từ ý xúc và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng (nghĩ rằng): “Cái gì là ngọn lửa, cái ấy là ánh sáng; cái gì là ánh sáng, cái ấy là ngọn lửa,” (vị ấy) nhận thấy ngọn lửa và ánh sáng chỉ là một. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy &#8230;(như trên)&#8230; tư sanh ra từ ý xúc và tự ngã chỉ là một. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có hành là nền tảng—thứ nhất. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy các hành là tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy tự ngã có hành là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thức, sắc, thọ, tưởng là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là có hành bởi vì các hành này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã có hành. Cũng giống như cội cây là có bóng cây, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là cội cây, cái này là bóng cây; cội cây là cái khác, bóng cây là cái khác. Hơn nữa, cội cây này đây quả thật là có bóng cây bởi vì bóng cây này;” (vị ấy) nhận thấy cội cây là có bóng cây. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy &#8230;(như trên)&#8230; tự ngã có hành. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có hành là nền tảng—thứ nhì. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã có hành là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy các hành ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thức, sắc, thọ, tưởng là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, các hành này là ở trong tự ngã này;” (vị ấy) nhận thấy các hành ở trong tự ngã. Cũng giống như bông hoa là có mùi thơm, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là bông hoa, cái này là mùi thơm; bông hoa là cái khác, mùi thơm là cái khác. Hơn nữa, mùi thơm này đây là ở trong bông hoa này;” (vị ấy) nhận thấy mùi thơm ở trong bông hoa. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy &#8230;(như trên)&#8230; các hành ở trong tự ngã. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có hành là nền tảng—thứ ba. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy các hành ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy tự ngã ở trong các hành là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thức, sắc, thọ, tưởng là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là ở trong các hành này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã ở trong các hành. Cũng giống như viên ngọc ma-ni được đặt trong cái hộp, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là viên ngọc ma-ni, cái này là cái hộp; viên ngọc ma-ni là cái khác, cái hộp là cái khác. Hơn nữa, viên ngọc ma-ni này đây quả thật là ở trong cái hộp này;” (vị ấy) nhận thấy viên ngọc ma-ni ở trong cái hộp. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy &#8230;(như trên)&#8230; tự ngã ở trong các hành. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có hành là nền tảng—thứ tư. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã ở trong các hành là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy thức là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy nhãn thức &#8230; nhĩ thức &#8230; tỷ thức &#8230; thiệt thức &#8230; thân thức &#8230; ý thức là tự ngã rằng: “Cái gì là ý thức, cái ấy là ta; cái gì là ta, cái ấy là ý thức,” (vị ấy) nhận thấy ý thức và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng (nghĩ rằng): “Cái gì là ngọn lửa, cái ấy là ánh sáng; cái gì là ánh sáng, cái ấy là ngọn lửa,” (vị ấy) nhận thấy ngọn lửa và ánh sáng chỉ là một. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy nhãn thức &#8230; nhĩ thức &#8230; tỷ thức &#8230; thiệt thức &#8230; thân thức &#8230; ý thức là tự ngã rằng: “Cái gì là ý thức, cái ấy là ta. Cái gì là ta, cái ấy là ý thức,” (vị ấy) nhận thấy ý thức và tự ngã chỉ là một. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thức là nền tảng—thứ nhất. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy thức là tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy tự ngã có thức là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy sắc, thọ, tưởng, các hành là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là có thức bởi vì thức này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã có thức. Cũng giống như cội cây là có bóng cây, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là cội cây, cái này là bóng cây; cội cây là cái khác, bóng cây là cái khác. Hơn nữa, cội cây này đây quả thật là có bóng cây bởi vì bóng cây này;” (vị ấy) nhận thấy cội cây là có bóng cây. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy &#8230;(như trên)&#8230; tự ngã có thức. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thức là nền tảng—thứ nhì. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã có thức là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy thức ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy sắc, thọ, tưởng, các hành là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, thức này là ở trong tự ngã này;” (vị ấy) nhận thấy thức ở trong tự ngã. Cũng giống như bông hoa là có mùi thơm, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là bông hoa, cái này là mùi thơm; bông hoa là cái khác, mùi thơm là cái khác. Hơn nữa, mùi thơm này đây là ở trong bông hoa này;” (vị ấy) nhận thấy mùi thơm ở trong bông hoa. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy &#8230;(như trên)&#8230; thức ở trong tự ngã. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thức là nền tảng—thứ ba. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy thức ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy tự ngã ở trong thức là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy sắc, thọ, tưởng, các hành là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là ở trong thức này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã ở trong thức. Cũng giống như viên ngọc ma-ni được đặt trong cái hộp, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là viên ngọc ma-ni, cái này là cái hộp; viên ngọc ma-ni là cái khác, cái hộp là cái khác. Hơn nữa, viên ngọc ma-ni này đây quả thật là ở trong cái hộp này;” (vị ấy) nhận thấy viên ngọc ma-ni ở trong cái hộp. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy &#8230;(như trên)&#8230; tự ngã ở trong thức. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thức là nền tảng—thứ tư. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã ở trong thức là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do tùy ngã kiến, có sự cố chấp với 20 biểu hiện này.</span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">3. Tà Kiến</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do tà kiến, có sự cố chấp với 10 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nói rằng: “Không có bố thí,” luận thuyết như thế có sự cố chấp và bám víu vào sai trái là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tà kiến có nền tảng sai trái—thứ nhất. Tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nói rằng: “Không có cúng dường” &#8230;(như trên)&#8230; Nói rằng: “Không có tế lễ,” &#8230;(nt)&#8230; Nói rằng: “Không có quả thành tựu của các hành động được làm tốt hoặc được làm xấu,” &#8230;(nt)&#8230; Nói rằng: “Không có đời này,” &#8230;(nt)&#8230; Nói rằng: “Không có đời sau,” &#8230;(nt)&#8230; Nói rằng: “Không có mẹ,” &#8230;(nt)&#8230; Nói rằng: “Không có cha,” &#8230;(nt)&#8230; Nói rằng: “Không có sự sanh ra từ nhân của nghiệp,” &#8230;(nt)&#8230; Nói rằng: “Ở đời, không có các Sa-môn, Bà-la-môn sống chân chánh, thực hành chân chánh, sau khi tác chứng nhờ vào thắng trí của bản thân, sẽ công bố về đời này và đời sau,” luận thuyết như thế có sự cố chấp và bám víu vào sai trái là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tà kiến có nền tảng sai trái—thứ mười. Tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(nt)&#8230; Đối với người có tà kiến, có hai cảnh giới (tái sanh) &#8230;(nt)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Do tà kiến, có sự cố chấp với 10 biểu hiện này.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">4. Thân Kiến</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do thân kiến, có sự cố chấp với 20 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, kẻ phàm phu không lắng nghe, không có sự nhận thức của các bậc Thánh, không rành rẽ Thánh pháp, không được huấn luyện về Thánh pháp, không có sự nhận thức của các bậc chân nhân, không rành rẽ pháp chân nhân, không được huấn luyện về pháp chân nhân nhận thấy sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; nhận thấy thọ &#8230;(nt)&#8230;; nhận thấy tưởng &#8230;(nt)&#8230;; nhận thấy các hành &#8230;(nt)&#8230;; nhận thấy thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy sắc là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy đề mục đất &#8230;(như trên)&#8230; đề mục trắng là tự ngã rằng: “Cái gì là đề mục trắng, cái ấy là tôi; cái gì là tôi, cái ấy là đề mục trắng,” (vị ấy) nhận thấy đề mục trắng và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng &#8230;(như trên)&#8230; Tương tợ như thế, có người nhận thấy đề mục trắng là tự ngã. Sự cố chấp và bám víu là kiến. &#8230;(nt)&#8230; Đây là—thân kiến có sắc là nền tảng—thứ nhất. Thân kiến là tà kiến, &#8230;(nt)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy sắc là tự ngã là (có ý nghĩa) như thế. &#8230;(nt)&#8230; Do thân kiến, có sự cố chấp với 20 biểu hiện này.</span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">5. Thường Kiến lấy Thân làm Nền Tảng</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do thường kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với 15 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, kẻ phàm phu không lắng nghe, không có sự nhận thức của các bậc Thánh, không rành rẽ Thánh pháp, không được huấn luyện về Thánh pháp, không có sự nhận thức của các bậc chân nhân, không rành rẽ pháp chân nhân, không được huấn luyện về pháp chân nhân nhận thấy tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; nhận thấy tự ngã có thọ &#8230;(như trên)&#8230;; nhận thấy tự ngã có tưởng &#8230;(nt)&#8230;; nhận thấy tự ngã có các hành &#8230;(nt)&#8230;; nhận thấy tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy tự ngã có sắc là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thọ, tưởng, các hành, thức là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật có sắc bởi vì sắc này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã có sắc. Cũng giống như cội cây là có bóng cây, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là cội cây, cái này là bóng cây; cội cây là cái khác, bóng cây là cái khác. Hơn nữa, cội cây này đây quả thật là có bóng cây bởi vì bóng cây này;” (vị ấy) nhận thấy cội cây là có bóng cây. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy thọ &#8230;(như trên)&#8230; Đây là—thường kiến lấy thân làm nền tảng—thứ nhất. Thường kiến là tà kiến, &#8230;(như trên)&#8230; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã có sắc là (có ý nghĩa) như thế. &#8230;(như trên)&#8230; Do thường kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với 15 biểu hiện này.</span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">6. Đoạn Kiến lấy Thân làm Nền Tảng</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do đoạn kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, kẻ phàm phu không lắng nghe, không có sự nhận thức của các bậc Thánh, không rành rẽ Thánh pháp, không được huấn luyện về Thánh pháp, không có sự nhận thức của các bậc chân nhân, không rành rẽ pháp chân nhân, không được huấn luyện về pháp chân nhân nhận thấy sắc là tự ngã, nhận thấy thọ là tự ngã, nhận thấy tưởng là tự ngã, nhận thấy các hành là tự ngã, nhận thấy thức là tự ngã.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy sắc là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy đề mục đất &#8230;(như trên)&#8230; đề mục trắng là tự ngã rằng: “Cái gì là đề mục trắng, cái ấy là tôi; cái gì là tôi, cái ấy là đề mục trắng,” (vị ấy) nhận thấy đề mục trắng và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng &#8230;(nt)&#8230; Đây là—đoạn kiến lấy thân làm nền tảng—thứ nhất. Đoạn kiến là tà kiến, &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy sắc là tự ngã là (có ý nghĩa) như thế. &#8230;(như trên)&#8230; Do đoạn kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">7. Hữu Biên Kiến</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến, có sự cố chấp với 50 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến ‘Thế giới là thường còn,’[1] có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện? Do hữu biên kiến ‘Thế giới là không thường còn,’ &#8230; ‘Thế giới là có giới hạn,’ &#8230; ‘Thế giới là không có giới hạn,’ &#8230; ‘Mạng sống ấy, thân thể ấy,’ &#8230; ‘Mạng sống khác, thân thể khác,’ &#8230; ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ &#8230; ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ &#8230; ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ &#8230; ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến ‘Thế giới là thường còn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện. &#8230; Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến ‘Thế giới là thường còn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Sắc là thế giới và là thường còn’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—hữu biên kiến về ‘Thế giới là thường còn’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, &#8230; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Thọ là thế giới và là thường còn’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Tưởng là thế giới và là thường còn’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Hành là thế giới và là thường còn’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Thức là thế giới và là thường còn’ &#8230;(như trên)&#8230; là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—hữu biên kiến về ‘Thế giới là thường còn’—thứ năm. Hữu biên kiến là tà kiến, &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Do hữu biên kiến ‘Thế giới là thường còn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến ‘Thế giới là không thường còn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Sắc là thế giới và là không thường còn’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. &#8230;(như trên)&#8230; là—hữu biên kiến về ‘Thế giới là không thường còn’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Thọ là thế giới và là không thường còn’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Tưởng là thế giới và là không thường còn’ &#8230; ‘Hành là thế giới và là không thường còn’ &#8230; ‘Thức là thế giới và là không thường còn’ &#8230; là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Hữu biên kiến là tà kiến, &#8230;(nt)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Do hữu biên kiến ‘Thế giới là không thường còn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến ‘Thế giới là có giới hạn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Ở đây, có người quan niệm bầu trời là hạn hẹp và có màu xanh. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Thế giới này là có giới hạn, được bao quanh’ là có suy tưởng về giới hạn. Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Quan niệm về vật gì, vật ấy vừa là nền tảng vừa là thế giới. Quan niệm nhờ vào vật gì, vật ấy vừa là tự ngã vừa là thế giới’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—hữu biên kiến về ‘Thế giới là có giới hạn’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, có người quan niệm bầu trời là hạn hẹp và có màu vàng. &#8230; có màu đỏ &#8230; có màu trắng &#8230; có màu ánh sáng. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Thế giới này là có giới hạn, được bao quanh’ là có suy tưởng về giới hạn. Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Quan niệm về vật gì, vật ấy vừa là nền tảng vừa là thế giới. Quan niệm nhờ vào vật gì, vật ấy vừa là tự ngã vừa là thế giới’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. &#8230;(như trên)&#8230; Do hữu biên kiến ‘Thế giới là có giới hạn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến ‘Thế giới là không có giới hạn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Ở đây, có người quan niệm bầu trời là bao la và có màu xanh. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Thế giới này là không có giới hạn, không được bao quanh’ là có suy tưởng về không có giới hạn. Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Quan niệm về vật gì, vật ấy vừa là nền tảng vừa là thế giới. Quan niệm nhờ vào vật gì, vật ấy vừa là tự ngã vừa là thế giới’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. &#8230;(như trên)&#8230; là—hữu biên kiến về ‘Thế giới là không có giới hạn’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, có người quan niệm bầu trời là bao la và có màu vàng &#8230; có màu đỏ &#8230; có màu trắng &#8230; có màu ánh sáng. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Thế giới này là không có giới hạn, không được bao quanh’ là có suy tưởng về không có giới hạn. Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Quan niệm về vật gì, vật ấy vừa là nền tảng vừa là thế giới. Quan niệm nhờ vào vật gì, vật ấy vừa là tự ngã vừa là thế giới’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. &#8230;(nt)&#8230; Do hữu biên kiến ‘Thế giới là không có giới hạn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến ‘Mạng sống ấy, thân thể ấy,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Sắc vừa là mạng sống vừa là thân thể, cái gì là mạng sống cái ấy là thân thể, cái gì là thân thể cái ấy là mạng sống’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. &#8230;(như trên)&#8230; là—hữu biên kiến về ‘Mạng sống ấy, thân thể ấy’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Sắc vừa là mạng sống vừa là thân thể. &#8230; ‘Thọ vừa là mạng sống vừa là thân thể. &#8230; ‘Tưởng vừa là mạng sống vừa là thân thể. &#8230; ‘Các hành vừa là mạng sống vừa là thân thể. &#8230; ‘Thức vừa là mạng sống vừa là thân thể, cái gì là mạng sống cái ấy là thân thể, cái gì là thân thể cái ấy là mạng sống’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. &#8230;(như trên)&#8230; Do hữu biên kiến ‘Mạng sống ấy, thân thể ấy,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến ‘Mạng sống khác, thân thể khác,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Sắc là thân thể, không phải là mạng sống, mạng sống không phải là thân thể, Mạng sống khác, thân thể khác’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. &#8230;(như trên)&#8230; là hữu biên kiến về ‘Mạng sống khác, thân thể khác’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Thọ là thân thể không là mạng sống. &#8230; ‘Tưởng là thân thể không là mạng sống. &#8230; ‘Các hành là thân thể không là mạng sống. &#8230; ‘Thức là thân thể không là mạng sống, mạng sống không phải là thân thể, Mạng sống khác, thân thể khác’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. &#8230;(như trên)&#8230; Do hữu biên kiến ‘Mạng sống khác, thân thể khác,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, sắc là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai cũng còn hiện hữu, cũng còn tồn tại, cũng còn sanh lên, và cũng còn tái tạo’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. &#8230;(như trên)&#8230; là—hữu biên kiến về ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, thọ là pháp tử. &#8230; ‘Chính ở đây, tưởng là pháp tử. &#8230; ‘Chính ở đây, các hành là pháp tử. &#8230; ‘Chính ở đây, thức là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai cũng còn hiện hữu, cũng còn tồn tại, cũng còn sanh lên, và cũng còn tái tạo’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. &#8230;(như trên)&#8230; Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, sắc là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai bị phân hoại, bị diệt vong’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—hữu biên kiến về ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, thọ là pháp tử. &#8230; ‘Chính ở đây, tưởng là pháp tử. &#8230; ‘Chính ở đây, các hành là pháp tử. &#8230; ‘Chính ở đây, thức là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai bị phân hoại, bị diệt vong’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. &#8230;(như trên)&#8230; Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, sắc là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—hữu biên kiến về ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, thọ là pháp tử. &#8230; ‘Chính ở đây, tưởng là pháp tử. &#8230; ‘Chính ở đây, các hành là pháp tử. &#8230; ‘Chính ở đây, thức là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. &#8230;(như trên)&#8230; Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, sắc là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—hữu biên kiến về ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, thọ là pháp tử. &#8230; ‘Chính ở đây, tưởng là pháp tử. &#8230; ‘Chính ở đây, các hành là pháp tử. &#8230; ‘Chính ở đây, thức là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—hữu biên kiến về ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do hữu biên kiến, có sự cố chấp với 50 biểu hiện này.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">8. Quá Khứ Hữu Biên Kiến</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do quá khứ hữu biên kiến, có sự cố chấp với 18 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có bốn luận thuyết về thường còn, bốn liên quan đến thường còn là phiến diện, bốn liên quan đến có giới hạn và không có giới hạn, bốn liên quan đến trườn uốn như lươn, hai liên quan đến ngẫu nhiên sanh lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do quá khứ hữu biên kiến, có sự cố chấp với 18 biểu hiện này.</span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">9. Vị Lai Hữu Biên Kiến</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do vị lai hữu biên kiến, có sự cố chấp với 44 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có mười sáu luận thuyết về tưởng, tám luận thuyết về phi tưởng, tám luận thuyết về phi tưởng phi phi tưởng, bảy luận thuyết về đoạn tận, năm luận thuyết về hiện tại Niết Bàn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do vị lai hữu biên kiến, có sự cố chấp với 44 biểu hiện này.</span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">10. Kiến có sự Ràng Buộc</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có sự ràng buộc, có sự cố chấp với 18 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Loại kiến nào là kiến (tạo nên) thiên lệch, kiến (tạo nên) nắm giữ, &#8230;(như trên)&#8230;, kiến (tạo nên) cố chấp, kiến (tạo nên) bám víu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có sự ràng buộc, có sự cố chấp với 18 biểu hiện này.</span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">11. Kiến có sự Tự Hào và Gắn Bó về ‘Tôi’</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi,’ có sự cố chấp với 18 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Mắt là tôi’ là kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi.’ Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi’—thứ nhất. Kiến có sự tự hào và gắn bó là tà kiến &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Tai là tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Mũi là tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Lưỡi là tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Thân là tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Ý là tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Các sắc là tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Các pháp là tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Nhãn thức là tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Ý thức là tôi’ là kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi.’ Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi’—thứ mười tám. Kiến có tự hào và gắn bó là tà kiến &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi,’ có sự cố chấp với 18 biểu hiện này.</span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">12. Kiến có sự Tự Hào và Gắn Bó về ‘Của Tôi’</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi,’ có sự cố chấp với 18 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Mắt là của tôi’ là kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi.’ Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi’—thứ nhất. Kiến có sự tự hào và gắn bó là tà kiến &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Tai là của tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Mũi là của tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Lưỡi là của tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Thân là của tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Ý là của tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Các sắc là của tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Các pháp là của tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Nhãn thức là của tôi.’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Ý thức là của tôi’ là kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi.’ Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi’—thứ mười tám. Kiến có sự tự hào và gắn bó là tà kiến &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi,’ có sự cố chấp với 18 biểu hiện này.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">13. Kiến có liên hệ đến Luận Thuyết về Tự Ngã</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã, có sự cố chấp với 20 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, kẻ phàm phu không lắng nghe, không có sự nhận thức của các bậc Thánh, không rành rẽ Thánh pháp, không được huấn luyện về Thánh pháp, không có sự nhận thức của các bậc chân nhân, không rành rẽ pháp chân nhân, không được huấn luyện về pháp chân nhân nhận thấy sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; nhận thấy thọ &#8230;(như trên)&#8230; tưởng &#8230;(như trên)&#8230; các hành &#8230;(như trên)&#8230; thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận thấy sắc là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy đề mục đất &#8230;(như trên)&#8230; đề mục trắng là tự ngã rằng: “Cái gì là đề mục trắng, cái ấy là tôi; cái gì là tôi, cái ấy là đề mục trắng,” (vị ấy) nhận thấy đề mục trắng và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng (nghĩ rằng): “Cái gì là ngọn lửa, cái ấy là ánh sáng; cái gì là ánh sáng, cái ấy là ngọn lửa,” (vị ấy) nhận thấy ngọn lửa và ánh sáng chỉ là một. Tương tợ như thế, có người nhận thấy đề mục trắng là tự ngã &#8230;(như trên`)&#8230; là—kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã có sắc là nền tảng—thứ nhất. Kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã là tà kiến, &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã, có sự cố chấp với 20 biểu hiện này.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">14. Kiến có liên hệ đến Luận Thuyết về Thế Giới</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới, có sự cố chấp với 8 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: “Tự ngã và thế giới là thường còn” là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; &#8230;(nt)&#8230;; (cả hai) kiến và nền tảng là—kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới—thứ nhất. Kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới là tà kiến, &#8230;(nt)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp và bám víu rằng: “Tự ngã và thế giới là không thường còn” &#8230; “Tự ngã và thế giới là thường còn và không thường còn” &#8230; “Tự ngã và thế giới không phải là thường còn và không phải là không thường còn” &#8230; “Tự ngã và thế giới là có giới hạn” &#8230; “Tự ngã và thế giới là không có giới hạn” &#8230; “Tự ngã và thế giới là có giới hạn và không có giới hạn” &#8230; “Tự ngã và thế giới không phải là có giới hạn và không phải là không có giới hạn” là kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới. &#8230;(như trên)&#8230; là—kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới—thứ tám. Kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới là tà kiến, &#8230;(như trên)&#8230;; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới, có sự cố chấp với 8 biểu hiện này.</span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">15 &#8211; 16. Giải về Hữu Kiến &amp; Phi Hữu Kiến</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cố chấp vào sự nắm giữ lại là hữu kiến, cố chấp vào sự vượt quá là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 35 biểu hiện do khoái lạc kiến có bao nhiêu là hữu kiến, có bao nhiêu là phi hữu kiến? Sự cố chấp với 20 biểu hiện do tùy ngã kiến có bao nhiêu là hữu kiến, có bao nhiêu là phi hữu kiến? &#8230;(như trên)&#8230; Sự cố chấp với 8 biểu hiện do kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới có bao nhiêu là hữu kiến, có bao nhiêu là phi hữu kiến?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp với 35 biểu hiện do khoái lạc kiến có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 20 biểu hiện do tùy ngã kiến có 15 là hữu kiến, có 5 là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 10 biểu hiện do tà kiến có tất cả đều là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 20 biểu hiện do thân kiến có 15 là hữu kiến, có 5 là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 15 biểu hiện do thường kiến lấy thân làm nền tảng có tất cả đều là hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do đoạn kiến lấy thân làm nền tảng có tất cả đều là phi hữu kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Thế giới là thường còn’ có tất cả đều là hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Thế giới là không thường còn’ có tất cả đều là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Thế giới là có giới hạn’ có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do ‘Thế giới là không có giới hạn’ có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Mạng sống ấy, thân thể ấy’ có tất cả đều là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Mạng sống khác, thân thể khác’ có tất cả đều là hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có tất cả đều là hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có tất cả đều là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp với 18 biểu hiện do quá khứ hữu biên kiến có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 44 biểu hiện do vị lai hữu biên kiến có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 18 biểu hiện do kiến có sự ràng buộc có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 18 biểu hiện do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi’ có tất cả đều là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 18 biểu hiện do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi’ có tất cả đều là hữu kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự cố chấp với 20 biểu hiện do kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã có 15 là hữu kiến, có 5 là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 8 biểu hiện do kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tất cả các kiến ấy là khoái lạc kiến. Tất cả các kiến ấy là tùy ngã kiến. Tất cả các kiến ấy là tà kiến. Tất cả các kiến ấy là thân kiến. Tất cả các kiến ấy là hữu biên kiến. Tất cả các kiến ấy là kiến có sự ràng buộc. Tất cả các kiến ấy là kiến có liên quan đến luận thuyết về tự ngã.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Kiến về sự hiện hữu        </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>và kiến về phi hữu,         </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>luận lý đều nương tựa    </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>ở cả hai điều này, </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>ở tại thế giới này            </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>có tưởng bị sai lệch</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>không có trí biết được     </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>sự diệt tận của chúng.    </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, chư thiên và nhân loại bị xâm nhập bởi hai loại thiên kiến (hữu và phi hữu), một số nắm giữ lại, một số vượt quá, và những người có mắt nhìn thấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, một số nắm giữ lại là (có ý nghĩa) thế nào? Này các tỳ khưu, có chư thiên và nhân loại ưa thích hữu, khoái lạc trong hữu, hoan hỷ trong hữu. Khi Giáo Pháp về sự diệt tận của hữu đang được thuyết giảng đến họ, tâm của họ không tiếp thu, không đặt niềm tin, không an trú, không xác quyết. Này các tỳ khưu, một số nắm giữ lại là (có ý nghĩa) như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, một số vượt quá là (có ý nghĩa) thế nào? Này các tỳ khưu, tuy nhiên có một số (chư thiên và nhân loại) trong khi chịu khổ sở, trong khi bị hổ thẹn, trong khi ghê tởm đối với hữu, họ thích thú phi hữu: “Này quý vị, nghe rằng tự ngã này, do sự tan rã của thân, bị phân hoại, bị diệt vong, không có đời sống khác sau khi chết; điều này là tịch tịnh, điều này là tuyệt vời, điều này là hiển nhiên.” Này các tỳ khưu, một số vượt quá là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, những ngưòi có mắt nhìn thấy là (có ý nghĩa) thế nào? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu nhìn thấy hiện hữu là hiện hữu. Sau khi nhìn thấy hiện hữu là hiện hữu, vị ấy đạt đến sự nhàm chán, sự ly tham ái, sự tịch diệt đối với hữu. Này các tỳ khưu, những ngưòi có mắt nhìn thấy là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Sau khi nhìn thấy được </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hiện hữu là hiện hữu</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>cùng với sự vượt qua                </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>đối với điều hiện hữu,     </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>người nào xác quyết được        </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>đúng theo bản thể thật   </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>(người ấy) thời đoạn tận           </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tham ái đối với hữu. </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị ấy biết toàn diện         </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>đối với điều hiện hữu</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>có ái được xa lìa                      </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>khỏi hữu và phi hữu,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>do phi hữu của hữu                  </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>vị tỳ khưu (như thế)</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>thời không còn đi đến               </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>sự tái sanh lần nữa. </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có 3 hạng người có kiến bị hư hỏng, có 3 hạng người có kiến được thành tựu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba hạng người nào có kiến bị hư hỏng? Ngoại đạo, đệ tử của ngoại đạo, và người có tà kiến; 3 hạng người này có kiến bị hư hỏng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba hạng người nào có kiến được thành tựu? Đức Như Lai, đệ tử của đức Như Lai, và người có chánh kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Người giận dữ, oán hận, </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>xấu xa, và quỷ quyệt,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>kiến hư hỏng, ngu muội, </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>biết là kẻ hạ tiện.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Không giận dữ, không oán,     </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>thanh tịnh, hành Đạo Quả, </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>kiến thành tựu, sáng suốt,        </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>biết được là bậc Thánh</i>.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có ba kiến bị hư hỏng, có ba kiến được thành tựu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba kiến nào bị hư hỏng? ‘Cái này là của tôi’ là kiến bị hư hỏng, ‘Cái này là tôi’ là kiến bị hư hỏng, ‘Cái này là tự ngã của tôi’ là kiến bị hư hỏng. Đây là 3 kiến bị hư hỏng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba kiến nào được thành tựu? ‘Cái này không phải là của tôi’ là kiến được thành tựu, ‘Cái này không phải là tôi’ là kiến được thành tựu, ‘Cái này không phải là tự ngã của tôi’ là kiến được thành tựu. Đây là 3 kiến được thành tựu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cái này là của tôi’ là kiến gì? Có bao nhiêu kiến? Các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) nào? ‘Cái này là của tôi’ là kiến gì? Có bao nhiêu kiến? Các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) nào? ‘Cái này là tự ngã của tôi’ là kiến gì? Có bao nhiêu kiến? Các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cái này là của tôi’ là quá khứ hữu biên kiến. Có 18 kiến. Các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) quá khứ. ‘Cái này là của tôi’ là vị lai hữu biên kiến. Có 44 kiến. Các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) vị lai. ‘Cái này là tự ngã của tôi’ là tùy ngã kiến với 20 nền tảng, là thân kiến với 20 nền tảng, là 62 thiên kiến có thân kiến đứng đầu, các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) quá khứ và vị lai.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, những người nào hướng đến sự thành toàn ở Ta những người ấy được thành tựu về kiến. Đối với những người được thành tựu về kiến ấy, có sự thành toàn<a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/37/Pts_04.htm#_ftn2" name="_ftnref2" rel="nofollow noopener" target="_blank">[2]</a> ở nơi đây<a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/37/Pts_04.htm#_ftn3" name="_ftnref3" rel="nofollow noopener" target="_blank">[3]</a> đối với năm hạng, có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng nào? Đối với (vị tái sanh) tối đa bảy lần, đối với (vị tái sanh) trong các gia tộc danh giá, đối với vị có một chủng tử (chỉ còn một lần tái sanh),<a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/37/Pts_04.htm#_ftn4" name="_ftnref4" rel="nofollow noopener" target="_blank">[4]</a> đối với vị Nhất Lai, và vị nào là A-la-hán ngay trong kiếp hiện tại này, có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng nào? Đối với vị viên tịch Niết Bàn vào giai đoạn đầu của đời kế tiếp, đối với vị viên tịch Niết Bàn vào giai đoạn cuối của đời kế tiếp, đối với vị Vô Hành viên tịch Niết Bàn, đối với vị Hữu Hành viên tịch Niết Bàn, đối với vị ngược giòng đi đến cõi Sắc Cứu Cánh, có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, những người nào hướng đến sự thành toàn ở Ta những người ấy được thành tựu về kiến. Đối với những người được thành tựu về kiến ấy, có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng này, có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, những người nào đặt niềm tin hoàn toàn ở nơi Ta, những người ấy là các vị Nhập Lưu. Đối với các vị Nhập Lưu ấy, có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng, có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng nào? Đối với (vị tái sanh) tối đa bảy lần, đối với (vị tái sanh) trong các gia tộc danh giá, đối với vị có một chủng tử (chỉ còn một lần tái sanh), đối với vị Nhất Lai, và vị nào là A-la-hán ngay trong kiếp hiện tại này, có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng nào? Đối với vị viên tịch Niết Bàn vào giai đoạn đầu của đời kế tiếp, đối với vị viên tịch Niết Bàn vào giai đoạn cuối của đời kế tiếp, đối với vị Vô Hành viên tịch Niết Bàn, đối với vị Hữu Hành viên tịch Niết Bàn, đối với vị ngược giòng đi đến cõi Sắc Cứu Cánh, có sự thành toàn sau khi rời nơi đây đối với năm hạng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, những người nào đặt niềm tin hoàn toàn ở nơi Ta những người ấy là các vị Nhập Lưu. Đối với các vị Nhập Lưu ấy, có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng này, có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng này.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giảng về Kiến được đầy đủ.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/tieu-bo/phan-tich-dao/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Tỳ-khưu Indacanda</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/tang-kinh-tieu-bo-phan-tich-dao-tap-1/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Tỳ-khưu Indacanda</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I – PAṬISAMBHIDĀMAGGO V &#8211; GIẢNG VỀ NIỆM</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-dao-i-pa%e1%b9%adisambhidamaggo-v/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 17 May 2020 01:08:45 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=9068</guid>

