<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; Thiền Vipassana Do Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Phương Thuốc Chữa Bệnh Phiền Não Của Chúng Sinh</title>
	<atom:link href="https://thienvipassana.net/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://thienvipassana.net</link>
	<description>Tổng Hợp Chia Sẻ Các Bài Pháp Về Thiền Vipassana (Thiền Tứ Niệm Xứ) Theo Phương Pháp Ngài Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Các Tài Liệu Dhamma, Trợ Duyên Ai Đó Hữu Duyên Được Vững Vàng Trên Con Đường Tu Tập Giải Thoát Khổ, Được An Lạc Thực Sự, Hoà Hợp Thực Sự, Hạnh Phúc Thực Sự. #vipassana #dhamma #goenka #thienvipassana #buddha #phatphap #phatgiao #thiền</description>
	<lastBuildDate>Tue, 05 May 2020 09:21:32 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9.4</generator>

<image>
	<url>https://thienvipassana.net/wp-content/uploads/2020/05/cropped-LOGO-PHÁP-BẢO-ORIGINAL-7-32x32.png</url>
	<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; Thiền Vipassana Do Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Phương Thuốc Chữa Bệnh Phiền Não Của Chúng Sinh</title>
	<link>https://thienvipassana.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; KINH DEVADAHA</title>
		<link>https://thienvipassana.net/101-kinh-devadaha-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 07:20:22 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5597</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ KINH DEVADAHA &#8211; Devadaha Sutta Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở giữa các Sakka]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH DEVADAHA &#8211; Devadaha Sutta </strong></span></p>
</div>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một thời Thế Tôn trú ở giữa các Sakka (Thích ca). <i lang="pli" translate="no">Devadaha</i> là một thị trấn các Sakka. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ; với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo tác các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp đoạn diệt; do nghiệp đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ diệt tận”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nầy các Tỷ-kheo, lý thuyết các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> (Ni kiền tử) là vậy. Nầy các Tỷ-kheo, Ta nói như vậy, Ta đi đến các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> và nói như sau:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, có đúng sự thật chăng, các Ông có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ; với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo tác các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt, do nghiệp đoạn diệt khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ được diệt tận?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, nếu các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> ấy, khi được Ta hỏi, tự nhận có nói như vậy, Ta liền nói như sau:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, các Ông có biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có hiện hữu, chúng tôi không hiện hữu?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa Hiền giả, không như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, các Ông có biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có tạo ác nghiệp, chúng tôi không tạo ác nghiệp?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa Hiền giả, không như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, các ông có biết: “Chúng tôi có tạo ác nghiệp như thế này hay như thế kia?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa Hiền giả, không như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, các ông có biết: “Khổ mức độ như thế này đã được diệt tận hay khổ mức độ như thế này cần phải được diệt tận, hay với sự diệt tận khổ mức độ như thế này, tất cả khổ sẽ được diệt tận?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa Hiền giả, không như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, các Ông có biết: “Sự đoạn tận các bất thiện pháp ngay trong hiện tại hay sự thành tựu các thiện pháp?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa Hiền giả, không như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, như các Ông đã nói, các Ông không biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có hiện hữu, chúng tôi không hiện hữu”; các Ông không biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có tạo ác nghiệp, chúng tôi không tạo ác nghiệp”; các Ông không biết: “Chúng tôi có tạo ác nghiệp như thế này, hay như thế kia”; các Ông không biết: “Khổ mức độ như thế này đã được diệt tận, khổ mức độ như thế này cần phải được diệt tận, hay với sự diệt tận khổ mức độ như thế này, tất cả khổ sẽ được diệt tận”; các Ông không biết: “Sự đoạn tận các bất thiện pháp ngay trong hiện tại hay sự thành tựu các thiện pháp”; sự tình là như vậy, thời có hợp lý chăng, khi các Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> lại trả lời: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ, với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt; do nghiệp được đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt tất cả khổ thọ sẽ được diệt tận?”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, nếu các Ông được biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có hiện hữu, chúng tôi không hiện hữu”; các Ông được biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có tạo ác nghiệp, chúng tôi không tạo ác nghiệp”; các Ông được biết: “Chúng tôi có tạo ác nghiệp như thế này, hay như thế kia”; các Ông được biết: “Khổ mức độ như thế này đã được diệt tận, hay khổ mức độ như thế này cần phải được diệt tận, hay với sự diệt tận khổ mức độ như thế này, tất cả khổ sẽ được diệt tận”; các Ông được biết: “Sự đoạn tận các bất thiện pháp ngay trong hiện tại hay sự thành tựu các thiện pháp”; sự tình là như vậy, thời thật là hợp lý khi các Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> trả lời: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ; với sự không tạo các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt; do nghiệp đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt, do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ được diệt tận”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, ví như một người bị mũi tên bắn, mũi tên được tẩm thuốc độc rất dày. Người ấy do nhân cảm xúc mũi tên, thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Bạn bè, bà con huyết thống của người ấy mời một y sĩ giải phẫu đến. Vị y sĩ giải phẫu lấy dao cắt rộng miệng vết thương. Người ấy do nhân dao cắt miệng vết thương, thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Vị y sĩ giải phẫu ấy dò tìm mũi tên với vật dụng dò tìm. Người ấy do nhân bị dò tìm mũi tên với vật dụng dò tìm, thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Vị y sĩ giải phẫu rút mũi tên ra khỏi người ấy. Người ấy do nhân được rút mũi tên, thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Vị y sĩ giải phẫu ấy cho đốt miệng vết thương với than đỏ (hay đắp miệng vết thương với vải nóng như than đỏ). Người ấy do nhân miệng vết thương bị than đỏ đốt, thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Sau một thời gian, khi da đã bắt đầu lành trên miệng vết thương, người ấy không bệnh, an lạc, tự do, tự tại, và đi vào chỗ nào người ấy muốn. Người ấy suy nghĩ như sau: “Trước kia ta bị mũi tên bắn, mũi tên được tẩm thuốc độc rất dày. Do nhân cảm xúc mũi tên, ta thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Bạn bè, bà con huyết thống của ta có mời một y sĩ giải phẫu đến. Vị y sĩ giải phẫu ấy lấy dao cắt rộng miệng vết thương. Ta do nhân dao cắt rộng miệng vết thương thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Vị y sĩ giải phẫu ấy dò tìm mũi tên với vật dụng dò tìm. Do nhân bị dò tìm mũi tên với vật dụng dò tìm ta thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Vị y sĩ giải phẫu ấy rút mũi tên ra khỏi ta. Do nhân được rút mũi tên, ta thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Vị y sĩ giải phẫu ấy cho đốt miệng vết thương với than đỏ (hay đắp miệng vết thương với vải nóng như than đỏ). Do nhân miệng vết thương bị than đỏ đốt, ta thọ lãnh các cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ. Nay da đã bắt đầu lành trên miệng vết thương, ta không bệnh, an lạc, tự do, tự tại, và đi chỗ nào ta muốn”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Như vậy, này chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, nếu các Ông được biết: “Trong quá khứ, chúng tôi hiện hữu, chúng tôi không hiện hữu”; các Ông được biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có tạo ác nghiệp, chúng tôi không tạo ác nghiệp”, các Ông được biết: “Chúng tôi có tạo ác nghiệp, như thế này hay như thế kia”, các Ông được biết: “Khổ mức độ như thế này đã được diệt tận, hay khổ mức độ như thế này cần phải được diệt tận; hay với sự diệt tận khổ mức độ như thế này, tất cả khổ sẽ được diệt tận”; các Ông được biết: “Sự đoạn tận các bất thiện pháp ngay trong hiện tại hay sự thành tựu các thiện pháp”; sự tình là như vậy, thời thật là hợp lý khi các Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> trả lời: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ; với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo tác các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt; do nghiệp đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ được diệt tận”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, và vì rằng các Ông không được biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có hiện hữu, chúng tôi không hiện hữu”; các Ông không được biết: “Chúng tôi có tạo ác nghiệp, chúng tôi không tạo ác nghiệp”; các Ông không được biết: “Chúng tôi có tạo ác nghiệp như thế này, hay như thế kia”; các Ông không được biết: “Khổ mức độ như thế này đã được diệt tận, hay khổ mức độ như thế này cần phải được diệt tận, hay với sự diệt tận khổ mức độ như thế này, tất cả khổ sẽ được diệt tận”; các Ông không được biết: “Sự đoạn tận các bất thiện pháp ngay trong hiện tại hay sự thành tựu các thiện pháp”; thời thật là không hợp lý khi các Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> trả lời: “Phàm cảm giác gì con người lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ; với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ; với sự không tạo các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt; do nghiệp đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ được diệt tận”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, khi được nói vậy, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> ấy nói với Ta:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc23" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa Hiền giả, <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> <i lang="pli" translate="no">Nātaputta</i> là bậc toàn tri, toàn kiến, tự xưng là có tri kiến toàn diện như sau: “Dầu ta có đi, có đứng, có ngủ và có thức, tri kiến luôn luôn được tồn tại liên tục ở nơi ta”. Vị ấy nói như sau: “Này các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, nếu xưa kia các Ông có làm ác nghiệp, hãy làm cho nghiệp ấy tiêu mòn bằng khổ hạnh thống khổ này. Chính do hộ trì thân, hộ trì lời nói, hộ trì ý ở đây, ngay trong hiện tại nên không làm các nghiệp trong tương lai. Với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt; do nghiệp đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ được diệt tận”. Và vì chúng tôi chấp nhận và chúng tôi kham nhẫn điều ấy, nên chúng tôi được hoan hỷ”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc24" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi được nói vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói với các vị <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> ấy:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc25" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, có năm pháp này, ngay trong hiện tại có hai quả báo. Thế nào là năm? Tín, hỷ, tùy văn, thẩm định lý do (akaraparivitakka), kham nhẫn chấp thọ (tà) kiến. Này chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, năm pháp này ngay trong hiện tại có hai quả báo. Ở đây, thế nào là lòng tin các Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> ấy đối với bậc Ðạo sư trong quá khứ? Thế nào là sự hoan hỷ, thế nào là sự tùy văn, thế nào là thẩm định lý do, thế nào là kham nhẫn chấp thọ (tà) kiến các vị ấy?