					<description><![CDATA[III. GIẢNG VỀ NIỆM HƠI THỞ VÀO HƠI THỞ RA 1. Liệt Kê Số Lượng Đối với vị đang tu]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">III. GIẢNG VỀ NIỆM</span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">HƠI THỞ VÀO HƠI THỞ RA</span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">1. Liệt Kê Số Lượng</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tu tập định của niệm hơi thở vào hơi thở ra theo 16 nền tảng, có hơn 200 pháp sanh lên (ở vị ấy): 8 trí về ngăn trở và 8 trí về hỗ trợ, 18 trí về tùy phiền não, 13 trí trong việc thanh lọc, 32 trí về việc thực hành niệm, 24 trí do năng lực của định, 72 trí do năng lực của minh sát, 8 trí về nhàm chán, 8 trí thuận theo nhàm chán, 8 trí về sự tịnh lặng của nhàm chán, 21 trí về sự an lạc của giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần Liệt Kê Số Lượng được đầy đủ.</b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">2. Mười Sáu Trí Ngăn Trở &amp; Trí Hỗ Trợ</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">8 trí về ngăn trở và 8 trí về hỗ trợ là gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ước muốn trong các dục là sự ngăn trở của định, sự thoát ly là sự hỗ trợ của định. Sân độc là sự ngăn trở của định, không sân độc là sự hỗ trợ của định. Lờ đờ buồn ngủ là sự ngăn trở của định, sự nghĩ tưởng đến ánh sáng là sự hỗ trợ của định. Phóng dật là sự ngăn trở của định, không tản mạn là sự hỗ trợ của định. Hoài nghi là sự ngăn trở của định, sự xác định pháp là sự hỗ trợ của định. Vô minh là sự ngăn trở của định, trí là sự hỗ trợ của định. Sự không hứng thú là sự ngăn trở của định, sự hân hoan là sự hỗ trợ của định. Tất cả các pháp bất thiện cũng là các sự ngăn trở của định, tất cả các pháp thiện cũng là các sự hỗ trợ của định. Đây là 8 trí về ngăn trở và 8 trí về hỗ trợ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Được tiếp cận, được quen thuộc với 16 biểu hiện này, tâm an trụ ở nhất thể và được thanh tịnh đối các pháp ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các nhất thể ấy là gì? Sự thoát ly là nhất thể, sự không sân độc là nhất thể, sự nghĩ tưởng đến ánh sáng là nhất thể, sự không tản mạn là nhất thể, sự xác định pháp là nhất thể, trí là nhất thể, sự hân hoan là nhất thể, tất cả các thiện pháp cũng là các nhất thể.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các pháp ngăn che ấy là gì? Ước muốn trong các dục là pháp ngăn che, sân độc là pháp ngăn che, lờ đờ buồn ngủ là pháp ngăn che, phóng dật là pháp ngăn che, hoài nghi là pháp ngăn che, vô minh là pháp ngăn che, sự không hứng thú là pháp ngăn che, tất cả các bất thiện pháp cũng là các pháp ngăn che.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Pháp ngăn che:</b> Các pháp ngăn che theo ý nghĩa gì? Các pháp ngăn che với ý nghĩa che lấp lối ra.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các lối ra ấy là gì? Sự thoát ly là lối ra của các bậc Thánh, và do sự thoát ly ấy các bậc Thánh thoát ra; ước muốn trong các dục là sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi ước muốn trong các dục ấy (hành giả) không nhận biết sự thoát ly là lối ra của các bậc Thánh; ước muốn trong các dục là sự che lấp lối ra. Sự không sân độc là lối ra của các bậc Thánh, và do sự không sân độc ấy các bậc Thánh thoát ra; sân độc là sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi sân độc ấy (hành giả) không nhận biết sự không sân độc là lối ra của các bậc Thánh; sân độc là sự che lấp lối ra. Sự nghĩ tưởng đến ánh sáng là lối ra của các bậc Thánh, và do sự nghĩ tưởng đến ánh sáng ấy các bậc Thánh thoát ra; lờ đờ buồn ngủ là sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi sự lờ đờ buồn ngủ ấy (hành giả) không nhận biết sự nghĩ tưởng đến ánh sáng là lối ra của các bậc Thánh; lờ đờ buồn ngủ là sự che lấp lối ra. Sự không tản mạn là lối ra của các bậc Thánh, và do sự không tản mạn ấy các bậc Thánh thoát ra; phóng dật là sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi phóng dật ấy (hành giả) không nhận biết sự không tản mạn là lối ra của các bậc Thánh; phóng dật là sự che lấp lối ra. Sự xác định pháp là lối ra của các bậc Thánh, và do sự xác định pháp ấy các bậc Thánh thoát ra; hoài nghi là sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi hoài nghi ấy (hành giả) không nhận biết sự xác định pháp là lối ra của các bậc Thánh; hoài nghi là sự che lấp lối ra. Trí là lối ra của các bậc Thánh, và do trí ấy các bậc Thánh thoát ra; vô minh là sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi vô minh ấy (hành giả) không nhận biết trí là lối ra của các bậc Thánh; vô minh là sự che lấp lối ra. Sự hân hoan là lối ra của các bậc Thánh, và do sự hân hoan ấy các bậc Thánh thoát ra; sự không hứng thú là sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi sự không hứng thú ấy (hành giả) không nhận biết sự hân hoan là lối ra của các bậc Thánh; không hứng thú là sự che lấp lối ra. Tất cả các thiện pháp cũng là lối ra của các bậc Thánh, và do các thiện pháp ấy các bậc Thánh thoát ra; tất cả các bất thiện pháp cũng là các sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi các bất thiện pháp ấy (hành giả) không nhận biết các thiện pháp là lối ra của các bậc Thánh; tất cả các bất thiện pháp cũng các là sự che lấp lối ra.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích 16 trí được đầy đủ.</b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">3. Các Trí về Tùy Phiền Não</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hơn nữa, đối với vị đang tu tập định của niệm hơi thở vào hơi thở ra theo 16 nền tảng có tâm đã được thanh lọc khỏi các pháp ngăn che này, do sự tập trung ngắn hạn có 18 tùy phiền não gì sanh lên (ở vị ấy)?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tâm của vị đang theo dõi giai đoạn đầu-giữa-cuối của hơi thở vào bằng niệm đi đến tình trạng tản mạn ở nội phần là sự ngăn trở của định. Tâm của vị đang theo dõi giai đoạn đầu-giữa-cuối của hơi thở ra bằng niệm đi đến tình trạng tản mạn ở ngoại phần là sự ngăn trở của định. Do sự mong mỏi ở hơi thở vào, hành vi của ưa thích và tham ái là sự ngăn trở của định. Do sự mong mỏi ở hơi thở ra, hành vi của ưa thích và tham ái là sự ngăn trở của định. Đối với vị áp đặt hơi thở vào, do sự hứng thú trong việc đạt được hơi thở ra là sự ngăn trở của định. Đối với vị áp đặt hơi thở ra, do sự hứng thú trong việc đạt được hơi thở vào là sự ngăn trở của định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Theo dõi hơi thở vào      </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>theo dõi hơi thở ra,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tán nội phần, mong mỏi,         </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tán ngoại phần, ước muốn</i>, (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>áp đặt hơi thở vào                   </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hứng thú đạt hơi ra,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>áp đặt hơi thở ra                      </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hứng thú đạt hơi vào</i>. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Sáu tùy phiền não này             </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>định niệm hơi vào ra,     </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>người bị chúng xáo động         </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tâm không được giải thoát,      </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>những ai chưa giải thoát         </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>chúng thành tựu tái sanh</i>. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nhóm sáu thứ nhất.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với hành giả hướng tâm đến hiện tướng,[1] tâm (đặt) ở hơi thở vào bị chao động là sự ngăn trở của định. Đối với hành giả hướng tâm đến hơi thở vào, tâm (đặt) ở hiện tướng bị chao động là sự ngăn trở của định. Đối với hành giả hướng tâm đến hiện tướng, tâm (đặt) ở hơi thở ra bị chao động là sự ngăn trở của định. Đối với hành giả hướng tâm đến hơi thở ra, tâm (đặt) ở hiện tướng bị chao động là sự ngăn trở của định. Đối với hành giả hướng tâm đến hơi thở vào, tâm (đặt) ở hơi thở ra bị chao động là sự ngăn trở của định. Đối với hành giả hướng tâm đến hơi thở ra, tâm (đặt) ở hơi thở vào bị chao động là sự ngăn trở của định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Hướng tâm đến hiện tướng </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>ý buông bỏ hơi vào,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hướng tâm đến hơi vào            </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tâm chao động hiện tướng</i>. (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Hướng tâm đến hiện tướng      </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>ý buông bỏ hơi ra,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hướng tâm đến hơi ra              </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tâm chao động hiện tướng</i>. (5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Hướng tâm hơi thở vào            </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tâm buông bỏ hơi ra,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hướng tâm hơi thở ra               </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tâm chao động hơi vào</i>. (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Sáu tùy phiền não này             </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>định niệm hơi vào ra,     </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>người bị chúng xáo động         </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tâm không được giải thoát,      </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>những ai chưa giải thoát         </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>chúng thành tựu tái sanh</i>. (7)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nhóm sáu thứ nhì.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tâm có sự chạy theo quá khứ[2] bị rơi vào tản mạn là sự ngăn trở của định. Tâm có sự mong mỏi ở vị lai[3] bị chao động là sự ngăn trở của định. Tâm trì trệ bị rơi vào biếng nhác là sự ngăn trở của định. Tâm được ra sức quá mức bị rơi vào phóng dật là sự ngăn trở của định. Tâm quá chuyên chú bị rơi vào tham là sự ngăn trở của định. Tâm lơi là bị rơi vào sân là sự ngăn trở của định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tâm chạy theo quá khứ, </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>vọng tương lai, trì trệ,    </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>quá ra sức, chuyên chú,           </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tâm lơi là, không định</i>. (8)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Sáu tùy phiền não này             </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>định niệm thở vào ra </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>người ô nhiễm bởi chúng         </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>không biết được thắng tâm</i>. (9)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nhóm sáu thứ ba.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do tâm của vị đang theo dõi giai đoạn đầu-giữa-cuối của hơi thở vào bằng niệm đi đến tình trạng tản mạn ở nội phần, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do tâm của vị đang theo dõi giai đoạn đầu-giữa-cuối của hơi thở ra bằng niệm đi đến tình trạng tản mạn ở ngoại phần, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do mong mỏi ở hơi thở vào, do ưa thích, do hành vi của ái, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do mong mỏi ở hơi thở ra, do ưa thích, do hành vi của ái, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Đối với vị áp đặt hơi thở vào, do sự hứng thú trong việc đạt được hơi thở ra, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Đối với vị áp đặt hơi thở ra, do sự hứng thú trong việc đạt được hơi thở vào, cả thân lẫn tâm &#8230;(như trên)&#8230; Đối với vị hướng tâm đến hiện tướng có tâm (đặt) ở hơi thở vào, do trạng thái bị dao động cả thân lẫn tâm &#8230;(như trên)&#8230; Đối với vị hướng tâm đến hơi thở vào có tâm (đặt) ở hiện tướng, do trạng thái bị dao động, cả thân lẫn tâm &#8230;(như trên)&#8230; Đối với vị hướng tâm đến hiện tướng có tâm (đặt) ở hơi thở ra, do trạng thái bị dao động cả thân lẫn tâm &#8230;(như trên)&#8230; Đối với vị hướng tâm đến hơi thở ra có tâm (đặt) ở hiện tướng, do trạng thái bị dao động cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Đối với vị hướng tâm đến hơi thở vào có tâm (đặt) ở hơi thở ra, do trạng thái bị dao động cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Đối với vị hướng tâm đến hơi thở ra có tâm (đặt) ở hơi thở vào, do trạng thái bị dao động cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do có sự chạy theo quá khứ tâm bị rơi vào tản mạn, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do có sự mong mỏi ở vị lai tâm bị dao động, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do có sự trì trệ tâm bị rơi vào biếng nhác, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do ra sức quá mức tâm bị rơi vào phóng dật, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do quá chuyên chú tâm bị rơi vào tham, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do lơi là tâm bị rơi vào sân, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Đối với vị tu niệm </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hơi thở vào thở ra</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>không toàn vẹn, không tiến,     </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>thời thân bị loạn động,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tâm cũng bị loạn động,            </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>thân tâm đều rúng động</i>. (10)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Đối với vị tu niệm           </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hơi thở vào thở ra</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>được toàn vẹn, tiến triển,          </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>thời thân không loạn động,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tâm cũng không loạn động,     </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>thân tâm không rúng động</i>. (11)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hơn nữa, đối với vị đang tu tập định của niệm hơi thở vào hơi thở ra theo 16 nền tảng có tâm đã được thanh lọc khỏi các pháp ngăn che ấy, thời có 18 tùy phiển não này sanh lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích trí về tùy phiền não.</b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">4. Các Trí trong việc Thanh Lọc</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">13 trí gì trong việc thanh lọc? Tâm có sự chạy theo quá khứ bị rơi vào tản mạn. Sau khi ngăn ngừa việc ấy, hành giả tập trung (tâm) vào một chỗ; như vậy tâm không đi đến tản mạn. Tâm có sự mong mỏi ở vị lai bị chao động. Sau khi ngăn ngừa việc ấy, ngay tại đấy hành giả khẳng định lại; như thế tâm không đi đến tản mạn. Tâm trì trệ bị rơi vào biếng nhác. Sau khi nắm giữ điều ấy, hành giả dứt bỏ sự biếng nhác; như vậy tâm không đi đến tản mạn. Tâm ra sức quá mức bị rơi vào phóng dật. Sau khi hạn chế điều ấy, hành giả dứt bỏ phóng dật; như vậy tâm không đi đến tản mạn. Tâm quá chuyên chú bị rơi vào tham. Sau khi có sự nhận biết rõ rệt điều ấy, hành giả dứt bỏ tham; như vậy tâm không đi đến tản mạn. Tâm lơi là bị rơi vào sân. Sau khi có sự nhận biết rõ rệt điều ấy, hành giả dứt bỏ sân; như vậy tâm không đi đến tản mạn. Được hoàn toàn trong sạch với 6 trường hợp này, tâm được tinh khiết đi đến nhất thể.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các nhất thể ấy là gì? Nhất thể trong việc thiết lập sự buông bỏ vật thí, nhất thể trong việc thiết lập hiện tướng của chỉ tịnh, nhất thể trong việc thiết lập tướng trạng của biến hoại, nhất thể trong việc thiết lập sự diệt tận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhất thể trong việc thiết lập sự buông bỏ vật thí của những người đã quyết tâm xả bỏ, nhất thể trong việc thiết lập hiện tướng của chỉ tịnh của những người đã gắn bó với thắng tâm, nhất thể trong việc thiết lập tướng trạng biến hoại của những người thực hành minh sát, nhất thể trong việc thiết lập sự diệt tận của các bậc Thánh nhân. Tâm đạt đến nhất thể bằng bốn trường hợp này vừa có sự tiến đến tính chất thanh tịnh của việc thực hành, vừa được tăng cường trạng thái xả, và còn được hài lòng bởi trí nữa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sơ thiền, cái gì là phần đầu? cái gì là phần giữa? cái gì là phần cuối? Đối với sơ thiền, sự thanh tịnh của việc thực hành là phần đầu, sự tăng cường trạng thái xả là phần giữa, sự tự hài lòng là phần cuối.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sơ thiền, sự thanh tịnh của việc thực hành là phần đầu, có bao nhiêu tướng trạng thuộc về phần đầu? Có ba tướng trạng thuộc về phần đầu: Điều gì là sự ngăn trở của thiền ấy, do điều ấy tâm được thanh tịnh; do bản thể thanh tịnh, tâm đạt đến hiện tướng của chỉ tịnh ở trung tâm; do bản thể đã được đạt đến, tâm tiến vào nơi ấy. Việc tâm được thanh tịnh do sự ngăn trở, việc tâm đạt đến hiện tướng của chỉ tịnh ở trung tâm do bản thể thanh tịnh, việc tâm tiến vào nơi ấy do bản thể đã được đạt đến, đối với sơ thiền sự thanh tịnh của việc thực hành là phần đầu, ba tướng trạng này là thuộc về phần đầu, vì thế được nói rằng: “<i>Sơ thiền vừa là tốt đẹp ở phần đầu vừa được thành tựu về tướng trạng</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sơ thiền, sự tăng cường trạng thái xả là phần giữa, có bao nhiêu tướng trạng thuộc về phần giữa? Có ba tướng trạng thuộc về phần giữa: Hành giả dửng dưng đối với tâm thanh tịnh, dửng dưng đối với việc đã đạt đến chỉ tịnh, dửng dưng đối với việc thiết lập nhất thể. Việc hành giả dửng dưng đối với tâm thanh tịnh, dửng dưng đối với việc đã đạt đến chỉ tịnh, dửng dưng đối với việc thiết lập nhất thể, đối với sơ thiền sự tăng cường trạng thái xả là phần giữa, ba tướng trạng này là thuộc về phần giữa, vì thế được nói rằng: “<i>Sơ thiền vừa là tốt đẹp ở phần giữa vừa được thành tựu về tướng trạng</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sơ thiền, sự tự hài lòng là phần cuối, có bao nhiêu tướng trạng thuộc về phần cuối? Có bốn tướng trạng thuộc về phần cuối: có sự tự hài lòng đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy theo ý nghĩa không vượt trội, sự tự hài lòng đối với các quyền theo ý nghĩa nhất vị, sự tự hài lòng theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến Niết Bàn, sự tự hài lòng theo ý nghĩa rèn luyện. Đối với sơ thiền sự tự hài lòng là phần cuối, bốn tướng trạng này là thuộc về phần cuối, vì thế được nói rằng: “<i>Sơ thiền vừa là tốt đẹp ở phần cuối vừa được thành tựu về tướng trạng</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Như thế, tâm đã đạt đến ba phận sự là tốt đẹp theo ba cách,[4] được thành tựu mười tướng trạng,[5] và còn được thành tựu về tầm, thành tựu về tứ, thành tựu về hỷ, thành tựu về lạc, thành tựu về sự khẳng định tâm, thành tựu về tín, thành tựu về tấn, thành tựu về niệm, thành tựu về định, và thành tựu về tuệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với nhị thiền, cái gì là phần đầu? cái gì là phần giữa? cái gì là phần cuối? &#8230;(như trên)&#8230; Như thế, tâm đã đạt đến ba phận sự là tốt đẹp theo ba cách, được thành tựu mười tướng trạng, và còn được thành tựu về hỷ, thành tựu về lạc, thành tựu về sự khẳng định tâm, &#8230;(như trên)&#8230;, và thành tựu về tuệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với tam thiền, cái gì là phần đầu? cái gì là phần giữa? cái gì là phần cuối? &#8230;(nt)&#8230; Như thế, tâm đã đạt đến ba phận sự là tốt đẹp theo ba cách, được thành tựu 10 tướng trạng, và còn được thành tựu về lạc, thành tựu về sự khẳng định tâm, thành tựu về tín, thành tựu về tấn, thành tựu về niệm, thành tựu về định, và thành tựu về tuệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với tứ thiền, cái gì là phần đầu? cái gì là phần giữa? cái gì là phần cuối? &#8230;(nt)&#8230; Như thế, tâm đã đạt đến ba phận sự là tốt đẹp theo ba cách, được thành tựu 10 tướng trạng, và còn được thành tựu về xả, thành tựu về sự khẳng định tâm, thành tựu về tín, thành tựu về tấn, thành tựu về niệm, thành tựu về định, và thành tựu về tuệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sự chứng đạt không vô biên xứ &#8230;(nt)&#8230; sự chứng đạt thức vô biên xứ &#8230; sự chứng đạt vô sở hữu xứ &#8230; sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, cái gì là phần đầu? cái gì là phần giữa? cái gì là phần cuối? &#8230; Như thế, tâm đã đạt đến ba phận sự là tốt đẹp theo ba cách, được thành tựu mười tướng trạng, và còn được thành tựu về xả, thành tựu về sự khẳng định tâm, &#8230;(nt)&#8230;, và thành tựu về tuệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sự quán xét về vô thường, cái gì là phần đầu? cái gì là phần giữa? cái gì là phần cuối? &#8230; Như thế, tâm đã đạt đến ba phận sự là tốt đẹp theo ba cách, được thành tựu 10 tướng trạng, và còn được thành tựu về tầm, thành tựu về tứ, thành tựu về hỷ, thành tựu về lạc, thành tựu về sự khẳng định tâm, thành tựu về tín, thành tựu về tấn, thành tựu về niệm, thành tựu về định, và thành tựu về tuệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sự quán xét về khổ não &#8230;(như trên)&#8230; Đối với sự quán xét về vô ngã &#8230;(nt)&#8230; Đối với sự quán xét về sự nhàm chán &#8230;(nt)&#8230; Đối với sự quán xét về ly tham ái &#8230; Đối với sự quán xét về sự diệt tận &#8230; Đối với sự quán xét về sự từ bỏ &#8230; Đối với sự quán xét về sự đoạn tận &#8230; Đối với sự quán xét về sự biến hoại &#8230; Đối với sự quán xét về sự chuyển biến &#8230; Đối với sự quán xét về vô tướng &#8230; Đối với sự quán xét về vô nguyện &#8230; Đối với sự quán xét về không tánh &#8230; Đối với sự minh sát các pháp bằng thắng tuệ &#8230; Đối với sự biết và thấy đúng theo thực thể &#8230; Đối với sự quán xét về sự tai hại &#8230; Đối với sự quán xét về sự phân biệt rõ &#8230; Đối với sự quán xét về sự ly khai &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với Đạo Nhập Lưu, &#8230; Đối với Đạo Nhất Lai, &#8230; Đối với Đạo Bất Lai, &#8230; Đối với Đạo A-la-hán, cái gì là phần đầu? cái gì là phần giữa? cái gì là phần cuối? Đối với Đạo A-la-hán, sự thanh tịnh của việc thực hành là phần đầu, sự tăng cường trạng thái xả là phần giữa, sự tự hài lòng là phần cuối. Sự thanh tịnh của việc thực hành là phần đầu của Đạo A-la-hán. Có bao nhiêu tướng trạng thuộc về phần đầu? Có ba tướng trạng thuộc về phần đầu: &#8230;(như trên)&#8230;. Đối với Đạo A-la-hán sự thanh tịnh của việc thực hành là phần đầu, ba tướng trạng này là thuộc về phần đầu, vì thế được nói rằng: “<i>Đạo A-la-hán vừa là tốt đẹp ở phần đầu vừa được thành tựu về tướng trạng</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với Đạo A-la-hán, sự tăng cường trạng thái xả là phần giữa, có bao nhiêu tướng trạng thuộc về phần giữa? Có ba tướng trạng thuộc về phần giữa: Hành giả dửng dưng đối với tâm thanh tịnh, dửng dưng đối với việc đã đạt đến chỉ tịnh, dửng dưng đối với việc thiết lập nhất thể. Việc hành giả dửng dưng đối với tâm thanh tịnh, dửng dưng đối với việc đã đạt đến chỉ tịnh, dửng dưng đối với việc thiết lập nhất thể, vì thế được nói rằng: “<i>Đạo A-la-hán vừa là tốt đẹp ở phần giữa vừa được thành tựu về tướng trạng</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với Đạo A-la-hán, sự tự hài lòng là phần cuối, có bao nhiêu tướng trạng thuộc về phần cuối? Có bốn tướng trạng thuộc về phần cuối: có sự tự hài lòng đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy theo ý nghĩa không vượt trội, sự tự hài lòng đối với của các quyền theo ý nghĩa nhất vị, sự tự hài lòng theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn, sự tự hài lòng theo ý nghĩa rèn luyện. Đối với Đạo A-la-hán sự tự hài lòng là phần cuối, bốn tướng trạng này là thuộc về phần cuối, vì thế được nói rằng: “<i>Đạo A-la-hán vừa là tốt đẹp ở phần cuối vừa được thành tựu về tướng trạng</i>.” Như thế, tâm đã đạt đến ba phận sự là tốt đẹp theo ba cách, được thành tựu mười tướng trạng, và còn được thành tựu về tầm, thành tựu về tứ, thành tựu về hỷ, thành tựu về lạc, thành tựu về sự khẳng định tâm, thành tựu về tín, thành tựu về tấn, thành tựu về niệm, thành tựu về định, và thành tựu về tuệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Hiện tướng, hơi vào ra   </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>chẳng phải cảnh một tâm,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>người không biết ba pháp        </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tu tập không thành đạt</i>. (1)</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Hiện tướng, hơi vào ra             </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>chẳng phải cảnh một tâm, </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>vị nhận biết ba pháp                </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tu tập được thành công</i>. (2)</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba pháp này không phải là đối tượng của một tâm, ba pháp này không phải là không được biết đến, tâm không đi đến tản mạn, sự nỗ lực được nhận biết, và (hành giả) hoàn tất việc thực hành, đạt đến sự chứng ngộ là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cũng giống như thân cây được đặt nằm ở trên mặt đất bằng, một người đàn ông có thể cắt chính nó bằng cái cưa. Niệm của người đàn ông được thiết lập theo tác động của các răng cưa chạm vào thân cây mà không chú ý ở các răng cưa tiến tới hoặc thụt lùi. Các răng cưa tiến tới hoặc thụt lùi không phải là không được biết đến, sự nỗ lực được nhận biết, và (người ấy) hoàn tất nhiệm vụ. Thân cây được đặt nằm ở trên mặt đất bằng như thế nào, hiện tướng do sự gắn liền (của niệm) là như thế ấy. Các răng cưa là như thế nào, hơi thở vào hơi thở ra là như vậy. Như thế niệm của người đàn ông được thiết lập theo tác động của các răng cưa chạm vào thân cây mà không chú ý ở các răng cưa tiến tới hoặc thụt lùi. Các răng cưa tiến tới hoặc thụt lùi không phải là không được biết đến, sự nỗ lực được nhận biết, và (người ấy) hoàn tất nhiệm vụ. Tương tợ như thế, sau khi thiết lập niệm ở chóp mũi hoặc ở môi trên, vị tỳ khưu đang ngồi, không chú ý ở hơi thở vào ra đến hoặc đi. Hơi thở vào ra đến hoặc đi không phải là không được biết đến, sự nỗ lực được nhận biết, và (hành giả) hoàn tất việc thực hành, đạt đến sự chứng ngộ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự nỗ lực</b>: Sự nỗ lực gì? Thân và tâm của vị khởi sự tinh tấn là thích hợp cho hành động; điều này là sự nỗ lực. Việc thực hành gì? Các tùy phiền não của vị khởi sự tinh tấn được dứt bỏ, các tầm được an tịnh; điều này việc thực hành. Sự chứng ngộ gì? Các sự ràng buộc của vị khởi sự tinh tấn được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt; điều này là sự chứng ngộ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba pháp này không phải là đối tượng của một tâm, ba pháp này không phải là không được biết đến, tâm không đi đến tản mạn, sự nỗ lực được nhận biết, và (hành giả) hoàn tất việc thực hành, đạt đến sự chứng ngộ là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị niệm hơi vào ra          </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tròn đủ, khéo tu tập,       </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tuần tự được tích lũy,               </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>theo như lời Phật dạy,    </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tỏa sáng thế giới này,              </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tợ trăng thoát mây che</i>. (3)</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hơi thở vào:</b> là hơi vào không phải hơi ra. <b>Hơi thở ra</b>: là hơi ra không phải hơi vào. Sự thiết lập qua phương tiện hơi thở vào là niệm, sự thiết lập qua phương tiện hơi thở ra là niệm. Niệm được thiết lập đến vị thở vào, niệm được thiết lập đến vị thở ra.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tròn đủ:</b> được tròn đủ theo ý nghĩa nắm giữ, được tròn đủ theo ý nghĩa phụ trợ, được tròn đủ theo ý nghĩa hoàn bị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khéo tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: là sự tu tập các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy theo ý nghĩa không vượt trội, là sự tu tập các quyền theo ý nghĩa nhất vị, là sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến Niết Bàn, là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. Đối với vị ấy, bốn ý nghĩa tu tập này là con thuyền đã được tạo lập, là nền tảng đã được tạo lập, đã được thiết lập, đã được tích lũy, đã được khởi sự vô cùng thanh tịnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Con thuyền đã được tạo lập:</b> Vị ấy đạt được ưu thế, đạt được sức mạnh, đạt được sự tự tín ở bất cứ nơi đâu vị ấy mong muốn. Đối với vị ấy, các pháp ấy<a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/37/Pts_05.htm#_ftn6" name="_ftnref6" rel="nofollow noopener" target="_blank">[6]</a> là đã được gắn bó với sự hướng tâm, đã được gắn bó với lòng mong muốn, đã được gắn bó với tác ý, đã được gắn bó với sự sanh lên của tâm, vì thế được nói rằng: “<i>Con thuyền đã được tạo lập</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nền tảng đã được tạo lập:</b> Tâm đã được khẳng định chắc chắn ở nền tảng nào thì niệm được thiết lập tốt đẹp ở nền tảng ấy. Hơn nữa, niệm đã được thiết lập tốt đẹp ở nền tảng nào thì tâm được khẳng định chắn chắn ở nền tảng ấy, vì thế được nói rằng: “<i>Nền tảng đã được tạo lập</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đã được thiết lập:</b> Tâm hướng đến với điều nào thì niệm xoay vần với điều ấy, hoặc là niệm xoay vần với điều nào thì tâm hướng đến với điều ấy, vì thế được nói rằng: “<i>Đã được thiết lập</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đã được tích lũy:</b> Đã được tích lũy theo ý nghĩa nắm giữ, đã được tích lũy theo ý nghĩa phụ trợ, đã được tròn đủ theo ý nghĩa hoàn bị. Trong khi nắm giữ nhờ vào niệm, vị ấy chiến thắng các pháp ác bất thiện; vì thế được nói rằng: “<i>Đã được tích lũy</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đã được khởi sự vô cùng thanh tịnh:</b> Đã được khởi sự vô cùng thanh tịnh có bốn: đã được khởi sự vô cùng thanh tịnh theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã sanh lên trong trường hợp ấy, đã được khởi sự vô cùng thanh tịnh theo ý nghĩa nhất vị đối với các quyền, đã được khởi sự vô cùng thanh tịnh theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến Niết Bàn, tính chất loại trừ các phiền não đối nghịch với điều ấy là ‘đã được khởi sự vô cùng thanh tịnh.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vô cùng thanh tịnh:</b> Có sự thanh tịnh, có sự vô cùng thanh tịnh. Sự thanh tịnh là gì? Là các pháp thiện, không sai trái, dự phần vào giác ngộ đã sanh tại nơi ấy; điều này là sự thanh tịnh. Sự vô cùng thanh tịnh gì? Là cảnh của chính các pháp ấy, tức là sự diệt tận Niết Bàn; điều này là sự vô cùng thanh tịnh. Như thế, sự thanh tịnh này và sự vô cùng thanh tịnh này đã được biết, đã được thấy, đã được biết đến, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ. Tinh tấn đã được khởi sự là không thối giảm, niệm đã được thiết lập là bị không hư hoại, thân đã được an tịnh không bị trạng thái bực bội, tâm đã được định tĩnh có sự chuyên nhất, vì thế được nói rằng: “<i>Vô cùng thanh tịnh</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Được tuần tự tích lũy: </b>Được tích lũy từ trước đây và được tích lũy thêm về sau này do năng lực của hơi thở vào dài, được tích lũy từ trước đây và được tích lũy thêm về sau này do năng lực của hơi thở ra dài. Được tích lũy từ trước đây và được tích lũy thêm về sau này do năng lực của hơi thở vào ngắn, được tích lũy từ trước đây và được tích lũy thêm về sau này do năng lực của hơi thở ra ngắn. &#8230;(như trên)&#8230; Được tích lũy từ trước đây và được tích lũy thêm về sau này do năng lực của hơi thở vào với việc quán xét về từ bỏ, được tích lũy từ trước đây và được tích lũy thêm về sau này do năng lực của hơi thở ra với việc quán xét về từ bỏ. Tất cả niệm hơi thở vào hơi thở ra theo 16 nền tảng không những đã được tích lũy qua lại lẫn nhau mà còn được tích lũy thêm nữa; vì thế được nói rằng: “<i>Được tuần tự tích lũy</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Theo như:</b> Có mười ý nghĩa của ‘theo như’: ý nghĩa của việc thuần hóa bản thân là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của việc chỉ tịnh bản thân là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của việc làm cho bản thân viên tịch Niết Bàn là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của việc biết rõ là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của việc biết toàn diện là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của việc dứt bỏ là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của việc tu tập là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của việc tác chứng là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của sự lãnh hội chân lý là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của người đã trụ vững trong sự diệt tận là ý nghĩa của theo như.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phật:</b> Chính vị ấy là đức Thế Tôn, vị chúa tể, vị không có thầy, đã tự mình chứng ngộ các sự thật về các pháp chưa từng được nghe, từ đó đã đạt được quả vị Toàn Giác và bản thể khả năng về các lực.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phật</b>: Phật theo ý nghĩa gì? ‘Vị đã giác ngộ các chân lý’ là Phật, ‘vị giác ngộ dòng dõi’ là Phật, bởi tính chất biết được tất cả là Phật, bởi tính chất thấy được tất cả là Phật, bởi tính chất không do người khác hướng dẫn là Phật, bởi sự rạng danh (về nhiều đức hạnh) là Phật, bởi đã được công nhận là có các lậu hoặc đã cạn kiệt là Phật, bởi đã được công nhận là thoát khỏi các tùy phiền não là Phật, hoàn toàn lìa khỏi tham ái là Phật, hoàn toàn lìa khỏi sân là Phật, hoàn toàn lìa khỏi si là Phật, hoàn toàn xa lìa phiền não là Phật, vị đã đi đạo lộ nhất thừa là Phật, một mình chứng ngộ quả vị Chánh Đẳng Giác tối thượng là Phật, bản thân đã trừ diệt sự không giác ngộ và thành đạt sự giác ngộ là Phật. Danh hiệu ‘Phật’ không được định đặt bởi mẹ, không được định đặt bởi cha, không được định đặt bởi anh em trai, không được định đặt bởi chị em gái, không được định đặt bởi bạn bè thân hữu, không được định đặt bởi thân quyến cùng huyết thống, không được định đặt bởi các Sa-môn và Bà-la-môn, không được định đặt bởi chư thiên, sự quy định này liên quan đến điểm tận cùng của giải thoát từ sự thành đạt, từ sự tác chứng trí Toàn Giác ở cội cây Bồ Đề của chư Phật Thế Tôn; điều ấy là ‘Phật.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đã được giảng dạy:</b> Theo như đã được giảng dạy bởi đức Phật, ý nghĩa của việc thuần hóa bản thân là ý nghĩa của theo như. Theo như đã được giảng dạy bởi đức Phật, ý nghĩa của việc chỉ tịnh bản thân là ý nghĩa của theo như. Theo như đã được giảng dạy bởi đức Phật, ý nghĩa của sự viên tịch Niết Bàn của bản thân là ý nghĩa của theo như. &#8230;(nt)&#8230; Theo như đã được giảng dạy bởi đức Phật, ý nghĩa của người đã trụ vững trong sự diệt tận là ý nghĩa của theo như.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị ấy:</b> là người tại gia hoặc là vị đã xuất gia.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thế giới</b>: là thế giới của các uẩn, thế giới của các giới, thế giới của các xứ, thế giới có sự bất hạnh, thế giới đem lại sự bất hạnh, thế giới có sự thuận lợi, thế giới đem lại sự thuận lợi. Một thế giới là tất cả chúng sanh được tồn tại nhờ vật thực. &#8230;(như trên)&#8230; Mười tám thế giới là mười tám giới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Làm tỏa sáng:</b> Do bản thân đã được chứng ngộ về ý nghĩa của việc thuần hóa bản thân là ý nghĩa của theo như; vị ấy làm chói sáng, làm chiếu sáng, làm tỏa sáng[7] thế giới này. Do bản thân đã được chứng ngộ về ý nghĩa của việc chỉ tịnh bản thân là ý nghĩa của theo như; vị ấy làm chói sáng, làm chiếu sáng, làm tỏa sáng thế giới này. Do bản thân đã được chứng ngộ về ý nghĩa của sự viên tịch Niết Bàn của bản thân là ý nghĩa của theo như; vị ấy làm chói sáng, làm chiếu sáng, làm tỏa sáng thế giới này. &#8230; Do bản thân đã được chứng ngộ về ý nghĩa của người đã trụ vững trong sự diệt tận là ý nghĩa của theo như; vị ấy làm chói sáng, làm chiếu sáng, làm tỏa sáng thế giới này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tợ trăng thoát mây che</b>: Đám mây che như thế nào, các phiền não là như thế. Mặt trăng như thế nào, trí của các bậc Thánh là như thế. Vị thiên tử có được mặt trăng như thế nào, vị tỳ khưu là như thế. Giống như mặt trăng được thoát ra khỏi đám mây, được thoát ra khỏi sương mù, được thoát ra khỏi bụi khói, được hoàn toàn ra khỏi hiện tượng nguyệt thực thời chiếu sáng, rạng ngời, và rực rỡ, tương tợ y như thế vị tỳ khưu được thoát ra khỏi toàn bộ phiền não thời chiếu sáng, rạng ngời, và rực rỡ; vì thế được nói rằng: “T<i>ợ trăng thoát mây che</i>.” Đây là mười ba trí trong việc thanh lọc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích về trí trong việc thanh lọc.</b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">5. Các Trí về việc Thực Hành Niệm</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">32 trí gì về việc thực hành niệm?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm vị ấy thở vào, có niệm vị ấy thở ra. Hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài;’ hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra dài.’ Hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn;’ hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn.’ ‘Cảm giác toàn thân,[8] tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của toàn thân, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘làm cho an tịnh sự tạo tác của toàn thân, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. ‘Cảm giác hỷ, &#8230;(như trên)&#8230; ‘Cảm giác lạc, &#8230;(như trên)&#8230; ‘Cảm giác sự tạo tác của tâm, &#8230;(như trên)&#8230; ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của tâm, &#8230;(như trên)&#8230; ‘Cảm giác tâm, &#8230;(như trên)&#8230; ‘Làm cho tâm được hân hoan, &#8230;(như trên)&#8230; ‘Làm cho tâm được định tĩnh, &#8230;(như trên)&#8230; ‘Làm cho tâm được giải thoát, &#8230;(như trên)&#8230; ‘Quán xét về vô thường, &#8230;(như trên)&#8230; ‘Quán xét về ly tham, &#8230;(như trên)&#8230; ‘Quán xét về diệt tận, &#8230;(như trên)&#8230; ‘Quán xét về từ bỏ, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘quán xét về từ bỏ, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ở đây:</b> ở quan điểm này, ở sự chấp nhận này, ở khuynh hướng này, ở sự chọn lọc này, ở Pháp này, ở Luật này, ở Pháp và Luật này, ở học thuyết này, ở Phạm hạnh này, ở lời dạy này của bậc Đạo Sư; vì thế được nói rằng: ‘<i>Ở đây</i>.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị tỳ khưu:</b> vị tỳ khưu là phàm nhân hoàn thiện, hoặc là Hữu Học, hoặc là A-la-hán có pháp không thể thay đổi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khu rừng:</b> Sau khi đi ra khỏi bên ngoài cọc ranh, toàn bộ khoảng (đất) ấy là khu rừng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Gốc cây:</b> Ở nơi nào chỗ ngồi của vị tỳ khưu được sắp xếp, là giường, hoặc ghế, hoặc nệm, hoặc tấm đệm ngồi, hoặc mảnh da thú, hoặc thảm cỏ, hoặc thảm lá, hoặc thảm rơm, và vị tỳ khưu đi kinh hành, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm xuống ở tại nơi ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thanh vắng:</b> không bị lai vãng bởi bất cứ ai, bởi những người tại gia hoặc bởi các vị xuất gia.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nơi:</b> là trú xá, nhà một mái, tòa nhà dài, khu nhà lớn, hang động.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ngồi xuống, xếp chân thế kiết già:</b> là vị đã ngồi xuống, đã xếp chân thế kiết già.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Giữ thân thẳng:</b> Thân được duy trì được bố trí ngay thẳng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thiết lập niệm luôn hiện diện:</b> ‘<b>Luôn’</b> theo ý nghĩa nắm giữ, ‘<b>Hiện diện</b>’ theo ý nghĩa dẫn xuất, ‘<b>Niệm’</b> theo ý nghĩa thiết lập; vì thế được nói rằng: “<i>Thiết lập niệm luôn hiện diện</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có niệm vị ấy thở vào, có niệm vị ấy thở ra</b>: là người thực hành có niệm theo 32 phương thức: Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy là người thực hành có niệm. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy là người thực hành có niệm. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào ngắn, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy là người thực hành có niệm. &#8230;(như trên)&#8230; Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm có sự quán xét về từ bỏ nhờ tác động của hơi thở vào, &#8230;(như trên)&#8230; có sự quán xét về từ bỏ nhờ tác động của hơi thở ra, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy là người thực hành có niệm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài;’ hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra dài’ là (có ý nghĩa) thế nào? Vị ấy thở vào hơi thở vào dài trong thời gian được công nhận là lâu, vị ấy thở ra hơi thở ra dài trong thời gian được công nhận là lâu, vị ấy thở vào cũng như thở ra hơi thở vào hơi thở ra dài trong thời gian được công nhận là lâu, đối với vị đang thở vào cũng như đang thở ra hơi thở vào hơi thở ra dài trong thời gian được công nhận là lâu, có ước muốn sanh lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do tác động của ước muốn, vị ấy thở vào hơi thở vào dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu; do tác động của ước muốn, vị ấy thở ra hơi thở ra dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu; do tác động của ước muốn, vị ấy thở vào cũng như thở ra hơi thở vào hơi thở ra dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu; do tác động của ước muốn, đối với vị đang thở vào cũng như đang thở ra hơi thở vào hơi thở ra dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu, có hân hoan sanh lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do tác động của hân hoan, vị ấy thở vào hơi thở vào dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu; do tác động của hân hoan, vị ấy thở ra hơi thở ra dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu; do tác động của hân hoan, vị ấy thở vào cũng như thở ra hơi thở vào hơi thở ra dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu; do tác động của hân hoan, đối với vị đang thở vào cũng như đang thở ra hơi thở vào hơi thở ra dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu, tâm ly khai hơi thở vào hơi thở ra dài và trạng thái xả được thành lập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Theo chín phương thức này, hơi thở vào hơi thở ra dài là thân, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thân là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thân ấy; vì thế được nói rằng: “<i>Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thân trên thân</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) thế nào? Quán xét về vô thường, không phải về thường; quán xét về khổ não, không phải về lạc; quán xét về vô ngã, không phải về ngã; nhàm chán, không vui thích; ly tham ái, không tham ái; làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi; từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi quán xét về vô thường, (vị ấy) dứt bỏ thường tưởng; trong khi quán xét về khổ não, (vị ấy) dứt bỏ lạc tưởng; trong khi quán xét về vô ngã, (vị ấy) dứt bỏ ngã tưởng; trong khi nhàm chán, (vị ấy) dứt bỏ sự vui thích; trong khi ly tham ái, (vị ấy) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (vị ấy) dứt bỏ sự sanh khởi; trong khi từ bỏ, (vị ấy) dứt bỏ sự nắm giữ; quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: là sự tu tập các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy theo ý nghĩa không vượt trội, là sự tu tập các quyền theo ý nghĩa nhất vị, là sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến Niết Bàn, là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra dài, các thọ sanh lên được biết đến, (các thọ) thiết lập được biết đến, (các thọ) đi đến biến hoại được biết đến, các tưởng sanh lên được biết đến, (các tưởng) thiết lập được biết đến, (các tưởng) đi đến biến hoại được biết đến, các tầm sanh lên được biết đến, (các tầm) thiết lập được biết đến, (các tầm) đi đến biến hoại được biết đến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các thọ sanh lên được biết đến, thiết lập được biết đến, đi đến biến hoại được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự sanh lên của thọ được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự sanh lên của thọ được biết đến theo ý nghĩa sanh khởi do duyên: ‘Do sự sanh khởi của vô minh, có sự sanh khởi của thọ.’ Sự sanh lên của thọ được biết đến theo ý nghĩa sanh khởi do duyên: ‘Do sự sanh khởi của ái, có sự sanh khởi của thọ,’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Do sự sanh khởi của nghiệp, có sự sanh khởi của thọ,’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Do sự sanh khởi của xúc, có sự sanh khởi của thọ;’ đối với vị nhìn thấy tướng trạng của sự tái tạo, sự sanh lên của thọ được biết đến. Sự sanh lên của thọ được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự thiết lập của thọ được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang tác ý về vô thường, sự thiết lập của đoạn tận được biết đến; đối với vị đang tác ý về khổ não, sự thiết lập của kinh hãi được biết đến; đối với vị đang tác ý về vô ngã, sự thiết lập của không tánh được biết đến. Sự thiết lập của thọ được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự biến mất của thọ được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự biến mất của thọ được biết đến theo ý nghĩa diệt tận do duyên: ‘Do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của thọ.’ Sự biến mất của thọ được biết đến theo ý nghĩa diệt tận do duyên: ‘Do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của thọ,’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Do sự diệt tận của nghiệp, có sự diệt tận của thọ,’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Do sự diệt tận của xúc, có sự diệt tận của thọ;’ đối với vị nhìn thấy tướng trạng của sự chuyển biến, sự biến mất của thọ được biết đến. Sự biến mất của thọ được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các thọ sanh lên được biết đến, thiết lập được biết đến, đi đến biến hoại được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tưởng sanh lên được biết đến, thiết lập được biết đến, đi đến biến hoại được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự sanh lên của tưởng được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự sanh lên của tưởng được biết đến theo ý nghĩa sanh khởi do duyên: ‘Do sự sanh khởi của vô minh, có sự sanh khởi của tưởng.’ Sự sanh lên của tưởng được biết đến theo ý nghĩa sanh khởi do duyên: ‘Do sự sanh khởi của ái, có sự sanh khởi của tưởng,’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Do sự sanh khởi của nghiệp, có sự sanh khởi của tưởng,’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Do sự sanh khởi của xúc, có sự sanh khởi của tưởng;’ đối với vị nhìn thấy tướng trạng của sự tái tạo, sự sanh lên của tưởng được biết đến. Sự sanh lên của tưởng được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự thiết lập của tưởng được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang tác ý về vô thường, sự thiết lập của đoạn tận được biết đến; đối với vị đang tác ý về khổ não, sự thiết lập của kinh hãi được biết đến; đối với vị đang tác ý về vô ngã, sự thiết lập của không tánh được biết đến. Sự thiết lập của tưởng được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự biến mất của tưởng được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự biến mất của tưởng được biết đến theo ý nghĩa diệt tận do duyên: ‘Do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của tưởng.’ Sự biến mất của tưởng được biết đến theo ý nghĩa diệt tận do duyên: ‘Do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của tưởng,’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Do sự diệt tận của nghiệp, có sự diệt tận của tưởng,’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Do sự diệt tận của xúc, có sự diệt tận của tưởng;’ đối với vị nhìn thấy tướng trạng của sự chuyển biến, sự biến mất của tưởng được biết đến. Sự biến mất của tưởng được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tưởng sanh lên được biết đến, thiết lập được biết đến, đi đến biến hoại được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tầm sanh lên được biết đến, thiết lập được biết đến, đi đến biến hoại được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự sanh lên của các tầm được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự sanh lên của các tầm được biết đến theo ý nghĩa sanh khởi do duyên: ‘Do sự sanh khởi của vô minh, có sự sanh khởi của tầm.’ Sự sanh lên của các tầm được biết đến theo ý nghĩa sanh khởi do duyên: ‘Do sự sanh khởi của ái, có sự sanh khởi của tầm,’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Do sự sanh khởi của nghiệp, có sự sanh khởi của tầm,’ &#8230;(như trên)&#8230; ‘Do sự sanh khởi của tưởng, có sự sanh khởi của tầm;’ đối với vị nhìn thấy tướng trạng của sự tái tạo, sự sanh lên của các tầm được biết đến. Sự sanh lên của các tầm được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự thiết lập của các tầm được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang tác ý về vô thường, sự thiết lập của đoạn tận được biết đến; đối với vị đang tác ý về khổ não, sự thiết lập của kinh hãi được biết đến; đối với vị đang tác ý về vô ngã, sự thiết lập của không tánh được biết đến. Sự thiết lập của các tầm được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự biến mất của các tầm được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự biến mất của các tầm được biết đến theo ý nghĩa diệt tận do duyên: ‘Do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của tầm.’ Sự biến mất của các tầm được biết đến theo ý nghĩa diệt tận do duyên: ‘Do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của tầm,’ &#8230;(nt)&#8230; ‘Do sự diệt tận của nghiệp, có sự diệt tận của tầm,’ &#8230;(nt)&#8230; ‘Do sự diệt tận của xúc, có sự diệt tận của tầm;’ đối với vị nhìn thấy tướng trạng của sự chuyển biến, sự biến mất của các tầm được biết đến. Sự biến mất của các tầm được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tầm sanh lên được biết đến, thiết lập được biết đến, đi đến biến hoại được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra dài, (vị ấy) liên kết các quyền, nhận biết hành xứ, và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh. &#8230;(nt)&#8230; (vị ấy) liên kết các lực, &#8230;(nt)&#8230; các giác chi &#8230;(nt)&#8230; Đạo &#8230;(nt)&#8230; các pháp, nhận biết hành xứ, và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Liên kết các quyền:</b> Liên kết các quyền là (có ý nghĩa) thế nào? Liên kết tín quyền theo ý nghĩa cương quyết, liên kết tấn quyền theo ý nghĩa ra sức, liên kết niệm quyền theo ý nghĩa thiết lập, liên kết định quyền theo ý nghĩa không tản mạn, liên kết tuệ quyền theo ý nghĩa nhận thức; vì thế được nói rằng: “<i>Liên kết các quyền</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nhận biết hành xứ:</b> Điều nào là đối tượng của vị ấy, điều ấy là hành xứ của vị ấy; điều nào là hành xứ của vị ấy, điều ấy là đối tượng của vị ấy. <b>Nhận biết: </b>là người (nhận biết); sự nhận biết là tuệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thanh tịnh:</b> Sự thiết lập đối tượng là thanh tịnh, sự không tản mạn của tâm là thanh tịnh, sự khẳng định của tâm là thanh tịnh, sự thanh lọc của tâm là thanh tịnh. <b>Ý nghĩa:</b> Ý nghĩa không sai trái, ý nghĩa xa lìa phiền não, ý nghĩa thanh lọc, ý nghĩa tối thắng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thấu triệt:</b> thấu triệt ý nghĩa thiết lập đối tượng, thấu triệt ý nghĩa không tản mạn của tâm, thấu triệt ý nghĩa khẳng định của tâm, thấu triệt ý nghĩa thanh lọc của tâm; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Liên kết các lực:</b> Liên kết các lực là (có ý nghĩa) thế nào? Liên kết tín lực theo ý nghĩa không dao động ở sự không có đức tin, liên kết tấn lực theo ý nghĩa không dao động ở sự biếng nhác, liên kết niệm lực theo ý nghĩa không dao động ở sự buông lung, liên kết định lực theo ý nghĩa không dao động ở sự phóng dật, liên kết tuệ lực theo ý nghĩa không dao động ở sự không sáng suốt. Người này liên kết các lực này trong đối tượng này; vì thế được nói rằng: “<i>Liên kết các lực</i>.” <b>Nhận biết hành xứ:</b> &#8230;(như trên)&#8230;; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Liên kết các giác chi: </b>Liên kết các giác chi là (có ý nghĩa) thế nào? Liên kết niệm giác chi theo ý nghĩa thiết lập, liên kết trạch pháp giác chi theo ý nghĩa suy xét, liên kết cần giác chi theo ý nghĩa ra sức, liên kết hỷ giác chi theo ý nghĩa lan tỏa, liên kết tịnh giác chi theo ý nghĩa an tịnh, liên kết định giác chi theo ý nghĩa không tản mạn, liên kết xả giác chi theo ý nghĩa phân biệt rõ. Người này liên kết các giác chi này trong đối tượng này; vì thế được nói rằng: “<i>Liên kết các giác chi</i>.” <b>Nhận biết hành xứ:</b> &#8230;(như trên)&#8230;; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Liên kết Đạo:</b> Liên kết Đạo là (có ý nghĩa) thế nào? Liên kết chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức, liên kết chánh tư duy theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), liên kết chánh ngữ theo ý nghĩa gìn giữ, liên kết chánh nghiệp theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, liên kết chánh mạng theo ý nghĩa trong sạch, liên kết chánh tinh tấn theo ý nghĩa ra sức, liên kết chánh niệm theo ý nghĩa thiết lập, liên kết chánh định theo ý nghĩa không tản mạn; người này liên kết Đạo này trong đối tượng này; vì thế được nói rằng: “<i>Liên kết Đạo</i>.” <b>Nhận biết hành xứ:</b> &#8230;(như trên)&#8230;; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Liên kết các pháp:</b> Liên kết các pháp là (có ý nghĩa) thế nào? Liên kết các quyền theo ý nghĩa pháp chủ đạo, liên kết các lực theo ý nghĩa không dao động, liên kết các giác chi theo ý nghĩa dẫn xuất (ra khỏi luân hồi), liên kết Đạo theo ý nghĩa chủng tử, liên kết sự thiết lập niệm theo ý nghĩa thiết lập, liên kết chánh cần theo ý nghĩa nỗ lực, liên kết nền tảng của thần thông theo ý nghĩa thành tựu, liên kết chân lý theo ý nghĩa của thực thể, liên kết chỉ tịnh theo ý nghĩa không tản mạn, liên kết minh sát theo ý nghĩa quán xét, liên kết chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa nhất vị, liên kết sự kết hợp chung theo ý nghĩa không vượt trội, liên kết giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, liên kết tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tản mạn, liên kết kiến thanh tịnh theo ý nghĩa nhận thức, liên kết sự phóng thích theo ý nghĩa được giải thoát, liên kết minh theo ý nghĩa thấu triệt, liên kết sự giải thoát theo ý nghĩa buông bỏ, liên kết trí về sự đoạn tận theo ý nghĩa đoạn trừ, liên kết trí về vô sanh theo ý nghĩa tỉnh lặng, liên kết ước muốn theo ý nghĩa nguồn cội, liên kết tác ý theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, liên kết xúc theo ý nghĩa liên kết, liên kết thọ theo ý nghĩa hội tụ, liên kết định theo ý nghĩa dẫn đầu, liên kết niệm theo ý nghĩa pháp chủ đạo, liên kết tuệ theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện, liên kết sự giải thoát theo ý nghĩa cốt lỏi, liên kết Niết Bàn liên quan đến bất tử theo ý nghĩa kết thúc; người này liên kết các pháp này trong đối tượng này; vì thế được nói rằng: “<i>Liên kết các pháp</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nhận biết hành xứ:</b> Điều gì là đối tượng của vị ấy, điều ấy là hành xứ của vị ấy; điều gì là hành xứ của vị ấy, điều ấy là đối tượng của vị ấy. <b>Nhận biết:</b> là người (nhận biết); sự nhận biết là tuệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thanh tịnh:</b> Sự thiết lập đối tượng là thanh tịnh, sự không tản mạn của tâm là thanh tịnh, sự khẳng định của tâm là thanh tịnh, sự thanh lọc của tâm là thanh tịnh. <b>Ý nghĩa:</b> Ý nghĩa không sai trái, ý nghĩa xa lìa phiền não, ý nghĩa thanh lọc, ý nghĩa tối thắng. <b>Thấu triệt:</b> thấu triệt ý nghĩa thiết lập đối tượng, thấu triệt ý nghĩa không tản mạn của tâm, thấu triệt ý nghĩa khẳng định của tâm, thấu triệt ý nghĩa thanh lọc của tâm; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn;’ trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn’ là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị ấy thở vào hơi thở vào ngắn trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi. Vị ấy thở ra hơi thở ra ngắn trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi. Vị ấy thở vào cũng như thở ra hơi thở vào hơi thở ra ngắn trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi. Đối với vị đang thở vào cũng như đang thở ra hơi thở vào hơi thở ra ngắn trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi, có ước muốn sanh lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do tác động của ước muốn, vị ấy thở vào hơi thở vào ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi; do tác động của ước muốn, vị ấy thở ra hơi thở ra ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi; do tác động của ước muốn, vị ấy thở vào cũng như thở ra hơi thở vào hơi thở ra ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi; do tác động của ước muốn, đối với vị đang thở vào cũng như đang thở ra hơi thở vào hơi thở ra ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi, có hân hoan sanh lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do tác động của hân hoan, vị ấy thở vào hơi thở vào ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi; do tác động của hân hoan, vị ấy thở ra hơi thở ra ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi; do tác động của hân hoan, vị ấy thở vào cũng như thở ra hơi thở vào hơi thở ra ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi; do tác động của hân hoan, đối với vị đang thở vào cũng như đang thở ra hơi thở vào hơi thở ra ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi, tâm ly khai hơi thở vào hơi thở ra ngắn, có trạng thái xả được thành lập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Theo chín phương thức này, hơi thở vào hơi thở ra ngắn là thân, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thân là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thân ấy; vì thế được nói rằng: “<i>Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thân trên thân</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) thế nào? &#8230;(như trên)&#8230; quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) như thế. <b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: &#8230;(như trên)&#8230; là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra ngắn, các thọ sanh lên được biết đến, &#8230;(như trên)&#8230; Trong khi nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra ngắn, (vị ấy) liên kết các quyền, &#8230;(như trên)&#8230;; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘cảm giác toàn thân tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thân:</b> Có hai loại thân: thân của danh và thân của sắc. Thân của danh là gì? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, danh và thân của danh, và những gì được gọi là các sự tạo tác của tâm; đây là thân của danh. Thân của sắc là gì? Tứ đại[9] và sắc nương vào tứ đại, hơi thở vào hơi thở ra và hiện tướng do sự gắn liền (của niệm), và những gì được gọi là các sự tạo tác của thân; đây là thân của sắc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các thân ấy được cảm nhận là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các thân ấy được cảm nhận. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các thân ấy được cảm nhận. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào ngắn, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các thân ấy được cảm nhận. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra ngắn, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các thân ấy được cảm nhận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang hướng tâm, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang nhận biết, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang nhận thức, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang quán xét lại, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang khẳng định tâm, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang có khuynh hướng về đức tin, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang nắm giữ tinh tấn, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang thiết lập niệm, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang tập trung tâm, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang nhận biết bằng tuệ, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang biết rõ các pháp cần được biết rõ, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang biết toàn diện các pháp cần được biết toàn diện, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang dứt bỏ các pháp cần được dứt bỏ, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang tu tập các pháp cần được tu tập, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang tác chứng các pháp cần được tác chứng, các thân ấy được cảm nhận; các thân ấy được cảm nhận là như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cảm giác toàn thân, hơi thở vào hơi thở ra là thân, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thân là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thân ấy; vì thế được nói rằng: “<i>Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thân trên thân</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) thế nào? &#8230;(như trên)&#8230; Quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) như thế. <b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: &#8230;(như trên)&#8230; là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. Cảm giác toàn thân đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, là tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tản mạn, là kiến thanh tịnh theo ý nghĩa nhận thức. Trong trường hợp ấy ý nghĩa thu thúc là sự học tập về thắng giới, trong trường hợp ấy ý nghĩa không tản mạn là sự học tập về thắng tâm, trong trường hợp ấy ý nghĩa nhận thức là sự học tập về thắng tuệ. Trong khi hướng tâm đến ba sự học tập này vị ấy tập, trong khi nhận biết vị ấy tập, trong khi nhận thức vị ấy tập, trong khi quán xét lại vị ấy tập, trong khi khẳng định tâm vị ấy tập, trong khi có khuynh hướng về đức tin vị ấy tập, trong khi nắm giữ tinh tấn vị ấy tập, trong khi thiết lập niệm vị ấy tập, trong khi tập trung tâm vị ấy tập, trong khi nhận biết bằng tuệ vị ấy tập, trong khi biết rõ các pháp cần được biết rõ vị ấy tập, trong khi biết toàn diện các pháp cần được biết toàn diện vị ấy tập, trong khi dứt bỏ các pháp cần được dứt bỏ vị ấy tập, trong khi tu tập các pháp cần được tu tập vị ấy tập, trong khi tác chứng các pháp cần được tác chứng vị ấy tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cảm giác toàn thân, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, các thọ sanh lên được biết đến, &#8230;(như trên)&#8230; Cảm giác toàn thân, trong khi nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, (vị ấy) liên kết các quyền, &#8230;(như trên)&#8230;; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập, là (có ý nghĩa) thế nào? Sự tạo tác của thân là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các hơi thở vào dài là thuộc về thân, các pháp này được gắn bó với thân, là các sự tạo tác của thân; trong khi làm cho an tịnh, làm cho diệt tận, làm cho bình lặng các sự tạo tác của thân ấy, vị ấy tập. Các hơi thở ra dài là thuộc về thân, các pháp này được gắn bó với thân, là các sự tạo tác của thân; trong khi làm cho an tịnh, làm cho diệt tận, làm cho bình lặng các sự tạo tác của thân ấy, vị ấy tập. Các hơi thở vào ngắn &#8230;(như trên)&#8230; Các hơi thở vào dài &#8230;(như trên)&#8230; Cảm giác toàn thân, các hơi thở vào là thuộc về thân &#8230; Cảm giác toàn thân, các hơi thở ra là thuộc về thân &#8230;(như trên)&#8230; các pháp này được gắn bó với thân, là các sự tạo tác của thân; trong khi làm cho an tịnh, làm cho diệt tận, làm cho bình lặng các sự tạo tác của thân ấy, vị ấy tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với các sự tạo tác của thân có hình thức như là sự ngã lui, sự nghiêng hai bên, sự nghiêng ngã, sự ngã tới, sự loạn động, sự rúng động, sự chao động, sự chuyển động của thân, vị ấy tập như vầy: ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập như vầy: ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra.’ Với các sự tạo tác của thân có hình thức như là không có sự ngã lui, không có sự nghiêng hai bên, không có sự nghiêng ngã, không có sự ngã tới, sự không loạn động, sự không rúng động, sự không chao động, sự không chuyển động, sự an tịnh, sự nhu thuận của thân, vị ấy tập như vầy: ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập như vầy: ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra.’ Như vậy là nói rằng: ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. Khi an tịnh như thế, không có sự tạo ra việc nhận biết làn hơi gió, không có sự tạo ra hơi thở vào hơi thở ra, không có sự tạo ra niệm về hơi thở vào hơi thở ra, không có sự tạo ra định của hơi thở vào hơi thở ra, và các bậc trí cũng không nhập vào và cũng không xuất ra khỏi chính sự chứng đạt ấy. Như vậy là nói rằng: ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. Khi an tịnh như vậy, có sự tạo ra việc tiếp cận làn hơi gió, có sự tạo ra hơi thở vào hơi thở ra, có sự tạo ra niệm về hơi thở vào hơi thở ra, có sự tạo ra định của hơi thở vào hơi thở ra, và các bậc trí cũng thể nhập vào và cũng xuất ra khỏi chính sự chứng đạt ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Như thế là (có ý nghĩa) thế nào? Cũng giống như khi tiếng cồng được đánh lên, trước tiên có các âm thanh thô tháo vận hành; hiện tướng của các âm thanh thô tháo là có tình trạng được thâu nhận rõ ràng, có tình trạng được đặc biệt lưu ý, có tình trạng được lưu lại rõ rệt. Khi âm thanh thô tháo chấm dứt, tiếp theo đó có các âm thanh êm dịu vận hành; hiện tướng của các âm thanh êm dịu có tình trạng được thâu nhận rõ ràng, có tình trạng được đặc biệt lưu ý, có tình trạng được lưu lại rõ rệt. Khi âm thanh êm dịu chấm dứt, tiếp theo đó có tâm vận hành do có hiện tướng của âm thanh êm dịu là đối tượng. Tương tợ như thế, trước tiên có các hơi thở vào hơi thở ra thô tháo vận hành; hiện tướng của các hơi thở vào hơi thở ra thô tháo là có tình trạng được thâu nhận rõ ràng, có tình trạng được đặc biệt lưu ý, có tình trạng được lưu lại rõ rệt. Khi các hơi thở vào hơi thở ra thô tháo chấm dứt, tiếp theo đó có các hơi thở vào hơi thở ra êm dịu vận hành; hiện tướng của các hơi thở vào hơi thở ra êm dịu là có tình trạng được thâu nhận rõ ràng, có tình trạng được đặc biệt lưu ý, có tình trạng được lưu lại rõ rệt. Khi các hơi thở vào hơi thở ra êm dịu chấm dứt, tiếp theo đó tâm không đi đến tản mạn do có hiện tướng hơi thở vào hơi thở ra êm dịu là đối tượng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi an tịnh như vậy, có sự tạo ra việc tiếp cận làn hơi gió, có sự tạo ra hơi thở vào hơi thở ra, có sự tạo thành niệm về hơi thở vào hơi thở ra, có sự tạo ra định của hơi thở vào hơi thở ra, và các bậc trí cũng thể nhập vào và cũng xuất ra khỏi chính sự chứng đạt ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, các hơi thở vào hơi thở ra là thân, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thân là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thân ấy; vì thế được nói rằng: “<i>Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thân trên thân</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) thế nào? &#8230;(như trên)&#8230; Quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) như thế. <b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: &#8230;(như trên)&#8230; là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, là kiến thanh tịnh theo ý nghĩa nhận thức. Trong trường hợp ấy ý nghĩa thu thúc là sự học tập về thắng giới, trong trường hợp ấy ý nghĩa không tản mạn là sự học tập về thắng tâm, trong trường hợp ấy ý nghĩa nhận thức là sự học tập về thắng tuệ. Trong khi hướng tâm đến ba sự học tập này vị ấy tập, &#8230;(như trên)&#8230;; trong khi tác chứng các pháp cần được tác chứng vị ấy tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, thọ sanh lên được biết đến, &#8230;(như trên)&#8230; Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, trong khi nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra (vị ấy) liên kết các quyền, &#8230;(như trên)&#8230;; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tám trí về quán xét, tám tùy niệm về sự thiết lập, và bốn nền tảng thuộc Kinh về việc quán xét thân trên thân.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nhóm bốn thứ nhất.</b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cảm giác hỷ, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘cảm giác hỷ, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hỷ là gì? Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, hỷ và hân hoan sanh lên. Hỷ là sự hân hoan, là sự hoan hỷ, là sự thích thú, là sự vui mừng, là sự mừng rỡ, là sự phấn khởi, là sự thỏa thích của tâm. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài, &#8230;(như trên)&#8230; nhờ tác động của hơi thở vào ngắn, &#8230;(như trên)&#8230; nhờ tác động của hơi thở ra ngắn, &#8230;(như trên)&#8230; Cảm giác toàn thân nhờ tác động của hơi thở vào &#8230;(nt)&#8230; Cảm giác toàn thân nhờ tác động của hơi thở ra &#8230;(nt)&#8230; Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân nhờ tác động của hơi thở vào &#8230;(như trên)&#8230; Cảm giác toàn thân nhờ tác động của hơi thở ra, hỷ và hân hoan sanh lên. Hỷ là sự hân hoan, là sự hoan hỷ, là sự thích thú, là sự vui mừng, là sự mừng rỡ, là sự phấn khởi, là sự thỏa thích của tâm, điều này là hỷ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hỷ ấy được cảm nhận thế nào? Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, hỷ ấy được cảm nhận. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài &#8230;(như trên)&#8230; nhờ tác động của hơi thở vào ngắn &#8230;(nt)&#8230; nhờ tác động của hơi thở ra ngắn &#8230;(nt)&#8230; Cảm giác toàn thân nhờ tác động của hơi thở vào &#8230;(nt)&#8230; Cảm giác toàn thân nhờ tác động của hơi thở ra &#8230;(nt)&#8230; Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân nhờ tác động của hơi thở vào &#8230;(nt)&#8230; Cảm giác toàn thân nhờ tác động của hơi thở ra, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, hỷ ấy được cảm nhận. Đối với vị đang hướng tâm, hỷ ấy được cảm nhận; đối với vị đang nhận biết &#8230;(nt)&#8230; đối với vị đang nhận thức &#8230;(nt)&#8230; đối với vị đang quán xét lại &#8230;(nt)&#8230; đối với vị đang khẳng định tâm &#8230;(nt)&#8230; đối với vị đang có khuynh hướng về đức tin &#8230;(nt)&#8230; đối với vị đang nắm giữ tinh tấn &#8230;(nt)&#8230; đối với vị đang thiết lập niệm &#8230;(nt)&#8230; đối với vị đang tập trung tâm &#8230;(nt)&#8230; đối với vị đang nhận biết bằng tuệ &#8230;(nt)&#8230; đối với vị đang biết rõ các pháp cần được biết rõ &#8230;(nt)&#8230; đối với vị đang biết toàn diện các pháp cần được biết toàn diện &#8230;(nt)&#8230; đối với vị đang dứt bỏ các pháp cần được dứt bỏ &#8230;(nt)&#8230; đối với vị đang tu tập các pháp cần được tu tập &#8230;(như trên)&#8230; đối với vị đang tác chứng các pháp cần được tác chứng, hỷ ấy được cảm nhận. Hỷ ấy được cảm nhận là như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cảm giác hỷ nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là thọ, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thọ là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thọ ấy; vì thế được nói rằng: “<i>Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thọ trên các thọ</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) thế nào? &#8230;(như trên)&#8230; quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) như thế. <b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: &#8230;(như trên)&#8230; là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cảm giác hỷ đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, &#8230;(như trên)&#8230; Cảm giác hỷ, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, &#8230;(nt)&#8230; trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Lạc:</b> Có hai loại lạc: lạc thuộc thân và lạc thuộc tâm. Lạc gì thuộc thân? Điều gì thoải mái thuộc thân là lạc thuộc thân, sự thoải mái sanh ra từ xúc chạm của thân là lạc được cảm thọ, do sự thoải mái sanh ra từ xúc chạm của thân là lạc thọ; điều này là lạc thuộc thân. Lạc gì thuộc tâm? Điều gì thoải mái thuộc tâm là lạc thuộc tâm, sự thoải mái sanh ra từ xúc chạm của ý là lạc được cảm thọ, do sự thoải mái sanh ra từ xúc chạm của ý là lạc thọ; điều này là lạc thuộc tâm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các lạc ấy được cảm nhận thế nào? Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các lạc ấy được cảm nhận. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các lạc ấy được cảm nhận. &#8230;(như trên)&#8230;; đối với vị đang tác chứng các pháp cần được tác chứng, các lạc ấy được cảm nhận. Các lạc ấy được cảm nhận là như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cảm giác lạc nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là thọ, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thọ là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thọ ấy; vì thế được nói rằng: “<i>Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thọ trên các thọ</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) thế nào? Quán xét là vô thường &#8230;(như trên)&#8230; quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) như thế. <b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: &#8230;(như trên)&#8230; là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cảm giác lạc đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, &#8230;(như trên)&#8230; Cảm giác lạc, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, &#8230;(nt)&#8230; trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự tạo tác của tâm là gì? Nhờ tác động của hơi thở vào dài, (có) tưởng và thọ thuộc tâm; các pháp này được gắn bó với tâm, là các sự tạo tác của tâm. Nhờ tác động của hơi thở ra dài, (có) tưởng và thọ thuộc tâm; các pháp này được gắn bó với tâm, là các sự tạo tác của tâm. &#8230;(như trên)&#8230;. Cảm giác lạc nhờ tác động của hơi thở vào &#8230;(như trên)&#8230; Cảm giác lạc nhờ tác động của hơi thở ra là tưởng và thọ thuộc tâm; các pháp này được gắn bó với tâm, là các sự tạo tác của tâm. Đây là sự tạo tác của tâm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các sự tạo tác của tâm ấy được cảm nhận thế nào? Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các sự tạo tác của tâm ấy được cảm nhận. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các sự tạo tác của tâm ấy được cảm nhận. &#8230;(như trên)&#8230;; đối với vị đang tác chứng các pháp cần được tác chứng, các sự tạo tác của tâm ấy được cảm nhận. Các sự tạo tác của tâm ấy được cảm nhận là như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cảm giác sự tạo tác của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là thọ, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thọ là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thọ ấy; vì thế được nói rằng: “<i>Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thọ trên các thọ</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) thế nào? Quán xét là vô thường &#8230;(nt)&#8230; quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) như thế. <b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: &#8230;(nt)&#8230; là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cảm giác sự tạo tác của tâm đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, &#8230;(như trên)&#8230; Cảm giác sự tạo tác của tâm, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, &#8230;(như trên)&#8230; trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự tạo tác của tâm là gì? Nhờ tác động của hơi thở vào dài, (có) tưởng và thọ thuộc tâm, &#8230;(như trên)&#8230; Nhờ tác động của hơi thở ra dài, (có) tưởng và thọ thuộc tâm, các pháp này được gắn bó với tâm, là các sự tạo tác của tâm; trong khi làm cho an tịnh, làm cho diệt tận, làm cho bình lặng các sự tạo tác của tâm ấy, vị ấy tập. Cảm giác sự tạo tác của tâm nhờ tác động của hơi thở vào &#8230;(như trên)&#8230; Cảm giác sự tạo tác của tâm nhờ tác động của hơi thở ra là tưởng và thọ thuộc tâm; các pháp này được gắn bó với tâm, là các sự tạo tác của tâm; trong khi làm cho an tịnh, làm cho diệt tận, làm cho bình lặng các sự tạo tác của tâm ấy, vị ấy tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Làm cho an tịnh sự tạo tác của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là thọ, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thọ là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thọ ấy; vì thế được nói rằng: “<i>Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thọ trên các thọ</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) thế nào? Quán xét là vô thường &#8230;(nt)&#8230; quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) như thế. <b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: &#8230;(nt)&#8230; là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Làm cho an tịnh sự tạo tác của tâm đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, &#8230;(như trên)&#8230; Làm cho an tịnh sự tạo tác của tâm, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, &#8230;(như trên)&#8230; trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tám trí về quán xét, tám tùy niệm về sự thiết lập, và bốn nền tảng thuộc Kinh về việc quán xét thọ trên các thọ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nhóm bốn thứ nhì.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> ‘Cảm giác tâm, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘cảm giác tâm, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tâm ấy là gì? Nhờ tác động của hơi thở vào dài, có sự nhận thức là tâm. Tâm tức là ý, là tinh thần, là tim, là sắc trắng, là ý xứ, là ý quyền, là thức, là thức uẩn, là ý thức giới sanh ra từ điều ấy. Nhờ tác động của hơi thở ra dài, &#8230;(nt)&#8230; Làm cho an tịnh sự tạo tác của tâm nhờ tác động của hơi thở vào, &#8230;(nt)&#8230; Làm cho an tịnh sự tạo tác của tâm nhờ tác động của hơi thở ra có sự nhận thức là tâm. Tâm tức là ý, là tinh thần, là tim, là sắc trắng, là ý xứ, là ý quyền, là thức, là thức uẩn, là ý thức giới sanh ra từ điều ấy; điều này là tâm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tâm ấy được cảm nhận thế nào? Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, tâm ấy được cảm nhận. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, tâm ấy được cảm nhận. &#8230;(như trên)&#8230;; đối với vị đang tác chứng các pháp cần được tác chứng, tâm ấy được cảm nhận. Tâm ấy được cảm nhận là như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cảm giác tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, có sự nhận thức là tâm, sự thiết lập là niệm, &#8230;(nt)&#8230;; vì thế được nói rằng: “<i>Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét tâm trên tâm</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) thế nào? &#8230;(như trên)&#8230; Quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) như thế. <b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: &#8230;(như trên)&#8230; là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cảm giác tâm đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, &#8230;(nt)&#8230; Cảm giác tâm, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, &#8230;(nt)&#8230; trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Làm cho tâm được hân hoan, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Làm cho tâm được hân hoan, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự hân hoan của tâm là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, sự hân hoan của tâm sanh lên; điều nào là sự hoan hỷ, sự thích thú, sự vui mừng, sự mừng rỡ, sự phấn khởi của tâm là sự thỏa thích của tâm. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài, sự hân hoan của tâm sanh lên; điều nào là sự hoan hỷ, sự thích thú, sự vui mừng, sự mừng rỡ, sự phấn khởi của tâm là sự thỏa thích của tâm. &#8230;(như trên)&#8230; Cảm giác tâm nhờ tác động của hơi thở vào &#8230;(như trên)&#8230; Cảm giác tâm nhờ tác động của hơi thở ra, sự hân hoan của tâm sanh lên; điều nào là sự hoan hỷ, sự thích thú, sự vui mừng, sự mừng rỡ, sự phấn khởi của tâm là sự thỏa thích của tâm; điều này là sự hân hoan của tâm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Làm cho tâm được hân hoan nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, có sự nhận thức là tâm, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, tâm là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét tâm ấy; vì thế được nói rằng: “<i>Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét tâm trên tâm</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) thế nào? &#8230;(như trên)&#8230; quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) như thế. <b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: &#8230;(như trên)&#8230; là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Làm cho tâm được hân hoan đối với các hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, &#8230;(như trên)&#8230; Làm cho tâm được hân hoan, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, &#8230;(như trên)&#8230; trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Làm cho tâm được định tĩnh, tôi sẽ thở vào’vị ấy tập, ‘Làm cho tâm được định tĩnh, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Định là gì? Nhờ tác động của hơi thở vào dài sự chuyên nhất không tản mạn của tâm là định; điều nào là sự đứng vững, sự an trụ, sự vững vàng, sự không tán loạn, sự không tản mạn của tâm, trạng thái của ý không bị tán loạn, sự chỉ tịnh, định quyền, định lực, chánh định. Nhờ tác động của hơi thở ra dài sự chuyên nhất không tản mạn của tâm là định, &#8230;(như trên)&#8230; Làm cho tâm được định tĩnh nhờ tác động của hơi thở vào &#8230;(như trên)&#8230; Làm cho tâm được định tĩnh, nhờ tác động của hơi thở ra sự chuyên nhất không tản mạn của tâm là định; điều nào là sự đứng vững, sự an trụ, sự vững vàng, sự không tán loạn, sự không tản mạn của tâm, trạng thái của ý không bị tán loạn, sự chỉ tịnh, định quyền, định lực, chánh định; điều ấy là định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Làm cho tâm được định tĩnh nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, sự nhận thức là tâm, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, tâm là sự thiết lập không phải là niệm; niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét tâm ấy; vì thế được nói rằng: “<i>Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét tâm trên tâm</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) thế nào? &#8230;(như trên)&#8230; quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) như thế. <b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: &#8230;(như trên)&#8230; là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Làm cho tâm được định tĩnh của các hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, &#8230;(như trên)&#8230; Làm cho tâm được định tĩnh, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, &#8230;(như trên)&#8230; trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> ‘Làm cho tâm được giải thoát, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Làm cho tâm được giải thoát, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Làm cho tâm được giải thoát khỏi tham ái, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập; ‘Làm cho tâm được giải thoát khỏi tham ái, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập; ‘Làm cho tâm được giải thoát khỏi sân hận, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập; ‘Làm cho tâm được giải thoát khỏi sân hận, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập; ‘Làm cho tâm được giải thoát khỏi si mê &#8230; khỏi ngã mạn &#8230; khỏi kiến &#8230; khỏi hoài nghi &#8230; khỏi sự lờ đờ &#8230; khỏi sự phóng dật &#8230; khỏi sự hổ thẹn (tội lỗi) &#8230; ‘Làm cho tâm được giải thoát khỏi sự ghê sợ (tội lỗi), tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập; ‘Làm cho tâm được giải thoát khỏi sự ghê sợ (tội lỗi), tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. Làm cho tâm được giải thoát nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, có sự nhận thức là tâm, sự thiết lập là niệm, &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) thế nào? &#8230;(như trên)&#8230; quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) như thế. <b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: &#8230;(như trên)&#8230; là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Làm cho tâm được giải thoát đối với các hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, &#8230;(như trên)&#8230; Làm cho tâm được giải thoát, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, &#8230;(như trên)&#8230; trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tám trí về quán xét, tám tùy niệm về sự thiết lập, và bốn nền tảng thuộc Kinh về việc quán xét tâm trên tâm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nhóm bốn thứ ba.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Quán xét về vô thường, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘quán xét về vô thường, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào? <b>Vô thường:</b> Cái gì là vô thường? Năm uẩn là vô thường. Vô thường theo ý nghĩa gì? Vô thường với ý nghĩa sanh diệt. Đối với 5 uẩn, trong khi nhìn thấy sự sanh (hành giả) nhìn thấy bao nhiêu tướng trạng, trong khi nhìn thấy sự diệt nhìn thấy bao nhiêu tướng trạng, trong khi nhìn thấy sự sanh diệt, nhìn thấy bao nhiêu tướng trạng? Đối với 5 uẩn, trong khi nhìn thấy sự sanh (hành giả) nhìn thấy 25 tướng trạng, trong khi nhìn thấy sự diệt nhìn thấy 25 tướng trạng; đối với năm uẩn, trong khi nhìn thấy sự sanh diệt nhìn thấy 50 tướng trạng này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Quán xét về vô thường ở sắc, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘quán xét về vô thường ở sắc, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. ‘Quán xét về vô thường ở thọ, &#8230; ở tưởng &#8230; ở các hành &#8230; ở thức &#8230; ở mắt &#8230; ở lão tử, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘quán xét về vô thường ở lão tử, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Quán xét về vô thường nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là các pháp, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, các pháp là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét các pháp ấy; vì thế được nói rằng: “<i>Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét pháp trên các pháp</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) thế nào? &#8230;(như trên)&#8230; quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) như thế. <b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: &#8230;(như trên)&#8230; là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Quán xét về vô thường của các hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, &#8230;(như trên)&#8230; Quán xét về vô thường, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, &#8230;(như trên)&#8230; trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Quán xét về ly tham, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về ly tham, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi nhìn thấy sự tai hại ở sắc, có ước muốn sanh lên về ly tham ở sắc, đức tin được hướng đến, và tâm của vị ấy được khẳng định chắc chắn: ‘Quán xét về ly tham ở sắc, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về ly tham ở sắc, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. Sau khi nhìn thấy sự tai hại ở sắc, có ước muốn sanh lên về việc ly tham khỏi sắc, đức tin được hướng đến, và tâm của vị ấy được khẳng định chắc chắn: ‘Quán xét về ly tham ở thọ, &#8230; ở tưởng &#8230; ở các hành &#8230; ở thức &#8230; ở mắt &#8230; ở lão tử, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về ly tham ở lão tử, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Quán xét về ly tham nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là các pháp, sự thiết lập là niệm, &#8230;(như trên)&#8230;; vì thế được nói rằng: “<i>Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét pháp trên các pháp</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) thế nào? &#8230;(như trên)&#8230; quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) như thế. <b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: &#8230;(như trên)&#8230; là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Quán xét về ly tham của các hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, &#8230;(như trên)&#8230; Quán xét về ly tham, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, &#8230;(như trên)&#8230; trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Quán xét về diệt tận, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về diệt tận, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi nhìn thấy sự tai hại ở sắc, có ước muốn sanh lên về sự diệt tận ở sắc, đức tin được hướng đến, và tâm của vị ấy được khẳng định chắc chắn: ‘Quán xét về diệt tận ở sắc, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về diệt tận ở sắc, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. Sau khi nhìn thấy sự tai hại ở sắc, có ước muốn sanh lên về sự diệt tận ở sắc, đức tin được hướng đến, và tâm của vị ấy được khẳng định chắc chắn: ‘Quán xét về diệt tận ở thọ, &#8230; ở tưởng &#8230; ở các hành &#8230; ở thức &#8230; ở mắt &#8230; ở lão tử, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về diệt tận ở lão tử, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tai hại ở vô minh là với bao nhiêu biểu hiện? Vô minh được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? Tai hại ở vô minh là với năm biểu hiện. Vô minh được diệt tận với tám biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tai hại ở vô minh là với năm biểu hiện gì? Tai hại ở vô minh theo ý nghĩa vô thường, tai hại ở vô minh theo ý nghĩa khổ não, tai hại ở vô minh theo ý nghĩa vô ngã, tai hại ở vô minh theo ý nghĩa thiêu đốt, tai hại ở vô minh theo ý nghĩa chuyển biến; tai hại ở vô minh là với năm biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vô minh được diệt tận với tám biểu hiện gì? Với sự diệt tận của căn nguyên, vô minh được diệt tận; với sự diệt tận của nguồn gốc sanh khởi, vô minh được diệt tận; với sự diệt tận của sanh, vô minh được diệt tận; với sự diệt tận của phát khởi, vô minh được diệt tận; với sự diệt tận của nhân, vô minh được diệt tận; với sự diệt tận của duyên, vô minh được diệt tận; với sự sanh khởi của trí, vô minh được diệt tận; với sự thiết lập của diệt tận, vô minh được diệt tận; vô minh được diệt tận với tám biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi nhìn thấy sự tai hại ở vô minh với năm biểu hiện này, có ước muốn sanh lên về sự diệt tận ở vô minh với tám biểu hiện này, đức tin được hướng đến, và tâm của vị ấy được khẳng định chắc chắn: ‘Quán xét về diệt tận ở vô minh, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về diệt tận ở vô minh, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tai hại ở các hành là với bao nhiêu biểu hiện? Các hành được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? &#8230;(như trên)&#8230; Tai hại ở thức là với bao nhiêu biểu hiện? Thức được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? &#8230;(như trên)&#8230; Tai hại ở danh sắc là với bao nhiêu biểu hiện? Danh sắc được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? &#8230;(như trên)&#8230; Tai hại ở sáu xứ là với bao nhiêu biểu hiện? Sáu xứ được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? &#8230;(như trên)&#8230; Tai hại ở xúc là với bao nhiêu biểu hiện? Xúc được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? &#8230;(như trên)&#8230; Tai hại ở thọ là với bao nhiêu biểu hiện? Thọ được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? &#8230;(như trên)&#8230; Tai hại ở ái là với bao nhiêu biểu hiện? Ái được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? &#8230;(như trên)&#8230; Tai hại ở thủ là với bao nhiêu biểu hiện? Thủ được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? &#8230;(như trên)&#8230; Tai hại ở hữu là với bao nhiêu biểu hiện? Hữu được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? &#8230;(như trên)&#8230; Tai hại ở sanh là với bao nhiêu biểu hiện? Sanh được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? &#8230;(như trên)&#8230; Tai hại ở lão tử là với bao nhiêu biểu hiện? Lão tử được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? Tai hại ở lão tử là với năm biểu hiện. Lão tử được diệt tận với tám biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tai hại ở lão tử là với năm biểu hiện gì? Tai hại ở lão tử theo ý nghĩa vô thường, &#8230;(như trên)&#8230; theo ý nghĩa khổ não, &#8230;(như trên)&#8230; theo ý nghĩa vô ngã, &#8230;(nt)&#8230; theo ý nghĩa thiêu đốt, &#8230;(như trên)&#8230; theo ý nghĩa chuyển biến; tai hại ở lão tử là với năm biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lão tử được diệt tận với tám biểu hiện gì? Với sự diệt tận của căn nguyên, lão tử được diệt tận; với sự diệt tận của nguồn gốc sanh khởi, &#8230;(như trên)&#8230; với sự diệt tận của sanh, &#8230;(như trên)&#8230; với sự diệt tận của phát khởi, &#8230;(như trên)&#8230; với sự diệt tận của nhân, &#8230;(như trên)&#8230; với sự diệt tận của duyên, &#8230;(như trên)&#8230; với sự sanh khởi của trí, &#8230; với sự thiết lập của diệt tận, lão tử được diệt tận; lão tử được diệt tận với tám biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi nhìn thấy sự tai hại ở lão tử với năm biểu hiện này, có ước muốn sanh lên về sự diệt tận ở lão tử với tám biểu hiện này, đức tin được hướng đến, và tâm của vị ấy được khẳng định chắc chắn: ‘Quán xét về diệt tận ở lão tử, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘quán xét về diệt tận ở lão tử, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Quán xét về diệt tận nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là các pháp, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, các pháp là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét các pháp ấy; vì thế được nói rằng: “<i>Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét pháp trên các pháp</i>.” (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) thế nào? &#8230;(như trên)&#8230; Quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) như thế. <b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: &#8230;(như trên)&#8230; là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Quán xét về diệt tận của các hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, &#8230;(như trên)&#8230; Quán xét về diệt tận, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, &#8230;(như trên)&#8230; trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Quán xét về từ bỏ, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘quán xét về từ bỏ, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Từ bỏ: </b>Có hai sự từ bỏ: Sự từ bỏ do buông bỏ và sự từ bỏ do tiến vào. ‘Buông bỏ sắc’ là sự từ bỏ do buông bỏ. ‘Tâm tiến vào sự diệt tận của sắc Niết Bàn’ là sự từ bỏ do tiến vào: ‘Quán xét về từ bỏ các sắc, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về từ bỏ các sắc, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. ‘Buông bỏ thọ’ &#8230;(như trên)&#8230; tưởng &#8230;(như trên)&#8230; các hành &#8230;(như trên)&#8230; thức &#8230;(như trên)&#8230; mắt &#8230;(như trên)&#8230; ‘Buông bỏ lão tử’ là sự từ bỏ do buông bỏ. ‘Tâm tiến vào sự diệt tận của lão tử Niết Bàn’ là sự từ bỏ do tiến vào: ‘Quán xét về từ bỏ lão tử, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về từ bỏ lão tử, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Quán xét về sự từ bỏ nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là các pháp, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, các pháp là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét các pháp ấy; vì thế được nói rằng: “<i>Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét pháp trên các pháp</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Quán xét:</b> Quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) thế nào? Quán xét về vô thường, không phải về thường. &#8230;(như trên)&#8230; (Vị ấy) từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi quán xét về vô thường, (vị ấy) dứt bỏ thường tưởng. &#8230;(như trên)&#8230; trong khi từ bỏ, (vị ấy) dứt bỏ sự nắm giữ. Quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) như thế. <b>Sự tu tập:</b> Có bốn sự tu tập: là sự tu tập các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy theo ý nghĩa không vượt trội, &#8230;(như trên)&#8230;, là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Quán xét về từ bỏ đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, là tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tản mạn, là kiến thanh tịnh theo ý nghĩa nhận thức. Trong trường hợp ấy ý nghĩa thu thúc là sự học tập về thắng giới, trong trường hợp ấy ý nghĩa theo ý nghĩa không tản mạn là sự học tập về thắng tâm, trong trường hợp ấy ý nghĩa nhận thức là sự học tập về thắng tuệ. Trong khi hướng tâm đến ba sự học tập này vị ấy tập; trong khi nhận biết, &#8230;(nt)&#8230; trong khi tác chứng các pháp cần được tác chứng vị ấy tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có sự quán xét về từ bỏ, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, các thọ sanh lên được biết đến, thiết lập được biết đến, biến mất được biết đến &#8230;(như trên)&#8230; Có sự quán xét về từ bỏ, trong khi nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, (vị ấy) liên kết các quyền, nhận biết hành xứ, thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh, (vị ấy) liên kết các lực, liên kết các giác chi, liên kết Đạo, liên kết các pháp, nhận biết hành xứ, và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Liên kết các quyền:</b> Liên kết các quyền là (có ý nghĩa) thế nào? Liên kết tín quyền theo ý nghĩa cương quyết. &#8230;(như trên)&#8230;; vì thế được nói rằng: “<i>Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh</i>.” (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tám trí về quán xét, tám tùy niệm về sự thiết lập, và bốn nền tảng thuộc Kinh về việc quán xét pháp trên các pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là 32 trí về việc thực hành niệm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nhóm bốn thứ tư.