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc26" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, nói như vậy, Ta không thấy một câu trả lời hợp pháp nào giữa các vị <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>. Và lại nữa này các Tỷ-kheo, Ta nói với các vị <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> ấy như sau:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc27" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, các Ông nghĩ thế nào? Khi các Ông tha thiết tinh tấn, tha thiết tinh cần, khi ấy có phải các Ông thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ? Còn trong khi các Ông không tha thiết tinh tấn, không tha thiết tinh cần, khi ấy có phải các Ông không thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc28" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa Hiền giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, khi chúng tôi tha thiết tinh tấn, tha thiết tinh cần, khi ấy chúng tôi thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ. Còn trong khi chúng tôi không tha thiết tinh tấn, không tha thiết tinh cần, khi ấy chúng tôi không thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc29" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Như vậy, này chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, khi các Ông tha thiết tinh tấn, tha thiết tinh cần, khi ấy các Ông thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ. Còn trong khi các Ông không tha thiết tinh tấn, không tha thiết tinh cần, khi ấy các Ông không thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ. Sự tình là như vậy, thời thật là hợp lý khi các Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> trả lời: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ; với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt; do nghiệp được đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ được diệt tận”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc30" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, nếu trong khi các Ông tha thiết tinh tấn, tha thiết tinh cần, khi ấy các cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ được tồn tại. Còn trong khi các Ông không tha thiết tinh tấn, không tha thiết tinh cần, khi ấy các cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ cũng được tồn tại. Sự tình là như vậy, thời thật là hợp lý khi các Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> trả lời: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ, với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ … (như trên) … tất cả khổ được diệt tận”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc31" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Và vì rằng, chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, trong khi các Ông tha thiết tinh tấn, tha thiết tinh cần, khi ấy các Ông lãnh thọ những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ thống khổ, còn trong khi các Ông không tha thiết tinh tấn, không tha thiết tinh cần, khi ấy các Ông không lãnh thọ những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ. Như vậy, thật chính các Ông trong khi lãnh thọ những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ, tự bị lừa dối bởi vô minh, vô trí, ngu muội, khi các Ông nói: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ; với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo tác các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp được đoạn diệt; do nghiệp được đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ được đoạn diệt; cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ được diệt tận”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc32" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, nói như vậy, Ta không thấy một câu trả lời hợp lý nào giữa các vị <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>. Và lại nữa, này các Tỷ-kheo, Ta nói với các vị <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> ấy như sau:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc33" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, các ông nghĩ thế nào? Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp được thọ quả hiện tại này, do tinh tấn, hay do tinh cần có thể khiến được thọ quả tương lai?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc34" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa không vậy, Hiền giả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc35" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp được thọ quả tương lai này do tinh tấn hay do tinh cần có thể khiến được thọ quả hiện tại?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc36" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa không vậy, Hiền giả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc37" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, các Ông nghĩ thế nào? Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp được lãnh lạc thọ này, do tinh tấn hay tinh cần có thể được lãnh khổ thọ?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc38" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa không vậy, Hiền giả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc39" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp được lãnh khổ thọ này, do tinh tấn hay tinh cần có thể được lãnh lạc thọ?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc40" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa không vậy, Hiền giả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc41" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, các Ông nghĩ thế nào? Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp mà quả lãnh thọ đã được thuần thục này do tinh tấn hay tinh cần, có thể trở thành không thuần thục?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc42" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa không vậy, Hiền giả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc43" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp mà quả lãnh thọ chưa được thuần thục này, do tinh tấn hay tinh cần, có thể trở thành thuần thục?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc44" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa không vậy, Hiền giả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc45" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, các Ông nghĩ thế nào? Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp đa sở thọ này do tinh tấn hay tinh cần trở thành thiểu sở thọ?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc46" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa không vậy, Hiền giả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc47" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Có thể nói được chăng: “Mong rằng nghiệp thiểu sở thọ này do tinh tấn hay do tinh cần trở thành đã sở thọ?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc48" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa không vậy, Hiền giả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc49" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, các Ông nghĩ thế nào? Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp có sở thọ này do tinh tấn hay tinh cần trở thành nghiệp không có sở thọ?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc50" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa không vậy, Hiền giả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc51" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Có thể được chăng: “Mong rằng nghiệp không có sở thọ này, do tinh tấn hay tinh cần trở thành nghiệp có sở thọ?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc52" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Thưa không vậy, Hiền giả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc53" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“—Như vậy, này chư Hiền <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, không thể được: “Mong rằng nghiệp được thọ quả hiện tại này, do tinh tấn hay tinh cần trở thành nghiệp được thọ quả tương lai”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp được thọ quả tương lai này, do tinh tấn hay do tinh cần, trở thành nghiệp được thọ quả hiện tại”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp được lãnh lạc thọ này, do tinh tấn hay tinh cần trở thành nghiệp được lãnh khổ thọ”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp được lãnh khổ thọ này, do tinh tấn hay tinh cần trở thành nghiệp được lãnh lạc thọ”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp mà quả lãnh thọ đã được thành thục này, do tinh tấn hay tinh cần có thể trở thành không thành thục”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp mà quả lãnh thọ không thành thục này, do tinh tấn hay tinh cần có trở thành thành thục”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp đa sở thọ này do tinh tấn hay tinh cần, trở thành thiểu sở thọ”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp thiểu sở thọ này, do tinh tấn hay tinh cần trở thành đa sở thọ”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp không có sở thọ này, do tinh tấn hay tinh cần trở thành có sở thọ”. Không thể được: “Mong rằng nghiệp có sở thọ này, do tinh tấn hay tinh cần trở thành không có sở thọ”. Sự tình là như vậy, thời sự tinh tấn của các Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> là không có kết quả, sự tinh cần của họ là không có kết quả”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc54" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> nói như vậy. Này các Tỷ-kheo, mười thuyết tùy thuyết (Tùy thuận thuyết Vadanuvada) hợp pháp do các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> đã nói như vậy đưa đến sự chỉ trích:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc55" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(1) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân các việc làm quá khứ, lãnh thọ lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> thật sự đã làm những ác hạnh trong thời quá khứ, nên nay họ phải lãnh thọ những cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc56" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(2) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân một vị Tạo hóa tạo ra lãnh thọ những cảm giác lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> thật sự được tạo ra bởi một vị Tạo hóa ác độc, vì rằng nay họ lãnh thọ những cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc57" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(3) Như vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân kết hợp các điều kiện (sangatibhava), thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> thật sự bị ác kết hợp, vì rằng nay họ lãnh thọ những cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc58" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(4) Này các Tỷ-kheo, nếu các loài hữu tình do nhân sanh loại (ahbijati) lãnh thọ những cảm giác lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> thật sự bị ác sinh loại, vì rằng nay họ lãnh thọ những cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc59" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(5) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân tinh tấn hiện tại, thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> thật sự đã tạo ác tinh tấn hiện tại, vì rằng nay họ lãnh thọ những cảm giác đau đớn, cực khổ, thống khổ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc60" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(6) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân việc làm quá khứ thọ lãnh lạc khổ, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> đáng bị chỉ trích. Nếu các hữu tình không do nhân việc làm quá khứ thọ lãnh lạc khổ, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> đáng bị chỉ trích.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc61" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(7) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân được một vị Tạo hóa tạo ra thọ lãnh lạc khổ, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> đáng bị chỉ trích. Nếu các hữu tình không do nhân được một vị Tạo hóa tạo ra thọ lãnh lạc khổ, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> đáng bị chỉ trích.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc62" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(8) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân kết hợp các điều kiện thọ lãnh lạc khổ, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> đáng bị chỉ trích. Nếu các hữu tình không do nhân kết hợp các điều kiện thọ lãnh lạc khổ các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> đáng bị chỉ trích.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc63" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(9) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân sanh loại thọ lãnh lạc khổ, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>đáng bị chỉ trích. Nếu các hữu tình không do nhân sanh loại thọ lãnh lạc khổ, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> đáng bị chỉ trích.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc64" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(10) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân tinh cần hiện tại thọ lãnh lạc khổ, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> đáng bị chỉ trích. Nếu các hữu tình không do nhân tinh cần hiện tại thọ lãnh lạc khổ, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> đáng bị chỉ trích.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc65" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> nói như vậy. Này các Tỷ-kheo, mười thuyết tùy thuyết hợp pháp các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> đã nói như vậy đưa đến sự chỉ trích. Như vậy, này các Tỷ-kheo, sự tinh tấn của các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> là không có kết quả, sự tinh cần của họ là không có kết quả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc66" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự tinh tấn có kết quả? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo không để cho tự ngã chưa bị nhiếp phục, bị đau khổ nhiếp phục và không từ bỏ lạc thọ hợp pháp, và không để lạc thọ ấy chi phối. Vị ấy biết như sau: “Trong khi ta tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ này, do chống lại nguyên nhân đau khổ, ta không có tham dục. Nhưng trong khi ta xả đối với nguyên nhân đau khổ này, trong khi tu tập xả, ta không có tham dục”. Khi vị Tỷ-kheo tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ, do tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ, vị ấy không có tham dục. Do vậy, ở đây, vị ấy tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ. Nhưng trong khi vị ấy xả đối với nguyên nhân đau khổ, trong khi tu tập xả, vị ấy không có tham dục. Do vậy, ở đây, vị ấy tu tập xả. Trong khi vị ấy tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ ấy, do tinh cần chống lại nguyên nhân, vị ấy không có tham dục. Như vậy sự đau khổ ấy đối với vị ấy được diệt tận. Trong khi vị ấy xả đối với nguyên nhân đau khổ ấy, trong khi tu tập xả, vị ấy không có tham dục. Như vậy sự đau khổ ấy đối với vị ấy được diệt tận.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc67" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, ví như một người luyến ái một nữ nhân, tâm tư say đắm, nhiệt tình ái mộ, nhiệt tình luyến mộ. Người ấy thấy nữ nhân này đứng với một người đàn ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy, khi thấy nữ nhân này đứng với một người đàn ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt, có sanh sầu, bi, khổ, ưu, não không?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc68" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn. Vì sao vậy? Vì rằng người ấy luyến ái nữ nhân kia, tâm tư say đắm, nhiệt tình ái mộ, nhiệt tình luyến mộ. Do vậy, người ấy khi thấy nữ nhân kia đứng với một người đàn ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt, nên sanh sầu, bi, khổ, ưu, não.