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích trí về việc thực hành niệm.</b></span></p>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">6-11. Nhóm Sáu về Trí</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(6) 24 trí gì do năng lực của định?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhờ tác động của hơi thở vào dài sự chuyên nhất không tản mạn của tâm là định, nhờ tác động của hơi thở ra dài sự chuyên nhất không tản mạn của tâm là định, &#8230;(như trên)&#8230; Làm cho tâm được giải thoát, nhờ tác động của hơi thở vào sự chuyên nhất không tản mạn của tâm là định, làm cho tâm được giải thoát, nhờ tác động của hơi thở ra sự chuyên nhất không tản mạn của tâm là định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là 24 trí do năng lực của định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> (7) 72 trí gì do năng lực của minh sát?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hơi thở vào dài, theo ý nghĩa quán xét là vô thường là minh sát, theo ý nghĩa quán xét là khổ não là minh sát, theo ý nghĩa quán xét là vô ngã là minh sát. Hơi thở ra dài, theo ý nghĩa quán xét là vô thường là minh sát, theo ý nghĩa quán xét là khổ não là minh sát, theo ý nghĩa quán xét là vô ngã là minh sát. &#8230;(như trên)&#8230; Làm cho tâm được giải thoát trong khi thở vào, làm cho tâm được giải thoát trong khi thở ra, theo ý nghĩa quán xét là vô thường là minh sát, theo ý nghĩa quán xét là khổ não là minh sát, theo ý nghĩa quán xét là vô ngã là minh sát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là 72 trí do năng lực của minh sát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(8) 8 trí về nhàm chán là gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Quán xét về vô thường, (vị ấy) biết và thấy hơi thở vào đúng theo bản thể’ là trí về nhàm chán, ‘Quán xét về vô thường, (vị ấy) biết và thấy hơi thở ra đúng theo bản thể’ là trí về nhàm chán, &#8230;(như trên)&#8230;, ‘Quán xét về từ bỏ, (vị ấy) biết và thấy hơi thở vào đúng theo bản thể’ là trí về nhàm chán, ‘Quán xét về từ bỏ, (vị ấy) biết và thấy hơi thở ra đúng theo bản thể’ là trí về nhàm chán.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là 8 trí về nhàm chán.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(9) 8 trí thuận theo nhàm chán là gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Quán xét về vô thường trong khi thở vào, tuệ về sự thiết lập của kinh hãi là trí thuận theo nhàm chán; quán xét về vô thường trong khi thở ra, tuệ về sự thiết lập của kinh hãi là trí thuận theo nhàm chán; &#8230;(như trên)&#8230;; quán xét về từ bỏ trong khi thở vào, tuệ về sự thiết lập của kinh hãi là trí thuận theo nhàm chán; quán xét về từ bỏ trong khi thở ra, tuệ về sự thiết lập của kinh hãi là trí thuận theo nhàm chán.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là 8 trí thuận theo nhàm chán.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(10) 8 trí gì về sự tịnh lặng của nhàm chán?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Quán xét về vô thường trong khi thở vào, tuệ về sự phân biệt rõ và về sự trụ vững là trí về sự tịnh lặng của nhàm chán; quán xét về vô thường trong khi thở ra, tuệ về sự phân biệt rõ và về sự trụ vững là trí về sự tịnh lặng của nhàm chán; &#8230;(nt)&#8230;; quán xét về từ bỏ trong khi thở vào, tuệ về sự phân biệt rõ và về sự trụ vững là trí về sự tịnh lặng của nhàm chán; quán xét về từ bỏ trong khi thở ra, tuệ về sự phân biệt rõ và về sự trụ vững là trí về sự tịnh lặng của nhàm chán.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là 8 trí về sự tịnh lặng của nhàm chán.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(11) 21 trí gì về sự an lạc của giải thoát?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do Đạo Nhập Lưu, trạng thái dứt bỏ, trạng thái đoạn trừ hoàn toàn đối với thân kiến sanh lên là trí về sự an lạc của giải thoát; trạng thái dứt bỏ, trạng thái đoạn trừ hoàn toàn đối với hoài nghi sanh lên là trí về sự an lạc của giải thoát; trạng thái dứt bỏ, trạng thái đoạn trừ hoàn toàn đối với sự cố chấp vào giới và nghi thức, &#8230; đối với kiến ngủ ngầm, &#8230; đối với hoài nghi ngủ ngầm sanh lên là trí về sự an lạc của giải thoát. Do Đạo Nhất Lai, trạng thái dứt bỏ, trạng thái đoạn trừ hoàn toàn đối với sự ràng buộc của ái dục, đối với sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, &#8230; đối với ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển sanh lên là trí về sự an lạc của giải thoát. Do Đạo Bất Lai, trạng thái dứt bỏ, trạng thái đoạn trừ hoàn toàn đối với sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, &#8230; đối với ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế sanh lên là trí về sự an lạc của giải thoát. Do Đạo A-la-hán, trạng thái dứt bỏ, trạng thái đoạn trừ hoàn toàn đối với ái sắc, &#8230; đối với ái vô sắc, đối với ngã mạn, đối với phóng dật, đối với vô minh, đối với ngã mạn ngủ ngầm, đối với ái hữu ngủ ngầm, đối với vô minh ngủ ngầm sanh lên là trí về sự an lạc của giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là 21 trí về sự an lạc của giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tu tập định của niệm hơi thở vào hơi thở ra theo 16 nền tảng, có hơn 200 pháp sanh lên (ở vị ấy).</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần Giảng về Niệm Hơi Thở Vào Hơi Thở Ra được hoàn tất.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/tieu-bo/phan-tich-dao/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Tỳ-khưu Indacanda</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/tang-kinh-tieu-bo-phan-tich-dao-tap-1/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Tỳ-khưu Indacanda</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I – PAṬISAMBHIDĀMAGGO VI &#8211; GIẢNG VỀ QUYỀN: Bài Kinh thứ nhất</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-dao-i-pa%e1%b9%adisambhidamaggo-vi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 17 May 2020 01:10:05 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=9070</guid>

					<description><![CDATA[IV. GIẢNG VỀ QUYỀN 1. Bài Kinh thứ nhất Tôi đã được nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">IV. GIẢNG VỀ QUYỀN</span></h2>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">1. Bài Kinh thứ nhất</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tôi đã được nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại tu viện của ông Anāthapiṇḍika, trong khu rừng (của thái tử) Jeta, ở thành  Sāvatthi. Chính ở tại nơi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu.” “Thưa ngài,” các vị tỳ khưu ấy đã đáp lại đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Này các tỳ khưu, đây là năm quyền. Những gì là năm? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền. Này các tỳ khưu, đây là năm quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm quyền này được thanh tịnh theo bao nhiêu cách? Năm quyền này được thanh tịnh theo 15 cách: Đối với vị đang xa lánh các kẻ không có đức tin, đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi những người có đức tin, đang quán xét lại các bài kinh khơi dậy đức tin; tín quyền được thanh tịnh bằng ba cách này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang xa lánh các kẻ biếng nhác, đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi những người có sự ra sức tinh tấn, đang quán xét lại các sự nỗ lực đúng đắn; tấn quyền được thanh tịnh bằng ba cách này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang xa lánh các kẻ có niệm bị quên lãng, đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi những người có niệm được thiết lập, đang quán xét lại các sự thiết lập niệm; niệm quyền được thanh tịnh bằng ba cách này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang xa lánh các kẻ không định tĩnh, đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi những người định tĩnh, đang quán xét lại các định và giải thoát; định quyền được thanh tịnh bằng ba cách này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang xa lánh các kẻ có tuệ kém, đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi những người có tuệ, đang quán xét lại hành vi của trí thâm sâu; tuệ quyền được thanh tịnh bằng ba cách này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Như thế, đối với vị đang xa lánh năm hạng người này, đối với vị đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi năm hạng người (kia), đối với vị đang quán xét lại các bài kinh khơi dậy đức tin, các quyền này được thanh tịnh theo 15 cách này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm quyền được phát triển bằng bao nhiêu cách? Bằng bao nhiêu cách có được sự phát triển của năm quyền?[1] Năm quyền được phát triển bằng mười cách, bằng mười cách có được sự phát triển của năm quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi dứt bỏ sự không có đức tin là phát triển tín quyền, trong khi phát triển tín quyền là dứt bỏ sự không có đức tin; trong khi dứt bỏ sự biếng nhác là phát triển tấn quyền, trong khi phát triển tấn quyền là dứt bỏ sự biếng nhác; trong khi dứt bỏ sự buông lung là phát triển niệm quyền, trong khi phát triển niệm quyền là dứt bỏ sự buông lung; trong khi dứt bỏ sự phóng dật là phát triển định quyền, trong khi phát triển định quyền là dứt bỏ sự phóng dật; trong khi dứt bỏ vô minh là phát triển tuệ quyền, trong khi phát triển tuệ quyền là dứt bỏ vô minh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm quyền được phát triển bằng mười cách này, bằng mười cách này có được sự phát triển của năm quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm quyền (là) được phát triển,[2] (là) được phát triển tốt đẹp bằng bao nhiêu cách? Năm quyền (là) được phát triển, (là) được phát triển tốt đẹp bằng mười cách.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do trạng thái dứt bỏ, do trạng thái dứt bỏ tốt đẹp của sự không có đức tin, tín quyền được phát triển được phát triển tốt đẹp; do trạng thái đã được phát triển, do trạng thái đã được phát triển tốt đẹp của tín quyền, có sự từ bỏ, có sự từ bỏ tốt đẹp của sự không có đức tin. Do trạng thái dứt bỏ &#8230; của sự biếng nhác, tấn quyền được phát triển &#8230;; do trạng thái đã được phát triển &#8230; của tấn quyền, có sự từ bỏ &#8230; của sự biếng nhác. Do trạng thái dứt bỏ &#8230; của sự buông lung, niệm quyền được phát triển &#8230;; do trạng thái đã được phát triển &#8230; của niệm quyền, có sự từ bỏ &#8230; của sự buông lung. Do trạng thái dứt bỏ &#8230; của phóng dật, định quyền được phát triển &#8230;; do trạng thái đã được phát triển&#8230; của định quyền, có sự từ bỏ &#8230; của phóng dật. Do trạng thái dứt bỏ, do trạng thái dứt bỏ tốt đẹp của vô minh, tuệ quyền được phát triển được phát triển tốt đẹp; do trạng thái đã được phát triển, do trạng thái đã được phát triển tốt đẹp của tuệ quyền, có sự từ bỏ, có sự từ bỏ tốt đẹp của vô minh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm quyền (là) được phát triển, (là) được phát triển tốt đẹp bằng mười cách này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm quyền được phát triển bằng bao nhiêu cách? Năm quyền không những (là) được phát triển, mà (là) còn được phát triển tốt đẹp, được tịnh lặng, và được tịnh lặng tốt đẹp bằng bao nhiêu cách? Năm quyền được phát triển bằng bốn cách; năm quyền không những (là) được phát triển, mà (là) còn được phát triển tốt đẹp, được tịnh lặng, và được tịnh lặng tốt đẹp bằng bốn cách.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở sát-na Đạo Nhập Lưu, năm quyền được phát triển; ở sát-na Quả Nhập Lưu, năm quyền không những (là) được phát triển, mà (là) còn được phát triển tốt đẹp, được tịnh lặng, và được tịnh lặng tốt đẹp. Ở sát-na Đạo Nhất Lai, &#8230; ở sát-na Quả Nhất Lai, &#8230; Ở sát-na Đạo Bất Lai, &#8230; ở sát-na Quả Bất Lai, &#8230; Ở sát-na Đạo A-la-hán, năm quyền được phát triển; ở sát-na Quả A-la-hán, năm quyền không những (là) được phát triển, mà (là) còn được phát triển tốt đẹp, được tịnh lặng, và được tịnh lặng tốt đẹp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Như thế, có bốn sự thanh tịnh của Đạo, có bốn sự thanh tịnh của Quả, có bốn sự thanh tịnh của đoạn trừ, có bốn sự thanh tịnh của tịnh lặng. Bằng bốn cách này, năm quyền được phát triển; bằng bốn cách này, năm quyền không những (là) được phát triển, mà (là) còn được phát triển tốt đẹp, được tịnh lặng, và được tịnh lặng tốt đẹp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có sự phát triển quyền ở bao nhiêu hạng người? Bao nhiêu hạng người có quyền được phát triển? Có sự phát triển quyền ở tám hạng người, ba hạng người có quyền được phát triển.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có sự phát triển quyền ở tám hạng người nào? Ở bảy hạng Hữu Học và phàm nhân hoàn thiện; có sự phát triển quyền ở tám hạng người này. Ba hạng người nào có quyền được phát triển? Vị Phật Thinh Văn, đệ tử của đức Như Lai, là bậc Lậu Tận có quyền được phát triển; đức Phật Độc Giác với ý nghĩa tự mình chứng ngộ có quyền được phát triển; đức Như Lai với ý nghĩa vô lượng, là bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác có quyền được phát triển; ba hạng người này có quyền được phát triển.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Như thế, có sự phát triển quyền ở tám hạng người này; ba hạng người này có quyền được phát triển.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích về bài Kinh thứ nhất.</b></span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/tieu-bo/phan-tich-dao/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Tỳ-khưu Indacanda</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/tang-kinh-tieu-bo-phan-tich-dao-tap-1/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Tỳ-khưu Indacanda</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I – PAṬISAMBHIDĀMAGGO VII &#8211; GIẢNG VỀ GIẢI THOÁT</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-dao-i-pa%e1%b9%adisambhidamaggo-vii/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 17 May 2020 01:11:22 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=9072</guid>

					<description><![CDATA[V. GIẢNG VỀ GIẢI THOÁT [Duyên khởi ở  Sāvatthi] Này các tỳ khưu, đây là ba giải thoát. Ba là]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">V. GIẢNG VỀ GIẢI THOÁT</span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Duyên khởi ở  Sāvatthi</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là ba giải thoát. Ba là gì? Không tánh giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát. Này các tỳ khưu, đây là ba giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và còn có 68 giải thoát: không tánh giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, giải thoát có sự ly khai nội phần, giải thoát có sự ly khai ngoại phần, giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần), bốn giải thoát có sự ly khai nội phần, bốn giải thoát có sự ly khai ngoại phần, bốn giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần), bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai nội phần, bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai ngoại phần, bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai cả hai (nội ngoại phần), bốn giải thoát tịnh do sự ly khai nội phần, bốn giải thoát tịnh do sự ly khai ngoại phần, bốn giải thoát tịnh do sự ly khai cả hai (nội ngoại phần), ‘Có sắc, (vị ấy) thấy các sắc’ là giải thoát, ‘Có tưởng vô sắc ở nội phần, (hành giả) thấy các sắc thuộc ngoại phần’ là giải thoát, ‘Khuynh hướng thuần về điều tốt đẹp’ là giải thoát, sự chứng đạt không vô biên xứ là giải thoát, sự chứng đạt thức vô biên xứ là giải thoát, sự chứng đạt vô sở hữu xứ là giải thoát, sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ là giải thoát, sự chứng đạt sự diệt tận thọ tưởng là giải thoát, giải thoát có thời hạn, giải thoát vô thời hạn, giải thoát phụ thuộc thời hạn, giải thoát không phụ thuộc thời hạn, giải thoát có thể chuyển đổi, giải thoát không thể chuyển đổi, giải thoát thuộc thế gian, giải thoát vượt trên thế gian, giải thoát còn lậu hoặc, giải thoát không còn lậu hoặc, giải thoát còn hệ lụy vật chất, giải thoát không còn hệ lụy vật chất, giải thoát không còn hệ lụy vật chất và vượt trên không còn hệ lụy vật chất, ước nguyện giải thoát, vô nguyện giải thoát, an tịnh ước nguyện giải thoát, giải thoát bị ràng buộc, giải thoát không bị ràng buộc, giải thoát có bản chất giống nhau, giải thoát có bản chất khác nhau, giải thoát do tưởng, giải thoát do trí, giải thoát có sự bình lặng, giải thoát do thiền, giải thoát của tâm không chấp thủ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích về Giải Thoát.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không tánh giải thoát là gì? Ở đây, vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng suy nghiệm rằng: “Điều này là không đối với tự ngã hoặc đối với vật phụ thuộc vào tự ngã.” ‘Vị ấy không cố chấp vào điều ấy’ là không tánh giải thoát. Đây là không tánh giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vô tướng giải thoát là gì? Ở đây, vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng suy nghiệm rằng: “Điều này là không đối với tự ngã hoặc đối với vật phụ thuộc vào tự ngã.” ‘Vị ấy không tạo ra hiện tướng’ là vô tướng giải thoát. Đây là vô tướng giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vô nguyện giải thoát là gì? Ở đây, vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng suy nghiệm rằng: “Điều này là không đối với tự ngã hoặc đối với vật phụ thuộc vào tự ngã.” ‘Vị ấy không ước nguyện điều ấy’ là vô nguyện giải thoát. Đây là vô nguyện giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát có sự ly khai nội phần là gì? Là bốn thiền. Đây là giải thoát có sự ly khai nội phần.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát có sự ly khai ngoại phần là gì? Là bốn sự chứng đạt (thiền) vô sắc. Đây là giải thoát có sự ly khai ngoại phần.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần) là gì? Là bốn Thánh Đạo. Đây là giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bốn giải thoát có sự ly khai nội phần là gì? Sơ thiền thoát ra khỏi các pháp ngăn che, nhị thiền thoát ra khỏi tầm và tứ, tam thiền thoát ra khỏi hỷ, tứ thiền thoát ra khỏi lạc và khổ. Đây là bốn giải thoát có sự ly khai nội phần.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bốn giải thoát có sự ly khai ngoại phần là gì? Sự chứng đạt không vô biên xứ thoát ra khỏi sự nghĩ tưởng về sắc, sự nghĩ tưởng về bất bình, sự nghĩ tưởng về khác biệt; sự chứng đạt thức vô biên xứ thoát ra khỏi sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ; sự chứng đạt vô sở hữu xứ thoát ra khỏi sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ; sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ thoát ra khỏi sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ. Đây là bốn giải thoát có sự ly khai ngoại phần.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bốn giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần) là gì? Đạo Nhập Lưu thoát ra khỏi sự nhận thức sai trái về thân, sự hoài nghi, sự bám víu vào giới và nghi thức, tà kiến ngủ ngầm, hoài nghi ngủ ngầm, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Đạo Nhất Lai thoát ra khỏi sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, ái dục ngủ ngầm, bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Đạo Bất Lai thoát ra khỏi sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Đạo A-la-hán thoát ra khỏi ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ngã mạn ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Đây là bốn giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai nội phần là gì? Tầm tứ hỷ lạc và sự chuyên nhất của tâm nhằm mục đích thành tựu sơ thiền, &#8230;(như trên)&#8230; nhằm mục đích thành tựu nhị thiền, &#8230;(như trên)&#8230; nhằm mục đích thành tựu tam thiền, tầm tứ hỷ lạc và sự chuyên nhất của tâm nhằm mục đích thành tựu tứ thiền. Đây là bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai nội phần.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai ngoại phần là gì? Tầm tứ hỷ lạc và sự chuyên nhất của tâm nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt không vô biên xứ, &#8230;(như trên)&#8230; nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt thức vô biên xứ, &#8230;(như trên)&#8230; nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt vô sở hữu xứ, tầm tứ hỷ lạc và sự chuyên nhất của tâm nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đây là bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai ngoại phần.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai cả hai (nội ngoại phần) là gì? Quán xét về vô thường, quán xét về khổ não, quán xét về vô ngã nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhập Lưu, &#8230;(như trên)&#8230; nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhất Lai, &#8230;(như trên)&#8230; nhằm mục đích thành tựu Đạo Bất Lai, quán xét về vô thường, quán xét về khổ não, quán xét về vô ngã nhằm mục đích thành tựu Đạo A-la-hán. Đây là bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai cả hai (nội ngoại phần).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bốn giải thoát tịnh do sự ly khai nội phần là gì? Sự thành tựu hoặc nghiệp quả của sơ thiền, &#8230;(như trên)&#8230; của nhị thiền, &#8230;(như trên)&#8230; của tam thiền, sự thành tựu hoặc nghiệp quả của tứ thiền. Đây là bốn giải thoát tịnh do sự ly khai nội phần.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bốn giải thoát tịnh do sự giải thoát có sự ly khai ngoại phần là gì? Sự thành tựu hoặc nghiệp quả của sự chứng đạt không vô biên xứ, &#8230;(như trên)&#8230; của sự chứng đạt thức vô biên xứ, &#8230;(như trên)&#8230; của sự chứng đạt vô sở hữu xứ, sự thành tựu hoặc nghiệp quả của sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đây là bốn giải thoát tịnh do sự giải thoát có sự ly khai ngoại phần.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bốn giải thoát tịnh do sự giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần) là gì? Quả Nhập Lưu của Đạo Nhập Lưu, Quả Nhất Lai của Đạo Nhất Lai, Quả Bất Lai của Đạo Bất Lai, Quả A-la-hán của Đạo A-la-hán. Đây là bốn giải thoát tịnh do sự giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> ‘Có sắc, (vị ấy) thấy các sắc’ là giải thoát là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây có người tác ý về hiện tướng màu xanh ở nội phần thuộc bản thân và thành tựu sự nghĩ tưởng về màu xanh. Vị ấy làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, lưu lại hiện tướng đã khéo được lưu lại, nhận định hiện tướng đã khéo được nhận định. Sau khi làm cho hiện tướng ấy đã khéo được nắm giữ, lưu lại hiện tướng đã khéo được lưu lại, nhận định hiện tướng đã khéo được nhận định, vị ấy chuyên chú tâm vào hiện tướng màu xanh ở ngoại phần và thành tựu sự nghĩ tưởng về màu xanh. Vị ấy làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, lưu lại hiện tướng đã khéo được lưu lại, nhận định hiện tướng đã khéo được nhận định. Sau khi đã làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, lưu lại hiện tướng đã khéo được lưu lại, nhận định hiện tướng đã khéo được nhận định, vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn. Vị ấy khởi ý như vầy: “Sắc này thuộc cả hai nội phần và ngoại phần” là có sự nghĩ tưởng về sắc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây có người tác ý về hiện tướng màu vàng &#8230;(nt)&#8230; hiện tướng màu đỏ &#8230;(nt)&#8230; hiện tướng màu trắng ở nội phần thuộc bản thân và thành tựu sự nghĩ tưởng về màu trắng. Vị ấy làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, &#8230;(nt)&#8230; Sau khi làm cho hiện tướng ấy đã khéo được nắm giữ, &#8230;(nt)&#8230; vị ấy chuyên chú tâm vào hiện tướng màu trắng thuộc ngoại phần và thành tựu sự nghĩ tưởng về màu trắng. Vị ấy làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, &#8230;(nt)&#8230; Sau khi đã làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, &#8230;(nt)&#8230; vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn hiện tướng ấy. Vị ấy khởi ý như vầy: “Sắc này thuộc cả hai nội phần và ngoại phần” là có sự nghĩ tưởng về sắc. ‘Có sắc, (vị ấy) thấy các sắc’ là giải thoát là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Có tưởng vô sắc ở nội phần, (hành giả) thấy các sắc thuộc ngoại phần’ là giải thoát là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây có người không tác ý về hiện tướng màu xanh ở nội phần thuộc bản thân và không thành tựu sự nghĩ tưởng về màu xanh. Vị ấy chuyên chú tâm vào hiện tướng màu xanh thuộc ngoại phần và thành tựu sự nghĩ tưởng về màu xanh. Vị ấy làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, &#8230;(nt)&#8230; Sau khi đã làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, &#8230;(nt)&#8230; vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn hiện tướng ấy. Vị ấy khởi ý như vầy: “Vô sắc thuộc nội phần, sắc này thuộc ngoại phần” là có sự nghĩ tưởng về sắc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây có người không tác ý về hiện tướng màu vàng &#8230;(nt)&#8230; hiện tướng màu đỏ &#8230;(nt)&#8230; hiện tướng màu trắng ở nội phần thuộc bản thân và không thành tựu sự nghĩ tưởng về màu trắng. Vị ấy chuyên chú tâm vào hiện tướng màu trắng thuộc ngoại phần và thành tựu sự nghĩ tưởng về màu trắng. Vị ấy làm cho hiện tướng khéo được nắm giữ, &#8230;(nt)&#8230; Sau khi đã làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, &#8230;(nt)&#8230; vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn hiện tướng ấy. Vị ấy khởi ý như vầy: “Vô sắc thuộc nội phần, sắc này thuộc ngoại phần.” ‘Có tưởng vô sắc ở nội phần, (hành giả) thấy các sắc thuộc ngoại phần’ là giải thoát là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> ‘Khuynh hướng thuần về điều tốt đẹp’ là giải thoát là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, vị tỳ khưu lan tỏa một phương với tâm từ ái rồi an trú, như vậy phương thứ nhì, như vậy phương thứ ba, như vậy phương thứ tư. Như thế vị ấy lan tỏa với tâm từ ái, bao la, lớn mạnh, vô lượng, không thù nghịch, không sân độc ở phía trên, ở phía dưới, ở phương ngang, ở khắp các nơi, khắp cả thế gian một cách trọn vẹn rồi an trú. Nhờ trạng thái phát triển của tâm từ ái, chúng sanh không có chống báng nhau. Ở đây, vị tỳ khưu lan tỏa một phương với tâm bi mẫn &#8230;(như trên)&#8230; Nhờ trạng thái phát triển của tâm bi mẫn, chúng sanh không có chống báng nhau. Ở đây, vị tỳ khưu lan tỏa một phương với tâm hỷ &#8230;(như trên)&#8230; Nhờ trạng thái phát triển của tâm hỷ, chúng sanh không có chống báng nhau. Ở đây, vị tỳ khưu lan tỏa một phương với tâm xả rồi an trú, &#8230;(như trên)&#8230; Nhờ trạng thái phát triển của tâm xả, chúng sanh không có chống báng nhau. ‘Khuynh hướng thuần về điều tốt đẹp’ là giải thoát là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự chứng đạt không vô biên xứ là giải thoát gì? Ở đây, do sự hoàn toàn vượt qua các tưởng về sắc, do sự biến mất của các tưởng về bất bình, do không tác ý đến các tưởng về khác biệt một cách trọn vẹn, vị tỳ khưu chứng đạt không vô biên xứ ‘Không gian là không có giới hạn’ rồi an trú. Sự chứng đạt không vô biên xứ là giải thoát này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự chứng đạt thức vô biên xứ là giải thoát gì? Ở đây, sau khi hoàn toàn vượt qua không vô biên xứ một cách trọn vẹn, vị tỳ khưu chứng đạt thức vô biên xứ ‘Thức là không có giới hạn’ rồi an trú. Sự chứng đạt thức vô biên xứ là giải thoát này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự chứng đạt vô sở hữu xứ là giải thoát gì? Ở đây, sau khi hoàn toàn vượt qua thức vô biên xứ một cách trọn vẹn, vị tỳ khưu chứng đạt thức vô biên xứ ‘Không có bất cứ gì’ rồi an trú. Sự chứng đạt vô sở hữu xứ là giải thoát này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ là giải thoát gì? Ở đây, sau khi hoàn toàn vượt qua vô sở hữu xứ một cách trọn vẹn, vị tỳ khưu chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ rồi an trú. Sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ là giải thoát này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự chứng đạt sự diệt tận thọ tưởng là giải thoát gì? Ở đây, sau khi hoàn toàn vượt qua phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách trọn vẹn, vị tỳ khưu chứng đạt sự diệt tận thọ tưởng rồi an trú. Sự chứng đạt diệt tận thọ tưởng là giải thoát này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát có thời hạn là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là giải thoát có thời hạn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát vô thời hạn là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát vô thời hạn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát phụ thuộc thời hạn là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là giải thoát phụ thuộc thời hạn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát không phụ thuộc thời hạn là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát không phụ thuộc thời hạn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát có thể chuyển đổi là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là giải thoát có thể chuyển đổi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát không thể chuyển đổi là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát không thể chuyển đổi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát thuộc thế gian là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là giải thoát thuộc thế gian.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát vượt trên thế gian là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát vượt trên thế gian.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát còn lậu hoặc là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là giải thoát còn lậu hoặc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát không còn lậu hoặc là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát không còn lậu hoặc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát còn hệ lụy vật chất là gì? Giải thoát gắn liền với (đề mục) sắc; đây là giải thoát còn hệ lụy vật chất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát không còn hệ lụy vật chất là gì? Giải thoát gắn liền với (đề mục) vô sắc; đây là giải thoát không còn hệ lụy vật chất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát không còn hệ lụy vật chất và vượt trên không còn hệ lụy vật chất là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát không còn hệ lụy vật chất và vượt trên không còn hệ lụy vật chất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ước nguyện giải thoát là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là ước nguyện giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vô nguyện giải thoát là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là vô nguyện giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">An tịnh ước nguyện giải thoát là gì? Sự thành tựu hoặc nghiệp quả của sơ thiền, &#8230;(như trên)&#8230; Sự thành tựu hoặc nghiệp quả của sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ; đây là an tịnh ước nguyện giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát bị ràng buộc là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là giải thoát bị ràng buộc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát không bị ràng buộc là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát không bị ràng buộc.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát có bản chất giống nhau là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát có bản chất giống nhau.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát có bản chất khác nhau là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là giải thoát có bản chất khác nhau.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát do tưởng là gì? Có thể có 1 giải thoát do tưởng thì (sẽ) có 10 giải thoát do tưởng, có 10 giải thoát do tưởng thì (sẽ) có 1 giải thoát do tưởng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có thể có</b>: Có thể có là thế nào? ‘Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi nghĩ tưởng về thường’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi nghĩ tưởng về lạc’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi nghĩ tưởng về ngã’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về nhàm chán giải thoát khỏi nghĩ tưởng về vui thích’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi nghĩ tưởng về tham ái’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi nghĩ tưởng về nhân sanh khởi’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi nghĩ tưởng về sự nắm giữ’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi nghĩ tưởng về hiện tướng’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi nghĩ tưởng về nguyện ước’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi nghĩ tưởng về cố chấp’ là giải thoát do tưởng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có thể có 1 giải thoát do tưởng thì (sẽ) có 10 giải thoát do tưởng, có 10 giải thoát do tưởng thì (sẽ) có 1 giải thoát do tưởng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trí do sự quán xét về vô thường ở sắc giải thoát khỏi nghĩ tưởng về thường’ là giải thoát do tưởng. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở sắc giải thoát khỏi nghĩ tưởng về cố chấp’ là giải thoát do tưởng. Có thể có một giải thoát do tưởng thì (sẽ) có mười giải thoát do tưởng, có mười giải thoát do tưởng thì (sẽ) có một giải thoát do tưởng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trí do sự quán xét về vô thường ở thọ &#8230; ở tưởng &#8230; ở các hành &#8230; ở thức &#8230; ở mắt &#8230; ở lão tử giải thoát khỏi nghĩ tưởng về thường’ là giải thoát do tưởng. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở lão tử giải thoát khỏi nghĩ tưởng về cố chấp’ là giải thoát do tưởng. Có thể có một giải thoát do tưởng thì (sẽ) có mười giải thoát do tưởng, có mười giải thoát do tưởng thì (sẽ) có một giải thoát do tưởng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế. Đây là giải thoát do tưởng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát do trí là gì? Có thể có một giải thoát do trí thì (sẽ) có mười giải thoát do trí, có mười giải thoát do trí thì (sẽ) có một giải thoát do trí bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có thể có</b>: Có thể có là thế nào? ‘Trí do sự quán xét về vô thường đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về thường’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về khổ não đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về lạc’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về vô ngã đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về ngã’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về nhàm chán đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về vui thích’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về ly tham ái đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về tham ái’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về diệt tận đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về nhân sanh khởi’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về từ bỏ đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về sự nắm giữ’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về vô tướng đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về hiện tướng’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về nguyện ước’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về không tánh đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về cố chấp’ là giải thoát do trí.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có thể có một giải thoát do trí thì (sẽ) có mười giải thoát do trí, có mười giải thoát do trí thì (sẽ) có một giải thoát do trí bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trí do sự quán xét về vô thường ở sắc đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về thường’ là giải thoát do trí. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở sắc đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về cố chấp’ là giải thoát do trí. Có thể có một giải thoát do trí thì (sẽ) có mười giải thoát do trí, có mười giải thoát do trí thì (sẽ) có một giải thoát do trí bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trí do sự quán xét về vô thường ở thọ &#8230; ở tưởng &#8230; ở các hành &#8230; ở thức &#8230; ở mắt &#8230; ở lão tử đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về thường’ là giải thoát do trí. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở lão tử đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về cố chấp’ là giải thoát do trí. Có thể có một giải thoát do trí thì (sẽ) có mười giải thoát do trí, có mười giải thoát do trí thì (sẽ) có một giải thoát do trí bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế. Đây là giải thoát do trí.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát có sự bình lặng là gì? Có thể có một giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có mười giải thoát có sự bình lặng, có mười giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có một giải thoát có sự bình lặng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có thể có</b>: Có thể có là thế nào? ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về vô thường, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về thường’ là giải thoát có sự bình lặng. ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về khổ não, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về lạc’ là giải thoát có sự bình lặng. ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về vô ngã, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về ngã’ là là giải thoát có sự bình lặng ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về nhàm chán, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về vui thích’ là &#8230; ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về ly tham ái, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về tham ái’ là &#8230; ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về diệt tận, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về nhân sanh khởi’ là &#8230; ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về từ bỏ, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về sự nắm giữ’ là &#8230; ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về vô tướng, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về hiện tướng’ là là giải thoát có sự bình lặng ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về vô nguyện, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về nguyện ước’ là là giải thoát có sự bình lặng ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về không tánh, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về cố chấp’ là giải thoát có sự bình lặng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có thể có một giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có mười giải thoát có sự bình lặng, có mười giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có một giải thoát có sự bình lặng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về vô thường ở sắc, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về thường’ là giải thoát có sự bình lặng. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về không tánh ở sắc, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về cố chấp’ là giải thoát có sự bình lặng. Có thể có một giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có mười giải thoát có sự bình lặng, có mười giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có một giải thoát có sự bình lặng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về vô thường ở thọ &#8230; ở tưởng &#8230; ở các hành &#8230; ở thức &#8230; ở mắt &#8230; ở lão tử, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về thường’ là giải thoát có sự bình lặng. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về không tánh ở lão tử, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về cố chấp’ là giải thoát có sự bình lặng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có thể có một giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có 10 giải thoát có sự bình lặng, có 10 giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có một giải thoát có sự bình lặng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế. Đây là giải thoát có sự bình lặng.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát do thiền là gì? ‘Sự thoát ly được nung nấu là thiền, ‘thiêu đốt ước muốn trong các dục’ là thiền, ‘trong khi nung nấu, được giải thoát’ là giải thoát do thiền, ‘trong khi thiêu đốt, được giải thoát’ là giải thoát do thiền, ‘nung nấu’ là các pháp, ‘thiêu đốt’ là các phiền não, ‘biết điều được nung nấu và điều được thiêu đốt’ là giải thoát do thiền. ‘Sự không sân độc được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt sân độc’ là thiền ‘trong khi nung nấu, được giải thoát’ là giải thoát do thiền, ‘trong khi thiêu đốt, được giải thoát’ là giải thoát do thiền. ‘nung nấu’ là các pháp, ‘thiêu đốt’ là các phiền não, ‘biết điều được nung nấu và điều được thiêu đốt’ là giải thoát do thiền. ‘Sự nghĩ tưởng về ánh sáng được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt sự lờ đờ buồn ngủ’ là thiền &#8230;(nt)&#8230; ‘Sự không tản mạn được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt phóng dật’ là thiền &#8230;(nt)&#8230; ‘Sự xác định pháp được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt hoài nghi’ là thiền &#8230;(nt)&#8230; ‘Trí được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt vô minh’ là thiền &#8230;(nt)&#8230; ‘Sự hân hoan được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt sự không hứng thú’ là thiền &#8230;(nt)&#8230; ‘Sơ thiền được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt các pháp ngăn che’ là thiền &#8230;(nt)&#8230; ‘Đạo A-la-hán được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt toàn bộ phiền não’ là thiền, ‘trong khi nung nấu, được giải thoát’ là giải thoát do thiền, ‘trong khi thiêu đốt, được giải thoát’ là giải thoát do thiền. ‘nung nấu’ là các pháp, ‘thiêu đốt’ là các phiền não, ‘biết điều được nung nấu và điều được thiêu đốt’ là giải thoát do thiền. Đây là giải thoát do thiền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát của tâm không chấp thủ là gì? Có thể có một giải thoát của tâm không chấp thủ thì (sẽ) có mười giải thoát của tâm không chấp thủ, có mười giải thoát của tâm không chấp thủ thì (sẽ) có một giải thoát của tâm không chấp thủ bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có thể có</b>: Có thể có là thế nào? ‘Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi chấp thủ về thường’ là giải thoát của tâm không chấp thủ. ‘Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi chấp thủ về lạc’ là giải thoát của tâm không chấp thủ. ‘Trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi chấp thủ về ngã’ là giải thoát của tâm không chấp thủ ‘Trí do sự quán xét về nhàm chán giải thoát khỏi chấp thủ về vui thích’ là &#8230; ‘Trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi chấp thủ về tham ái’ là &#8230; ‘Trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi chấp thủ về nhân sanh khởi’ là &#8230; ‘Trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi chấp thủ về sự nắm giữ’ là &#8230; ‘Trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi chấp thủ về hiện tướng’ là &#8230; ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi chấp thủ về nguyện ước’ là giải thoát của tâm không chấp thủ ‘Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi chấp thủ về cố chấp’ là giải thoát của tâm không chấp thủ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có thể có một giải thoát của tâm không chấp thủ thì (sẽ) có mười giải thoát của tâm không chấp thủ, có mười giải thoát của tâm không chấp thủ thì (sẽ) có một giải thoát của tâm không chấp thủ bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trí do sự quán xét về vô thường ở sắc giải thoát khỏi chấp thủ về thường’ là giải thoát của tâm không chấp thủ. &#8230;(như trên)&#8230; ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở sắc giải thoát khỏi chấp thủ về cố chấp’ là giải thoát của tâm không chấp thủ. Có thể có một giải thoát của tâm không chấp thủ thì (sẽ) có mười giải thoát của tâm không chấp thủ, có mười giải thoát của tâm không chấp thủ thì (sẽ) có một giải thoát của tâm không chấp thủ bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trí do sự quán xét về không tánh ở thọ &#8230; ở tưởng &#8230; ở các hành &#8230; ở thức &#8230; ở mắt &#8230; ở lão tử giải thoát khỏi chấp thủ về cố chấp’ là giải thoát của tâm không chấp thủ. Có thể có một &#8230; thì (sẽ) có mười &#8230;, có mười &#8230; thì (sẽ) có 1 giải thoát của tâm không chấp thủ bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi bao nhiêu chấp thủ? Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi bao nhiêu chấp thủ? Trí do sự quán xét về vô ngã &#8230;? Trí do sự quán xét về nhàm chán &#8230;? Trí do sự quán xét về ly tham ái &#8230;? Trí do sự quán xét về diệt tận &#8230;? Trí do sự quán xét về từ bỏ &#8230;? Trí do sự quán xét về vô tướng &#8230;? Trí do sự quán xét về vô nguyện &#8230;? Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi bao nhiêu chấp thủ?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi ba chấp thủ. Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi một chấp thủ. Trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi ba chấp thủ. Trí do sự quán xét về nhàm chán giải thoát khỏi một chấp thủ. Trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi một chấp thủ. Trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi bốn chấp thủ. Trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi bốn chấp thủ. Trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi ba chấp thủ. Trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi một chấp thủ. Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi ba chấp thủ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi ba chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (tà) kiến, khỏi sự chấp thủ vào giới và nghi thức, khỏi sự chấp thủ về ngã luận thuyết; trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi ba chấp thủ này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi một chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (ngũ) dục; trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi một chấp thủ này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi ba chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (tà) kiến, khỏi sự chấp thủ vào giới và nghi thức, khỏi sự chấp thủ về ngã luận thuyết; trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi ba chấp thủ này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí do sự quán xét về nhàm chán giải thoát khỏi một chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (ngũ) dục; trí do sự quán xét về nhàm chán giải thoát khỏi một chấp thủ này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi một chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (ngũ) dục; trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi một chấp thủ này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi bốn chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (ngũ) dục, khỏi sự chấp thủ về (tà) kiến, khỏi sự chấp thủ vào giới và nghi thức, khỏi sự chấp thủ về ngã luận thuyết; trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi bốn chấp thủ này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi bốn chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (ngũ) dục, khỏi sự chấp thủ về (tà) kiến, khỏi sự chấp thủ vào giới và nghi thức, khỏi sự chấp thủ về ngã luận thuyết; trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi bốn chấp thủ này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi ba chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (ngũ) dục, khỏi sự chấp thủ vào giới và nghi thức, khỏi sự chấp thủ về ngã luận thuyết; trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi ba chấp thủ này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi một chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (ngũ) dục; trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi một chấp thủ này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi ba chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (tà) kiến, khỏi sự chấp thủ vào giới và nghi thức, khỏi sự chấp thủ về ngã luận thuyết; trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi ba chấp thủ này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí do sự quán xét về vô thường, trí do sự quán xét về vô ngã, trí do sự quán xét về vô tướng, trí do sự quán xét về không tánh, bốn trí này giải thoát khỏi ba chấp thủ là sự chấp thủ về (tà) kiến, sự chấp thủ vào giới và nghi thức, sự chấp thủ về ngã luận thuyết. Trí do sự quán xét về khổ não, trí do sự quán xét về nhàm chán, trí do sự quán xét về ly tham ái, trí do sự quán xét về vô nguyện, bốn trí này giải thoát khỏi một chấp thủ là sự chấp thủ về (ngũ) dục. Trí do sự quán xét về diệt tận, trí do sự quán xét về từ bỏ, hai trí này giải thoát khỏi bốn chấp thủ là sự chấp thủ về (ngũ) dục, sự chấp thủ về (tà) kiến, sự chấp thủ vào giới và nghi thức, sự chấp thủ về ngã luận thuyết. Đây là sự giải thoát của tâm không chấp thủ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giảng về Giải Thoát là tụng phẩm thứ nhất.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hơn nữa, đây là ba cánh cửa giải thoát dẫn đến lối ra khỏi thế giới. Do tính chất quán xét của vị đang phân định giới hạn các hành và do tính chất tiến vào của tâm ở trong bản thể vô tướng, do sự giao động của ý ở các hành và do tính chất tiến vào của tâm trong bản thể vô nguyện, do tính chất quán xét tất cả các pháp là sai khác và do tính chất tiến vào của tâm ở trong bản thể không tánh; đây là ba cánh cửa giải thoát dẫn đến lối ra khỏi thế giới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, các hành hiện diện như thế nào? Đối với vị đang tác ý khổ não, các hành hiện diện như thế nào? Đối với vị đang tác ý vô ngã, các hành hiện diện như thế nào? Đối với vị đang tác ý vô thường, các hành hiện diện như là sự đoạn tận. Đối với vị đang tác ý khổ não, các hành hiện diện như là sự kinh hãi. Đối với vị đang tác ý vô ngã, các hành hiện diện như là không.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, tâm được dồi dào về điều gì? Đối với vị đang tác ý khổ não, tâm được dồi dào về điều gì? Đối với vị đang tác ý vô ngã, tâm được dồi dào về điều gì? Đối với vị đang tác ý vô thường, tâm được dồi dào về cương quyết. Đối với vị đang tác ý khổ não, tâm được dồi dào về tịnh. Đối với vị đang tác ý vô ngã, tâm được dồi dào về hiểu biết.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi tác ý vô thường, vị dồi dào về cương quyết thành đạt quyền gì? Trong khi tác ý khổ não, vị dồi dào về tịnh thành đạt quyền gì? Trong khi tác ý vô ngã, vị dồi dào về hiểu biết thành đạt quyền gì? Trong khi tác ý vô thường, vị dồi dào về cương quyết thành đạt tín quyền. Trong khi tác ý khổ não, vị dồi dào về tịnh thành đạt định quyền. Trong khi tác ý vô ngã, vị dồi dào về hiểu biết thành đạt tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, quyền nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Ai tu tập?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, quyền nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Ai tu tập?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, quyền nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Ai tu tập?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, tín quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Vị nào thực hành đúng đắn, vị ấy tu tập; không có sự tu tập quyền ở người thực hành sai trái.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, định quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Vị nào thực hành đúng đắn, vị ấy tu tập; không có sự tu tập quyền ở người thực hành sai trái.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, tuệ quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Vị nào thực hành đúng đắn, vị ấy tu tập; không có sự tu tập quyền ở người thực hành sai trái.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, quyền nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên? Vào thời điểm thấu triệt, quyền nào là chủ đạo? Trong sự thấu triệt, bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Sự thấu triệt theo ý nghĩa gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, quyền nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên? Vào thời điểm thấu triệt, quyền nào là chủ đạo? Trong sự thấu triệt, bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Sự thấu triệt theo ý nghĩa gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, quyền nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên? Vào thời điểm thấu triệt, quyền nào là chủ đạo? Trong sự thấu triệt, bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Sự thấu triệt theo ý nghĩa gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, tín quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào thời điểm thấu triệt, tuệ quyền là chủ đạo. Trong sự thấu triệt, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Sự thấu triệt theo ý nghĩa nhận thức. Như vậy, ngay trong khi đang thấu triệt, (hành giả) tu tập; ngay trong khi đang tu tập, (hành giả) thấu triệt.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, định quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào thời điểm thấu triệt, tuệ quyền là chủ đạo. Trong sự thấu triệt, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Sự thấu triệt theo ý nghĩa nhận thức. Như vậy, ngay trong khi đang thấu triệt, (hành giả) tu tập; ngay trong khi đang tu tập, (hành giả) thấu triệt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, tuệ quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào thời điểm thấu triệt, tuệ quyền là chủ đạo. Trong sự thấu triệt, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Sự thấu triệt theo ý nghĩa nhận thức. Như vậy, ngay trong khi đang thấu triệt, (hành giả) tu tập; ngay trong khi đang tu tập, (hành giả) thấu triệt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, quyền nào là nổi bật? Do trạng thái nổi bật của quyền nào, là được giải thoát do đức tin? Đối với vị đang tác ý khổ não, quyền nào là nổi bật? Do trạng thái nổi bật của quyền nào, là có thân chứng? Đối với vị đang tác ý vô ngã, quyền nào là nổi bật? Do trạng thái nổi bật của quyền nào, là đạt được do kiến?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, tín quyền là nổi bật; do trạng thái nổi bật của tín quyền, là được giải thoát do đức tin. Đối với vị đang tác ý khổ não, định quyền là nổi bật; do trạng thái nổi bật của định quyền, là có thân chứng. Đối với vị đang tác ý vô ngã, tuệ quyền là nổi bật; do trạng thái nổi bật của tuệ quyền, là đạt được do kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trong khi có đức tin, được giải thoát’ là được giải thoát do đức tin. ‘Do trạng thái chạm đến, được tác chứng’ là có thân chứng. ‘Do trạng thái đã được thấy, đã đạt được’ là đạt được do kiến. ‘Trong khi có đức tin, được giải thoát’ là được giải thoát do đức tin. ‘Trước tiên xúc chạm với sự xúc chạm của thiền, sau đó tác chứng sự tịch diệt Niết Bàn’ là có thân chứng. ‘ ‘Các hành là khổ, tịch diệt là lạc’ là điều đã được biết, được hiểu, được tác chứng, được chạm đến bởi tuệ’ là đạt được do kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là người được giải thoát do đức tin, là người có thân chứng, và là người đạt được do kiến, có thể ba người này vừa được giải thoát do đức tin, vừa có thân chứng, vừa đạt được do kiến bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có thể có</b>: Có thể có là thế nào? Đối với vị đang tác ý vô thường có tín quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tín quyền là được giải thoát do đức tin; đối với vị đang tác ý khổ não có tín quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tín quyền là được giải thoát do đức tin; đối với vị đang tác ý vô ngã có tín quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tín quyền là được giải thoát do đức tin. Như vậy, ba người này được giải thoát do đức tin nhờ vào tác động của tín quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý khổ não có định quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của định quyền là có thân chứng; đối với vị đang tác ý vô ngã có định quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của định quyền là có thân chứng; đối với vị đang tác ý vô thường có định quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của định quyền là có thân chứng. Như vậy, ba người này là có thân chứng nhờ vào tác động của định quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô ngã có tuệ quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tuệ quyền là đạt được do kiến; đối với vị đang tác ý vô thường có tuệ quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tuệ quyền là đạt được do kiến; đối với vị đang tác ý khổ não có tuệ quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tuệ quyền là đạt được do kiến. Như vậy, ba người này là đạt được do kiến nhờ vào tác động của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là người được giải thoát do đức tin, là người có thân chứng, và là người đạt được do kiến, có thể ba người này vừa được giải thoát do đức tin, vừa có thân chứng, vừa đạt được do kiến bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là người được giải thoát do đức tin, là người có thân chứng, và là người đạt được do kiến, có thể ba người này một người được giải thoát do đức tin, người khác có thân chứng, và người khác nữa đạt được do kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có thể có</b>: Có thể có là thế nào? Đối với vị đang tác ý vô thường có tín quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tín quyền là được giải thoát do đức tin; đối với vị đang tác ý khổ não có định quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của định quyền là có thân chứng; đối với vị đang tác ý vô ngã có tuệ quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tuệ quyền là được giải thoát do kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và đây là người được giải thoát do đức tin, là người có thân chứng, và là người đạt được do kiến. Có thể ba người này, một người được giải thoát do đức tin, người khác có thân chứng, và người khác nữa đạt được do kiến là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường có tín quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tín quyền (vị ấy) thành đạt Đạo Nhập Lưu; vì thế được nói rằng: “<i>Vị tùy tín hành</i>.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Nhờ vào tác động của tín quyền, có sự tu tập của bốn quyền. Chính các vị nào thành đạt Đạo Nhập Lưu nhờ vào tác động của tín quyền, tất cả các vị ấy là các vị tùy tín hành.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường có tín quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tín quyền Quả Nhập Lưu được tác chứng; vì thế được nói rằng: “<i>Được giải thoát do đức tin</i>.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Nhờ vào tác động của tín quyền, bốn quyền là được tu tập, là được tu tập tốt đẹp. Chính các vị nào tác chứng Quả Nhập Lưu nhờ vào tác động của tín quyền, tất cả các vị ấy là các vị được giải thoát do đức tin.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường có tín quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tín quyền (vị ấy) thành đạt Đạo Nhất Lai; &#8230;(như trên)&#8230; Quả Nhất Lai được tác chứng; &#8230;(như trên)&#8230; thành đạt Đạo Bất Lai; &#8230;(như trên)&#8230; Quả Bất Lai được tác chứng; &#8230;(như trên)&#8230; thành đạt Đạo A-la-hán; &#8230;(như trên)&#8230; Quả A-la-hán được tác chứng; vì thế được nói rằng: “<i>Được giải thoát do đức tin</i>.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, &#8230;(như trên)&#8230;, là các tương ưng duyên. Chính các vị nào tác chứng phẩm vị A-la-hán nhờ vào tác động của tín quyền, tất cả các vị ấy là các vị được giải thoát do đức tin.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý khổ não có định quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của định quyền (vị ấy) thành đạt Đạo Nhập Lưu; vì thế được nói rằng: “<i>Vị có thân chứng</i>.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Nhờ vào tác động của định quyền, có sự tu tập của bốn quyền. Chính các vị nào thành đạt Đạo Nhập Lưu nhờ vào tác động của định quyền, tất cả các vị ấy là các vị có thân chứng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý khổ não có định quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của định quyền Quả Nhập Lưu được tác chứng; &#8230;(như trên)&#8230; thành đạt Đạo Nhất Lai; &#8230;(như trên)&#8230; Quả Nhất Lai được tác chứng; &#8230;(như trên)&#8230; thành đạt Đạo Bất Lai; &#8230;(như trên)&#8230; Quả Bất Lai được tác chứng; &#8230;(như trên)&#8230; thành đạt Đạo A-la-hán; &#8230;(như trên)&#8230; Quả A-la-hán được tác chứng; vì thế được nói rằng: “<i>Vị có thân chứng</i>.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Nhờ vào tác động của định quyền, bốn quyền là được tu tập, là được tu tập tốt đẹp. Chính các vị nào tác chứng phẩm vị A-la-hán nhờ vào tác động của định quyền, tất cả các vị ấy là các vị có thân chứng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô ngã có tuệ quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tuệ quyền (vị ấy) thành đạt Đạo Nhập Lưu; vì thế được nói rằng: “<i>Vị tùy Pháp hành</i>.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Nhờ vào tác động của tuệ quyền, có sự tu tập của bốn quyền. Chính các vị nào thành đạt Đạo Nhập Lưu nhờ vào tác động của tuệ quyền, tất cả các vị ấy là các vị tùy Pháp hành.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô ngã có tuệ quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tuệ quyền Quả Nhập Lưu được tác chứng; vì thế được nói rằng: “<i>Vị đạt được do kiến</i>.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Nhờ vào tác động của tuệ quyền, bốn quyền là được tu tập, là được tu tập tốt đẹp. Chính các vị nào tác chứng Quả Nhập Lưu nhờ vào tác động của tuệ quyền, tất cả các vị ấy là các vị đạt được do kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô ngã có tuệ quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tuệ quyền (vị ấy) thành đạt Đạo Nhất Lai; &#8230;(nt)&#8230; Quả Nhất Lai được tác chứng; &#8230;(nt)&#8230; thành đạt Đạo Bất Lai; &#8230;(nt)&#8230; Quả Bất Lai được tác chứng; &#8230;(nt)&#8230; thành đạt Đạo A-la-hán; &#8230;(nt)&#8230; Quả A-la-hán được tác chứng; vì thế được nói rằng: “<i>Vị tùy Pháp hành</i>.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Nhờ vào tác động của tuệ quyền, bốn quyền là được tu tập, là được tu tập tốt đẹp. Chính các vị nào tác chứng phẩm vị A-la-hán nhờ vào tác động của tuệ quyền, tất cả các vị ấy là các vị đạt được do kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chính các vị nào đã tu tập, đang tu tập, hoặc sẽ tu tập, đã đắc chứng, đang đắc chứng, hoặc sẽ đắc chứng, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được, đã thành đạt, đang thành đạt, hoặc sẽ thành đạt, đã thấu triệt, đang thấu triệt, hoặc sẽ thấu triệt, đã tác chứng, đang tác chứng, hoặc sẽ tác chứng, đã chạm đến, đang chạm đến, hoặc sẽ chạm đến, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được ưu thế, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được sự toàn hảo, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được sự tự tín về thoát ly, tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chính các vị nào đã tu tập, &#8230;(nt)&#8230; sẽ đạt được sự tự tín về không sân độc &#8230; về sự nghĩ tưởng đến ánh sáng &#8230; về không tản mạn &#8230; về sự xác định pháp &#8230; về trí &#8230; về sự hân hoan &#8230; về sơ thiền &#8230; về nhị thiền &#8230; về tam thiền &#8230; về tứ thiền &#8230; về sự chứng đạt không vô biên xứ &#8230; về sự chứng đạt thức vô biên xứ &#8230; về sự chứng đạt vô sở hữu xứ &#8230; về sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ &#8230; về sự quán xét vô thường &#8230; về sự quán xét khổ não &#8230; về sự quán xét vô ngã &#8230; về sự quán xét về nhàm chán &#8230; về sự quán xét về ly tham ái &#8230; về sự quán xét về diệt tận &#8230; về sự quán xét về từ bỏ &#8230; về sự quán xét về đoạn tận &#8230; về sự quán xét về biến hoại &#8230; về sự quán xét về chuyển biến &#8230; về sự quán xét vô tướng &#8230; về sự quán xét vô nguyện &#8230; về sự quán xét không tánh &#8230; về sự minh sát các pháp bằng thắng tuệ &#8230; về sự biết và thấy đúng theo thực thể &#8230; về sự quán xét về tai hại &#8230; về sự quán xét về phân biệt rõ &#8230; về sự quán xét về ly khai &#8230; về Đạo Nhập Lưu &#8230; về Đạo Nhất Lai &#8230; về Đạo Bất Lai &#8230; về Đạo A-la-hán &#8230; về bốn sự thiết lập niệm &#8230; về bốn Chánh Cần &#8230; về bốn nền tảng của thần thông &#8230; về năm Quyền &#8230; về bảy Giác Chi &#8230; về Thánh Đạo tám chi phần &#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chính các vị nào đã tu tập, đang tu tập, hoặc sẽ tu tập, đã đắc chứng, đang đắc chứng, hoặc sẽ đắc chứng, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được, đã thành đạt, đang thành đạt, hoặc sẽ thành đạt, đã thấu triệt, đang thấu triệt, hoặc sẽ thấu triệt, đã tác chứng, đang tác chứng, hoặc sẽ tác chứng, đã chạm đến, đang chạm đến, hoặc sẽ chạm đến, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được ưu thế, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được sự toàn hảo, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được sự tự tín về tám giải thoát, tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chính các vị nào đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được bốn phân tích &#8230;(như trên)&#8230; tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chính các vị nào đã thấu triệt, đang thấu triệt, hoặc sẽ thấu triệt &#8230;(nt)&#8230; về ba minh, tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chính các vị nào đã học tập, đang học tập, hoặc sẽ học tập, đã tác chứng, đang tác chứng, hoặc sẽ tác chứng, đã chạm đến, đang chạm đến, hoặc sẽ chạm đến, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được ưu thế, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được sự toàn hảo, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được sự tự tín về ba sự học tập, tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chính các vị nào biết toàn diện về Khổ, &#8230;(nt)&#8230; từ bỏ nhân sanh (Khổ), &#8230;(nt)&#8230; tác chứng sự diệt tận (Khổ), &#8230;(nt)&#8230; tu tập về Đạo, tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự thấu triệt chân lý là với bao nhiêu biểu hiện? Hành giả thấu triệt các chân lý với bao nhiêu biểu hiện? Sự thấu triệt chân lý là với bốn biểu hiện, hành giả thấu triệt các chân lý với bốn biểu hiện: Thấu triệt chân lý về Khổ với sự thấu triệt của sự biết toàn diện, thấu triệt chân lý về nhân sanh (Khổ) với sự thấu triệt của sự dứt bỏ, thấu triệt chân lý về sự diệt tận (Khổ) với sự thấu triệt của sự tác chứng, thấu triệt chân lý về Đạo với sự thấu triệt của sự tu tập. Sự thấu triệt chân lý là với bốn biểu hiện này, trong khi thấu triệt bốn chân lý với bốn biểu hiện này, (hành giả) được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự thấu triệt chân lý là với bao nhiêu biểu hiện? Hành giả thấu triệt các chân lý với bao nhiêu biểu hiện? Sự thấu triệt chân lý là với chín biểu hiện, hành giả thấu triệt các chân lý với chín biểu hiện: Thấu triệt chân lý về Khổ với sự thấu triệt của sự biết toàn diện, thấu triệt chân lý về nhân sanh (Khổ) với sự thấu triệt của sự dứt bỏ, thấu triệt chân lý về sự diệt tận (Khổ) với sự thấu triệt của sự tác chứng, thấu triệt chân lý về Đạo với sự thấu triệt của sự tu tập. Và có sự thấu triệt bằng thắng trí đối với tất cả các pháp, có sự thấu triệt do biết toàn diện đối với tất cả các hành, có sự thấu triệt do từ bỏ đối với tất cả bất thiện, có sự thấu triệt do tu tập đối với bốn Đạo, và có sự thấu triệt do tác chứng đối với sự diệt tận. Sự thấu triệt chân lý là với chín biểu hiện này, trong khi thấu triệt bốn chân lý với chín biểu hiện này, (hành giả) được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tụng Phẩm thứ nhì.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, các hành hiện diện như thế nào? Đối với vị đang tác ý khổ não, các hành hiện diện như thế nào? Đối với vị đang tác ý vô ngã, các hành hiện diện như thế nào? (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, các hành hiện diện như là sự đoạn tận; đối với vị đang tác ý khổ não, các hành hiện diện như là sự kinh hãi; đối với vị đang tác ý vô ngã, các hành hiện diện như là không. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, tâm được dồi dào về điều gì? Đối với vị đang tác ý khổ não, tâm được dồi dào về điều gì? Đối với vị đang tác ý vô ngã, tâm được dồi dào về điều gì? (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, tâm được dồi dào về cương quyết; đối với vị đang tác ý khổ não, tâm được dồi dào về tịnh; đối với vị đang tác ý vô ngã, tâm được dồi dào về hiểu biết. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi tác ý vô thường, vị dồi dào về cương quyết thành đạt giải thoát gì? Trong khi tác ý khổ não, vị dồi dào về tịnh thành đạt giải thoát gì? Trong khi tác ý vô ngã, vị có sự hiểu biết dồi dào thành đạt giải thoát gì? (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi tác ý vô thường, vị dồi dào về cương quyết thành đạt vô tướng giải thoát. Trong khi tác ý khổ não, vị dồi dào về tịnh thành đạt vô nguyện giải thoát. Trong khi tác ý vô ngã, vị có sự hiểu biết dồi dào thành đạt không tánh giải thoát. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Ai tu tập? (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Ai tu tập? (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Ai tu tập? (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, vô tướng giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tập, có hai giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Vị nào thực hành đúng đắn, vị ấy tu tập; không có sự tu tập giải thoát ở người thực hành sai trái. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, vô nguyện giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tập, có hai giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Vị nào thực hành đúng đắn, vị ấy tu tập; không có sự tu tập giải thoát ở người thực hành sai trái. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, không tánh giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tập, có hai giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Vị nào thực hành đúng đắn, vị ấy tu tập; không có sự tu tập giải thoát ở người thực hành sai trái. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên? Vào thời điểm thấu triệt, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự thấu triệt, bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Sự thấu triệt theo ý nghĩa gì? (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên? Vào thời điểm thấu triệt, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự thấu triệt, bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Sự thấu triệt theo ý nghĩa gì? (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên? Vào thời điểm thấu triệt, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự thấu triệt, bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Sự thấu triệt theo ý nghĩa gì? (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, vô tướng giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tập, có hai quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào thời điểm thấu triệt, vô tướng giải thoát là chủ đạo. Trong sự thấu triệt, có hai giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Sự thấu triệt theo ý nghĩa nhận thức. Như vậy, ngay trong khi đang thấu triệt, (hành giả) tu tập; ngay trong khi đang tu tập, (hành giả) thấu triệt. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, vô nguyện giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tập, có hai giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào thời điểm thấu triệt, vô nguyện giải thoát là chủ đạo. Trong sự thấu triệt, có hai giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Sự thấu triệt theo ý nghĩa nhận thức. Như vậy, ngay trong khi đang thấu triệt, (hành giả) tu tập; ngay trong khi đang tu tập, (hành giả) thấu triệt. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, không tánh giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tập, có hai quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào thời điểm thấu triệt, không tánh giải thoát là chủ đạo. Trong sự thấu triệt, có hai quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Sự thấu triệt theo ý nghĩa nhận thức. Như vậy, ngay trong khi đang thấu triệt, (hành giả) tu tập; ngay trong khi đang tu tập, (hành giả) thấu triệt. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, giải thoát nào là nổi bật? Do trạng thái nổi bật của giải thoát nào là được giải thoát do đức tin? Đối với vị đang tác ý khổ não, giải thoát nào là nổi bật? Do trạng thái nổi bật của giải thoát nào là có thân chứng? Đối với vị đang tác ý vô ngã, giải thoát nào là nổi bật? Do trạng thái nổi bật của giải thoát nào là đạt được do kiến? (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, vô tướng giải thoát là nổi bật, do trạng thái nổi bật của vô tướng giải thoát là được giải thoát do đức tin; đối với vị đang tác ý khổ não, vô nguyện giải thoát là nổi bật, do trạng thái nổi bật của vô nguyện giải thoát là có thân chứng; đối với vị đang tác ý vô ngã, không tánh giải thoát là nổi bật, do trạng thái nổi bật của không tánh giải thoát là đạt được do kiến. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trong khi có đức tin, (hành giả) giải thoát’ là được giải thoát do đức tin. ‘Do trạng thái đã chạm đến, (hành giả) tác chứng’ là có thân chứng. ‘Do trạng thái đã được thấy, (hành giả) đạt được’ là đạt được do kiến. ‘Trong khi có đức tin, (hành giả) giải thoát’ là được giải thoát do đức tin. ‘(Hành giả) xúc chạm với sự xúc chạm của thiền trước, sau đó tác chứng sự tịch diệt Niết Bàn’ là có thân chứng. “ ‘Các hành là khổ, tịch diệt là lạc’ là điều đã được biết, được hiểu, được tác chứng, được chạm đến bởi tuệ” là đạt được do kiến. &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chính các vị nào đã tu tập, đang tu tập, hoặc sẽ tu tập, &#8230;(như trên)&#8230; tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát, là có thân chứng nhờ vào năng lực của vô nguyện giải thoát, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của không tánh giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chính các vị nào đã tu tập, &#8230;(nt)&#8230; về sự không sân độc &#8230;(nt)&#8230; về sự nghĩ tưởng đến ánh sáng &#8230;(nt)&#8230; về sự không tản mạn &#8230;(nt)&#8230; Chính các vị nào biết toàn diện về Khổ, &#8230; từ bỏ nhân sanh (Khổ), &#8230; tác chứng sự diệt tận (Khổ), &#8230; tu tập về Đạo, tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát, là có thân chứng nhờ vào năng lực của vô nguyện giải thoát, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của không tánh giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự thấu triệt chân lý là với bao nhiêu biểu hiện? Hành giả thấu triệt các chân lý với bao nhiêu biểu hiện? Sự thấu triệt chân lý là với bốn biểu hiện, hành giả thấu triệt các chân lý với bốn biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Hành giả) thấu triệt chân lý về Khổ với sự thấu triệt của sự biết toàn diện, thấu triệt chân lý về nhân sanh (Khổ) với sự thấu triệt của sự dứt bỏ, thấu triệt chân lý về sự diệt tận (Khổ) với sự thấu triệt của sự tác chứng, thấu triệt chân lý về Đạo với sự thấu triệt của sự tu tập. Sự thấu triệt chân lý là với bốn biểu hiện này, trong khi thấu triệt bốn chân lý với bốn biểu hiện này, (hành giả) được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát, là có thân chứng nhờ vào năng lực của vô nguyện giải thoát, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của không tánh giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự thấu triệt chân lý là với bao nhiêu biểu hiện? Hành giả thấu triệt các chân lý với bao nhiêu biểu hiện? Sự thấu triệt chân lý là với chín biểu hiện. Hành giả thấu triệt các chân lý với chín biểu hiện: Thấu triệt chân lý về Khổ với sự thấu triệt của sự biết toàn diện, &#8230;(nt)&#8230; Và có sự thấu triệt bằng thắng trí đối với tất cả các pháp, &#8230;(nt)&#8230; và có sự thấu triệt do tác chứng đối với sự diệt tận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự thấu triệt chân lý là với chín biểu hiện này, trong khi thấu triệt bốn chân lý với chín biểu hiện này, (hành giả) được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát, là có thân chứng nhờ vào năng lực của vô nguyện giải thoát, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của không tánh giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi tác ý vô thường, (hành giả) biết, thấy đúng theo thực thể các pháp nào? Sự thấy đúng đắn là (có ý nghĩa) thế nào? Do tiếp nối việc ấy, các hành được thấy rõ là vô thường là (có ý nghĩa) thế nào? Hoài nghi được dứt bỏ ở đâu? (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi tác ý khổ não, (hành giả) biết, thấy đúng theo thực thể các pháp nào? Sự thấy đúng đắn là (có ý nghĩa) thế nào? Do tiếp nối việc ấy, các hành được thấy rõ là khổ não là (có ý nghĩa) thế nào? Hoài nghi được dứt bỏ ở đâu? (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi tác ý vô ngã, (hành giả) biết, thấy đúng theo thực thể các pháp nào? Sự thấy đúng đắn là (có ý nghĩa) thế nào? Do tiếp nối việc ấy, các hành được thấy rõ là vô ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Hoài nghi được dứt bỏ ở đâu? (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi tác ý vô thường, (hành giả) nhận biết, nhận thấy đúng theo thực thể về hiện tướng; vì thế được gọi là sự thấy đúng đắn. Như vậy, do tiếp nối việc ấy, các hành được thấy rõ là vô thường. Hoài nghi được dứt bỏ ở đây. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi tác ý khổ não, (hành giả) biết, thấy đúng theo thực thể về sự vận hành; vì thế được gọi là sự thấy đúng đắn. Như vậy, do tiếp nối việc ấy, các hành được thấy rõ là khổ não. Hoài nghi được dứt bỏ ở đây. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi tác ý vô ngã, (hành giả) biết, thấy đúng theo thực thể về hiện tướng và sự vận hành; vì thế được gọi là sự thấy đúng đắn. Như vậy, do tiếp nối việc ấy, tất cả các pháp được thấy rõ là vô ngã. Hoài nghi được dứt bỏ ở đây. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trí đúng theo thực thể, sự thấy đúng đắn, sự vượt qua hoài nghi, các pháp này là có ý nghĩa khác biệt và văn tự khác biệt? Hay là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác? Trí đúng theo thực thể, sự thấy đúng đắn, sự vượt qua hoài nghi, các pháp này là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, điều gì hiện diện là kinh hãi? Đối với vị đang tác ý khổ não, điều gì hiện diện là kinh hãi? Đối với vị đang tác ý vô ngã, điều gì hiện diện là kinh hãi?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, hiện tướng hiện diện là kinh hãi? Đối với vị đang tác ý khổ não, sự vận hành hiện diện là kinh hãi? Đối với vị đang tác ý vô ngã, hiện tướng và sự vận hành hiện diện là kinh hãi.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ liên quan đến sự hiện diện của kinh hãi, trí liên quan đến điều tai hại, và sự nhàm chán, các pháp này là có ý nghĩa khác biệt và văn tự khác biệt? Hay là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác? Tuệ liên quan đến sự hiện diện của kinh hãi, trí liên quan đến điều tai hại, và sự nhàm chán, các pháp này là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Quán xét về vô ngã và quán xét về không tánh, các pháp này là có ý nghĩa khác biệt và văn tự khác biệt? Hay là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác? Quán xét về vô ngã và quán xét về không tánh, các pháp này là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, do sự phân biệt rõ điều gì khiến trí được sanh lên? Đối với vị đang tác ý khổ não, do sự phân biệt rõ điều gì khiến trí được sanh lên? Đối với vị đang tác ý vô ngã, do sự phân biệt rõ điều gì khiến trí được sanh lên?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, do sự phân biệt rõ hiện tướng khiến trí được sanh lên; đối với vị đang tác ý khổ não, do sự phân biệt rõ sự vận hành khiến trí được sanh lên; đối với vị đang tác ý vô ngã, do sự phân biệt rõ hiện tướng và sự vận hành khiến trí được sanh lên. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự mong muốn giải thoát, sự quán xét do phân biệt rõ, và trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, các pháp này là có ý nghĩa khác biệt và văn tự khác biệt? Hay là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác? Sự mong muốn giải thoát, sự quán xét do phân biệt rõ, và trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, các pháp này là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, tâm thoát ra khỏi nơi nào? tâm tiến vào nơi nào? Đối với vị đang tác ý khổ não, tâm thoát ra khỏi nơi nào? tâm tiến vào nơi nào? Đối với vị đang tác ý vô ngã, tâm thoát ra khỏi nơi nào? tâm tiến vào nơi nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang tác ý vô thường, tâm thoát ra khỏi hiện tướng, tâm tiến vào vô tướng; đối với vị đang tác ý khổ não, tâm thoát ra khỏi sự vận hành, tâm tiến vào sự không vận hành; đối với vị đang tác ý vô ngã, tâm thoát ra khỏi hiện tướng và sự vận hành, tâm tiến vào vô tướng, vào sự không vận hành, vào sự diệt tận là cảnh giới Niết Bàn. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ liên quan đến sự thoát ra và ly khai ngoại phần, và các sự chuyển tộc, các pháp này là có ý nghĩa khác biệt và văn tự khác biệt? Hay là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác? Tuệ liên quan đến sự thoát ra và ly khai ngoại phần, và các sự chuyển tộc, các pháp này là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác. (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi tác ý vô thường, (hành giả) giải thoát bằng sự giải thoát nào; trong khi tác ý khổ não, giải thoát bằng sự giải thoát nào; trong khi tác ý vô ngã, giải thoát bằng sự giải thoát nào? Trong khi tác ý vô thường, (hành giả) giải thoát bằng vô tướng giải thoát; trong khi tác ý khổ não, giải thoát bằng vô nguyện giải thoát; trong khi tác ý vô ngã, giải thoát bằng không tánh giải thoát. (5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ liên quan đến sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần), và trí liên quan đến Đạo, các pháp này là có ý nghĩa khác biệt và văn tự khác biệt? Hay là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác? Tuệ liên quan đến sự thoát ra và ly khai cả hai, và trí liên quan đến Đạo, các pháp này là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác. (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba loại giải thoát ở vào sát-na khác nhau là với bao nhiêu biểu hiện, ba loại giải thoát ở vào cùng một sát-na là với bao nhiêu biểu hiện? Ba loại giải thoát ở vào sát-na khác nhau là với bốn biểu hiện, ba loại giải thoát ở vào cùng một sát-na là với bảy biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba loại giải thoát ở vào sát-na khác nhau là với bốn biểu hiện nào? Với ý nghĩa pháp chủ đạo, với ý nghĩa khẳng định, với ý nghĩa quả quyết, với ý nghĩa dẫn xuất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba loại giải thoát với ý nghĩa pháp chủ đạo ở vào sát-na khác nhau là thế nào? Đối với vị đang tác ý vô thường vô tướng giải thoát là pháp chủ đạo, tác ý khổ não vô nguyện giải thoát là pháp chủ đạo, tác ý vô ngã không tánh giải thoát là pháp chủ đạo. Ba loại giải thoát với ý nghĩa pháp chủ đạo ở vào sát-na khác nhau là thế ấy. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba loại giải thoát với ý nghĩa khẳng định ở vào sát-na khác nhau là thế nào? Trong khi tác ý vô thường, nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát, (hành giả) khẳng định tâm; trong khi tác ý khổ não, nhờ vào năng lực của vô nguyện giải thoát, (hành giả) khẳng định tâm; trong khi tác ý vô ngã, nhờ vào năng lực của không tánh giải thoát, (hành giả) khẳng định tâm. Ba loại giải thoát với ý nghĩa khẳng định ở vào sát-na khác nhau là thế ấy. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba loại giải thoát với ý nghĩa quả quyết ở vào sát-na khác nhau là thế nào? Trong khi tác ý vô thường, nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát, (hành giả) quả quyết tâm, trong khi tác ý khổ não, nhờ vào năng lực của vô nguyện giải thoát, (hành giả) quả quyết tâm, trong khi tác ý vô ngã, nhờ vào năng lực của không tánh giải thoát, (hành giả) quả quyết tâm. Ba loại giải thoát với ý nghĩa quả quyết ở vào sát-na khác nhau là thế ấy. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba loại giải thoát với ý nghĩa dẫn xuất ở vào sát-na khác nhau là thế nào? Trong khi tác ý vô thường, nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát, (hành giả) dẫn xuất đến sự diệt tận Niết Bàn, trong khi tác ý khổ não, nhờ năng lực của vô nguyện giải thoát, dẫn xuất đến sự diệt tận Niết Bàn, trong khi tác ý vô ngã, nhờ năng lực của không tánh giải thoát, dẫn xuất đến sự diệt tận Niết Bàn. Ba loại giải thoát với ý nghĩa dẫn xuất ở vào sát-na khác nhau là thế ấy. (4)  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba loại giải thoát ở vào sát-na khác nhau là với bốn biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba loại giải thoát ở vào cùng một sát-na là với bảy biểu hiện nào? Với ý nghĩa liên kết, với ý nghĩa đắc chứng, với ý nghĩa thành đạt, với ý nghĩa thấu triệt, với ý nghĩa tác chứng, với ý nghĩa chạm đến, với ý nghĩa lãnh hội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba loại giải thoát với ý nghĩa liên kết, với ý nghĩa đắc chứng, với ý nghĩa thành đạt, với ý nghĩa thấu triệt, với ý nghĩa tác chứng, với ý nghĩa chạm đến, với ý nghĩa lãnh hội ở vào cùng một sát-na là thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trong khi tác ý vô thường, (hành giả) giải thoát khỏi hiện tướng’ là vô tướng giải thoát, ‘giải thoát khỏi điều nào thì không còn nguyện ước điều ấy’ là vô nguyện giải thoát, ‘điều ấy không nguyện ước thì với điều ấy là không’ là không tánh giải thoát, ‘với điều nào là không, là vô tướng với hiện tướng ấy’ là vô tướng giải thoát. Ba loại giải thoát với ý nghĩa liên kết, với ý nghĩa đắc chứng, với ý nghĩa thành đạt, với ý nghĩa thấu triệt, với ý nghĩa tác chứng, với ý nghĩa chạm đến, với ý nghĩa lãnh hội ở vào cùng một sát-na là thế ấy. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trong khi tác ý khổ não, (hành giả) giải thoát khỏi nguyện ước’ là vô nguyện giải thoát, ‘điều ấy không nguyện ước thì với điều ấy là không’ là không tánh giải thoát, ‘với điều nào là không, là vô tướng với hiện tướng ấy’ là vô tướng giải thoát, ‘vô tướng với hiện tướng nào thì không còn mong mỏi điều ấy’ là vô nguyện giải thoát. Ba loại giải thoát với ý nghĩa liên kết, với ý nghĩa đắc chứng, với ý nghĩa thành đạt, với ý nghĩa thấu triệt, với ý nghĩa tác chứng, với sự chạm đến, với ý nghĩa lãnh hội ở vào cùng một sát-na là thế ấy. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trong khi tác ý vô ngã, (hành giả) giải thoát khỏi cố chấp’ là không tánh giải thoát, ‘với điều nào là không, là vô tướng với hiện tướng ấy’ là vô tướng giải thoát, ‘vô tướng với hiện tướng nào thì không còn mong mỏi điều ấy’ là vô nguyện giải thoát, ‘điều ấy không nguyện ước thì với điều ấy là không’ là không tánh giải thoát. Ba loại giải thoát với ý nghĩa liên kết, với ý nghĩa đắc chứng, với ý nghĩa thành đạt, với ý nghĩa thấu triệt, với ý nghĩa tác chứng, với ý nghĩa chạm đến, với ý nghĩa lãnh hội ở vào cùng một sát-na là thế ấy. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba loại giải thoát ở vào cùng một sát-na là với bảy biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có sự giải thoát, có cánh cửa, có cánh cửa của giải thoát, có đối nghịch của giải thoát, có (pháp) phù hợp với giải thoát, có sự ly khai do giải thoát, có sự tu tập giải thoát, có sự tịnh lặng của giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát là gì? Không tánh giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không tánh giải thoát là gì? ‘Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi cố chấp về thường’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi cố chấp về lạc’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi cố chấp về ngã’ là không tánh giải thoát.‘Trí do sự quán xét về nhàm chán giải thoát khỏi cố chấp về vui thích’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi cố chấp về tham ái’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi cố chấp về nhân sanh khởi’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi cố chấp về nắm giữ’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi cố chấp về hiện tướng’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi cố chấp về nguyện ước’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi tất cả các cố chấp’ là không tánh giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trí do sự quán xét về vô thường ở sắc giải thoát khỏi cố chấp về thường’ là không tánh giải thoát. &#8230;(nt)&#8230; ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở sắc giải thoát khỏi tất cả các cố chấp’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô thường ở thọ &#8230; ở tưởng &#8230; ở các hành &#8230; ở thức &#8230; ở mắt &#8230; ở lão tử giải thoát khỏi cố chấp về thường’ là không tánh giải thoát. &#8230;(nt)&#8230; ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở lão tử giải thoát khỏi tất cả các cố chấp’ là không tánh giải thoát. Đây là không tánh giải thoát. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vô tướng giải thoát là gì? ‘Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi hiện tướng về thường’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi hiện tướng về lạc’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi hiện tướng về ngã’ là &#8230; ‘Trí do sự quán xét về nhàm chán giải thoát khỏi hiện tướng về vui thích’ là &#8230; ‘Trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi hiện tướng về tham ái’ là &#8230; ‘Trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi hiện tướng về nhân sanh khởi’ là &#8230; ‘Trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi hiện tướng về nắm giữ’ là &#8230; ‘Trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng’ là &#8230; ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi hiện tướng về nguyện ước’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi hiện tướng về cố chấp’ là vô tướng giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trí do sự quán xét về vô thường ở sắc giải thoát khỏi hiện tướng về thường’ là vô tướng giải thoát. &#8230;(nt)&#8230; ‘Trí do sự quán xét về vô tướng ở sắc giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện ở sắc giải thoát khỏi hiện tướng về nguyện ước’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở sắc giải thoát khỏi hiện tướng về cố chấp’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô thường ở thọ &#8230; ở tưởng &#8230; ở các hành &#8230; ở thức &#8230; ở mắt &#8230; ở lão tử giải thoát khỏi hiện tướng về thường’ là vô tướng giải thoát. &#8230;(nt)&#8230; ‘Trí do sự quán xét về vô tướng ở lão tử giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện ở lão tử giải thoát khỏi hiện tướng về nguyện ước’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở lão tử giải thoát khỏi hiện tướng về cố chấp’ là vô tướng giải thoát. Đây là vô tướng giải thoát. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vô nguyện giải thoát là gì? ‘Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi nguyện ước về thường’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi nguyện ước về lạc’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi nguyện ước về ngã’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi nguyện ước về tham ái’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi nguyện ước về nhân sanh khởi’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi nguyện ước về nắm giữ’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi nguyện ước về hiện tướng’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi tất cả cảc nguyện ước’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi nguyện ước về cố chấp’ là vô nguyện giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Trí do sự quán xét về vô thường ở sắc giải thoát khỏi nguyện ước về thường’ là vô nguyện giải thoát. &#8230;(nt)&#8230; ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện ở sắc giải thoát khỏi tất cả các nguyện ước’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở sắc giải thoát khỏi nguyện ước về cố chấp’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô thường ở thọ &#8230; ở tưởng &#8230; ở các hành &#8230; ở thức &#8230; ở mắt &#8230; ở lão tử giải thoát khỏi tất cả các nguyện ước’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở lão tử giải thoát khỏi nguyện ước về cố chấp’ là vô nguyện giải thoát. Đây là vô nguyện giải thoát. (3) Đây là giải thoát. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cánh cửa là gì? Những gì là không sai trái, là thiện, là các pháp dự phần giác ngộ được sanh ra ở trường hợp ấy, điều ấy là cánh cửa. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cánh cửa của giải thoát là gì? Đối tượng nào của các pháp ấy là sự diệt tận Niết Bàn, (đối tượng) ấy là cánh cửa của giải thoát, đây là cánh cửa của giải thoát. Giải thoát và cánh cửa, là cánh cửa của giải thoát, điều ấy là cánh cửa của giải thoát. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Pháp) đối nghịch của giải thoát là gì? Ba bất thiện căn là các (pháp) đối nghịch của giải thoát, ba ác hạnh là các (pháp) đối nghịch của giải thoát, tất cả các pháp bất thiện cũng là các (pháp) đối nghịch của giải thoát; điều ấy là (pháp) đối nghịch của giải thoát. (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Pháp) phù hợp với giải thoát là gì? Ba thiện căn là các (pháp) phù hợp với giải thoát, ba thiện hạnh là các (pháp) phù hợp với giải thoát, tất cả các pháp thiện cũng là các (pháp) phù hợp với giải thoát; điều ấy là (pháp) phù hợp với giải thoát. (5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự ly khai do giải thoát là gì? Là sự ly khai do tưởng, là sự ly khai do suy nghĩ, là sự ly khai do tâm, là sự ly khai do trí, là sự ly khai do giải thoát, là sự ly khai do chân lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> ‘Trong khi suy tưởng, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do tưởng. ‘Trong khi suy nghĩ, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do suy nghĩ. ‘Trong khi nhận biết, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do tâm. ‘Trong khi sử dụng trí, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do trí. ‘Trong khi xả ly, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do giải thoát. ‘Theo ý nghĩa của thực thể, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do chân lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nơi nào có sự ly khai do tưởng, nơi ấy có sự ly khai do suy nghĩ. Nơi nào có sự ly khai do suy nghĩ, nơi ấy có sự ly khai do tưởng. Nơi nào có sự ly khai do tưởng (và) có sự ly khai do suy nghĩ, nơi ấy có sự ly khai do tâm. Nơi nào có sự ly khai do tâm, nơi ấy có sự ly khai do tưởng (và) có sự ly khai do suy nghĩ. Nơi nào có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, (và) có sự ly khai do tâm, nơi ấy có sự ly khai do trí. Nơi nào có sự ly khai do trí, nơi ấy có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, (và) có sự ly khai do tâm. Nơi nào có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, (và) có sự ly khai do trí, nơi ấy có sự ly khai do giải thoát. Nơi nào có sự ly khai do giải thoát, nơi ấy có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, (và) có sự ly khai do trí. Nơi nào có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, có sự ly khai do trí, (và) có sự ly khai do giải thoát, nơi ấy có sự ly khai do sự thật. Nơi nào có sự ly khai do sự thật, nơi ấy có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, có sự ly khai do trí, có sự ly khai do giải thoát. Đây là sự ly khai do giải thoát. (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự tu tập giải thoát là gì? Sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn sơ thiền; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn nhị thiền; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn tam thiền; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn tứ thiền; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn sự chứng đạt không vô biên xứ; &#8230; sự chứng đạt thức vô biên xứ; &#8230; sự chứng đạt vô sở hữu xứ; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn Đạo Nhập Lưu; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn Đạo Nhất Lai; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn Đạo Bất Lai; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn Đạo A-la-hán; điều này là sự tu tập giải thoát. (7)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự tịnh lặng của giải thoát là gì? Sự thành tựu hoặc nghiệp quả của sơ thiền, sự thành tựu hoặc nghiệp quả của nhị thiền, &#8230; của tam thiền, &#8230; của tứ thiền, &#8230; của sự chứng đạt không vô biên xứ, &#8230; của sự chứng đạt thức vô biên xứ, &#8230; của sự chứng đạt vô sở hữu xứ, sự thành tựu hoặc nghiệp quả của sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, Quả Nhập Lưu của Đạo Nhập Lưu, Quả Nhất Lai của Đạo Nhất Lai, Quả Bất Lai của Đạo Bất Lai, Quả A-la-hán của Đạo A-la-hán; điều này là sự tịnh lặng của giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tụng phẩm thứ ba.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giảng về Giải Thoát được đầy đủ.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I – PAṬISAMBHIDĀMAGGO VIII &#8211; GIẢNG VỀ CÕI TÁI SANH</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-dao-i-pa%e1%b9%adisambhidamaggo-viii/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 17 May 2020 01:12:57 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=9074</guid>

					<description><![CDATA[VI. GIẢNG VỀ CÕI TÁI SANH Đối với sự thành tựu cõi tái sanh,[1] khi được liên kết với trí]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">VI. GIẢNG VỀ CÕI TÁI SANH</span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sự thành tựu cõi tái sanh,[1] khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, các gia tộc giàu sang của gia chủ, và chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân. Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, các gia tộc giàu sang của gia chủ, và chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân. Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân. Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của 8 nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: ‘<i>Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi)</i>.’ Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: ‘<i>Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi)</i>.’ Vào sát-na tục sinh, ba nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “<i>Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi)</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na tục sinh, năm uẩn là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn đại hiển là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên. Vào sát-na tục sinh, ba sự tạo tác mạng sống[2] là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, năm quyền các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, ba nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na tục sinh, hai mươi tám pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “<i>Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi)</i>.” Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “<i>Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi)</i>.” Vào sát-na tục sinh, ba nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “<i>Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi)</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na tục sinh, năm uẩn là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn đại hiển là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên. Vào sát-na tục sinh, ba sự tạo tác mạng sống là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, năm quyền các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, ba nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na tục sinh, hai mươi tám pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện &#8230;(như trên)&#8230; Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “<i>Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi)</i>.” Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “<i>Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi)</i>.” Vào sát-na tục sinh, ba nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “<i>Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi)</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, năm quyền là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, ba nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân. Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, hai nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “<i>Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi)</i>.” Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “<i>Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi)</i>.”  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na tục sinh, hai nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “<i>Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi)</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na tục sinh, năm uẩn là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn đại hiển là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên. Vào sát-na tục sinh, ba sự tạo tác mạng sống là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, mười bốn pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn quyền các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, hai nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 12 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na tục sinh, 26 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân này. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, hai nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “<i>Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi)</i>.” &#8230;(nt)&#8230; Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giảng về Cõi Tái Sanh được đầy đủ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/tieu-bo/phan-tich-dao/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Tỳ-khưu Indacanda</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/tang-kinh-tieu-bo-phan-tich-dao-tap-1/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Tỳ-khưu Indacanda</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I – PAṬISAMBHIDĀMAGGO VIII &#8211; GIẢNG VỀ NGHIỆP</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-dao-i-pa%e1%b9%adisambhidamaggo-viii-giang-ve-nghiep/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 12 Mar 2021 15:39:09 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=83917</guid>

					<description><![CDATA[VII. GIẢNG VỀ NGHIỆP Có nghiệp (qk) có kết quả của nghiệp (qk), có nghiệp (qk) không có kết quả]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">VII. GIẢNG VỀ NGHIỆP</span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có nghiệp (qk) có kết quả của nghiệp (qk), có nghiệp (qk) không có kết quả của nghiệp (qk), có nghiệp (qk) có kết quả của nghiệp (ht), có nghiệp (qk) không có kết quả của nghiệp (ht), có nghiệp (qk) có kết quả của nghiệp (vl), có nghiệp (qk) không có kết quả của nghiệp (vl).<sup>[3]</sup>Có nghiệp (ht) có kết quả của nghiệp (ht), có nghiệp (ht) không có kết quả của nghiệp (ht), có nghiệp (ht) có kết quả của nghiệp (vl), có nghiệp (ht) không có kết quả của nghiệp (vl). Có nghiệp (vl) có kết quả của nghiệp (vl), có nghiệp (vl) không có kết quả của nghiệp (vl).[4]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có nghiệp thiện (qk) có kết quả của nghiệp thiện (qk), có nghiệp thiện (qk) không có kết quả của nghiệp thiện (qk), có nghiệp thiện (qk) có kết quả của nghiệp thiện (ht), có nghiệp thiện (qk) không có kết quả của nghiệp thiện (ht), có nghiệp thiện (qk) có kết quả của nghiệp thiện (vl), có nghiệp thiện (qk) không có kết quả của nghiệp thiện (vl). Có nghiệp thiện (ht) có kết quả của nghiệp thiện (ht), có nghiệp thiện (ht) không có kết quả của nghiệp thiện (ht), có nghiệp thiện (ht) có kết quả của nghiệp thiện (vl), có nghiệp thiện (ht) không có kết quả của nghiệp thiện (vl). Có nghiệp thiện (vl) có kết quả của nghiệp thiện (vl), có nghiệp thiện (vl) không có kết quả của nghiệp thiện (vl).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có nghiệp bất thiện (qk) có kết quả của nghiệp bất thiện (qk), có nghiệp bất thiện (qk) không có kết quả của nghiệp bất thiện (qk), có nghiệp bất thiện (qk) có kết quả của nghiệp bất thiện (ht), có nghiệp bất thiện (qk) không có kết quả của nghiệp bất thiện (ht), có nghiệp bất thiện (qk) có kết quả của nghiệp bất thiện (vl), có nghiệp bất thiện (qk) không có kết quả của nghiệp bất thiện (vl). Có nghiệp bất thiện (ht) có kết quả của nghiệp bất thiện (ht), có nghiệp bất thiện (ht) không có kết quả của nghiệp bất thiện (ht), có nghiệp bất thiện (ht) có kết quả của nghiệp bất thiện (vl), có nghiệp bất thiện (ht) không có kết quả của nghiệp bất thiện (vl). Có nghiệp bất thiện (vl) có kết quả của nghiệp bất thiện (vl), có nghiệp bất thiện (vl) không có kết quả của nghiệp bất thiện (vl).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có nghiệp sai trái (qk) &#8230; Có nghiệp không sai trái (qk) &#8230; Có nghiệp đen (qk) &#8230; Có nghiệp trắng (qk) &#8230; Có nghiệp tăng trưởng lạc (qk) &#8230; Có nghiệp tăng trưởng khổ (qk) &#8230; Có nghiệp kết quả lạc (qk) &#8230; Có nghiệp kết quả khổ (qk) có kết quả của nghiệp kết quả khổ (qk), có nghiệp kết quả khổ (qk) không có kết quả của nghiệp kết quả khổ (qk), có nghiệp kết quả khổ (qk) có kết quả của nghiệp kết quả khổ (ht), có nghiệp kết quả khổ (qk) không có kết quả của nghiệp kết quả khổ (ht), có nghiệp kết quả khổ (qk) có kết quả của nghiệp kết quả khổ (vl), có nghiệp kết quả khổ (qk) không có kết quả của nghiệp kết quả khổ (vl). Có nghiệp kết quả khổ (ht) có kết quả của nghiệp kết quả khổ (ht), có nghiệp kết quả khổ (ht) không có kết quả của nghiệp kết quả khổ (ht), có nghiệp kết quả khổ (ht) có kết quả của nghiệp kết quả khổ (vl), có nghiệp kết quả khổ (ht) không có kết quả của nghiệp kết quả khổ (vl). Có nghiệp kết quả khổ (vl) có kết quả của nghiệp kết quả khổ (vl), có nghiệp kết quả khổ (vl) không có kết quả của nghiệp kết quả khổ (vl).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần Giảng về Nghiệp được đầy đủ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/tieu-bo/phan-tich-dao/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Tỳ-khưu Indacanda</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/tang-kinh-tieu-bo-phan-tich-dao-tap-1/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Tỳ-khưu Indacanda</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I – PAṬISAMBHIDĀMAGGO VIII &#8211; GIẢNG VỀ SỰ LẦM LẠC</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-dao-i-pa%e1%b9%adisambhidamaggo-viii-giang-ve-su-lam-lac/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 12 Mar 2021 15:39:47 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=83918</guid>

					<description><![CDATA[VIII. GIẢNG VỀ SỰ LẦM LẠC [Duyên khởi ở  Sāvatthi] Này các tỳ khưu, đây là bốn sự lầm lạc]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">VIII. GIẢNG VỀ SỰ LẦM LẠC</span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Duyên khởi ở  Sāvatthi</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là bốn sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến. Bốn là gì? Này các tỳ khưu, về vô thường (quan niệm) là ‘<i>Thường</i>’ là sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến. Này các tỳ khưu, về khổ não (quan niệm) là ‘<i>Lạc</i>’ là sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến. Này các tỳ khưu, về vô ngã (quan niệm) là ‘<i>Ngã</i>’ là sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến. Này các tỳ khưu, về bất tịnh (quan niệm) là ‘<i>Tịnh</i>’ là sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến. Này các tỳ khưu, đây là bốn sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là bốn sự không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến. Bốn là gì? Này các tỳ khưu, về vô thường (quan niệm) là ‘<i>Vô thường</i>’ là sự không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến Này các tỳ khưu, về khổ não (quan niệm) là ‘<i>Khổ não</i>’ là sự không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến Này các tỳ khưu, về vô ngã (quan niệm) là ‘<i>Vô ngã</i>’ là sự không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến Này các tỳ khưu, về bất tịnh (quan niệm) là ‘<i>Bất tịnh</i>’ là sự không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến Này các tỳ khưu, bốn điều này không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến.</span></p>
<ol>
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vô thường tưởng là thường</i></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>khổ não tưởng là lạc,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>vô ngã cho là ngã,                            </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>bất tịnh tưởng là tịnh,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tà kiến đánh bại chúng            </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tưởng quấy, tâm rối loạn</i>.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<ol start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bị Ma vương buộc ách,                  </i></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>trói buộc không an ổn,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>chúng sanh bị luân hồi            </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>đi đến sanh lão tử</i>.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<ol start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Khi chư Phật quang minh              </i></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hiện khởi ở thế gian</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>giảng giải Giáo Pháp này                 </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>đưa đến vắng lặng khổ</i>.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<ol start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bậc trí nghe theo Phật                   </i></span></li>
</ol>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>thành tựu tâm, thấy được </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>vô thường là vô thường,           </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>khổ não là khổ não</i>,</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vô ngã là vô ngã</i>,</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>bất tịnh là bất tịnh,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>nắm giữ chánh tri kiến,  </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>xa lìa tất cả khổ</i>.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với người được thành tựu về kiến, bốn sự lầm lạc này được dứt bỏ hay chưa được dứt bỏ? Một số được dứt bỏ, một số chưa được dứt bỏ. Sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến về vô thường (quan niệm) là ‘<i>Thường</i>’ được dứt bỏ. Về khổ não (quan niệm) là ‘<i>Lạc</i>,’ tưởng như thế có sanh lên, tâm như thế có sanh lên, còn sự lầm lạc của kiến được dứt bỏ. Sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến về vô ngã (quan niệm) là ‘<i>Ngã</i>’ được dứt bỏ. Về bất tịnh (quan niệm) là ‘<i>Tịnh</i>,’ tưởng như thế có sanh lên, tâm như thế có sanh lên, còn sự lầm lạc của kiến được dứt bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Về hai sự việc (vô thường, vô ngã), có sáu sự lầm lạc được dứt bỏ. Về hai sự việc (khổ não, bất tịnh), có hai sự lầm lạc được dứt bỏ, bốn sự lầm lạc chưa được dứt bỏ. Về bốn sự việc, có tám sự lầm lạc được dứt bỏ, bốn sự lầm lạc chưa được dứt bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần Giảng về Sự Lầm Lạc được đầy đủ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/tieu-bo/phan-tich-dao/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Tỳ-khưu Indacanda</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/tang-kinh-tieu-bo-phan-tich-dao-tap-1/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Tỳ-khưu Indacanda</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I – PAṬISAMBHIDĀMAGGO VIII &#8211; GIẢNG VỀ ĐẠO</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-dao-i-pa%e1%b9%adisambhidamaggo-viii-giang-ve-dao/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 12 Mar 2021 15:40:16 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=83919</guid>

					<description><![CDATA[IX. GIẢNG VỀ ĐẠO Đạo: Đạo theo ý nghĩa gì? Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, chánh kiến theo ý nghĩa]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">IX. GIẢNG VỀ ĐẠO</span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đạo</b>: Đạo theo ý nghĩa gì? Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức: là đạo vừa là nhân của việc dứt bỏ tà kiến, là đạo vừa là nhân của việc hổ trợ các pháp đồng sanh, là đạo vừa là nhân của việc chấm dứt các phiền não, là đạo vừa là nhân của việc làm trong sạch phần đầu của sự thấu triệt, là đạo vừa là nhân của việc khẳng định tâm, là đạo vừa là nhân của việc thanh lọc tâm, là đạo vừa là nhân của việc đắc chứng pháp đặc biệt, là đạo vừa là nhân của việc thấu triệt hướng thượng, là đạo vừa là nhân của việc chứng ngộ chân lý, là đạo vừa là nhân của việc thiết lập ở sự diệt tận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh tư duy theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh): là đạo vừa là nhân của việc dứt bỏ tà tư duy, là đạo vừa là nhân của việc hổ trợ các pháp đồng sanh, là đạo vừa là nhân của việc chấm dứt các phiền não, là đạo vừa là nhân của việc làm trong sạch phần đầu của sự thấu triệt, là đạo vừa là nhân của việc khẳng định tâm, là đạo vừa là nhân của việc thanh lọc tâm, là đạo vừa là nhân của việc đắc chứng pháp đặc biệt, là đạo vừa là nhân của việc thấu triệt hướng thượng, là đạo vừa là nhân của việc chứng ngộ chân lý, là đạo vừa là nhân của việc thiết lập ở sự diệt tận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh ngữ theo ý nghĩa gìn giữ: là đạo vừa là nhân của việc dứt bỏ tà ngữ, là đạo vừa là nhân của việc hổ trợ các pháp đồng sanh, là đạo vừa là nhân của việc chấm dứt các phiền não, là đạo vừa là nhân của việc làm trong sạch phần đầu của sự thấu triệt, là đạo vừa là nhân của việc khẳng định tâm, là đạo vừa là nhân của việc thanh lọc tâm, là đạo vừa là nhân của việc đắc chứng pháp đặc biệt, là đạo vừa là nhân của việc thấu triệt hướng thượng, là đạo vừa là nhân của việc chứng ngộ chân lý, là đạo vừa là nhân của việc thiết lập ở sự diệt tận.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh nghiệp theo ý nghĩa nguồn sanh khởi: là đạo vừa là nhân của việc dứt bỏ tà nghiệp, &#8230;(như trên)&#8230; Chánh mạng theo ý nghĩa trong sạch: là đạo vừa là nhân của việc dứt bỏ tà mạng, &#8230;(như trên)&#8230; Chánh tinh tấn theo ý nghĩa ra sức: là đạo vừa là nhân của việc dứt bỏ tà tinh tấn, &#8230;(như trên)&#8230; Chánh niệm theo ý nghĩa thiết lập: là đạo vừa là nhân của việc dứt bỏ tà niệm, &#8230;(như trên)&#8230; Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn: là đạo vừa là nhân của việc dứt bỏ tà định, là đạo vừa là nhân của việc hổ trợ các pháp đồng sanh, là đạo vừa là nhân của việc chấm dứt các phiền não, là đạo vừa là nhân của việc làm trong sạch phần đầu của sự thấu triệt, là đạo vừa là nhân của việc khẳng định tâm, là đạo vừa là nhân của việc thanh lọc tâm, là đạo vừa là nhân của việc đắc chứng pháp đặc biệt, là đạo vừa là nhân của việc thấu triệt hướng thượng, là đạo vừa là nhân của việc chứng ngộ chân lý, là đạo vừa là nhân của việc thiết lập ở sự diệt tận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo Nhất Lai, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức: &#8230;(như trên)&#8230; Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn: là đạo vừa là nhân của việc dứt bỏ đối với sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, đối với ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển, là đạo vừa là nhân của việc hổ trợ các pháp đồng sanh, &#8230; của việc chấm dứt các phiền não, &#8230; của việc làm trong sạch phần đầu của sự thấu triệt, &#8230; của việc khẳng định tâm, &#8230; của việc thanh lọc tâm, &#8230; của việc đắc chứng pháp đặc biệt, &#8230; của việc thấu triệt hướng thượng, là đạo vừa là nhân của việc chứng ngộ chân lý, là đạo vừa là nhân của việc thiết lập ở sự diệt tận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo Bất Lai, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức: &#8230;(như trên)&#8230; Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn: là đạo vừa là nhân của việc dứt bỏ đối với sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, đối với ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế, là đạo vừa là nhân của việc hổ trợ các pháp đồng sanh, &#8230; của việc chấm dứt các phiền não, &#8230; của việc làm trong sạch phần đầu của sự thấu triệt, &#8230; của việc khẳng định tâm, &#8230; của việc thanh lọc tâm, &#8230; của việc đắc chứng pháp đặc biệt, &#8230; của việc thấu triệt hướng thượng, là đạo vừa là nhân của việc chứng ngộ chân lý, là đạo vừa là nhân của việc thiết lập ở sự diệt tận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo A-la-hán, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức: &#8230;(như trên)&#8230; Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn: là đạo vừa là nhân của việc dứt bỏ ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ngã mạn ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm, là đạo vừa là nhân của việc hổ trợ các pháp đồng sanh, là đạo vừa là nhân của việc chấm dứt các phiền não, là đạo vừa là nhân của việc làm trong sạch phần đầu của sự thấu triệt, là đạo vừa là nhân của việc khẳng định tâm, là đạo vừa là nhân của việc thanh lọc tâm, là đạo vừa là nhân của việc đắc chứng pháp đặc biệt, là đạo vừa là nhân của việc thấu triệt hướng thượng, là đạo vừa là nhân của việc chứng ngộ chân lý, là đạo vừa là nhân của việc thiết lập ở sự diệt tận.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đường lối (Đạo) của nhận thức là chánh kiến, đường lối của sự gắn chặt (tâm vào cảnh) là chánh tư duy, đường lối của sự gìn giữ là chánh ngữ, đường lối của nguồn sanh khởi là chánh nghiệp, đường lối của sự trong sạch là chánh mạng, đường lối của sự ra sức là chánh tinh tấn, đường lối của sự thiết lập là chánh niệm, đường lối của sự không tản mạn là chánh định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đường lối của sự thiết lập là niệm giác chi, đường lối của sự suy xét là trạch pháp giác chi, đường lối của sự ra sức là cần giác chi, đường lối của sự lan tỏa là hỷ giác chi, đường lối của sự an tịnh là tịnh giác chi, đường lối của sự không tản mạn là định giác chi, đường lối của sự phân biệt rõ là xả giác chi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đường lối của tính chất không dao động ở sự không có đức tin là tín lực, đường lối của tính chất không dao động ở sự biếng nhác là tấn lực, đường lối của tính chất không dao động ở sự buông lung là niệm lực, đường lối của tính chất không dao động ở sự phóng dật là định lực, đường lối của tính chất không dao động ở sự không sáng suốt là tuệ lực.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đường lối của sự cương quyết là tín quyền, đường lối của sự ra sức là tấn quyền, đường lối của sự thiết lập là niệm quyền, đường lối của sự không tản mạn là định quyền, đường lối của sự nhận thức là tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Theo ý nghĩa pháp chủ đạo, quyền là Đạo; theo ý nghĩa không dao động, lực là Đạo; theo ý nghĩa dẫn xuất (ra khỏi luân hồi), giác chi là Đạo; theo ý nghĩa chủng tử, chi phần của Đạo là Đạo; theo ý nghĩa thiết lập, sự thiết lập niệm là Đạo; theo ý nghĩa nỗ lực, chánh cần là Đạo; theo ý nghĩa thành tựu, nền tảng của thần thông là Đạo; theo ý nghĩa của thực thể, các chân lý là Đạo; theo ý nghĩa không tàn mạn, chỉ tịnh là Đạo; theo ý nghĩa quán xét, minh sát là Đạo; theo ý nghĩa nhất vị, chỉ tịnh và minh sát là Đạo; theo ý nghĩa không vượt trội, sự kết hợp chung là Đạo; theo ý nghĩa thu thúc, giới thanh tịnh là Đạo; theo ý nghĩa không tản mạn, tâm thanh tịnh là Đạo; theo ý nghĩa nhận thức, kiến thanh tịnh là Đạo; theo ý nghĩa thấu triệt, minh là Đạo; theo ý nghĩa buông bỏ, sự giải thoát là Đạo; theo ý nghĩa đoạn trừ, trí về sự đoạn tận là Đạo; ước muốn theo ý nghĩa nguồn cội là Đạo; tác ý theo ý nghĩa nguồn sanh khởi là Đạo; xúc theo ý nghĩa liên kết là Đạo; thọ theo ý nghĩa hội tụ là Đạo; định theo ý nghĩa dẫn đầu là Đạo; niệm theo ý nghĩa là pháp chủ đạo là Đạo; tuệ theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện là Đạo; sự giải thoát theo ý nghĩa cốt lỏi là Đạo; Niết Bàn liên quan đến bất tử theo ý nghĩa kết thúc là Đạo.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giảng về Đạo được đầy đủ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/tieu-bo/phan-tich-dao/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Tỳ-khưu Indacanda</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/tang-kinh-tieu-bo-phan-tich-dao-tap-1/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Tỳ-khưu Indacanda</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I – PAṬISAMBHIDĀMAGGO VIII &#8211; GIẢNG VỀ TỊNH THỦY NÊN UỐNG</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-dao-i-pa%e1%b9%adisambhidamaggo-viii-giang-ve-tinh-thuy-nen-uong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 12 Mar 2021 15:40:44 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=83920</guid>