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc69" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Nhưng này các Tỷ-kheo, người ấy có thể suy nghĩ như sau: “Ta luyến ái nữ nhân này, tâm tư say đắm, nhiệt tình ái mộ, nhiệt tình luyến mộ. Khi ta thấy nữ nhân này đứng với một người đàn ông khác, nói chuyện đùa giỡn và cười cợt, ta sanh sầu, bi, khổ, ưu, não. Vậy ta hãy bỏ lòng tham luyến đối với nữ nhân này”. Rồi người ấy bỏ lòng tham luyến đối với nữ nhân kia. Sau một thời gian, người ấy thấy nữ nhân kia đứng với một người đàn ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy khi thấy nữ nhân kia đứng với một người đàn ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt, có sanh sầu, bi, khổ, ưu não, không?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc70" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn vì rằng, người này đối với nữ nhân kia không còn tham luyến. Do vậy, khi thấy nữ nhân kia đứng với một người đàn ông khác, nói chuyện, đùa giỡn và cười cợt, người ấy không sanh sầu bi, khổ, ưu, não.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc71" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một người không để cho tự ngã chưa bị nhiếp phục, bị đau khổ nhiếp phục và không từ bỏ lạc thọ hợp pháp, và không để lạc thọ ấy chi phối. Vị ấy biết như sau: “Trong khi ta tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ này, do chống lại nguyên nhân đau khổ, ta không có tham dục. Nhưng trong khi ta xả đối với nguyên nhân đau khổ này, trong khi tu tập xả, ta không có tham dục”. Khi vị ấy tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ, do tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ, vị ấy không có tham dục. Do vậy, ở đây, vị ấy tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ. Nhưng trong khi vị ấy xả đối với nguyên nhân đau khổ, trong khi tu tập xả, vị ấy không có tham dục. Do vậy, ở đây, vị ấy tu tập xả. Trong khi vị ấy tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ ấy, do tinh cần chống lại nguyên nhân, vị ấy không có tham dục. Như vậy, sự đau khổ đối với vị ấy được diệt tận. Trong khi vị ấy xả đối với nguyên nhân đau khổ ấy, trong khi tu tập xả, vị ấy không có tham dục. Như vậy, sự đau khổ đối với vị ấy được diệt tận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết quả, sự tinh cần có kết quả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc72" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo lại suy nghĩ như sau: “Khi ta trú vào lạc, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp giảm thiểu. Nhưng khi ta tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã, các bất thiện pháp giảm thiểu, các thiện pháp tăng trưởng. Vậy ta hãy tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã”. Vị ấy tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã. Do tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã, các bất thiện pháp giảm thiểu, các thiện pháp tăng trưởng. Vị ấy sau một thời gian, không tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã. Vì sao vậy? Vì mục đích vị Tỷ-kheo ấy tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã đã thành tựu. Do vậy, sau một thời gian vị ấy không tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc73" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ví như, này các Tỷ-kheo, một người làm tên, hơ nóng và đốt nóng thân tên giữa hai ngọn lửa, khiến thân tên được thẳng và dễ uốn nắn. Nhưng này các Tỷ-kheo, khi thân tên của người làm tên, đã được hơ nóng và đốt nóng giữa hai ngọn lửa trở thành thẳng và dễ uốn nắn, người ấy sau một thời gian không còn hơ nóng và đốt nóng thân tên giữa hai ngọn lửa, khiến thân tên được thẳng và dễ uốn nắn. Vì sao vậy? Vì mục đích người làm tên ấy hơ nóng và đốt nóng thân tên giữa hai ngọn lửa, khiến thân tên được thẳng và dễ uốn nắn đã được thành tựu. Do vậy, sau một thời gian, người ấy không còn hơ nóng, đốt nóng thân tên giữa hai ngọn lửa để trở thành thẳng và dễ uốn nắn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc74" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy suy nghĩ như sau: “Khi ta trú vào lạc, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp giảm thiểu. Nhưng khi ta tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã, các bất thiện pháp giảm thiểu, các thiện pháp tăng trưởng. Vậy ta hãy tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã”. Vị ấy tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã. Do tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã, các bất thiện pháp giảm thiểu, các thiện pháp tăng trưởng. Vị ấy sau một thời gian, không tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã. Vì sao vậy? Vì mục đích vị Tỷ-kheo ấy tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã đã thành tựu. Do vậy, sau một thời gian, vị ấy không tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh cần có kết quả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc75" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây, Như Lai sanh ra ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc76" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc77" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc78" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc79" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc80" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực để nuôi sống, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi sống, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết phạm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc81" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, nội tâm hưởng lạc thọ không uế nhiễm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc82" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc83" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc84" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc85" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị ấy, từ bỏ năm triền cái làm cho tâm ô uế, làm cho trí tuệ muội lược này, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc86" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc87" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú thiền thứ ba. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc88" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc89" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy vị ấy nhớ đến những đời sống quá khứ, cũng với các nét đại cương và các chi tiết. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc90" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Vị ấy nghĩ rằng: “Thật sự những vị chúng sanh này thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc91" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ tập”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ diệt”, tuệ tri như thật: “Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt” tuệ tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là Con Ðường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc92" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có trở lui đời sống này nữa”. Như vậy, này các Tỷ-kheo là sự tinh tấn có kết quả, là sự tinh cần có kết quả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc93" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, Như Lai nói như vậy. Này các Tỷ-kheo, mười thuyết tùy thuyết hợp pháp của Như Lai đã nói như vậy đưa đến sự tán thán:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc94" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(1) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân các việc đã làm trong quá khứ thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, Như Lai thật sự đã làm những thiện hạnh trong thời quá khứ nên nay mới thọ lãnh vô lậu lạc thọ như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc95" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(2) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân một vị Tạo hóa tạo ra, thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, Như Lai thật sự được tạo ra bởi một vị Tạo hóa hiền thiện, nên nay mới thọ lãnh vô lậu lạc thọ như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc96" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(3) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân kết hợp các điều kiện, thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, Như Lai thật sự được thiện kết hợp, nên nay mới thọ lãnh vô lậu lạc thọ như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc97" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(4) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân sanh loại, thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, Như Lai thật sự được thiện sanh loại, nên nay thọ lãnh vô lậu lạc thọ như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc98" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(5) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân tinh tấn hiện tại thọ lãnh lạc khổ, thời này các Tỷ-kheo, Như Lai thật sự đã tạo thiện tinh tấn hiện tại, vì rằng nay thọ lãnh vô lậu lạc thọ như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc99" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(6) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân hành động quá khứ thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán. Nếu các hữu tình không do nhân hành động quá khứ thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc100" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(7) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân được một vị Tạo hóa tạo ra, thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán. Nếu các hữu tình không do nhân được một vị Tạo hóa tạo ra, thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc101" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(8) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân kết hợp các điều kiện thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán. Nếu các hữu tình không do nhân các điều kiện kết hợp thọ lãnh lạc thọ khổ thọ, Như Lai đáng được tán thán.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc102" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(9) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân sanh loại thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán. Nếu các hữu tình, không do nhân sanh loại thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc103" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(10) Này các Tỷ-kheo, nếu các hữu tình do nhân tinh cần hiện tại thọ lãnh lạc khổ, Như Lai đáng được tán thán.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc104" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, Như Lai nói như vậy. Này các Tỷ-kheo, mười thuyết tùy thuyết hợp pháp này Như Lai đã nói như vậy đưa đến sự tán thán.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc105" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; KINH NĂM VÀ BA</title>
		<link>https://thienvipassana.net/102-kinh-nam-va-ba-pancattaya-sutta-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 07:24:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5601</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ KINH NĂM VÀ BA &#8211; Pañcattaya Sutta Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH NĂM VÀ BA </strong></span><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Pañcattaya Sutta</span></strong></p>
</div>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một thời Thế Tôn trú ở <i lang="pli" translate="no">Sāvatthi</i>, <i lang="pli" translate="no">Jetavana</i> (Kỳ-đà-lâm), tại tu viện ông <i lang="pli" translate="no">Anāthapiṇḍika</i>. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” -” Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau</span></p>
<h2 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Luận bàn về tương lai</span></h2>
<p style="text-align: left;"><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về tương lai, thảo luận về tương lai, y cứ vào tương lai, tuyên bố nhiều quan điểm sai khác. Ở đây, một số tuyên bố: “Sau khi chết, tự ngã không bệnh, có tưởng”. Ở đây, một số tuyên bố: “Sau khi chết, tự ngã không bệnh, không tưởng”. Ở đây một số tuyên bố: “Sau khi chết, tự ngã không bệnh, phi tưởng và phi phi tưởng”. Hay họ chủ trương đoạn diệt hủy hoại, tiêu diệt của loài hữu tình hiện đang sanh tồn. Hay một số lại tuyên bố về hiện tại Niết-bàn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vậy, họ chủ trương sau khi chết, tự ngã tồn tại không bệnh. Hay họ chủ trương đoạn diệt, hủy hoại, tiêu diệt của loài hữu tình hiện đang sanh tồn. Hay một số lại tuyên bố hiện tại Niết-bàn. Như vậy, những chủ thuyết này, sau khi thành năm trở lại thành ba, sau khi thành ba, trở lại thành năm. Ðây là sự tổng thuyết năm và ba.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã có tưởng, không bệnh, các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy hoặc chủ trương sau khi chết tự ngã có sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không có sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc và không sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không sắc và không không sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương tự ngã hoặc nhất tưởng, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc dị tưởng, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương tự ngã sau khi chết hoặc thiểu tưởng, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc vô lượng tưởng, có tưởng, không bệnh. Nhưng có một số tuyên bố thức biến này (vinnanakasina) khi vượt qua khỏi (upativattatam) trở thành vô lượng, bất động.