					<description><![CDATA[X. GIẢNG VỀ TỊNH THỦY NÊN UỐNG Này các tỳ khưu, tịnh thủy nên uống là Phạm hạnh này, là]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">X. GIẢNG VỀ TỊNH THỦY NÊN UỐNG</span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, tịnh thủy nên uống là Phạm hạnh này, là bậc Đạo Sư khi còn tại tiền. Khi bậc Đạo Sư còn tại tiền, bản chất của tịnh thủy có ba loại là: tịnh thủy về sự thuyết giảng, tịnh thủy về người thọ nhận, tịnh thủy về Phạm hạnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tịnh thủy về sự thuyết giảng là gì? Là sự phát biểu, sự thuyết giảng, sự làm cho nhận biết, sự thiết lập, sự phô bày, sự phân giải, hành động làm rõ về bốn Chân Lý cao thượng &#8230; về bốn sự thiết lập niệm &#8230; về bốn chánh cần &#8230; về bốn nền tảng của thần thông &#8230; về năm quyền &#8230; về năm lực &#8230; về bảy chi phần đưa đến giác ngộ &#8230; về Thánh Đạo tám chi phần; đây là tịnh thủy về sự thuyết giảng. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tịnh thủy về người thọ nhận là gì? Là các tỳ khưu, các tỳ khưu ni, các nam cư sĩ, các nữ cư sĩ, chư thiên, nhân loại, hoặc bất cứ những ai khác là người hiểu biết; đây là tịnh thủy về người thọ nhận. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tịnh thủy về Phạm hạnh là gì? Điều này chính là Thánh Đạo tám chi phần tức là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định; đây là tịnh thủy về Phạm hạnh. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Tịnh thủy về cương quyết là tín quyền, không có đức tin là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã không có đức tin, uống tịnh thủy cương quyết của tín quyền’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về ra sức là tấn quyền, biếng nhác là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã biếng nhác, uống tịnh thủy ra sức của tấn quyền’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về thiết lập là niệm quyền, buông lung là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã buông lung, uống tịnh thủy thiết lập của niệm quyền’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về không tản mạn là định quyền, phóng dật là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã phóng dật, uống tịnh thủy không tản mạn của định quyền’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về nhận thức là tuệ quyền, vô minh là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã vô minh, uống tịnh thủy nhận thức của tuệ quyền’ là tịnh thủy nên uống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Tịnh thủy về không dao động ở sự không có đức tin là tín lực, không có đức tin là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã không có đức tin, uống tịnh thủy không dao động ở sự không có đức tin của tín lực’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự biếng nhác là tấn lực, biếng nhác là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã biếng nhác, uống tịnh thủy không dao động ở sự biếng nhác của tấn lực’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự buông lung là niệm lực, buông lung là cặn bã; ‘sau khi loại bỏ cặn bã buông lung, uống tịnh thủy không dao động ở sự buông lung của niệm lực’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự phóng dật là định lực, phóng dật là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã phóng dật, uống tịnh thủy không dao động ở sự phóng dật của định lực’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự không sáng suốt là tuệ lực, vô minh là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã vô minh, uống tịnh thủy không dao động ở sự không sáng suốt của tuệ lực’ là tịnh thủy nên uống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Tịnh thủy về thiết lập là niệm giác chi, sự buông lung là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã buông lung, uống tịnh thủy thiết lập của niệm giác chi’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về suy xét là trạch pháp giác chi, vô minh là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã vô minh, uống tịnh thủy suy xét của trạch pháp giác chi’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về ra sức là cần giác chi, sự biếng nhác là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã biếng nhác, uống tịnh thủy ra sức của cần giác chi’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về lan tỏa là hỷ giác chi, trạng thái bực bội là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã trạng thái bực bội, uống tịnh thủy lan tỏa của hỷ giác chi’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về an tịnh là tịnh giác chi, sự thô xấu là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã thô xấu, uống tịnh thủy an tịnh của tịnh giác chi’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về không tản mạn là định giác chi, sự phóng dật là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã phóng dật, uống tịnh thủy không tản mạn của định giác chi’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về sự phân biệt rõ là xả giác chi, sự không phân biệt rõ là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã không phân biệt rõ, uống tịnh thủy sự phân biệt rõ của xả giác chi’ là tịnh thủy nên uống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Tịnh thủy về nhận thức là chánh kiến, tà kiến là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà kiến, uống tịnh thủy nhận thức của chánh kiến’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về gắn chặt (tâm vào cảnh) là chánh tư duy, tà tư duy là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà tư duy, uống tịnh thủy gắn chặt (tâm vào cảnh) của chánh tư duy’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về gìn giữ là chánh ngữ, tà ngữ là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà ngữ, uống tịnh thủy gìn giữ của chánh ngữ’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về nguồn sanh khởi là chánh nghiệp, tà nghiệp là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà nghiệp, uống tịnh thủy nguồn sanh khởi của chánh nghiệp’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về trong sạch là chánh mạng, tà mạng là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà mạng, uống tịnh thủy trong sạch của chánh mạng’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về ra sức là chánh tinh tấn, tà tinh tấn là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà tinh tấn, uống tịnh thủy ra sức của chánh tinh tấn’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về thiết lập là chánh niệm, tà niệm là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà niệm, uống tịnh thủy thiết lập của chánh niệm’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về không tản mạn là chánh định, tà định là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà định, uống tịnh thủy không tản mạn của chánh định’ là tịnh thủy nên uống.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có tịnh thủy, có vật nên uống, có cặn bã.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tịnh thủy về cương quyết là tín quyền, không có đức tin là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về ra sức là tấn quyền, biếng nhác là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về thiết lập là niệm quyền, buông lung là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về không tản mạn là định quyền, phóng dật là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về nhận thức là tuệ quyền, vô minh là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự không có đức tin là tín lực, sự không có đức tin là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự biếng nhác là tấn lực, sự biếng nhác là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự buông lung là niệm lực, sự buông lung là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự phóng dật là định lực, sự phóng dật là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự không sáng suốt là tuệ lực, vô minh là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tịnh thủy về thiết lập là niệm giác chi, buông lung là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về suy xét là trạch pháp giác chi, vô minh là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về ra sức là cần giác chi, sự biếng nhác là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về lan tỏa là hỷ giác chi, trạng thái bực bội là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về an tịnh là tịnh giác chi, sự thô xấu là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về không tản mạn là định giác chi, sự phóng dật là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về sự phân biệt rõ là xả giác chi, sự không phân biệt rõ là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tịnh thủy về nhận thức là chánh kiến, tà kiến là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về gắn chặt (tâm vào cảnh) là chánh tư duy, tà tư duy là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về gìn giữ là chánh ngữ, tà ngữ là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về nguồn sanh khởi là chánh nghiệp, tà nghiệp là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về trong sạch là chánh mạng, tà mạng là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về ra sức là chánh tinh tấn, tà tinh tấn là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về thiết lập là chánh niệm, tà niệm là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về không tản mạn là chánh định, tà định là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tịnh thủy về nhận thức là chánh kiến, tịnh thủy về gắn chặt (tâm vào cảnh) là chánh tư duy, tịnh thủy về gìn giữ là chánh ngữ, tịnh thủy về nguồn sanh khởi là chánh nghiệp, tịnh thủy về trong sạch là chánh mạng, tịnh thủy về ra sức là chánh tinh tấn, tịnh thủy về thiết lập là chánh niệm, tịnh thủy về không tản mạn là chánh định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tịnh thủy về thiết lập là niệm giác chi, tịnh thủy về suy xét là trạch pháp giác chi, tịnh thủy về nỗ lực là cần giác chi, tịnh thủy về lan tỏa là hỷ giác chi, tịnh thủy về an tịnh là tịnh giác chi, tịnh thủy về không tản mạn là định giác chi, tịnh thủy về sự phân biệt rõ là xả giác chi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự không có đức tin là tín lực, tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự biếng nhác là tấn lực, tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự buông lung là niệm lực, tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự phóng dật là định lực, tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự không sáng suốt là tuệ lực.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tịnh thủy về cương quyết là tín lực, tịnh thủy về ra sức là tấn lực, tịnh thủy về thiết lập là niệm lực, tịnh thủy về không tản mạn là định lực, tịnh thủy về nhận thức là tuệ lực.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Theo ý nghĩa pháp chủ đạo, quyền là tịnh thủy; theo ý nghĩa không dao động, lực là tịnh thủy; theo ý nghĩa dẫn xuất (ra khỏi luân hồi), giác chi là tịnh thủy; theo ý nghĩa chủng tử, Đạo là tịnh thủy; theo ý nghĩa thiết lập, sự thiết lập niệm là tịnh thủy; theo ý nghĩa nỗ lực, chánh tinh tấn là tịnh thủy; theo ý nghĩa thành tựu, nền tảng của thần thông là tịnh thủy; theo ý nghĩa của thực thể, các chân lý là tịnh thủy; theo ý nghĩa không tàn mạn, chỉ tịnh là tịnh thủy, theo ý nghĩa quán xét, minh sát là tịnh thủy; theo ý nghĩa nhất vị, chỉ tịnh và minh sát là tịnh thủy; theo ý nghĩa không vượt trội, sự kết hợp chung là tịnh thủy; theo ý nghĩa thu thúc, giới thanh tịnh là tịnh thủy; theo ý nghĩa không tản mạn, tâm thanh tịnh là tịnh thủy; theo ý nghĩa nhận thức, kiến thanh tịnh là tịnh thủy; theo ý nghĩa thấu triệt, minh là tịnh thủy; theo ý nghĩa buông bỏ, sự giải thoát là tịnh thủy; theo ý nghĩa đoạn trừ, trí về sự đoạn tận là tịnh thủy; theo ý nghĩa tịnh lặng, trí không chấp thủ là tịnh thủy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ước muốn theo ý nghĩa nguồn cội là tịnh thủy, tác ý theo ý nghĩa nguồn sanh khởi là tịnh thủy, xúc theo ý nghĩa liên kết là tịnh thủy, thọ theo ý nghĩa hội tụ là tịnh thủy, định theo ý nghĩa dẫn đầu là tịnh thủy, niệm theo ý nghĩa pháp chủ đạo là tịnh thủy, tuệ theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện là tịnh thủy, sự giải thoát theo ý nghĩa cốt lỏi là tịnh thủy, Niết Bàn liên quan đến bất tử theo ý nghĩa kết thúc là tịnh thủy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giảng về Tịnh Thủy Nên Uống được đầy đủ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tụng phẩm thứ tư.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phẩm Chính Yếu là phẩm thứ nhất.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần tóm lược của phẩm này là:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Trí, kiến, hơi thở vào,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>quyền, giải thoát thứ năm,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>cõi, nghiệp, lầm lạc, Đạo,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>tịnh thủy, thảy là mười</i>.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phẩm thứ nhất, cao quý, tuyệt vời, không gì sánh được này đã được xác lập do các vị chuyên trì tụng về các Bộ Kinh.</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211; </span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/tieu-bo/phan-tich-dao/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Tỳ-khưu Indacanda</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/tang-kinh-tieu-bo-phan-tich-dao-tap-1/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Tỳ-khưu Indacanda</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I – PAṬISAMBHIDĀMAGGO VI &#8211; GIẢNG VỀ QUYỀN: Bài Kinh thứ nhì</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-dao-i-pa%e1%b9%adisambhidamaggo-vi-giang-ve-quyen-bai-kinh-thu-nhi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 12 Mar 2021 15:49:05 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=83929</guid>

					<description><![CDATA[IV. GIẢNG VỀ QUYỀN 2. Bài Kinh thứ nhì [Duyên khởi ở  Sāvatthi] Này các tỳ khưu, đây là năm]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">IV. GIẢNG VỀ QUYỀN</span></h2>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">2. Bài Kinh thứ nhì</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Duyên khởi ở  Sāvatthi</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là năm quyền. Những gì là năm? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, chính các vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào không nhận biết đúng theo thực thể về sự sanh khởi, về sự biến mất, về sự khoái lạc, về sự tai hại, và về sự xuất ly của năm quyền này, này các tỳ khưu, đối với ta các Sa-môn hoặc Bà-la-môn ấy không được xem là Sa-môn trong số các Sa-môn, hoặc không được xem là Bà-la-môn trong số các Bà-la-môn; hơn nữa các vị tôn túc ấy ngay trong thời hiện tại không tự mình tác chứng bằng thắng trí, đạt đến và an trú vào mục đích của Sa-môn hạnh hoặc mục đích của Bà-la-môn hạnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, chính các vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào nhận biết đúng theo thực thể về sự sanh khởi, về sự biến mất, về sự khoái lạc, về sự tai hại, và về sự xuất ly của năm quyền này, này các tỳ khưu, đối với ta các Sa-môn hoặc Bà-la-môn ấy được xem là Sa-môn trong số các Sa-môn, hoặc được xem là Bà-la-môn trong số các Bà-la-môn; hơn nữa các vị tôn túc ấy ngay trong thời hiện tại tự mình tác chứng bằng thắng trí, đạt đến và an trú vào mục đích của Sa-môn hạnh hoặc mục đích của Bà-la-môn hạnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự sanh khởi của năm quyền là với bao nhiêu biểu hiện? Nhận biết sự sanh khởi của năm quyền bằng bao nhiêu biểu hiện? Sự biến mất của năm quyền là với bao nhiêu biểu hiện? Nhận biết sự biến mất của năm quyền bằng bao nhiêu biểu hiện? Sự khoái lạc của năm quyền là với bao nhiêu biểu hiện? Nhận biết sự khoái lạc của năm quyền bằng bao nhiêu biểu hiện? Sự tai hại của năm quyền là với bao nhiêu biểu hiện? Nhận biết sự tai hại của năm quyền bằng bao nhiêu biểu hiện? Sự xuất ly của năm quyền là với bao nhiêu biểu hiện? Nhận biết sự xuất ly của năm quyền bằng bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự sanh khởi của năm quyền là với 40 biểu hiện, (hành giả) nhận biết sự sanh khởi của năm quyền bằng 40 biểu hiện. Sự biến mất của năm quyền là với 40 biểu hiện, (hành giả) nhận biết sự biến mất của năm quyền bằng 40 biểu hiện. Sự khoái lạc của năm quyền là với 25 biểu hiện, (hành giả) nhận biết sự khoái lạc của năm quyền bằng 25 biểu hiện. Sự tai hại của năm quyền là với 25 biểu hiện, (hành giả) nhận biết sự tai hại của năm quyền bằng 25 biểu hiện. Sự xuất ly của năm quyền là với 180 biểu hiện, (hành giả) nhận biết sự xuất ly của năm quyền bằng 180 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự sanh khởi của năm quyền là với 40 biểu hiện gì? Nhận biết sự sanh khởi của năm quyền bằng 40 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa cương quyết là sự sanh khởi của tín quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự cương quyết là sự sanh khởi của tín quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự cương quyết là sự sanh khởi của tín quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của tín quyền là sự sanh khởi của tín quyền. Sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa ra sức là sự sanh khởi của tấn quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự ra sức là sự sanh khởi của tấn quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự ra sức là sự sanh khởi của tấn quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của tấn quyền là sự sanh khởi của tấn quyền. Sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa thiết lập là sự sanh khởi của niệm quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự thiết lập là sự sanh khởi của niệm quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự thiết lập là sự sanh khởi của niệm quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của niệm quyền là sự sanh khởi của niệm quyền. Sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa không tản mạn là sự sanh khởi của định quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự không tản mạn là sự sanh khởi của định quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự không tản mạn là sự sanh khởi của định quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của định quyền là sự sanh khởi của định quyền. Sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa nhận thức là sự sanh khởi của tuệ quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự nhận thức là sự sanh khởi của tuệ quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự nhận thức là sự sanh khởi của tuệ quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của tuệ quyền là sự sanh khởi của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa cương quyết là sự sanh khởi của tín quyền, sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa ra sức là sự sanh khởi của tấn quyền, sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa thiết lập là sự sanh khởi của niệm quyền, sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa không tản mạn là sự sanh khởi của định quyền, sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa nhận thức là sự sanh khởi của tuệ quyền. Sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự cương quyết là sự sanh khởi của tín quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự ra sức là sự sanh khởi của tấn quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự thiết lập là sự sanh khởi của niệm quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự không tản mạn là sự sanh khởi của định quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự nhận thức là sự sanh khởi của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự cương quyết là sự sanh khởi của tín quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự ra sức là sự sanh khởi của tấn quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự thiết lập là sự sanh khởi của niệm quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự không tản mạn là sự sanh khởi của định quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự nhận thức là sự sanh khởi của tuệ quyền. Sự thiết lập của nhất thể do tác động của tín quyền là sự sanh khởi của tín quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của tấn quyền là sự sanh khởi của tấn quyền. sự thiết lập của nhất thể do tác động của niệm quyền là sự sanh khởi của niệm quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của định quyền là sự sanh khởi của định quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của tuệ quyền là sự sanh khởi của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự sanh khởi của năm quyền là với 40 biểu hiện này, (hành giả) nhận biết sự sanh khởi của năm quyền bằng 40 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự biến mất của năm quyền là với 40 biểu hiện gì? Nhận biết sự biến mất của năm quyền bằng 40 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa cương quyết là sự biến mất của tín quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự cương quyết là sự biến mất của tín quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự cương quyết là sự biến mất của tín quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của tín quyền là sự biến mất của tín quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa ra sức là sự biến mất của tấn quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự ra sức là sự biến mất của tấn quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự ra sức là sự biến mất của tấn quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của tấn quyền là sự biến mất của tấn quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa thiết lập là sự biến mất của niệm quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự thiết lập là sự biến mất của niệm quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự thiết lập là sự biến mất của niệm quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của niệm quyền là sự biến mất của niệm quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa không tản mạn là sự biến mất của định quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự không tản mạn là sự biến mất của định quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự không tản mạn là sự biến mất của định quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của định quyền là sự biến mất của định quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa nhận thức là sự biến mất của tuệ quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự nhận thức là sự biến mất của tuệ quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự nhận thức là sự biến mất của tuệ quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của tuệ quyền là sự biến mất của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa cương quyết là sự biến mất của tín quyền, sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa ra sức là sự biến mất của tấn quyền, sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa thiết lập là sự biến mất của niệm quyền, sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa không tản mạn là sự biến mất của định quyền, sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa nhận thức là sự biến mất của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự biến mất của ước muốn do tác động của sự cương quyết là sự biến mất của tín quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự ra sức là sự biến mất của tấn quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự thiết lập là sự biến mất của niệm quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự không tản mạn là sự biến mất của định quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự nhận thức là sự biến mất của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự biến mất của tác ý do tác động của sự cương quyết là sự biến mất của tín quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự ra sức là sự biến mất của tấn quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự thiết lập là sự biến mất của niệm quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự không tản mạn là sự biến mất của định quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự nhận thức là sự biến mất của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự không thiết lập của nhất thể do tác động của tín quyền là sự biến mất của tín quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của tấn quyền là sự biến mất của tấn quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của niệm quyền là sự biến mất của niệm quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của định quyền là sự biến mất của định quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của tuệ quyền là sự biến mất của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự biến mất của năm quyền là với 40 biểu hiện này, (hành giả) nhận biết sự biến mất của năm quyền bằng 40 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự khoái lạc của năm quyền là với 25 biểu hiện gì? Nhận biết sự khoái lạc của năm quyền bằng 25 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự không thiết lập của sự không có đức tin là sự khoái lạc của tín quyền, sự không thiết lập của trạng thái bực bội do không có đức tin là sự khoái lạc của tín quyền, sự tự tín của hành vi cương quyết là sự khoái lạc của tín quyền, sự an trú và đắc chứng thanh tịnh[3] là sự khoái lạc của tín quyền, lạc và hỷ tâm nào sanh lên tùy thuận vào tín quyền thì điều ấy là sự khoái lạc của tín quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự không thiết lập của biếng nhác là sự khoái lạc của tấn quyền, sự không thiết lập của trạng thái bực bội do biếng nhác là sự khoái lạc của tấn quyền, sự tự tín của hành vi ra sức là sự khoái lạc của tấn quyền, sự an trú và đắc chứng thanh tịnh là sự khoái lạc của tấn quyền, lạc và hỷ tâm nào sanh lên tùy thuận vào tấn quyền thì điều ấy là sự khoái lạc của tấn quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự không thiết lập của buông lung là sự khoái lạc của niệm quyền, sự không thiết lập của trạng thái bực bội do buông lung là sự khoái lạc của niệm quyền, sự tự tín của hành vi thiết lập là sự khoái lạc của niệm quyền, sự an trú và đắc chứng thanh tịnh là sự khoái lạc của niệm quyền, lạc và hỷ tâm nào sanh lên tùy thuận vào niệm quyền thì điều ấy là sự khoái lạc của niệm quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự không thiết lập của phóng dật là sự khoái lạc của định quyền, sự không thiết lập của trạng thái bực bội do phóng dật là sự khoái lạc của định quyền, sự tự tín của hành vi không tản mạn là sự khoái lạc của định quyền, sự an trú và đắc chứng thanh tịnh là sự khoái lạc của định quyền, lạc và hỷ tâm nào sanh lên tùy thuận vào định quyền thì điều ấy là sự khoái lạc của định quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự không thiết lập của vô minh là sự khoái lạc của tuệ quyền, sự không thiết lập của trạng thái bực bội do vô minh là sự khoái lạc của tuệ quyền, sự tự tín của hành vi nhận thức là sự khoái lạc của tuệ quyền, sự an trú và đắc chứng thanh tịnh là sự khoái lạc của tuệ quyền, lạc và hỷ tâm nào sanh lên tùy thuận vào tuệ quyền thì điều ấy là sự khoái lạc của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự khoái lạc của năm quyền là với 25 biểu hiện này, (hành giả) nhận biết sự khoái lạc của năm quyền bằng 25 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự tai hại của năm quyền là với 25 biểu hiện gì? Nhận biết sự tai hại của năm quyền bằng 25 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự thiết lập của sự không có đức tin là sự tai hại của tín quyền, sự thiết lập của trạng thái bực bội do không có đức tin là sự tai hại của tín quyền, theo ý nghĩa vô thường là sự tai hại của tín quyền, theo ý nghĩa khổ não là sự tai hại của tín quyền, theo ý nghĩa vô ngã là sự tai hại của tín quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự thiết lập của sự biếng nhác là sự tai hại của tấn quyền, sự thiết lập của trạng thái bực bội do biếng nhác là sự tai hại của tấn quyền, theo ý nghĩa vô thường là sự tai hại của tấn quyền, theo ý nghĩa khổ não là sự tai hại của tấn quyền, theo ý nghĩa vô ngã là sự tai hại của tấn quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự thiết lập của sự buông lung là sự tai hại của niệm quyền, sự thiết lập của trạng thái bực bội do buông lung là sự tai hại của niệm quyền, theo ý nghĩa vô thường là sự tai hại của niệm quyền, theo ý nghĩa khổ não là sự tai hại của niệm quyền, theo ý nghĩa vô ngã là sự tai hại của niệm quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự thiết lập của phóng dật là sự tai hại của định quyền, sự thiết lập của trạng thái bực bội do phóng dật là sự tai hại của định quyền, theo ý nghĩa vô thường là sự tai hại của định quyền, theo ý nghĩa khổ não là sự tai hại của định quyền, theo ý nghĩa vô ngã là sự tai hại của định quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự thiết lập của vô minh là sự tai hại của tuệ quyền, sự thiết lập của trạng thái bực bội do vô minh là sự tai hại của tuệ quyền, theo ý nghĩa vô thường là sự tai hại của tuệ quyền, theo ý nghĩa khổ não là sự tai hại của tuệ quyền, theo ý nghĩa vô ngã là sự tai hại của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự tai hại của năm quyền là với 25 biểu hiện này, (hành giả) nhận biết sự tai hại của năm quyền bằng 25 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự xuất ly của năm quyền là với 180 biểu hiện gì? Nhận biết sự xuất ly của năm quyền bằng 180 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ý nghĩa cương quyết, tín quyền được xuất ly khỏi sự không có đức tin, được xuất ly khỏi trạng thái bực bội do không có đức tin, được xuất ly khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, được xuất ly khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần, từ đó được xuất ly khỏi tín quyền (thuộc thời điểm) liền trước đây nhờ sự thành tựu tín quyền thù thắng hơn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ý nghĩa ra sức, tấn quyền được xuất ly khỏi sự biếng nhác, được xuất ly khỏi trạng thái bực bội do biếng nhác, được xuất ly khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, được xuất ly khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần, từ đó được xuất ly khỏi tấn quyền (thuộc thời điểm) liền trước đây nhờ sự thành tựu tấn quyền thù thắng hơn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ý nghĩa thiết lập, niệm quyền được xuất ly khỏi sự buông lung, được xuất ly khỏi trạng thái bực bội do buông lung, được xuất ly khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, được xuất ly khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần, từ đó được xuất ly khỏi niệm quyền (thuộc thời điểm) liền trước đây nhờ sự thành tựu của niệm quyền thù thắng hơn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ý nghĩa không tản mạn, định quyền được xuất ly khỏi sự phóng dật, được xuất ly khỏi trạng thái bực bội do phóng dật, được xuất ly khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, được xuất ly khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần, từ đó được xuất ly khỏi định quyền (thuộc thời điểm) liền trước đây nhờ sự thành tựu của định quyền thù thắng hơn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ý nghĩa nhận thức, tuệ quyền được xuất ly khỏi vô minh, được xuất ly khỏi trạng thái bực bội do vô minh, được xuất ly khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, được xuất ly khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần, từ đó được xuất ly khỏi tuệ quyền (thuộc thời điểm) liền trước đây nhờ sự thành tựu của tuệ quyền thù thắng hơn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của sơ thiền, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở giai đoạn trước đây. Do nhờ năng lực của nhị thiền, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sơ thiền. Do nhờ năng lực của tam thiền, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở nhị thiền. Do nhờ năng lực của tứ thiền, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở tam thiền. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt không vô biên xứ, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở tứ thiền. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt thức vô biên xứ, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự chứng đạt không vô biên xứ. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt vô sở hữu xứ, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự chứng đạt thức vô biên xứ. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự chứng đạt vô sở hữu xứ. Do nhờ năng lực của sự quán xét về vô thường, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của sự quán xét về khổ não, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về vô thường. Do nhờ năng lực của sự quán xét về vô ngã, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về khổ não. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự nhàm chán, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về vô ngã. Do nhờ năng lực của sự quán xét về ly tham ái, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự nhàm chán. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự diệt tận, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về ly tham ái. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự từ bỏ, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự diệt tận. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự đoạn tận, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự từ bỏ. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự biến hoại, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự đoạn tận. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự chuyển biến, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự biến hoại. Do nhờ năng lực của sự quán xét về vô tướng, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự chuyển biến. Do nhờ năng lực của sự quán xét về vô nguyện, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về vô tướng. Do nhờ năng lực của sự quán xét về không tánh, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về vô nguyện. Do nhờ năng lực của sự minh sát các pháp bằng thắng tuệ, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về không tánh. Do nhờ năng lực của sự biết và thấy đúng theo thực thể, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự minh sát các pháp bằng thắng tuệ. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự tai hại, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự biết và thấy đúng theo thực thể. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự phân biệt rõ, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự tai hại. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự ly khai, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự phân biệt rõ. Do nhờ năng lực của Đạo Nhập Lưu, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự ly khai. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt Quả Nhập Lưu, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở Đạo Nhập Lưu. Do nhờ năng lực của Đạo Nhất Lai, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự chứng đạt Quả Nhập Lưu. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt Quả Nhất Lai, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở Đạo Nhất Lai. Do nhờ năng lực của Đạo Bất Lai, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự chứng đạt Quả Nhất Lai. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt Quả Bất Lai, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở Đạo Bất Lai. Do nhờ năng lực của Đạo A-la-hán, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự chứng đạt Quả Bất Lai. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt Quả A-la-hán, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở Đạo A-la-hán.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm quyền ở sự thoát ly được xuất ly khỏi ước muốn trong các dục. Năm quyền ở sự không sân độc được xuất ly khỏi sự sân độc. Năm quyền ở sự nghĩ tưởng đến ánh sáng được xuất ly khỏi sự lờ đờ buồn ngủ. Năm quyền ở sự không tản mạn được xuất ly khỏi sự phóng dật. Năm quyền ở sự xác định pháp được xuất ly khỏi sự hoài nghi. Năm quyền ở trí được xuất ly khỏi vô minh. Năm quyền ở sự hân hoan được xuất ly khỏi sự không hứng thú.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm quyền ở sơ thiền được xuất ly khỏi các pháp ngăn che. Năm quyền ở nhị thiền được xuất ly khỏi tầm và tứ. Năm quyền ở tam thiền được xuất ly khỏi hỷ. Năm quyền ở tứ thiền được xuất ly khỏi lạc và khổ. Năm quyền ở sự chứng đạt không vô biên xứ được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về sắc, sự nghĩ tưởng về bất bình, sự nghĩ tưởng về trạng thái khác biệt. Năm quyền ở sự chứng đạt thức vô biên xứ được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ. Năm quyền ở sự chứng đạt vô sở hữu xứ được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ. Năm quyền ở sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm quyền ở sự quán xét về vô thường được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về thường còn. Năm quyền ở sự quán xét về khổ não được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về lạc. Năm quyền ở sự quán xét về vô ngã được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về ngã. Năm quyền ở sự quán xét về sự nhàm chán được xuất ly khỏi sự vui thích. Năm quyền ở sự quán xét về ly tham ái được xuất ly khỏi tham ái. Năm quyền ở sự quán xét về sự diệt tận được xuất ly khỏi nhân sanh khởi. Năm quyền ở sự quán xét về sự từ bỏ được xuất ly khỏi sự tai hại. Năm quyền ở sự quán xét về sự đoạn tận được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về tiếp diễn. Năm quyền ở sự quán xét về sự biến hoại được xuất ly khỏi (nghiệp) tích lũy. Năm quyền ở sự quán xét về sự chuyển biến được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về bền vững. Năm quyền ở sự quán xét về vô tướng được xuất ly khỏi hiện tướng. Năm quyền ở sự quán xét về vô nguyện được xuất ly khỏi sự nguyện ước. Năm quyền ở sự quán xét về không tánh được xuất ly khỏi sự cố chấp. Năm quyền ở sự minh sát các pháp bằng thắng tuệ được xuất ly khỏi sự cố chấp về thực chất (của thường còn, của tự ngã). Năm quyền ở sự biết và thấy đúng theo thực thể được xuất ly khỏi cố chấp vào sự lầm lẫn. Năm quyền ở sự quán xét về sự tai hại được xuất ly khỏi sự cố chấp vào sự lệ thuộc. Năm quyền ở sự quán xét về sự phân biệt rõ được xuất ly khỏi sự không phân biệt rõ. Năm quyền ở sự quán xét về sự ly khai được xuất ly khỏi sự cố chấp vào sự ràng buộc.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm quyền ở Đạo Nhập Lưu được xuất ly khỏi các phiền não thuần về tà kiến, năm quyền ở Đạo Nhất Lai được xuất ly khỏi các phiền não thô thiển, năm quyền ở Đạo Bất Lai được xuất ly khỏi các phiền não có tính chất vi tế, năm quyền ở Đạo A-la-hán được xuất ly khỏi toàn bộ phiền não; trong mọi trường hợp, năm quyền của chính tất cả các bậc Lậu Tận không những là được xuất ly, mà còn được xuất ly tốt đẹp, được tịnh lặng, và được tịnh lặng tốt đẹp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự xuất ly của năm quyền là với 180 biểu hiện này, (hành giả) nhận biết sự xuất ly của năm quyền bằng 180 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích về bài Kinh thứ nhì.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tụng Phẩm thứ nhất.</b></span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/tieu-bo/phan-tich-dao/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Tỳ-khưu Indacanda</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/tang-kinh-tieu-bo-phan-tich-dao-tap-1/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Tỳ-khưu Indacanda</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I – PAṬISAMBHIDĀMAGGO VI &#8211; GIẢNG VỀ QUYỀN: Bài Kinh thứ ba</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-dao-i-pa%e1%b9%adisambhidamaggo-vi-giang-ve-quyen-bai-kinh-thu-ba/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 12 Mar 2021 15:49:40 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=83930</guid>

					<description><![CDATA[IV. GIẢNG VỀ QUYỀN 3. Bài Kinh thứ ba [Duyên khởi ở  Sāvatthi] Này các tỳ khưu, đây là năm]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">IV. GIẢNG VỀ QUYỀN</span></h2>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">3. Bài Kinh thứ ba</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Duyên khởi ở  Sāvatthi</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là năm quyền. Những gì là năm? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, tín quyền nên được quan sát ở đâu? Ở bốn chi phần của Nhập Lưu, tín quyền nên được quan sát ở đây. Và này các tỳ khưu, tấn quyền nên được quan sát ở đâu? Ở bốn chánh cần, tấn quyền nên được quan sát ở đây. Và này các tỳ khưu, niệm quyền nên được quan sát ở đâu? Ở bốn sự thiết lập niệm, niệm quyền nên được quan sát ở đây. Và này các tỳ khưu, định quyền nên được quan sát ở đâu? Ở bốn thiền, định quyền nên được quan sát ở đây. Và này các tỳ khưu, tuệ quyền nên được quan sát ở đâu? Ở bốn chân lý cao thượng, tuệ quyền nên được quan sát ở đây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của tín quyền ở bốn chi phần của Nhập Lưu, năm quyền nên được quan sát theo bao nhiêu biểu hiện? Do nhờ năng lực của tấn quyền ở bốn chánh cần, năm quyền nên được quan sát theo bao nhiêu biểu hiện? Do nhờ năng lực của niệm quyền ở bốn sự thiết lập niệm, năm quyền nên được quan sát theo bao nhiêu biểu hiện? Do nhờ năng lực của định quyền ở bốn thiền, năm quyền nên được quan sát theo bao nhiêu biểu hiện? Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chân lý cao thượng, năm quyền nên được quan sát theo bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của tín quyền ở bốn chi phần của Nhập Lưu, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện. Do nhờ năng lực của tấn quyền ở bốn chánh cần, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện. Do nhờ năng lực của niệm quyền ở bốn sự thiết lập niệm, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện. Do nhờ năng lực của định quyền ở bốn thiền, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện. Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chân lý cao thượng, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của tín quyền ở bốn chi phần của Nhập Lưu, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở bốn chi phần của Nhập Lưu về sự thân cận bậc chân nhân, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tín quyền, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức. Ở bốn chi phần của Nhập Lưu về sự lắng nghe Chánh Pháp, &#8230;(như trên)&#8230; về sự tác ý đúng đường lối, &#8230;(như trên)&#8230; về sự thực hành đúng pháp và thuận pháp, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tín quyền, &#8230;(như trên)&#8230; tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của tín quyền ở bốn chi phần của Nhập Lưu, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của tấn quyền ở bốn chánh cần, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở chánh cần nhằm không làm sanh khởi các pháp ác bất thiện chưa được sanh khởi, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tấn quyền, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết. Ở chánh cần nhằm dứt bỏ các pháp ác bất thiện chưa được sanh khởi, &#8230;(nt)&#8230; Ở chánh cần nhằm làm sanh khởi các pháp thiện chưa được sanh khởi, &#8230;(nt)&#8230; Ở chánh cần nhắm đến sự duy trì, sự không bị lẫn lộn, sự tăng trưởng, sự dồi dào, sự phát triển, sự làm tròn đủ các pháp thiện đã được sanh khởi, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tấn quyền, &#8230; tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của tấn quyền ở bốn chánh cần, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của niệm quyền ở bốn sự thiết lập niệm, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở sự thiết lập niệm về quán xét thân trên thân, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của niệm quyền, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức. Ở sự thiết lập niệm về quán xét thọ trên các thọ, &#8230;(như trên)&#8230; Ở sự thiết lập niệm về quán xét tâm trên tâm, &#8230;(như trên)&#8230; Ở sự thiết lập niệm về quán xét pháp trên các pháp, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của niệm quyền, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, &#8230;(như trên)&#8230; tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của niệm quyền ở bốn sự thiết lập niệm, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của định quyền ở bốn thiền, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở sơ thiền, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của định quyền, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập. Ở nhị thiền, &#8230;(như trên)&#8230; Ở tam thiền, &#8230;(như trên)&#8230; Ở tứ thiền, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của định quyền, &#8230;(như trên)&#8230; niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của định quyền ở bốn thiền, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chân lý cao thượng, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở chân lý cao thượng về Khổ, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tuệ quyền, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn. Ở chân lý cao thượng về nhân sanh Khổ, &#8230;(như trên)&#8230; Ở chân lý cao thượng về sự diệt tận Khổ, &#8230;(như trên)&#8230; Ở chân lý cao thượng về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tuệ quyền, &#8230;(như trên)&#8230; định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chân lý cao thượng, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của tín quyền ở bốn chi phần của Nhập Lưu, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo bao nhiêu biểu hiện? Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chánh cần &#8230;(như trên)&#8230; ở bốn sự thiết lập niệm &#8230;(như trên)&#8230; ở bốn thiền &#8230;(như trên)&#8230; ở bốn chân lý cao thượng, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo bao nhiêu biểu hiện? Do nhờ năng lực của tín quyền ở bốn chi phần của Nhập Lưu, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện. Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chánh cần &#8230;(như trên)&#8230; ở bốn sự thiết lập niệm &#8230;(như trên)&#8230; ở bốn thiền &#8230;(như trên)&#8230; ở bốn chân lý cao thượng, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của tín quyền ở bốn chi phần của Nhập Lưu, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở bốn chi phần của Nhập Lưu về sự thân cận bậc chân nhân, hành vi của tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tín quyền, hành vi của tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, hành vi của niệm quyền &#8230; theo ý nghĩa thiết lập, hành vi của định quyền &#8230; theo ý nghĩa không tản mạn, hành vi của tuệ quyền &#8230; theo ý nghĩa nhận thức. Ở bốn chi phần của Nhập Lưu về sự lắng nghe Chánh Pháp, &#8230;(như trên)&#8230; về sự tác ý đúng đường lối, &#8230;(như trên)&#8230; về sự thực hành đúng pháp và thuận pháp, hành vi của tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tín quyền, &#8230;(nt)&#8230; hành vi của tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở bốn chi phần của Nhập Lưu, do nhờ năng lực của tín quyền hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của tấn quyền ở bốn chánh cần, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở chánh cần nhằm không làm sanh khởi các pháp ác bất thiện chưa được sanh khởi, hành vi của tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tấn quyền, hành vi của niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, hành vi của định quyền &#8230; theo ý nghĩa không tản mạn, hành vi của tuệ quyền &#8230; theo ý nghĩa nhận thức, hành vi của tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết. Ở chánh cần nhằm dứt bỏ các pháp ác bất thiện chưa được sanh khởi, &#8230;(như trên)&#8230; nhằm làm sanh khởi các pháp thiện chưa được sanh khởi, &#8230;(như trên)&#8230; nhắm đến sự duy trì, sự không bị lẫn lộn, sự tăng trưởng, sự dồi dào, sự phát triển, sự làm tròn đủ các pháp thiện đã được sanh khởi, hành vi của tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tấn quyền &#8230;(như trên)&#8230; hành vi của tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của tấn quyền ở bốn chánh cần, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của niệm quyền ở bốn sự thiết lập niệm, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở sự thiết lập niệm về quán xét thân trên thân, hành vi của niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của niệm quyền, hành vi của định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, hành vi của tuệ quyền &#8230; theo ý nghĩa nhận thức, hành vi của tín quyền &#8230; theo ý nghĩa cương quyết, hành vi của tấn quyền &#8230; theo ý nghĩa ra sức. Ở sự thiết lập niệm về quán xét thọ trên các thọ, &#8230;(nt)&#8230; về quán xét tâm trên tâm, &#8230;(nt)&#8230; về quán xét pháp trên các pháp, hành vi của niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập là pháp chủ đạo; &#8230;(nt)..</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của niệm quyền ở bốn sự thiết lập niệm, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của định quyền ở bốn thiền, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở sơ thiền, hành vi của định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của định quyền, hành vi của tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức, hành vi của tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, hành vi của tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, hành vi của niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập. Ở nhị thiền, &#8230;(như trên)&#8230; Ở tam thiền, &#8230;(như trên)&#8230; Ở tứ thiền, hành vi của định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của định quyền, &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của định quyền ở bốn thiền, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chân lý cao thượng, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở chân lý cao thượng về Khổ, hành vi của tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tuệ quyền, hành vi của tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, hành vi của tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, hành vi của niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, hành vi của định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn. Ở chân lý cao thượng về nhân sanh Khổ, &#8230;(như trên)&#8230; Ở chân lý cao thượng về sự diệt tận Khổ, &#8230;(như trên)&#8230; Ở chân lý cao thượng về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ, hành vi của tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tuệ quyền, &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chân lý cao thượng, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành vi và sự an trú là được phát hiện và được thấu triệt. Các bậc trí hành Phạm hạnh có thể xác nhận về những lãnh vực thâm sâu cho người đang hành động như thế ấy, đang an trú như thế ấy rằng: ‘Chắc chắn vị tôn túc này đã đạt đến hoặc sẽ thành tựu.