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: “Những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã có tưởng, không bệnh, các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không có sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết tự ngã hoặc có sắc và không sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết tự ngã hoặc không sắc và không không sắc, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc nhứt tưởng, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc dị tưởng, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc thiểu tưởng, có tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc vô lượng tưởng, có tưởng, không bệnh. Hay Như Lai biết loại tưởng nào trong các loại tưởng ấy được xưng là thanh tịnh, tối thắng, đệ nhất, vô thượng, tức là sắc tưởng, tức là vô sắc tưởng, tức là nhứt tưởng, tức là dị tưởng. Nói rằng: “vô sở hữu”, một số tuyên bố Vô sở hữu xứ là vô lượng, bất động. Biết rằng cái này thuộc hữu vi, là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà—la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã không tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc không tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không sắc, không tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc không sắc, không tưởng, không bệnh. Các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết tự ngã hoặc cũng không sắc, không không sắc, không tưởng, không bệnh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã có tưởng, vô bệnh, một số phỉ báng các vị ấy. Vì sao vậy? Họ nói rằng: “Tưởng là bệnh hoạn, tưởng là mụt nhọt, tưởng là mũi tên; đây là tịch tịnh, thù diệu tức là vô tưởng”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: “Những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã là không tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc, không tưởng, không bệnh; Các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không sắc, không tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc và không sắc, không tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không có sắc, không không sắc, không tưởng, không bệnh”. Này các Tỷ-kheo, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: “Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài hành, ngoài thức, ta sẽ chủ trương sự lai, vãng, tử, sanh, tăng trưởng, tăng thịnh, hay tăng đại”; sự tình không có như vậy. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát pháp hữu vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, này các Tỷ-kheo, những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết tự ngã là Phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc và không sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không sắc, không không sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã có tưởng, không bệnh, một số phỉ báng các vị ấy; các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã không tưởng, không bệnh, một số phỉ báng các vị ấy. Vì sao vậy? Họ nói rằng: “Tưởng là bệnh hoạn, tưởng là mụt nhọt, tưởng là mũi tên, không tưởng là si ám. Ðây là tịch tịnh, thù diệu, tức là phi tưởng phi phi tưởng”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: “Những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã là phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh, các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc không sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã hoặc có sắc và không sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh; các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương sau khi chết, tự ngã là không có sắc, không không sắc, phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sự thành tựu của xứ này (<i lang="pli" translate="no">āyatana</i>) chỉ nhờ những hành có thể thấy được, nghe được, tư duy được, ý thức được; đây được xưng, này các Tỷ-kheo, là tổn hại cho sự thành tựu xứ (<i lang="pli" translate="no">āyatana</i>) này. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, xứ này không được xưng là có thể đạt thành nhờ sự thành tựu hữu hành (sasankhara), mà này các Tỷ-kheo, xứ này được xưng là có thể đạt thành nhờ sự thành tựu không có hành nào còn lại. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương đoạn diệt, hủy hoại, diệt tận của loại hữu tình hiện đang sinh tồn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã có tưởng, không bệnh, một số phỉ báng các vị ấy. Còn những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã không tưởng, không bệnh, một số phỉ báng các vị ấy. Còn những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sau khi chết, tự ngã phi tưởng phi phi tưởng, không bệnh, một số phỉ báng các vị ấy. Vì sao vậy? Tất cả những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này hướng thượng tuyên bố có chấp trước: “Ðời sau chúng ta sẽ hiện hữu, đời sau chúng ta sẽ hiện hữu”. Ví như một người lái buôn đi buôn bán nghĩ rằng: “Từ đây ta sẽ có vật này, ta sẽ được vật này từ cái này”. Cũng vậy, những vị Sa-môn, Bà-la-môn này, chúng ta nghĩ rằng, cũng giống như những người lái buôn khi các vị này nói: “Ðời sau chúng ta sẽ hiện hữu, đời sau chúng ta sẽ hiện hữu”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết được: “Những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương đoạn diệt, hủy hoại, diệt tận, loại hữu tình hiện đang sinh tồn, những vị ấy sợ hãi tự thân, yếm ly tự thân, chỉ chạy theo và chạy vòng quanh tự thân”. Ví như một con chó bị dây cột vào một cột trụ hay cây cột vững chắc, chạy theo và chạy vòng tròn cột trụ hay cây cột ấy. Cũng vậy, các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy sợ hãi tự thân, yếm ly tự thân, chỉ biết chạy theo và chạy vòng quanh tự thân. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi, và đã vượt khỏi pháp hữu vi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào luận bàn về tương lai, thảo luận về tương lai, y cứ vào tương lai tuyên bố nhiều quan điểm sai khác, tất cả đều tuyên bố năm xứ này hay một trong chúng.</span></p>
<h2 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Luận bàn về quá khứ</span></h2>
<p style="text-align: left;"><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về quá khứ, thảo luận về quá khứ, y cứ vào quá khứ, tuyên bố nhiều quan điểm sai khác: “Tự ngã và thế giới là thường còn; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là vô thường; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy: “Tự ngã và thế giới là thường còn, là vô thường; chỉ như vậy là chân thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là không phải thường còn, không phải vô thường; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là hữu biên; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là vô biên; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là hữu biên và vô biên; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới không phải hữu biên, không phải vô biên; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là nhứt tưởng; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là dị tưởng; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là thiểu tưởng; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là vô lượng tưởng; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là nhứt hướng lạc; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là nhứt hướng khổ; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là lạc và khổ; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy. “Tự ngã và thế giới là không khổ, không lạc; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ở đây, một số tuyên bố như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có chủ thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tự ngã và thế giới là thường còn, chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ngoài tín, ngoài hỷ, ngoài tùy văn, ngoài thẩm định lý do, ngoài kham nhẫn chấp thọ tà kiến, trí tự mình sẽ trở thành thanh tịnh, trong sạch; sự tình như vậy không xảy ra. Này các Tỷ-kheo, nếu trí tự mình không trở thành thanh tịnh, trong sạch, thời cho đến chỉ một phần nhỏ của trí mà những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy làm cho trong sạch, chính như vậy cũng được xưng là chấp trước đối với những vị Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, không có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tự ngã và thế giới là vô thường … tự ngã và thế giới là thường còn và vô thường … tự ngã và thế giới không thường còn và không vô thường … tự ngã và thế giới là vô biên … tự ngã và thế giới là hữu biên và vô biên … tự ngã và thế giới là không hữu biên và không vô biên … tự ngã và thế giới là nhứt tưởng … tự ngã và thế giới là dị tưởng … tự ngã và thế giới là thiểu tưởng … tự ngã và thế giới là vô lượng tưởng … tự ngã và thế giới là nhứt hướng lạc … tự ngã và thế giới là nhứt hướng khổ … tự ngã và thế giới là lạc và khổ … tự ngã và thế giới là không khổ, không lạc; chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng”. Ngoài lòng tin, ngoài hỷ, ngoài tùy văn, ngoài thẩm định lý do, ngoài sự kham nhẫn chấp thọ tà kiến, trí tự mình sẽ trở thành thanh tịnh, trong sạch, sự tình như vậy không xảy ra. Này các Tỷ-kheo, nếu trí tự mình không trở thành thanh tịnh, trong sạch, thời cho đến chỉ một phần nhỏ của trí mà những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy làm cho trong sạch, chính như vậy cũng được xưng là chấp trước đối với những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi, và đã vượt khỏi pháp hữu vi.</span></p>
<h2 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Niết-bàn hiện tiền</span></h2>
<p style="text-align: left;"><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn do từ bỏ những quan điểm về quá khứ, và từ bỏ những quan điểm về tương lai, do không hoàn toàn chú tâm đến những dục kiết sử, đạt được viễn ly hỷ và an trú. Vị ấy nghĩ: “Ðây là sự thật, đây là thù diệu, tức là đạt được viễn ly hỷ, ta an trú”. Nhưng nếu viễn ly hỷ ấy của vị này bị đoạn diệt, do viễn ly hỷ bị đoạn diệt, ưu tư sanh khởi. Do ưu tư được đoạn diệt, viễn ly hỷ sanh khởi. Ví như, này các Tỷ-kheo, chỗ nào bóng mát từ bỏ, chỗ ấy sức nóng mặt trời lan rộng, chỗ nào sức nóng mặt trời từ bỏ, chỗ ấy bóng mát lan rộng; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do viễn ly hỷ bị đoạn diệt, ưu tư sanh khởi. Do ưu tư được đoạn diệt nên viễn ly hỷ sanh khởi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: Vị Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này, do từ bỏ những quan điểm về quá khứ, và do từ bỏ những quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, sau khi đạt được viễn ly hỷ, liền an trú: “Ðây là sự thật, đây là thù diệu, tức là đạt được viễn ly hỷ, ta an trú”. Viễn ly ấy của vị này bị đoạn diệt. Do viễn ly hỷ bị đoạn diệt, ưu tư sanh khởi; do ưu tư được đoạn diệt, viễn ly hỷ sanh khởi. Biết rằng cái này thuộc hữu vi pháp là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn, do từ bỏ các quan điểm về quá khứ, do từ bỏ các quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, do vượt qua viễn ly hỷ, sau khi đạt được phi vật chất lạc liền an trú: “Ðây là sự thật, đây là thù diệu tức là đạt được phi vật chất lạc, ta an trú”. Phi vật chất lạc của vị ấy bị đoạn diệt; do phi vật chất lạc bị đoạn diệt, viễn ly hỷ sanh khởi; do viễn ly hỷ bị đoạn diệt, phi vật chất lạc sanh khởi. Ví như, này các Tỷ-kheo, chỗ nào bóng mát từ bỏ, chỗ ấy sức nóng mặt trời lan rộng, chỗ nào sức nóng mặt trời từ bỏ, chỗ ấy bóng mát lan rộng; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do phi vật chất lạc bị đoạn diệt, viễn ly hỷ sanh khởi; do viễn ly hỷ bị đoạn diệt, phi vật chất lạc sanh khởi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: Vị Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này, do từ bỏ các quan điểm về quá khứ, do từ bỏ các quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, do vượt qua viễn ly hỷ, đạt được phi vật chất lạc và an trú: “Ðây là sự thật, đây là thù diệu, tức là đạt được phi vật chất lạc, ta an trú”. Phi vật chất lạc ấy của vị này bị đoạn diệt. Do phi vật chất lạc bị đoạn diệt, viễn ly hỷ sanh khởi; do viễn ly hỷ bị đoạn diệt, phi vật chất lạc sanh khởi. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành; biết được có sự đoạn diệt này, Như Lai thấy được sự giải thoát khỏi pháp hữu vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc23" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Sa-môn hay Bà-la-môn, do từ bỏ các quan điểm về quá khứ, do từ bỏ các quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, do vượt qua viễn ly hỷ, do vượt qua phi vật chất lạc, sau khi đạt được vô khổ vô lạc thọ, liền an trú: “Ðây là sự thật, đây là thù diệu, tức là đạt được vô khổ vô lạc thọ, ta an trú”. Vô khổ vô lạc thọ ấy của vị này bị đoạn diệt. Do vô khổ vô lạc thọ bị đoạn diệt, phi vật chất lạc sanh khởi; do phi vật chất lạc bị đoạn diệt, vô khổ vô lạc thọ sanh khởi. Ví như này các Tỷ-kheo, chỗ nào bóng mát từ bỏ, chỗ ấy sức nóng mặt trời lan rộng, chỗ nào sức nóng từ bỏ, chỗ ấy bóng mát lan rộng; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do vô khổ vô lạc thọ bị đoạn diệt, phi vật chất lạc sanh khởi; do phi vật chất lạc bị đoạn diệt, vô khổ vô lạc thọ sanh khởi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc24" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: vị Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này, do từ bỏ các quan điểm về quá khứ, do từ bỏ các quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, do vượt qua viễn ly hỷ, do vượt qua phi vật chất lạc, sau khi đạt được vô khổ vô lạc thọ, liền an trú: “Ðây là sự thật, đây là thù diệu, tức là đạt được vô khổ vô lạc thọ, ta an trú”. Vô khổ vô lạc thọ ấy của vị này bị đoạn diệt. Do vô khổ vô lạc thọ bị đoạn diệt, phi vật chất lạc sanh khởi; do phi vật chất lạc bị đoạn diệt, vô khổ vô lạc thọ sanh khởi. Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành, sau khi biết được: “Ðây có sự đoạn diệt các hành này, Như Lai thấy được sự giải thoát khỏi hữu vi pháp” và đã vượt khỏi hữu vi pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc25" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn, do từ bỏ các quan điểm về quá khứ, do từ bỏ các quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, do vượt khỏi viễn ly hỷ, do vượt khỏi phi vật chất lạc, do vượt khỏi vô khổ vô lạc thọ, vị ấy quán: “Ta là tịch tịnh, ta là tịch diệt, ta là không chấp thủ”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc26" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai biết như sau: Vị Tôn giả Sa-môn, Bà la môn này, do từ bỏ các quan điểm về quá khứ, do từ bỏ các quan điểm về tương lai, do hoàn toàn không chú tâm đến các dục kiết sử, do vượt khỏi viễn ly hỷ, do vượt khỏi phi vật chất lạc, do vượt khỏi vô khổ vô lạc thọ, vị ấy quán: “Ta là tịch tịnh, ta là tịch diệt, ta là không chấp thủ”. Chắc chắn vị Ðại đức này tuyên bố con đường thích hợp đưa đến Niết-bàn. Nhưng vị Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này khởi lên chấp thủ, hoặc chấp thủ quan điểm về quá khứ, hoặc chấp thủ quan điểm về tương lai, hoặc chấp thủ dục kiết sử, hoặc chấp thủ viễn ly hỷ, hoặc chấp thủ phi vật chất lạc, hoặc chấp thủ vô khổ vô lạc thọ. Dầu cho vị Ðại đức này quán: “Ta là tịch tịnh, ta là tịch diệt, ta không có chấp trước”, nhưng vị này vẫn được xem là có chấp trước về điểm ấy. Biết rằng cái này thuộc hữu vi pháp là thô pháp, nhưng có đoạn diệt các hành, sau khi biết được có sự đoạn diệt các hành này, Như Lai thấy được sự giải thoát khỏi hữu vi pháp và đã vượt khỏi hữu vi pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc27" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, vô thượng tịch tịnh, tối thắng đạo được Như Lai chánh đẳng giác, nghĩa là sau khi như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt và sự nguy hiểm của sáu xúc xứ, có sự giải thoát không chấp thủ. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vô thượng tịch tịnh tối thắng đạo này được Như Lai chánh đẳng giác, nghĩa là sau khi như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt và sự nguy hiểm của sáu xúc xứ, có sự giải thoát không chấp thủ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc28" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; KINH NGHĨ NHƯ THẾ NÀO</title>
		<link>https://thienvipassana.net/103-kinh-nghi-nhu-the-nao-kinti-sutta-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 07:26:37 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5604</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ KINH NGHĨ NHƯ THẾ NÀO &#8211; Kinti Sutta Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH NGHĨ NHƯ THẾ NÀO &#8211;</strong></span><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> Kinti Sutta</span></strong></p>
</div>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một thời Thế Tôn trú ở <i lang="pli" translate="no">Kusināra</i>, tại khu rừng <i lang="pli" translate="no">Baliharaṇa</i>. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”, —“ Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này các Tỷ-kheo, đối với Ta, các Ông nghĩ như thế nào? Có phải vì nhân y áo, Sa-môn <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> thuyết pháp? Hay có phải vì nhân đồ ăn khất thực, Sa-môn <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> thuyết pháp? Hay có phải vì nhân sàng tọa, Sa-môn <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> thuyết pháp? Hay có phải vì nhân thành bại, Sa-môn <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> thuyết pháp?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn! Chúng con không nghĩ rằng: “Vì nhân y áo, Sa-môn <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> thuyết pháp. Hay vì nhân đồ ăn khất thực, Sa-môn <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> thuyết pháp. Hay vì nhân sàng tọa, Sa-môn <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> thuyết pháp. Hay vì nhân thành bại, Sa-môn <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> thuyết pháp”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Và như vậy, này các Tỷ-kheo, đối với Ta, các Ông không nghĩ như sau: “Vì nhân y áo, Sa-môn <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> thuyết pháp … vì nhân thành bại, Sa-môn <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> thuyết pháp”. Vậy này các Tỷ-kheo, đối với ta, các Ông nghĩ như thế nào?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Như thế này, bạch Thế Tôn, đối với Thế Tôn, chúng con nghĩ như sau: “Với từ tâm, vì lợi tha và do lòng từ, Thế Tôn thuyết pháp”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Như vậy, này các Tỷ-kheo, đối với Ta, các Ông nghĩ như sau: “Với từ tâm, vì lợi tha và do lòng từ, Thế Tôn thuyết pháp”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Do vậy, này các Tỷ-kheo, những pháp Ta giảng cho các Ông với thượng trí, như là Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Thánh đạo tám ngành. Ở đây, các ông phải học tập tất cả, trong tinh thần hòa đồng, hoan hỷ, không cãi lộn với nhau. Và này các Tỷ-kheo, khi các Ông học tập trong các pháp ấy, trong tinh thần hòa đồng, hoan hỷ, không cãi lộn với nhau, có thể có hai vị Tỷ-kheo nói khác nhau về Thắng pháp (Abhidhamma).</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, nếu các Ông nghĩ như sau: “Giữa các vị Tôn giả này, có sự sai khác về nghĩa, có sự sai khác về văn”; ở đây, Tỷ-kheo nào các Ông nghĩ là nhu thuận dễ nói hơn, hãy đến vị ấy nói như sau: “Giữa các Tôn giả có sự sai khác về nghĩa, có sự sai khác về văn. Về vấn đề này các Tôn giả phải biết có sự sai khác về nghĩa, có sự sai khác về văn như thế này. Các Tôn giả chớ có cãi lộn với nhau”. Rồi một Tỷ-kheo nào của phái bên kia mà các Ông nghĩ là nhu thuận dễ nói hơn, hãy đến vị ấy và nói như sau: “Giữa các Tôn giả có sự sai khác về nghĩa, có sự sai khác về văn. Về vấn đề này, các Tôn giả phải biết có sự sai khác về nghĩa, có sự sai khác về văn như thế này. Các Tôn giả chớ có cãi lộn với nhau”. Như vậy, cái gì khó nắm giữ, cần phải thọ trì là khó nắm giữ. Sau khi thọ trì là khó nắm giữ cái gì khó nắm giữ, cái gì thuộc về Pháp, cái gì thuộc về Luật phải được nói lên.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, nếu các Ông suy nghĩ như sau: “Giữa các bậc Tôn giả này, có sự sai khác về nghĩa, có sự đồng nhất về văn”. Ở đây, Tỷ-kheo nào các Ông nghĩ là nhu thuận dễ nói hơn, hãy đến vị ấy và nói như sau. “Giữa các Tôn giả, có sự sai khác về nghĩa, có sự đồng nhất về văn. Về vấn đề này, các Tôn giả phải biết có sự sai khác về nghĩa, có sự đồng nhất về văn như thế này. Các Tôn giả chớ có cãi lộn với nhau”. Rồi một Tỷ-kheo nào của phe bên kia mà các Ông nghĩ là nhu thuận dễ nói hơn, hãy đến vị ấy và nói như sau: “Giữa các Tôn giả có sự sai khác về nghĩa, có sự đồng nhất về văn. Về vấn đề này, các Tôn giả phải biết có sự sai khác về nghĩa, có sự đồng nhất về văn như thế này. Các Tôn giả chớ có cãi lộn với nhau”. Như vậy, cái gì khó nắm giữ, cần phải thọ trì là khó nắm giữ, cái gì dễ nắm giữ phải thọ trì là dễ nắm giữ. Sau khi thọ trì là khó nắm giữ cái gì khó nắm giữ, sau khi thọ trì là dễ nắm giữ cái gì dễ nắm giữ, cái gì thuộc về Pháp, cái gì thuộc về Luật phải được nói lên.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, nếu các Ông nghĩ như sau: “Giữa các Tôn giả này, có sự đồng nhất về nghĩa, có sự sai khác về văn”. Ở đây, Tỷ-kheo nào các Ông nghĩ là nhu thuận dễ nói hơn, hãy đến vị ấy và nói như sau: “Giữa các Tôn giả, có sự đồng nhất nghĩa, có sự sai khác về văn. Về vấn đề này, các Tôn giả phải biết có sự đồng nhất về nghĩa, có sự sai khác về văn như thế này. Nhưng đây chỉ là một vấn đề nhỏ nhặt tức là văn: Các Tôn giả chớ có cãi lộn với nhau vì một vấn đề nhỏ nhặt”. Rồi một Tỷ-kheo nào của phe bên kia mà các Ông nghĩ là nhu thuận dễ nói hơn, hãy nghĩ đến vị ấy và nói như sau: “Giữa các Tôn giả, có sự đồng nhất về nghĩa, có sự sai khác về văn. Về vấn đề này, các Tôn giả phải biết có sự đồng nhất về nghĩa, có sự sai khác về văn như thế này. Nhưng đây chỉ là một vấn đề nhỏ nhặt, tức là văn. Các Tôn giả chớ có cãi lộn với nhau, vì một vấn đề nhỏ nhặt” Như vậy, cái gì dễ nắm giữ, phải thọ trì là dễ nắm giữ, cái gì khó nắm giữ, phải thọ trì là khó nắm giữ. Sau khi thọ trì là dễ nắm giữ cái gì dễ nắm giữ, sau khi thọ trì là khó nắm giữ cái gì khó nắm giữ, cái gì thuộc về Pháp, cái gì thuộc về Luật phải được nói lên.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, nếu các Ông nghĩ như sau: “Giữa các Tôn giả này có sự đồng nhất về nghĩa có sự đồng nhất về văn”; ở đây, vị Tỷ-kheo nào các Ông nghĩ là nhu thuận dễ nói hơn, hãy đến vị ấy và nói như sau: “Giữa các Tôn giả có sự đồng nhất về nghĩa và cũng có sự đồng nhất về văn. Về vấn đề này, các Tôn giả phải biết có sự đồng nhất về nghĩa và cũng có sự đồng nhất về văn như thế này. Các Tôn giả chớ có cãi lộn nhau”. Rồi một Tỷ-kheo nào của phe bên kia mà các Ông nghĩ là nhu thuận dễ nói hơn, hãy đến vị ấy và nói như sau: “Giữa các Tôn giả, có sự đồng nhất về nghĩa và có sự đồng nhất về văn. Về vấn đề này, các Tôn giả phải biết có sự đồng nhất về nghĩa và cũng có sự đồng nhất về văn như thế này. Các Tôn giả chớ có cãi lộn với nhau”. Như vậy, cái gì dễ nắm giữ phải thọ trì là dễ nắm giữ. Sau khi thọ trì là dễ nắm giữ cái gì dễ nắm giữ, cái gì thuộc về Pháp, cái gì thuộc về Luật hãy được nói lên”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, khi các Ông học tập các pháp ấy trong tinh thần hòa đồng, hoan hỷ, không cãi lộn với nhau, có thể có một Tỷ-kheo khác phạm giới, phạm luật.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, này các Tỷ-kheo, chớ có khiển trách hấp tấp, cá nhân người kia cần phải giác sát. Các Ông phải suy nghĩ: “Sẽ không có hại gì cho ta, và sẽ không có tổn hại gì cho người kia. Nếu người kia không phẫn nộ, không uất hận, có ý kiến lanh lợi, và dễ thuyết phục, và ta có thể khiến người ấy vượt khỏi bất thiện, an trú vào thiện”. Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông nghĩ như vậy, thời các Ông nên nói là phải.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhưng nếu, này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ như sau: “Sẽ không có hại gì cho ta, và sẽ có tổn hại cho người kia. Người kia phẫn nộ, uất hận, có ý kiến chậm chạp, nhưng dễ thuyết phục, và ta có thể khiến người ấy vượt khỏi bất thiện, an trú vào thiện. Nhưng đây chỉ là một vấn đề nhỏ nhặt, tức là sự tổn hại cho người kia. Và đây là sự việc to lớn hơn, là ta có thể khiến người này vượt khỏi bất thiện, an trú vào thiện”. Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông nghĩ như vậy, thời các Ông nên nói là phải.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu các Ông suy nghĩ như sau: “Sẽ có hại cho ta và không có tổn hại cho người kia. Người kia không có phẫn nộ, uất hận, có ý kiến lanh lợi, nhưng khó thuyết phục, và ta có thể khiến người ấy vượt khỏi bất thiện, an trú vào thiện. Nhưng đây chỉ là một vấn đề nhỏ nhặt, tức là sự tổn hại cho ta. Và đây là sự việc to lớn hơn, là ta có thể khiến người này vượt khỏi bất thiện, an trú vào thiện”. Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông suy nghĩ như vậy, thời các Ông nên nói là phải.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu các Ông suy nghĩ như sau: “Sẽ có hại cho ta và sẽ có tổn hại cho người kia. Người khác phẫn nộ, uất hận, có ý kiến chậm chạp, khó thuyết phục và ta có thể khiến người này vượt khỏi bất thiện, an trú vào thiện. Nhưng đây chỉ là một vấn đề nhỏ nhặt, tức là hại cho ta và tổn hại cho người kia. Và đây là sự việc to lớn hơn, là ta có thể khiến người này vượt khỏi bất thiện, an trú vào thiện”. Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông suy nghĩ như vậy, thời các Ông nên nói là phải.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu các Ông suy nghĩ như sau: “Ta sẽ bị hại và người kia cũng bị tổn hại. Người kia phẫn nộ, uất hận, có ý kiến chậm chạp, khó thuyết phục, và ta không có thể khiến người này vượt khỏi bất thiện, an trú vào thiện”. Ðối với một người như vậy, này các Tỷ-kheo, hãy xã, chớ có nên khinh miệt.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, khi các Ông học tập các pháp ấy trong tinh thần hòa đồng, hoan hỷ, không cãi lộn với nhau, có thể khởi lên giữa các Ông, một khẩu hành, một ý kiến ngoan cố, một tâm hiềm hận, ưu não, phẫn nộ. Ở đây, một Tỷ-kheo nào của phe bên kia mà các Ông nghĩ là nhu thuận dễ nói hơn, hãy đến vị ấy và nói như sau: “Này Hiền giả, dầu chúng tôi học tập các pháp ấy trong tinh thần hòa đồng, hoan hỷ, không cãi lộn nhau, có khởi lên một khẩu hành, một ý kiến ngoan cố, một tâm hiềm hận, ưu não, phẫn nộ. Nếu biết được như thế, vị Sa-môn sẽ quở trách”. Trả lời một cách chơn chánh, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải trả lời như sau: “Này Hiền giả, dầu cho, chúng tôi học tập các pháp ấy trong tinh thần hòa đồng, hoan hỷ, không cãi lộn nhau …, vị Sa-môn sẽ quở trách.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhưng này Hiền giả, nếu không từ bỏ điều kiện ấy, Niết-bàn có thể chứng được chăng?” Nếu trả lời một cách chơn chánh, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải trả lời như sau: “Này Hiền giả, nếu không từ bỏ điều kiện ấy, Niết-bàn không có thể chứng được”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Rồi một Tỷ-kheo nào của phe bên kia mà các Ông nghĩ là nhu thuận dễ nói hơn hãy đến vị ấy và nói như sau: “Này Hiền giả, dầu chúng tôi học tập các pháp ấy …, vị Sa-môn sẽ quở trách”. Trả lời một cách chơn chánh, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải trả lời như sau: “Này Hiền giả, dầu cho chúng tôi …, vị Sa-môn sẽ quở trách.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhưng này Hiền giả, nếu không từ bỏ điều kiện ấy, Niết-bàn có thể chứng được chăng?” Nếu trả lời một cách chơn chánh, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải trả lời như sau: “Này Hiền giả, nếu không từ bỏ điều kiện ấy, Niết-bàn không có thể chứng được”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu các Ông khác hỏi Tỷ-kheo ấy, nói rằng: “Các Tỷ-kheo ấy có được Tôn giả khiến cho vượt khỏi bất thiện, an trú vào thiện chăng?” Nếu trả lời một cách chơn chánh, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải trả lời như sau: “Ở đây, này Hiền giả, tôi đi đến Thế Tôn và Thế Tôn thuyết pháp của Ngài cho tôi. Sau khi nghe pháp ấy, tôi đã nói lại cho các Tỷ-kheo ấy. Khi các Tỷ-kheo ấy nghe pháp ấy xong, các vị ấy tự vượt khỏi bất thiện và an trú vào thiện”. Trả lời như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không tự khen mình chê người. Vị ấy giải thích tùy pháp đúng với pháp, và không một ai trong các Pháp hữu nói lời tùy thuyết, có thể đưa đến phỉ báng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc23" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; KINH LÀNG SAMA</title>