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành vi:</b> Có tám hành vi: hành vi của oai nghi, hành vi của xứ, hành vi của niệm, hành vi của định, hành vi của trí, hành vi của Đạo, hành vi của sự đạt đến, và hành vi vì lợi ích của thế gian.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành vi của oai nghi:</b> liên quan đến bốn oai nghi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành vi của xứ:</b> liên quan đến sáu nội ngoại xứ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành vi của niệm:</b> liên quan đến bốn sự thiết lập niệm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành vi của định:</b> liên quan đến bốn thiền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành vi của trí:</b> liên quan đến bốn chân lý cao thượng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành vi của Đạo:</b> liên quan đến bốn Thánh Đạo.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành vi của sự đạt đến: </b>liên quan đến bốn Quả vị Sa-môn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành vi vì lợi ích của thế gian:</b> liên quan đến các đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác, liên quan một phần đến các vị Phật Độc Giác, liên quan một phần đến các vị Thinh Văn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành vi của oai nghi là của các vị đã thành tựu nguyện vọng, hành vi của xứ là của các vị có sự hộ trì các căn,<a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/37/Pts_06.htm#_ftn4" name="_ftnref4" rel="nofollow noopener" target="_blank">[4]</a> hành vi của niệm là của các vị an trú vào sự không buông lung, hành vi của định là của các vị gắn bó vào thắng tâm, hành vi của trí là của các vị đã thành tựu sự giác ngộ, hành vi của Đạo là của các vị thực hành đúng đắn, hành vi của sự đạt đến là của các Quả vị đã được chứng đạt, hành vi vì lợi ích của thế gian là của các đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác, là một phần đối với các vị Phật Độc Giác, là một phần đối với các vị Thinh Văn; đây là tám hành vi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có tám hành vi khác nữa: Trong khi cương quyết là hành xử với tín, trong khi ra sức là hành xử với tấn, trong khi thiết lập là hành xử với niệm, trong khi không tản mạn là hành xử với định, trong khi nhận biết là hành xử với tuệ, trong khi nhận thức là hành xử với hành vi của thức, ‘ở vị thực hành như thế, các thiện pháp được thể hiện’ là hành xử với hành vi của xứ, ‘vị thực hành như thế chứng đắc đặc biệt’ là hành xử với hành vi của chứng đắc; đây là tám hành vi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có tám hành vi khác nữa: Hành vi nhận thức của chánh kiến, hành vi gắn chặt (tâm vào cảnh) của chánh tư duy, hành vi gìn giữ của chánh ngữ, hành vi nguồn sanh khởi của chánh nghiệp, hành vi trong sạch của chánh mạng, hành vi ra sức của chánh tinh tấn, hành vi thiết lập của chánh niệm, hành vi không tản mạn của chánh định; đây là tám hành vi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự an trú:</b> Trong khi cương quyết là an trú với tín, trong khi ra sức là an trú với tấn, trong khi thiết lập là an trú với niệm, trong khi hành động không tản mạn là an trú với định, trong khi là nhận biết là an trú với tuệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Được phát hiện:</b> Ý nghĩa cương quyết của tín quyền là được phát hiện, ý nghĩa ra sức của tấn quyền là được phát hiện, ý nghĩa thiết lập của niệm quyền là được phát hiện, ý nghĩa không tản mạn của định quyền là được phát hiện, ý nghĩa nhận thức của tuệ quyền là được phát hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Được thấu triệt:</b> Ý nghĩa cương quyết của tín quyền là được thấu triệt, ý nghĩa ra sức của tấn quyền là được thấu triệt, ý nghĩa thiết lập của niệm quyền là được thấu triệt, ý nghĩa không tản mạn của định quyền là được thấu triệt, ý nghĩa nhận thức của tuệ quyền là được thấu triệt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đang hành động như thế ấy:</b> đang hành động với tín như thế, đang hành động với tấn như thế, đang hành động với niệm như thế, đang hành động với định như thế, đang hành động với tuệ như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đang an trú như thế ấy:</b> đang an trú với tín như thế, đang an trú với tấn như thế, đang an trú với niệm như thế, đang an trú với định như thế, đang an trú với tuệ như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Các bậc trí:</b> Các bậc có trí, hiểu biết, nhạy bén, khôn ngoan, đã thành tựu sự giác ngộ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có Phạm hạnh:</b> có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn <i>Pātimokkha</i>), có sự học tập giống nhau.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Về những lãnh vực thâm sâu:</b> các tầng thiền, các sự giải thoát, các tầng định, các sự chứng đạt, các Đạo, các Quả, các thắng trí, các (trí) phân tích được gọi là những lãnh vực thâm sâu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có thể xác nhận:</b> có thể tin tưởng, có thể khẳng định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chắc chắn:</b> Đây là lời nói một chiều, đây là lời nói không nghi ngờ, đây là lời nói không hoài nghi, đây là lời nói không có hai nghĩa, đây là lời nói không có hai ý, đây là lời nói quả quyết, đây là lời nói không lập lờ, đây là lời nói xác định: ‘Chắc chắn.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị tôn túc:</b> Đây là lời nói quý mến, đây là lời nói tôn trọng, đây là lời nói văn hoa có sự tôn kính và quy thuận: ‘Vị tôn túc.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đã đạt đến:</b> đã chứng đắc. <b>Hoặc sẽ thành tựu:</b> hoặc sẽ chứng đắc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích về bài Kinh thứ ba.</b></span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/tieu-bo/phan-tich-dao/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Tỳ-khưu Indacanda</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/tang-kinh-tieu-bo-phan-tich-dao-tap-1/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Tỳ-khưu Indacanda</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH ĐẠO I – PAṬISAMBHIDĀMAGGO VI &#8211; GIẢNG VỀ QUYỀN: Bài Kinh thứ tư</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-dao-i-pa%e1%b9%adisambhidamaggo-vi-giang-ve-quyen-bai-kinh-thu-tu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 12 Mar 2021 15:50:15 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH ĐẠO I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU BỘ]]></category>
		<category><![CDATA[Phân Tích Đạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=83931</guid>

					<description><![CDATA[IV. GIẢNG VỀ QUYỀN 4. Bài Kinh thứ tư [Duyên khởi ở  Sāvatthi] Này các tỳ khưu, đây là năm]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">IV. GIẢNG VỀ QUYỀN</span></h2>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">4. Bài Kinh thứ tư</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Duyên khởi ở  Sāvatthi</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là năm quyền. Năm (quyền) là gì? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền. Này các tỳ khưu, đây là năm quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm quyền này nên được quan sát theo ý nghĩa gì với bao nhiêu biểu hiện? Năm quyền này nên được quan sát theo ý nghĩa ấy với sáu biểu hiện: theo ý nghĩa của pháp chủ đạo, theo ý nghĩa của việc làm trong sạch phần đầu, theo ý nghĩa vượt trội, theo ý nghĩa khẳng định, theo ý nghĩa chấm dứt, theo ý nghĩa tạo lập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa của pháp chủ đạo là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang dứt bỏ sự không có đức tin, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tín quyền, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang dứt bỏ sự biếng nhác, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tấn quyền, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, định quyền &#8230; theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền &#8230; theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang dứt bỏ sự buông lung, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của niệm quyền, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền &#8230; theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền &#8230; theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của định quyền, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền &#8230; cương quyết, tấn quyền &#8230; ra sức, niệm quyền &#8230; thiết lập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tuệ quyền, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền &#8230; theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền &#8230; theo ý nghĩa thiết lập, định quyền &#8230; theo ý nghĩa không tản mạn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang dứt bỏ ước muốn trong các dục, do nhờ năng lực của sự thoát ly, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo, tấn quyền &#8230; theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền &#8230; thiết lập, định quyền &#8230; không tản mạn, tuệ quyền &#8230; nhận thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang dứt bỏ ước muốn trong các dục, do nhờ năng lực của sự thoát ly, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tấn quyền, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, định quyền &#8230; theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền &#8230; nhận thức, tín quyền &#8230; cương quyết.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang dứt bỏ ước muốn trong các dục, do nhờ năng lực của sự thoát ly, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của niệm quyền, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền &#8230; theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền &#8230; cương quyết, tấn quyền &#8230; ra sức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang dứt bỏ ước muốn trong các dục, do nhờ năng lực của sự thoát ly, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của định quyền, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền &#8230; theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền &#8230; ra sức, niệm quyền &#8230; thiết lập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang dứt bỏ ước muốn trong các dục, do nhờ năng lực của sự thoát ly, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tuệ quyền, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền &#8230; theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền &#8230; thiết lập, định quyền &#8230; không tản mạn.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đang dứt bỏ sân độc, do nhờ năng lực của sự không sân độc, &#8230;(nt)&#8230; Đối với vị đang dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, do nhờ năng lực của sự nghĩ tưởng đến ánh sáng &#8230;(nt)&#8230; Đối với vị đang dứt bỏ toàn bộ phiền não, do nhờ năng lực của Đạo A-la-hán, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tín quyền, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền &#8230; theo ý nghĩa thiết lập, định quyền &#8230; theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền &#8230; theo ý nghĩa nhận thức. &#8230;(nt)&#8230; Đối với vị đang dứt bỏ toàn bộ phiền não, do nhờ năng lực của Đạo A-la-hán, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tuệ quyền, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền &#8230; theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền &#8230; thiết lập, định quyền &#8230; không tản mạn. Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa của pháp chủ đạo là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa của việc làm trong sạch phần đầu là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tín quyền theo ý nghĩa cương quyết, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với sự không có đức tin là việc làm trong sạch phần đầu của tín quyền. Tấn quyền theo ý nghĩa ra sức, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với sự không biếng nhác là việc làm trong sạch phần đầu của tấn quyền. Niệm quyền theo ý nghĩa thiết lập, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với sự không buông lung là việc làm trong sạch phần đầu của niệm quyền. Định quyền theo ý nghĩa không tản mạn, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với sự không phóng dật là việc làm trong sạch phần đầu của định quyền. Tuệ quyền theo ý nghĩa nhận thức, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với vô minh là việc làm trong sạch phần đầu của tuệ quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm quyền ở sự thoát ly, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với ước muốn trong các dục là việc làm trong sạch phần đầu của năm quyền. Năm quyền ở sự không sân độc, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với sân độc là việc làm trong sạch phần đầu của năm quyền. &#8230;(nt)&#8230; Năm quyền ở Đạo A-la-hán, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với toàn bộ phiền não là việc làm trong sạch phần đầu của năm quyền. Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa của việc làm trong sạch phần đầu là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa vượt trội là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do sự phát triển của tín quyền, ước muốn sanh lên; do tác động của ước muốn, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do tác động của ước muốn, hân hoan sanh lên; do tác động của hân hoan, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do tác động của hân hoan, hỷ sanh lên; do tác động của hỷ, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do tác động của hỷ, tịnh sanh lên; do tác động của tịnh, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do tác động của tịnh, lạc sanh lên; do tác động của lạc, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do tác động của lạc, ánh sáng sanh lên; do tác động của ánh sáng, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do tác động của ánh sáng, sự động tâm sanh lên; do tác động của sự động tâm, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Sau khi động tâm, (hành giả) tập trung tâm; do tác động của định, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. (Vị ấy) khéo léo ra sức tâm đã được định tĩnh như vậy; do tác động của sự ra sức, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. (Vị ấy) hoàn toàn bình thản (xả) đối với tâm đã được ra sức như vậy; do tác động của sự bình thản, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do tác động của sự bình thản, tâm được phóng thích khỏi các phiền não có bản chất khác biệt; do tác động của sự phóng thích, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được phóng thích, các pháp ấy<a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/37/Pts_06.htm#_ftn5" name="_ftnref5" rel="nofollow noopener" target="_blank">[5]</a> là có nhất vị; do tác động của sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được tu tập, chúng ly khai (hướng) đến pháp thù thắng hơn thế nũa; do tác động của sự ly khai, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được ly khai, từ đó (vị ấy) xả ly; do tác động của sự xả ly, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được xả ly, từ đó chúng được diệt tận; do tác động của sự diệt tận, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do nhờ năng lực của sự diệt tận, có hai sự xả ly: sự xả ly do buông bỏ và sự xả ly do tiến vào. ‘Buông bỏ các phiền não và các uẩn’ là sự xả ly do buông bỏ, ‘Tâm tiến vào sự diệt tận, cảnh giới Niết Bàn’ là sự từ bỏ do tiến vào; do nhờ năng lực của sự diệt tận, có hai sự xả ly này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do sự dứt bỏ không có đức tin, ước muốn sanh lên; &#8230; Do sự dứt bỏ trạng thái bực bội do không có đức tin, ước muốn sanh lên; &#8230; Do sự dứt bỏ các phiền não thuần về tà kiến, ước muốn sanh lên; &#8230; Do sự dứt bỏ các phiền não thô thiển, ước muốn sanh lên; &#8230; Do sự dứt bỏ các phiền não phiền não có tính chất vi tế, ước muốn sanh lên; &#8230; Do sự dứt bỏ toàn bộ phiền não, ước muốn sanh lên; do tác động của ước muốn, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. &#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do sự phát triển tấn quyền, ước muốn sanh lên; &#8230;(nt)&#8230; Do sự dứt bỏ biếng nhác, ước muốn sanh lên; &#8230;(nt)&#8230; Do sự dứt bỏ trạng thái bực bội do biếng nhác, ước muốn sanh lên; &#8230;(nt)&#8230; Do sự dứt bỏ các phiền não thuần về tà kiến, ước muốn sanh lên; &#8230;(nt)&#8230; Do sự dứt bỏ toàn bộ phiền não, ước muốn sanh lên; &#8230;(nt)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do sự phát triển niệm quyền, ước muốn sanh lên; &#8230;(nt)&#8230; Do sự dứt bỏ buông lung, ước muốn sanh lên; &#8230;(nt)&#8230; Do sự dứt bỏ trạng thái bực bội do buông lung, ước muốn sanh lên; &#8230;(nt)&#8230; Do sự dứt bỏ toàn bộ phiền não, ước muốn sanh lên; &#8230;(nt)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do sự phát triển của định quyền, ước muốn sanh lên; &#8230;(nt)&#8230; Do sự dứt bỏ phóng dật, ước muốn sanh lên; &#8230;(nt)&#8230; Do sự dứt bỏ trạng thái bực bội do phóng dật, ước muốn sanh lên; &#8230;(nt)&#8230; Do sự dứt bỏ toàn bộ phiền não, ước muốn sanh lên; &#8230;(nt)&#8230;  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do sự phát triển của tuệ quyền, ước muốn sanh lên; &#8230;(nt)&#8230; Do sự dứt bỏ vô minh, ước muốn sanh lên; &#8230; Do sự dứt bỏ trạng thái bực bội do vô minh, ước muốn sanh lên; &#8230; Do sự dứt bỏ các phiền não thuần về tà kiến, ước muốn sanh lên; &#8230; Do sự dứt bỏ các phiền não thô thiển, ước muốn sanh lên; &#8230; Do sự dứt bỏ các phiền não có tính chất vi tế, ước muốn sanh lên; &#8230;(nt)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do sự dứt bỏ toàn bộ phiền não, ước muốn sanh lên; do tác động của ước muốn, do tác động của tuệ, tuệ quyền là vượt trội. Do tác động của ước muốn, hân hoan sanh lên; do tác động của hân hoan, do tác động của tuệ, tuệ quyền là vượt trội. Do tác động của hân hoan, hỷ sanh lên; do tác động của hỷ, &#8230; tuệ quyền là vượt trội. Do tác động của hỷ, tịnh sanh lên; do tác động của tịnh, &#8230; tuệ quyền là vượt trội. Do tác động của tịnh, lạc sanh lên; do tác động của lạc, &#8230; tuệ quyền là vượt trội. Do tác động của lạc, ánh sáng sanh lên; do tác động của ánh sáng, &#8230; tuệ quyền là vượt trội. Do tác động của ánh sáng, sự động tâm sanh lên; do tác động của sự động tâm, &#8230; tuệ quyền là vượt trội. Sau khi động tâm, (hành giả) tập trung tâm; do tác động của định, &#8230; tuệ quyền là vượt trội. (Vị ấy) khéo léo nắm giữ tâm đã được định tĩnh như vậy; do tác động của sự nắm giữ, &#8230; tuệ quyền là vượt trội. (Vị ấy) hoàn toàn bình thản (xả) đối với tâm đã được nắm giữ như vậy; do tác động của sự bình thản, &#8230; tuệ quyền là vượt trội. Do tác động của sự bình thản, tâm được phóng thích khỏi các phiền não có bản chất khác biệt; do tác động của sự phóng thích, &#8230; tuệ quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được phóng thích, các pháp ấy là có nhất vị; do tác động của sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị, &#8230; tuệ quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được tu tập, chúng ly khai (hướng) đến các pháp thù thắng hơn thế nũa; do tác động của sự ly khai, &#8230; tuệ quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được ly khai, từ đó (vị ấy) xả ly; do tác động của sự xả ly, &#8230; tuệ quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được xả ly, từ đó chúng được diệt tận; do tác động của sự diệt tận, do tác động của tuệ, tuệ quyền là vượt trội. Do nhờ năng lực của sự diệt tận, có hai sự xả ly: sự xả ly do buông bỏ và sự xả ly do tiến vào. ‘Buông bỏ các phiền não và các uẩn’ là sự xả ly do buông bỏ. ‘Tâm tiến vào sự diệt tận, cảnh giới Niết Bàn’ là sự từ bỏ do tiến vào. Do nhờ năng lực của sự diệt tận, có hai sự xả ly này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa vượt trội là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tụng Phẩm thứ nhì.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa khẳng định là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do sự phát triển của tín quyền, ước muốn sanh lên; do tác động của ước muốn, do tác động của đức tin, tín quyền được khẳng định. Do tác động của ước muốn, hân hoan sanh lên; do tác động của hân hoan, do tác động của đức tin, tín quyền được khẳng định. &#8230;(nt)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa khẳng định là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa chấm dứt là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tín quyền theo ý nghĩa cương quyết chấm dứt sự không có đức tin, chấm dứt trạng thái bực bội do không có đức tin. Tấn quyền theo ý nghĩa ra sức chấm dứt sự biếng nhác, chấm dứt trạng thái bực bội do biếng nhác. Niệm quyền theo ý nghĩa thiết lập chấm dứt sự buông lung, chấm dứt trạng thái bực bội do buông lung. Định quyền theo ý nghĩa không tản mạn chấm dứt sự phóng dật, chấm dứt trạng thái bực bội do phóng dật. Tuệ quyền theo ý nghĩa nhận thức chấm dứt vô minh, chấm dứt trạng thái bực bội do vô minh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm quyền ở sự thoát ly chấm dứt ước muốn trong các dục. Năm quyền ở sự không sân độc chấm dứt sân độc. Năm quyền ở sự nghĩ tưởng đến ánh sáng chấm dứt sự lờ đờ buồn ngủ. Năm quyền ở sự không tản mạn chấm dứt sự phóng dật. &#8230;(như trên)&#8230; Năm quyền ở Đạo A-la-hán chấm dứt toàn bộ phiền não.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa tạo lập là (có ý nghĩa) thế nào?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người có đức tin tạo lập tín quyền ở sự cương quyết, tín quyền của người có đức tin được tạo lập ở sự cương quyết. Người có sự tinh tấn tạo lập tấn quyền ở sự ra sức, tấn quyền của người có sự tinh tấn được tạo lập ở sự ra sức. Người có niệm tạo lập niệm quyền ở sự thiết lập, niệm quyền của người có niệm được tạo lập ở sự thiết lập. Người định tĩnh tạo lập định quyền ở sự không tản mạn, định quyền của người định tĩnh được tạo lập ở sự không tản mạn. Người có trí tuệ tạo lập tuệ quyền ở sự nhận thức, tuệ quyền của người có trí tuệ được tạo lập ở sự nhận thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành giả tạo lập năm quyền ở sự thoát ly, năm quyền của hành giả được tạo lập ở sự thoát ly. Hành giả tạo lập năm quyền ở sự không sân độc, &#8230;(như trên)&#8230; ở sự tưởng về ánh sáng, &#8230;(như trên)&#8230; ở sự không tản mạn, &#8230;(như trên)&#8230; ở sự nhận thức &#8230;(như trên)&#8230; Hành giả tạo lập năm quyền ở Đạo A-la-hán, năm quyền của hành giả được tạo lập ở Đạo A-la-hán.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa tạo lập là (có ý nghĩa) như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần giải thích về bài Kinh thứ tư.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phàm nhân trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với bao nhiêu biểu hiện? Vị Hữu Học trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với bao nhiêu biểu hiện? Vị lìa tham ái trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phàm nhân trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với bảy biểu hiện. Vị Hữu Học trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với tám biểu hiện. Vị lìa tham ái trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với mười biểu hiện.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phàm nhân trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với 7 biểu hiện gì? Do bản thể của việc đã được hướng tâm,[6] (phàm nhân) là thiện xảo về việc thiết lập đối tượng, &#8230; thiết lập hiện tướng của chỉ tịnh, &#8230; thiết lập hiện tướng của sự ra sức, &#8230; thiết lập sự không tản mạn, &#8230; thiết lập ánh sáng, &#8230; thiết lập sự hài lòng, &#8230; thiết lập sự bình thản (xả). Phàm nhân trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với 7 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị Hữu Học trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với 8 biểu hiện gì? Do bản thể của việc đã được hướng tâm, (vị Hữu Học) là thiện xảo về việc thiết lập đối tượng, &#8230; thiện xảo về việc thiết lập sự bình thản, thiện xảo về việc thiết lập nhất thể. Vị Hữu Học trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với 8 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị lìa tham ái trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với 10 biểu hiện gì? Do bản thể của việc đã được hướng tâm, (vị lìa tham ái) là thiện xảo về việc thiết lập đối tượng, &#8230;(như trên)&#8230;, thiện xảo về việc thiết lập nhất thể, thiện xảo về việc thiết lập trí, thiện xảo về việc thiết lập sự giải thoát. Vị lìa tham ái trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với 10 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phàm nhân trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với bao nhiêu biểu hiện? là thiện xảo về việc không thiết lập với bao nhiêu biểu hiện? Vị Hữu Học trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với bao nhiêu biểu hiện? là thiện xảo về việc không thiết lập với bao nhiêu biểu hiện? Vị lìa tham ái trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với bao nhiêu biểu hiện? là thiện xảo về việc không thiết lập với bao nhiêu biểu hiện?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phàm nhân trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 9 biểu hiện, là thiện xảo về việc không thiết lập với 9 biểu hiện. Vị Hữu Học trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 10 biểu hiện, là thiện xảo về việc không thiết lập với 10 biểu hiện. Vị lìa tham ái trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 12 biểu hiện, là thiện xảo về việc không thiết lập với 12 biểu hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phàm nhân trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 9 biểu hiện gì? là thiện xảo về việc không thiết lập với 9 biểu hiện gì? Là thiện xảo về việc thiết lập (sắc, thọ, &#8230;) là vô thường, là thiện xảo về việc không thiết lập là thường còn; &#8230; việc thiết lập là khổ não &#8230; việc không thiết lập là lạc; &#8230; việc thiết lập là vô ngã, &#8230; việc không thiết lập là ngã; &#8230; việc thiết lập là đoạn tận, &#8230; việc không thiết lập là tiếp diễn; &#8230; việc thiết lập là biến hoại, &#8230; việc không thiết lập sự tích lũy (nghiệp); &#8230; việc thiết lập sự chuyển biến, &#8230; việc không thiết lập là vững bền; &#8230; việc thiết lập vô tướng, &#8230; việc không thiết lập hiện tướng; &#8230; việc thiết lập vô nguyện, &#8230; việc không thiết lập nguyện ước; &#8230; việc thiết lập không tánh, &#8230; việc không thiết lập sự cố chấp. Phàm nhân trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 9 biểu hiện này, là thiện xảo về việc không thiết lập với 9 biểu hiện này.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị Hữu Học trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 10 biểu hiện gì? là thiện xảo về việc không thiết lập với 10 biểu hiện gì? Là thiện xảo về việc thiết lập là vô thường, là thiện xảo về việc không thiết lập là thường còn; &#8230;(như trên)&#8230;; là thiện xảo về việc thiết lập không tánh, là thiện xảo về việc không thiết lập sự cố chấp; là thiện xảo về việc thiết lập trí, là thiện xảo về việc không thiết lập vô trí. Vị Hữu Học trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 10 biểu hiện này, là thiện xảo về việc không thiết lập với 10 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị lìa tham ái trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 12 biểu hiện gì? là thiện xảo về việc không thiết lập với 12 biểu hiện gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là thiện xảo về việc thiết lập là vô thường, là thiện xảo về việc không thiết lập là thường còn; &#8230;(như trên)&#8230;; là thiện xảo về việc thiết lập trí, là thiện xảo về việc không thiết lập vô trí; &#8230; việc thiết lập sự không ràng buộc, &#8230; việc không thiết lập sự ràng buộc; &#8230; việc thiết lập sự diệt tận, &#8230; việc không thiết lập các hành. Vị lìa tham ái trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 12 biểu hiện này, là thiện xảo về việc không thiết lập với 12 biểu hiện này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do bản thể của việc đã được hướng tâm, nhờ vào tác động của sự thiện xảo về việc thiết lập đối tượng, (vị ấy) liên kết các quyền, nhận biết hành xứ, và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh. &#8230; (vị ấy) liên kết các pháp, nhận biết hành xứ, và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Liên kết các quyền</b>: Liên kết các quyền là (có ý nghĩa) thế nào? Liên kết tín quyền theo ý nghĩa cương quyết &#8230; nhờ vào tác động của sự thiện xảo về việc thiết lập hiện tướng của chỉ tịnh, &#8230; việc thiết lập hiện tướng của sự ra sức, &#8230; việc thiết lập sự không tản mạn, &#8230; việc thiết lập ánh sáng, &#8230; việc thiết lập sự hài lòng, &#8230; việc thiết lập sự bình thản, &#8230; việc thiết lập nhất thể, &#8230; việc thiết lập trí, &#8230; nhờ vào tác động của sự thiện xảo về việc thiết lập sự giải thoát, &#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhờ vào tác động của sự thiện xảo về việc thiết lập là vô thường, &#8230; nhờ vào tác động của sự thiện xảo về việc không thiết lập là thường còn, &#8230; việc thiết lập là khổ não, &#8230; việc không thiết lập là lạc, &#8230; việc thiết lập là vô ngã, &#8230; việc không thiết lập là ngã, &#8230; việc thiết lập là đoạn tận, &#8230; việc không thiết lập là tiếp diễn, &#8230; việc thiết lập là biến hoại, &#8230; việc không thiết lập sự tích lũy (nghiệp), &#8230; việc thiết lập sự chuyển biến, &#8230; việc không thiết lập là vững bền, &#8230; việc thiết lập vô tướng &#8230; việc không thiết lập hiện tướng, &#8230; việc thiết lập vô nguyện, &#8230; việc không thiết lập nguyện ước, &#8230; việc thiết lập không tánh, &#8230; việc không thiết lập sự cố chấp, &#8230; việc thiết lập trí, &#8230; việc không thiết lập vô trí, &#8230; việc thiết lập sự không ràng buộc, &#8230; việc không thiết lập sự ràng buộc, &#8230; việc thiết lập sự diệt tận, nhờ vào tác động của sự thiện xảo về việc không thiết lập các hành, (vị ấy) liên kết các quyền, nhận biết hành xứ, và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuệ về chủ thể đối với ba quyền theo sáu mươi bốn biểu hiện là trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc. Của 3 quyền nào? Của vị tri quyền, của dĩ tri quyền, của cụ tri quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tri quyền đi đến bao nhiêu vị thế? Dĩ tri quyền đi đến bao nhiêu vị thế? Cụ tri quyền đi đến bao nhiêu vị thế?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tri quyền đi đến một vị thế là Đạo Nhập Lưu. Dĩ tri quyền đi đến sáu vị thế là Quả Nhập Lưu, Đạo Nhất Lai, Quả Nhất Lai, Đạo Bất Lai, Quả Bất Lai, Đạo A-la-hán. Cụ tri quyền đi đến một vị thế là Quả A-la-hán.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, đối với vị tri quyền, tín quyền có sự cương quyết là phụ trợ, tấn quyền có sự ra sức là phụ trợ, niệm quyền có sự thiết lập là phụ trợ, định quyền có sự không tản mạn là phụ trợ, tuệ quyền có sự nhận thức là phụ trợ, ý quyền có sự nhận biết là phụ trợ, hỷ quyền có sự tràn ngập là phụ trợ, mạng quyền có pháp chủ đạo trong việc duy trì sự vận hành là phụ trợ. Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, các pháp được sanh ra, ngoại trừ sắc có nguồn phát sanh là tâm, tất cả (các pháp còn lại) đều là thiện, tất cả đều không có lậu hoặc, tất cả đều có tánh dẫn xuất, tất cả đều đưa đến sự không tích lũy, tất cả đều là vượt trên thế gian, tất cả đều có cảnh là Niết Bàn. Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, đối với vị tri quyền, tám quyền này là các phụ trợ đồng sanh, là các phụ trợ có sự (tác động) qua lại, là các phụ trợ có sự nương tựa, là các phụ trợ được liên kết, là đồng hành, là đồng sanh, là kết hợp, là liên kết. Chính tám quyền này vừa là biểu hiện vừa là phụ trợ của vị tri quyền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào sát-na Quả Nhập Lưu, &#8230;(như trên)&#8230; Vào sát-na Quả A-la-hán, đối với cụ tri quyền, tín quyền có sự cương quyết là phụ trợ, &#8230;(như trên)&#8230; mạng quyền có pháp chủ đạo trong việc duy trì sự vận hành là phụ trợ. Vào sát-na Quả A-la-hán, các pháp được sanh ra, ngoại trừ sắc có nguồn phát sanh là tâm, tất cả (các pháp còn lại) đều là vô ký, tất cả đều không có lậu hoặc, tất cả đều là vượt trên thế gian, tất cả đều có cảnh là Niết Bàn. Vào sát-na Quả A-la-hán, đối với cụ tri quyền, tám quyền này là các phụ trợ đồng sanh, &#8230;(như trên)&#8230; Chính tám quyền này vừa là biểu hiện vừa là phụ trợ của cụ tri quyền. Như thế, tám lần tám này là sáu mươi bốn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Lậu hoặc</b>: Các lậu hoặc ấy là gì? Là dục lậu, hữu lậu, tà kiến lậu, vô minh lậu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đâu? Nhờ vào Đạo Nhập Lưu, toàn thể tà kiến lậu được cạn kiệt, dục lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, hữu lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, vô minh lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây. Nhờ vào Đạo Nhất Lai, dục lậu thô thiển được cạn kiệt, hữu lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt, vô minh lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhờ vào Đạo Bất Lai, toàn thể dục lậu được cạn kiệt, hữu lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt, vô minh lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây. Nhờ vào Đạo A-la-hán, toàn thể hữu lậu được cạn kiệt, toàn thể vô minh lậu được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Không gì ở nơi đây</i>       </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>không được thấy bởi Ngài,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hoặc không nhận thức được,    </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>hoặc không thể biết đến,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ngài biết rõ tất cả          </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>mọi điều có thể biết,</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>vì thế đức Như Lai                   </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>là vị có Toàn Nhãn.</i></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Toàn Nhãn</b>: Toàn Nhãn theo ý nghĩa gì? Mười bốn Phật trí: Trí về Khổ là Phật trí. Trí về nhân sanh Khổ là Phật trí. &#8230;(nt)&#8230; Trí Toàn Giác là Phật trí. Trí không bị ngăn che là Phật trí. Đây là 14 Phật trí. Trong số 14 Phật trí, có 8 loại trí là phổ thông đến các vị Thinh Văn, 6 loại trí (sau cùng) là không phổ thông đến các vị Thinh Văn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến ý nghĩa của Khổ đối với Khổ là đã được biết, không có ý nghĩa (nào) của Khổ là không được biết’ là Toàn Nhãn. Điều gì là Toàn Nhãn, điều ấy là tuệ quyền. Do nhờ năng lực của tuệ quyền, có tín quyền theo ý nghĩa cương quyết, có tấn quyền theo ý nghĩa ra sức, có niệm quyền theo ý nghĩa thiết lập, có định quyền theo ý nghĩa không tản mạn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến ý nghĩa của Khổ đối với Khổ là đã được thấy, đã được biết đến, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ, không có ý nghĩa (nào) của Khổ là không được chạm đến bởi tuệ’ là Toàn Nhãn. Điều gì là Toàn Nhãn, điều ấy là tuệ quyền. &#8230;(như trên)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Cho đến ý nghĩa của nhân sanh (Khổ) đối với nhân sanh (Khổ) &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa của sự diệt tận (Khổ) đối với sự diệt tận (Khổ) &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa của Đạo đối với Đạo &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa của sự phân tích ý nghĩa đối với sự phân tích ý nghĩa &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa của sự phân tích pháp đối với sự phân tích pháp &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa của sự phân tích ngôn từ đối với sự phân tích ngôn từ &#8230; ‘Cho đến ý nghĩa của sự phân tích phép biện giải đối với sự phân tích phép biện giải &#8230; ‘Cho đến trí biết được khả năng của người khác &#8230; ‘Cho đến trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm của chúng sanh &#8230; ‘Cho đến trí song thông &#8230; ‘Cho đến trí về sự thể nhập đại bi &#8230; ‘Cho đến điều đã được thấy, đã được nghe, đã được cảm giác, đã được nhận thức, đã đạt đến, đã được tầm cầu, đã được đeo đuổi bởi tâm trí của thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người, điều ấy là được biết, đã được thấy, đã được biết đến, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ, không gì là không được chạm đến bởi tuệ’ là Toàn Nhãn. Điều gì là Toàn Nhãn, điều ấy là tuệ quyền. Do nhờ năng lực của tuệ quyền, có tín quyền theo ý nghĩa cương quyết, có tấn quyền theo ý nghĩa ra sức, có niệm quyền theo ý nghĩa thiết lập, có định quyền theo ý nghĩa không tản mạn.  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi có đức tin vị ấy ra sức, trong khi ra sức vị ấy có đức tin; trong khi có đức tin vị ấy thiết lập, trong khi thiết lập vị ấy có đức tin; trong khi có đức tin vị ấy tập trung (tâm), trong khi tập trung (tâm) vị ấy có đức tin; trong khi có đức tin vị ấy nhận biết, trong khi nhận biết vị ấy có đức tin. Trong khi ra sức vị ấy thiết lập, trong khi thiết lập vị ấy ra sức; trong khi ra sức vị ấy tập trung (tâm) &#8230;; trong khi ra sức vị ấy nhận biết &#8230;; trong khi ra sức vị ấy có đức tin, trong khi có đức tin vị ấy ra sức. Trong khi thiết lập vị ấy tập trung (tâm), trong khi tập trung (tâm) vị ấy thiết lập; trong khi thiết lập vị ấy nhận biết, &#8230;; trong khi thiết lập vị ấy có đức tin, &#8230;; trong khi thiết lập vị ấy ra sức, trong khi ra sức vị ấy thiết lập. Trong khi tập trung (tâm) vị ấy nhận biết, trong khi nhận biết vị ấy tập trung (tâm); trong khi tập trung (tâm) vị ấy có đức tin &#8230;; trong khi tập trung (tâm) vị ấy ra sức, &#8230;; trong khi tập trung (tâm) vị ấy thiết lập, trong khi thiết lập vị ấy tập trung (tâm). Trong khi nhận biết vị ấy có đức tin, trong khi có đức tin vị ấy nhận biết; trong khi nhận biết vị ấy ra sức &#8230;; trong khi nhận biết vị ấy thiết lập &#8230;; trong khi nhận biết vị ấy tập trung (tâm), trong khi tập trung (tâm) vị ấy nhận biết.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ra sức nhờ bản thân có đức tin, có đức tin nhờ bản thân ra sức; được thiết lập nhờ bản thân có đức tin, có đức tin nhờ bản thân được thiết lập; được định tĩnh nhờ bản thân có đức tin, có đức tin nhờ bản thân được định tĩnh; nhận biết nhờ bản thân có đức tin, có đức tin nhờ bản thân nhận biết. Được thiết lập nhờ bản thân ra sức, ra sức nhờ bản thân được thiết lập; được định tĩnh nhờ bản thân ra sức &#8230;; nhận biết nhờ bản thân ra sức &#8230;; có đức tin nhờ bản thân ra sức, ra sức nhờ bản thân có đức tin. Được định tĩnh nhờ bản thân được thiết lập, được thiết lập nhờ bản thân được định tĩnh; nhận biết nhờ bản thân được thiết lập &#8230;; có đức tin nhờ bản thân được thiết lập &#8230;; ra sức nhờ bản thân được thiết lập, được thiết lập nhờ bản thân ra sức. Nhận biết nhờ bản thân được định tĩnh, được định tĩnh nhờ bản thân nhận biết; có đức tin nhờ bản thân được định tĩnh &#8230;; ra sức nhờ bản thân được định tĩnh &#8230;; được thiết lập nhờ bản thân được định tĩnh, được định tĩnh nhờ bản thân được thiết lập. Có đức tin nhờ bản thân nhận biết, nhận biết nhờ bản thân có đức tin; ra sức nhờ bản thân nhận biết, nhận biết nhờ bản thân ra sức; được thiết lập nhờ bản thân nhận biết, nhận biết nhờ bản thân được thiết lập; được định tĩnh nhờ bản thân nhận biết, nhận biết nhờ bản thân được định tĩnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều gì là Phật Nhãn, điều ấy là Phật Trí. Điều gì là Phật Trí, điều ấy là Phật Nhãn. Nhờ vào nhãn ấy, đức Như Lai nhìn thấy các chúng sanh có mắt bị vấy bụi ít và có mắt bị vấy bụi nhiều, có giác quan sắc sảo và có giác quan cùn lụt, có tánh khí tốt và có tánh khí tồi, dễ hướng dẫn và khó hướng dẫn, một số chúng sanh thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, một số chúng sanh không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có mắt bị vấy bụi ít và có mắt bị vấy bụi nhiều</b>: Người có đức tin là có mắt bị vấy bụi ít, người không có đức tin là có mắt bị vấy bụi nhiều. Người có sự cố gắng tinh tấn &#8230; bị vấy bụi ít, người biếng nhác &#8230; bị vấy bụi nhiều. Người có niệm được thiết lập &#8230; bị vấy bụi ít, người có niệm bị quên lãng &#8230; bị vấy bụi nhiều. Người định tĩnh &#8230; bị vấy bụi ít, người được định tĩnh &#8230; bị vấy bụi nhiều. Người có tuệ là có mắt bị vấy bụi ít, người có tuệ kém là có mắt bị vấy bụi nhiều.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có giác quan sắc sảo và có giác quan cùn lụt</b>: Người có đức tin là có giác quan sắc sảo, người không có đức tin là có giác quan cùn lụt. &#8230;(như trên)&#8230; Người có tuệ là có giác quan sắc sảo, người có tuệ kém là có giác quan cùn lụt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có tánh khí tốt và có tánh khí tồi</b>: Người có đức tin là có tánh khí tốt, người không có đức tin là có tánh khí tồi. &#8230;(như trên)&#8230; Người có tuệ là có tánh khí tốt, người có tuệ kém là có tánh khí tồi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dễ hướng dẫn và khó hướng dẫn</b>: Người có đức tin là dễ hướng dẫn, người không có đức tin là khó hướng dẫn. &#8230;(như trên)&#8230; Người có tuệ là dễ hướng dẫn, người có tuệ kém là khó hướng dẫn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Một số chúng sanh thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, một số chúng sanh không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác</b>: Người có đức tin thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, người không có đức tin không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác &#8230;(nt)&#8230; Người có tuệ thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, người có tuệ kém không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thế giới</b>: Thế giới của các uẩn, thế giới của các giới, thế giới của các xứ, thế giới có sự bất hạnh, thế giới đem lại sự bất hạnh, thế giới có sự thuận lợi, thế giới đem lại sự thuận lợi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một thế giới là tất cả chúng sanh được tồn tại nhờ vật thực. Hai thế giới là danh và sắc. Ba thế giới là 3 thọ. Bốn thế giới là 4 loại vật thực. Năm thế giới là 5 thủ uẩn. Sáu thế giới là 6 nội xứ. Bảy thế giới là 7 trụ xứ của thức. Tám thế giới là 8 pháp thế gian. Chín thế giới là 9 nơi cư trú của chúng sanh. Mười thế giới là 10 xứ. Mười hai thế giới là 12 xứ. Mười tám thế giới là 18 giới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội lỗi</b>: Tất cả phiền não là tội lỗi, tất cả ác hạnh là tội lỗi, tất cả các hành là tội lỗi, tất cả nghiệp đưa đến hữu là tội lỗi. Như thế, tưởng đến sự kinh hãi sắc bén về thế giới này và về tội lỗi này đã được đề cập, cũng giống như (tưởng đến sự kinh hãi) về cuộc chém giết có thanh gươm đã được vung lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Vị ấy) biết được, thấy được, hiểu được, thấu triệt năm quyền này thông qua 50 biểu hiện này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tụng Phẩm thứ ba.</b></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần Giảng về Quyền được đầy đủ.</b></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/tieu-bo/phan-tich-dao/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Tỳ-khưu Indacanda</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/tang-kinh-tieu-bo-phan-tich-dao-tap-1/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tiểu Bộ &#8211; Phân Tích Đạo I</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/ty-khuu-indacanda/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Tỳ-khưu Indacanda</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