		<link>https://thienvipassana.net/104-kinh-lang-sama-samagama-sutta-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 07:30:53 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5606</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ KINH LÀNG SAMA &#8211; Sāmagāma Sutta Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở giữa]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH LÀNG SAMA &#8211; </strong></span><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sāmagāma Sutta</span></strong></p>
</div>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một thời Thế Tôn trú ở giữa các vị Sakka (Thích Ca), tại Samagama (Xá-di thôn).</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lúc bấy giờ, <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> <i lang="pli" translate="no">Nātaputta</i> vừa mới tạ thế ở <i lang="pli" translate="no">Pāvā</i>. Sau khi vị này tạ thế, các vị <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> chia ra làm hai phái, chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống tàn hại nhau với binh khí miệng lưỡi. “Ông không biết Pháp và Luật này, ta biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời nói ta tương ưng, lời nói Ông không tương ưng. Ðiều đáng nói trước, Ông nói sau; điều đáng nói sau, Ông nói trước. Ðiều Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã bị thách đố. Ông đã bị đánh bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được!” Hình như các đệ tử của <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i><i lang="pli" translate="no">Nātaputta</i> muốn tàn hại lẫn nhau. Chính các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i><i lang="pli" translate="no">Nātaputta</i> cũng chán ngấy, cơ hiềm, và phản đối các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i>, vì pháp luật của họ đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Rồi Sa-di <i lang="pli" translate="no">Cunda</i>, sau khi an cư mùa mưa ở <i lang="pli" translate="no">Pāvā</i>, đến thăm Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> ở Samagama, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Sa-di <i lang="pli" translate="no">Cunda</i> bạch Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Tôn giả, <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> Nataputtta đã từ trần ở <i lang="pli" translate="no">Pāvā</i>. Sau khi vị này tạ thế, các <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> chia ra làm hai phái … tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi nghe nói vậy, Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> nói với Sa di <i lang="pli" translate="no">Cunda</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này Hiền giả <i lang="pli" translate="no">Cunda</i>, đây là vấn đề đáng đưa ra để yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả <i lang="pli" translate="no">Cunda</i>, chúng ta hãy đi yết kiến Thế Tôn; sau khi đến, chúng ta hãy trình bày vấn đề này để Thế Tôn biết.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa vâng, Tôn giả.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sa di <i lang="pli" translate="no">Cunda</i> vâng lời Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>. Rồi Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> cùng với Sa di <i lang="pli" translate="no">Cunda</i> đi đến yết kiến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> bạch Thế Tôn</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, Sa di <i lang="pli" translate="no">Cunda</i> có nói: “<i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> <i lang="pli" translate="no">Nātaputta</i> đã từ trần ở <i lang="pli" translate="no">Pāvā</i>. Sau khi vị này từ trần, các vị <i lang="pli" translate="no">Nigaṇṭha</i> chia ra làm hai phái … tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ”. Bạch Thế Tôn, con nghĩ như sau: “Sau khi Thế Tôn nhập diệt, chớ để cho tranh luận khởi lên giữa Tăng chúng. Tranh luận ấy đưa đến sự bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài người”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Ông nghĩ thế nào? Những pháp Ta dạy cho các Ông với thượng trí, như Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Thánh đạo tám ngành. Ông có thấy chăng, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có hai Tỷ-kheo đối với những pháp này tuyên bố sai khác nhau?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, những pháp Thế Tôn dạy cho con với thượng trí, như Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Thánh đạo tám ngành, con không thấy cho đến hai Tỷ-kheo đối với những pháp này tuyên bố sai khác nhau. Bạch Thế Tôn, và những người nào sống y cứ sùng kính Thế Tôn, những người ấy sau khi Thế Tôn nhập diệt, có thể khởi lên những tranh luận giữa tăng chúng, hoặc về Tăng thượng hoạt mạng, hoặc về Tăng thượng Giới bổn (<i lang="pli" translate="no">Pātimokkha</i>). Tranh luận ấy đem đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Là nhỏ nhặt, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là sự tranh luận ấy, tức là tranh luận về Tăng thượng hoạt mạng hay Tăng thượng giới bổn. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, sự tranh luận khởi lên giữa Tăng chúng về con đường (magga) hay về đường hướng tu hành (patipada), sự tranh luận ấy mới đưa đến bất an cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có sáu căn bản tranh chấp này. Thế nào là sáu? Ở đây, Tỷ-kheo phẫn nộ, sân hận. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, vị Tỷ-kheo nào phẩn nộ, sân hận, vị ấy sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng, và sống không viên mãn sự học tập. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Tỷ-kheo nào sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng; và sống không viên mãn sự học tập, vị ấy khởi lên tranh luận giữa Tăng chúng. Sự tranh luận nào đưa đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, nếu Ông thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa các người khác, ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Ông phải tinh tấn đoạn trừ ác căn bản tranh luận ấy. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, nếu Ông không thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa các người khác; ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Ông phải theo một đường hướng để không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận ấy. Có sự đoạn diệt ác căn bản tranh luận ấy, như vậy mới không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận ấy như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, vị Tỷ-kheo hiềm hận não hại … tật đố, xan tham … gian manh, xảo trá … ác dục tà kiến … chấp thủ thế trí, cố chấp, khó thuyết phục. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Tỷ-kheo nào chấp thủ thế trí, cố chấp khó thuyết phục, vị ấy sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng; và sống không viên mãn sự học tập. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, vị Tỷ-kheo nào sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng; và sống không viên mãn sự học tập, vị ấy khởi lên sự tranh luận giữa Tăng chúng. Sự tranh luận nào đưa đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, nếu Ông thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa các người khác, ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Ông phải tinh tấn đoạn trừ ác căn bản tranh luận ấy. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, nếu Ông không thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa người khác, ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Ông phải theo một đường hướng để không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận ấy. Có sự đoạn diệt ác căn bản tranh luận ấy, như vậy mới không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận như vậy. Những pháp này, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là sáu căn bản tranh chấp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có bốn tránh sự này. Thế nào là bốn? Tránh sự khởi lên do tranh luận, tránh sự khởi lên do chỉ trích, tránh sự khởi lên do phạm giới tội, tránh sự khởi lên do trách nhiệm (kiccadhikaranam: hành tránh sự). Những pháp này, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là bốn tránh sự.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhưng này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có bảy diệt tránh pháp này để giải quyết diệt trừ các tránh pháp thỉnh thoảng khởi lên: phán quyết với sự hiện diện cần được ban cho (sammukhavinayo databbo: ưng dữ hiện tiền tỳ—ni), phán quyết ức niệm cần được ban cho (sativinayadatabbo: ưng dữ ức niệm tỳ-ni), phán quyết bất si cần được ban cho (amulhavinayo databbo: ưng dữ bất si tỳ-ni), quyết định tùy theo thú nhận (patinnaya karetabbam), quyết định đa số (yebhuya ssika: đa nhân mích tội), quyết định tùy theo giới tội người phạm (tassa papiyyasika), trải cỏ che lấp (tinavattha rako: như thảo phú địa).</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, thế nào là phán quyết với sự hiện diện cần được ban cho? Ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, các Tỷ-kheo tranh chấp nhau: “Ðây là pháp, hay đây là phi pháp, hay đây là luật, hay đây là phi luật”. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, tất cả các Tỷ-kheo ấy phải tập hợp hòa hợp với nhau, sau khi tập hợp, pháp quy chế (dhammanetti) phải được thảo luận, phân tích. Sau khi pháp quy chế được thảo luận, phân tích, ở đây, làm thế nào để đồng nhất đạt được, như vậy, tránh sự phải được giải quyết. Như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là phán quyết với sự hiện diện; và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh sự tức là dùng phán quyết với sự hiện diện.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, thế nào là quyết định đa số (yebbuyyasika)? Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, nếu các Tỷ-kheo kia không có thể giải quyết tránh ấy tại trú xứ ấy, thời này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, các vị Tỷ-kheo kia cần phải đi đến chỗ trú xứ có nhiều Tỷ-kheo hơn, tại đấy tất cả các Tỷ-kheo phải hòa đồng tập hợp lại; sau khi tập hợp, pháp quy chế (dhammanetti) phải được thảo luận, phân tích. Sau khi pháp quy chế được thảo luận, phân tích, ở đây làm thế nào, để đồng nhất đạt được như vậy, tránh sự phải được giải quyết. Như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là sự giải quyết một số tránh sự tức là dùng sự quyết định đa số.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, thế nào phán quyết ức niệm? Ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo về một trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di, nói rằng: “Tôn giả có nhớ Tôn giả đã phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?” Vị ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, tôi không nhớ tôi đã phạm trọng tội như vậy, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di”. Như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, một phán quyết ức niệm cần phải cho Tỷ-kheo ấy. Như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là phán quyết ức niệm. Như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh sự tức là nhờ phán quyết ức niệm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, thế nào là phán quyết bất si? Ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo về một trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di nói rằng: “Tôn giả có nhớ Tôn giả đã phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?” Vị ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, tôi không nhớ tôi đã phạm trọng tội như vậy, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di”. Tỷ-kheo ấy bị các vị Tỷ-kheo kia dồn ép phải thú nhận: “Tôn giả hãy biết cho rõ ràng, nếu Tôn giả có nhớ có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di”. Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Này Chư Hiền, tôi đã bị cuồng si, tâm trí tôi điên đảo; do tôi cuồng si như vậy, nhiều việc đã được tôi làm, tôi nói không xứng Sa-môn hạnh. Vì bị cuồng si, tôi không nhớ đã làm như vậy”. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, phán quyết bất si cần phải cho Tỷ-kheo ấy. Như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là phán quyết bất si. Và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh pháp, tức là nhờ phán quyết bất si.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, thế nào là quyết định tùy theo thú nhận? Ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, bị buộc tội hay không bị buộc tội, Tỷ-kheo nhớ một giới tội, tỏ lộ, trình bày. Tỷ-kheo ấy phải đến một Tỷ-kheo lớn tuổi hơn, đắp y phía một bên vai, đảnh lễ chân vị ấy, ngồi gối hai chân, chấp tay và nói như sau: “Bạch Tôn giả, tôi có phạm giới tội tên như thế này, nay xin sám hối”. Tỷ-kheo kia nói như sau: “Ông có thấy chăng?”: “Tôi có thấy”:: “Ông có gìn giữ trong tương lai không?”:: “Tôi sẽ gìn giữ”. Như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là quyết định tùy theo thú nhận, như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh sự tức là nhờ quyết định tùy theo thú nhận.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, thế nào là quyết định tùy theo giới tội người phạm? Ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo về một trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di, nói rằng: “Tôn giả có nhớ Tôn giả đã phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?” Vị ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, tôi không nhớ tôi đã phạm trọng tội như vậy, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di”. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo kia dồn ép phải tỏ lộ ra: “Tôn giả hãy biết cho rõ ràng, nếu Tôn giả có nhớ có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?” Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, tôi không có nhớ tôi có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di. Chư Hiền, tôi nhớ tôi có phạm khinh tội như thế này”. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo kia dồn ép phải tỏ lộ: “Tôn giả hãy biết cho rõ ràng, nếu Tôn giả nhớ có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di hoặc gần Ba-la-di?”. Vị ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, dầu không ai hỏi tội, tôi sẽ thú nhận có phạm khinh tội như thế này, làm sao tôi có thể, khi có người hỏi tôi, lại không thú nhận có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba la di, hoặc gần Ba-la-di?” Vị kia nói như sau: “Này Hiền giả, dầu Ông có phạm khinh tội này, nếu không hỏi, Ông sẽ không thú nhận, làm sao khi đã phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di, nếu có hỏi, Ông lại có thể thú nhận? Tôn giả hãy biết rõ ràng, nếu Tôn giả nhớ có phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di. Hoặc gần Ba-la-di?” Vị ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, tôi nhớ, tôi có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di. Ðiều tôi đã nói như vậy, là nói chơi, điều tôi đã nói như vậy là để cười (rava) Tôi không có nhớ tôi đã phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di”. Như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là quyết định tùy theo giới tội người phạm. Và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh tội, tức là nhờ quyết định tùy theo giới tội người phạm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, thế nào là trải cỏ che lấp? Ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, một số Tỷ-kheo sống tranh chấp, tranh cãi, tranh luận với nhau, có nhiều việc đã làm, đã nói không xứng Sa-môn hạnh. Tất cả các Tỷ-kheo ấy phải tập hợp hòa đồng với nhau. Sau khi tập hợp, một Tỷ-kheo thông minh có kinh nghiệm hơn của một phe nhóm Tỷ-kheo, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y về phía một bên vai, chắp tay, bạch Tăng chúng, nói rằng: “Chư Tôn giả, Tăng chúng hãy nghe tôi. Khi chúng tôi sống tranh chấp, tranh cãi, tranh luận với nhau, nhiều việc đã làm, đã nói không xứng Sa-môn hạnh. Nếu Tăng chúng xem là phải thời, tôi xin tỏ lộ bất cứ giới tội nào của các Tôn giả này và bất cứ giới tội nào của tôi. Vì lợi ích cho chư Tôn giả và cũng vì lợi ích cho tự thân, tôi xin tỏ lộ giữa Tăng chúng, như lấy cỏ trải ra, trừ các trọng tội, trừ tội liên hệ đến cư sĩ”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc23" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Rồi một vị Tỷ-kheo thông minh, kinh nghiệm của nhóm Tỷ-kheo khác, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y về phía một bên vai, chấp tay bạch Tăng chúng, nói rằng: “Chư Tôn giả, Tăng chúng hãy nghe tôi. Khi chúng tôi sống tranh chấp, tranh cãi, tranh luận với nhau, nhiều việc đã làm, đã nói không xứng Sa-môn hạnh. Nếu Tăng chúng xem là phải thời, tôi xin tỏ lộ bất cứ giới tội nào của các Tôn giả này và bất cứ giới tội nào của tôi. Vì lợi ích cho chư Tôn giả và cũng vì lợi ích cho tự thân, tôi xin tỏ lộ giữa Tăng chúng, như lấy cỏ trải ra, trừ các trọng tội, trừ tội liên hệ đến cư sĩ”. Như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là trải cỏ che lấp, và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh pháp, tức là nhờ trải cỏ che lấp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc24" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có sáu khả niệm pháp này, tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất. Thế nào là sáu?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc25" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Tỷ-kheo an trú từ thân nghiệp, đối với các vị đồng Phạm hạnh, chỗ đông người và chỗ vắng người. Khả niệm pháp này, tác thành khả ái, tác thành tôn kính đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc26" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và lại nữa, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Tỷ-kheo an trú từ khẩu nghiệp, đối với các vị đồng Phạm hạnh, chỗ đông người và chỗ vắng người. Khả niệm pháp này, tác thành khả ái, tác thành tôn kính đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc27" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và lại nữa, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Tỷ-kheo an trú từ ý nghiệp đối với các vị đồng Phạm hạnh, chỗ đông người và chỗ vắng người. Khả niệm pháp này tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc28" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và lại nữa, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, với mọi sở đắc như pháp, mọi lợi dưỡng đúng pháp cho đến những thọ lãnh trong bình bát, Tỷ-kheo là vị san sẻ các lợi dưỡng như vậy, là vị thọ hưởng chúng cùng với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức. Khả niệm pháp này cũng tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc29" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và lại nữa, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, đối với mọi giới luật nào, không sứt mẻ, không tỳ, không vết, không ô uế, giải thoát, được người trí tán thán, không chấp thủ, đưa đến Thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu những giới luật như vậy cùng với các vị đồng Phạm hạnh giữa chỗ đông người và tại chỗ vắng người. Khả niệm pháp này cũng tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc30" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và lại nữa, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, đối với mọi tri kiến thánh thiện, đưa đến xuất ly, dẫn đến sự chơn chánh, đoạn diệt khổ đau cho những ai thực hành theo, Tỷ-kheo sống thành tựu những tri kiến như vậy cùng với các vị đồng Phạm hạnh trước chỗ đông người và tại chỗ vắng người. Khả niệm pháp này cũng tác thành khả ái, tác thành tôn kính đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa đồng, đồng nhất.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc31" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, sáu pháp khả niệm này tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa đồng, đồng nhất. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, nếu Ông thọ trì và thực hành sáu pháp khả niệm này, thời này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Ông thấy có những cách nói nào, hoặc tế hoặc thô, khiến Ông không có thể kham nhẫn?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc32" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa không, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc33" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Do vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, hãy thọ trì và thực hành sáu pháp khả niệm này, như vậy sẽ đưa đến cho Ông an lạc và hạnh phúc lâu dài.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc34" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; KINH THIỆN TIN</title>
		<link>https://thienvipassana.net/105-kinh-thien-tinh-sunakkhatta-sutta-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 07:55:01 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5615</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ KINH THIỆN TIN &#8211; Sunakkhatta Sutta Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú tại Vesālī]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH THIỆN TIN &#8211; </strong></span><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sunakkhatta Sutta</span></strong></p>
</div>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một thời Thế Tôn trú tại <i lang="pli" translate="no">Vesālī</i> (Tỳ-xá-ly), ở Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường (Kutagarasala).</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo, trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã chứng trí giác: “Chúng tôi biết rằng sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những điều nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i> Licchaviputta (Thiện Tinh Ly-xa Tử) được nghe: “Nhiều Tỷ-kheo, trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã chứng trí giác: ‘Chúng tôi biết rằng sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những điều nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa’”. Rồi <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i> Licchaviputta đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i> Licchaviputta bạch Thế Tôn</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, con có được nghe như sau: “Nhiều Tỷ-kheo, trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã chứng trí giác: ‘Chúng tôi biết rằng sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những điều nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa’”. Bạch Thế Tôn, không biết các Tỷ-kheo ấy đã tuyên bố một cách chơn chánh chứng trí giác, hay ở đây có một số Tỷ-kheo, vì tăng thượng mạn đã tuyên bố chứng trí giác?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, những vị Tỷ-kheo trước mặt Ta đã tuyên bố chứng trí giác: “Chúng tôi biết rằng, sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”. Ở đây, có một số Tỷ-kheo đã chơn chánh tuyên bố chứng trí giác; nhưng ở đây, cũng có một số Tỷ-kheo chính vì tăng thượng mạn, đã tuyên bố chứng trí giác. Ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, những vị Tỷ-kheo nào đã chơn chánh tuyên bố chứng trí giác, thời đối với các vị ấy, thật là đúng như vậy. Nhưng đối với các vị Tỷ-kheo nào, vì tăng thượng mạn đã tuyên bố chứng tri giác, ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, Như Lai nghĩ như sau: “Ta hãy thuyết pháp cho những vị ấy”. Và như vậy, ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, Như Lai suy nghĩ: “Ta hãy thuyết pháp cho những vị ấy”. Nhưng ở đây, nếu có một số người ngu si, bày đặt câu hỏi, đến hỏi Như Lai; ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, Như Lai suy nghĩ như sau: “Ta hãy thuyết pháp cho những người ấy”. Như Lai suy nghĩ như vậy, không có làm khác.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Nay đã đúng thời để thuyết pháp, bạch Thế Tôn! Nay đã đúng thời để thuyết pháp, bạch Thiện Thệ! Thế Tôn thuyết pháp như thế nào, sau khi nghe Thế Tôn xong, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Vậy này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, hãy nghe và khéo tác ý kỹ, Ta sẽ giảng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i> Licchaviputta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức …; các hương do mũi nhận thức …; các vị do lưỡi nhận thức …; các xúc do thân cảm xúc khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, những pháp này là năm dục trưởng dưỡng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhưng này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, sự tình này xảy ra khi ở đây có số người thiên nặng về vật chất thế gian. Ðối với người thiên nặng về vật chất thế gian, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, câu chuyện (thích hợp với người ấy) phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người nào người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến bất động, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác. Và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ví như, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, có người đã lâu không trú ở trong làng hay thị trấn của mình, và có thể thấy một người vừa mới từ làng ấy hay thị trấn ấy lại. Người này sẽ hỏi người ấy về sự an ninh của làng hay thị trấn ấy, về đồ ăn uống sung túc và về ít bệnh tật, và người ấy sẽ nói cho người này biết về sự an ổn của làng hay thị trấn ấy, về đồ ăn uống sung túc và về ít bệnh tật. Này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, Ông nghĩ thế nào? Có phải người này sẽ nghe người kia, lóng tai, tâm an trú vào trí giác và người này sẽ giao thiệp với người ấy mà người này thích thú?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa phải vậy, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Cũng vậy, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, sự tình này xảy ra khi ở đây có số người thiên nặng về vật chất thế gian. Ðối với người thiên nặng về vật chất thế gian, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Bất động, thời người ấy không nghe, không lóng tai và tâm không an trú vào thượng trí, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú. Người ấy cần được hiểu như vầy: “Là hạng người thiên nặng về vật chất thế gian”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, sự tình này xảy ra, khi một số người thiên nặng về Bất động. Ðối với người thiên nặng về Bất động, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, câu chuyện thích hợp (với người ấy) phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến vật chất thế gian, thời người ấy không nghe, không lóng tai và tâm không an trú vào thượng trí, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ví như, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, một lá vàng khô đã rời khỏi cành, không còn xanh trở lại; cũng vậy, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, đối với hạng người thiên nặng về Bất động, đã rời khỏi kiết sử vật chất thế gian. Người ấy cần được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử vật chất thế gian, thiên nặng về Bất động”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, sự tình này xảy ra. Ở đây, có một số người thiên nặng về Vô sở hữu. Ðối với người thiên nặng về Vô sở hữu, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Bất động, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ví như, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, một hòn đá bị vỡ làm đôi không thể nối liền lại được; cũng vậy, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, đối với hạng người thiên nặng về Vô sở hữu, đã bị chặt đứt khỏi kiết sử Bất động, người ấy cần được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử Bất động, thiên nặng về Vô sở hữu”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, sự tình này xảy ra. Ở đây, có một số người thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðối với người thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Vô sở hữu xứ, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ví như, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, một người đã ăn các món ăn mỹ vị và đã quăng bỏ. Này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có ưa ăn lại món ăn ấy không?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn không. Vì sao vậy? Vì rằng, bạch Thế Tôn, món ăn ấy được xem là ghê tởm rồi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Cũng vậy, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, đối với hạng người thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đã để một bên kiết sử Vô sở hữu xứ. Người ấy cần được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử Vô sở hữu xứ, thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc23" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i> sự tình này xảy ra, khi ở đây, có số người thiên nặng về chánh Niết-bàn. Ðối với hạng người thiên nặng về chánh Niết-bàn, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác. Và người ấy không giao thiệp với người mà người mà ấy không thích.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc24" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ví như, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, cây tala ngọn cây đã bị chặt đứt không thể lớn được nữa; cũng vậy, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, đối với hạng người thiên nặng về chánh Niết-bàn, đã cắt đứt kiết sử Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đã cắt đứt từ rễ, làm cho như cây tala không thể tái sanh, không thể khởi lên lại trong tương lai. Người ấy cần phải được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thiên nặng về chánh Niết-bàn”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc25" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, sự tình này xảy ra, khi ở đây, có một số người suy nghĩ như sau: “Tham ái được vị Sa-môn gọi là mũi tên. Thuốc độc vô minh làm não hại con người với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt; thuốc độc vô minh đã được trừ khử; ta thiên nặng về chánh Niết-bàn”. Vị ấy có thể tự hào với mục đích hiện tại. Vị ấy có thể truy cầu những gì không thích hợp với khuynh hướng chánh Niết-bàn, mắt vị ấy có thể truy cầu sắc không thích hợp, tai có thể truy cầu tiếng không thích hợp, mũi có thể truy cầu hương không thích hợp, lưỡi có thể truy cầu vị không thích hợp, thân có thể truy cầu xúc không thích hợp, ý có thể truy cầu pháp không thích hợp. Khi mắt truy cầu sắc không thích hợp, tai truy cầu tiếng không thích hợp, mũi truy cầu hương không thích hợp, lưỡi truy cầu vị không thích hợp, thân truy cầu xúc không thích hợp, ý truy cầu pháp không thích hợp, thời tham dục nhiễu loạn tâm vị ấy. Vị ấy do tâm bị tham dục nhiễu loạn đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc26" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ví như, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, một người bị mũi tên bắn, tên ấy có tẩm thuốc độc rất dày. Bạn bè thân hữu, bà con huyết thống người ấy cho mời một y sĩ giải phẫu. Vị y sĩ giải phẫu ấy có thể cắt xung quanh miệng vết thương với con dao; sau khi cắt xung quanh miệng vết thương với con dao, vị y sĩ giải phẫu có thể dò tìm mũi tên với một vật dụng dò tìm. Sau khi dò tìm mũi tên với một vật dụng dò tìm, y sĩ có thể rút mũi tên ra. Y sĩ có thể trừ khử hết thuốc độc, còn để lại một ít nhưng nghĩ không có thuốc độc nào còn lại, y sĩ nói như sau: “Này Hiền giả, mũi tên của Bạn đã được rút ra, thuốc độc đã được trừ khử, không còn dư tàn, và không còn gì nguy hiểm nữa cho Bạn, nhưng Bạn phải chỉ ăn các đồ ăn thích hợp, và hãy gìn giữ, nếu ăn đồ ăn không thích hợp, vết thương của Bạn sẽ làm mủ lại, và thường thường phải cho rửa vết thương, thường thường phải xức thuốc cho miệng vết thương. Trong khi thường thường cho rửa vết thương, thường thường xức thuốc cho miệng vết thương, chớ có để máu cũ đóng khô trên miệng vết thương và hãy cẩn thận khi đi ra giữa gió và nắng; hãy cẩn thận khi đi ra giữa gió và nắng, nếu không, bụi và nhớp có thể nhiễu hại miệng vết thương. Và này Bạn, nếu Bạn chăm sóc vết thương, thời vết thương sẽ được lành”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc27" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người ấy suy nghĩ như sau: “Mũi tên đã được rút khỏi (thân) ta, nọc độc đã được trừ khử, không còn dư tàn, và ta đã thoát khỏi nguy hiểm”. Và người ấy ăn những đồ ăn không thích hợp. Vì người ấy ăn những đồ ăn không thích hợp, nên vết thương làm mủ lại. Và thường thường người ấy không rửa vết thương, thường thường không xức thuốc miệng vết thương. Vì người ấy thường thường không rửa vết thương, vì người ấy thường thường không xức thuốc miệng vết thương, nên máu cũ đông lại trên miệng vết thương. Và người ấy thường hay đi giữa gió và nắng. Do người ấy thường hay đi giữa gió và nắng, bụi và nhớp nhiễu hại miệng vết thương; và vì người ấy không chăm sóc vết thương nên vết thương không được lành. Vì người ấy làm chính những việc không thích hợp, và do thuốc độc được trừ khử nhưng còn dư tàn, do cả hai điều ấy nên miệng vết thương có thể lở to hơn trước. Do vết thương lở to, người ấy có thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc28" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Cũng vậy, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, sự kiện này xảy ra, khi ở đây một số Tỷ-kheo nghĩ như sau: “Tham ái được bậc Sa-môn gọi là mũi tên, thuốc độc vô minh làm não hại (con người) với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt; thuốc độc vô minh đã được trừ khử. Ta thiên nặng về chánh Niết-bàn”. Vị ấy có thể tự hào với mục đích hiện tại. Vị ấy có thể truy cầu những gì không thích hợp với khuynh hướng chánh Niết-bàn. Mắt có thể truy cầu sắc không thích hợp, tai có thể truy cầu tiếng không thích hợp, mũi có thể truy cầu hương không thích hợp, lưỡi có thể truy cầu vị không thích hợp, thân có thể truy cầu xúc không thích hợp, ý có thể truy cầu pháp không thích hợp. Khi mắt truy cầu sắc không thích hợp, tai truy cầu tiếng không thích hợp, mũi truy cầu hương không thích hợp, lưỡi truy cầu vị không thích hợp, thân truy cầu xúc không thích hợp, ý truy cầu pháp không thích hợp, thời tham dục nhiễu loạn tâm vị ấy. Vị ấy do tham dục nhiễu loạn tâm, đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc29" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, là chết trong giới luật của bậc Thánh, khi vị ấy từ bỏ tu tập, trở về hoàn tục, và như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, là khổ như chết, khi vị ấy phạm một ô uế tội nào.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc30" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, sự tình này xảy ra, khi ở đây một số Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Tham ái được bậc Sa-môn gọi là mũi tên, thuốc độc vô minh làm não hại con người với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt, thuốc độc vô minh đã được trừ khử. Ta thiên nặng về chánh Niết-bàn”. Chính vì thiên nặng về chánh Niết-bàn, vị ấy không truy cầu những gì không thích hợp với khuynh hướng thiên nặng về Niết-bàn, mắt không truy cầu sắc không thích hợp, tai không truy cầu tiếng không thích hợp, mũi không truy cầu hương không thích hợp, lưỡi không truy cầu vị không thích hợp, thân không truy cầu xúc không thích hợp, ý không truy cầu pháp không thích hợp. Vì mắt vị ấy không truy cầu sắc không thích hợp, vì tai không truy cầu tiếng không thích hợp, vì mũi không truy cầu hương không thích hợp, vì lưỡi không truy cầu vị không thích hợp, vì thân không truy cầu xúc không thích hợp, vì ý không truy cầu pháp không thích hợp, nên tham dục không nhiễu loạn tâm, vì tham dục không nhiễu loạn tâm; nên vị ấy không đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc31" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ví như, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, một người bị tên bắn, và mũi tên bị tẩm thuốc độc rất dày. Bạn bè thân hữu, bà con huyết thống người ấy cho mời một y sĩ giải phẫu. Vị y sĩ giải phẫu ấy có thể cắt xung quanh miệng vết thương với con dao; sau khi cắt xung quanh miệng vết thương với con dao, vị y sĩ giải phẫu có thể dò tìm tên với một vật dụng dò tìm. Sau khi dò tìm mũi tên với một vật dụng dò tìm, y sĩ có thể rút mũi tên ra … Y sĩ có thể trừ khử hết thuốc độc không còn để dư lại và biết rằng không còn để dư lại. Vị ấy nói như sau: “Này Bạn, mũi tên của Bạn đã được rút ra, thuốc độc đã được trừ khử, không có dư tàn, nhưng vẫn còn nguy hiểm cho Bạn. Và Bạn hãy ăn những đồ ăn thích hợp, chớ ăn những đồ ăn không thích hợp khiến vết thương có thể làm mủ; và thường thường hãy rửa vết thương, thường thường hãy xức thuốc miệng vết thương, thường thường rửa vết thương, thường thường xức thuốc miệng vết thương, chớ để máu cũ đóng khô lại trên miệng vết thương. Và chớ có đi ra giữa gió và nắng; đi ra giữa gió và nắng, chớ để bụi và nhớp làm nhiễu hại miệng vết thương, hãy sống gìn giữ vết thương, này Bạn, và vết thương sẽ lành”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc32" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người ấy suy nghĩ như sau: “Mũi tên đã được rút ra khỏi ta, thuốc độc đã được trừ khử, không có dư tàn. Và ta chưa thoát khỏi nguy hiểm”. Và vị ấy có thể chỉ ăn các đồ ăn thích hợp. Do chỉ ăn các đồ ăn thích hợp miệng vết thương có thể không làm mủ. Và thường thường vị ấy có thể rửa vết thương, thường thường có thể xức thuốc miệng vết thương. Do thường thường rửa vết thương, do thường thường xức thuốc miệng vết thương, máu cũ không có thể đóng khô lại trên miệng vết thương. Người ấy không sốt sắng đi giữa gió và nắng. Do người ấy không sốt sắng đi giữa gió và nắng, bụi và nhớp không có thể nhiễu hại miệng vết thương và người ấy sống gìn giữ vết thương, và vết thương được lành. Vì người ấy chỉ làm những điều thích hợp và vì thuốc độc được trừ khử không còn dư tàn, do hai nhân duyên ấy vết thương được khép kín lại. Khi vết thương được da che kín lại, người ấy không đi đến chết hay không đi đến khổ gần như chết.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc33" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Cũng vậy, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, sự kiện này xảy ra, khi ở đây một số Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Tham ái được bậc Sa-môn gọi là mũi tên, thuốc độc vô minh làm não hại con người với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt … không có truy cầu những gì không thích hợp. Mắt không truy cầu sắc không thích hợp, tai không truy cầu tiếng không thích hợp, mũi không truy cầu hương không thích hợp, lưỡi không truy cầu vị không thích hợp, thân không truy cầu xúc không thích hợp, ý không truy cầu pháp không thích hợp. Do mắt người ấy không truy cầu sắc không thích hợp, do tai không truy cầu tiếng không thích hợp, do mũi không truy cầu hương không thích hợp, do lưỡi không truy cầu vị không thích hợp, do thân không truy cầu xúc không thích hợp, do ý không truy cầu pháp không thích hợp, tham dục có thể không nhiễu hại tâm. Do tâm không bị tham dục nhiễu hại, nên người ấy không đi đến chết, hay không đi đến khổ gần như chết.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc34" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, Ta nói ví dụ này với mục đích làm sáng tỏ ý nghĩa. Nghĩa ở đây như sau: Vết thương, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, là đồng nghĩa với sáu xúc xứ (phassayatana); thuốc độc, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, là đồng nghĩa với vô minh; mũi tên, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, là đồng nghĩa với ái; vật dụng dò tìm, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, là đồng nghĩa với niệm; con dao, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, là đồng nghĩa với Thánh trí tuệ. Vị y sĩ giải phẫu, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc35" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thật vậy, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, Tỷ-kheo tự mình phòng hộ đối với sáu xúc xứ, nghĩ rằng: “Sanh y (Upadhi) là căn bản của khổ”, sau khi biết như vậy, vị ấy trở thành vô sanh y, giải thoát nhờ đoạn diệt sanh y. Vị ấy còn chú thân của mình trên sanh y hay để tâm đến sanh y, sự tình như vậy không xảy ra.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc36" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ví như, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, một chén uống nước bằng đồng, đẹp đẽ và hương thơm, và chén ấy lại tẩm thuốc độc. Rồi một người đến, muốn sống, muốn không chết, muốn lạc, yếm ly khổ. Này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có uống chén bằng đồng này không, nếu người ấy biết: “Sau khi tôi uống từ đây, tôi sẽ đi đến chết hoặc đi đến gần như chết?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc37" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa không, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc38" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Cũng vậy, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, Tỷ-kheo ấy chắc chắn phòng hộ đối với sáu xúc xứ. “Sanh y là căn bản của đau khổ”, sau khi biết vậy, vị ấy trở thành vô sanh y, giải thoát nhờ đoạn diệt sanh y. Còn chú thân của vị ấy trên sanh y, để tâm đến sanh y, sự tình như vậy không xảy ra. Ví như, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, một con rắn độc hết sức độc hại, và có một người đến, muốn sống, muốn không chết, muốn lạc, yếm ly khổ. Này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có đưa tay hay gót chân cho con rắn độc hại này không, nếu người ấy biết: “Nếu ta bị con rắn này cắn, ta sẽ đi đến chết hay khổ gần như chết?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc39" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa không, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc40" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Cũng vậy, này <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i>, Tỷ-kheo ấy chắc chắn phòng hộ sáu xúc xứ. “Sanh y là căn bản đau khổ”, sau khi biết vậy, vị ấy trở thành vô sanh y, giải thoát nhờ đoạn diệt sanh y. Còn chú thân của vị ấy trên sanh y, hay để tâm đến sanh y, sự tình như vậy không xảy ra.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc41" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thế Tôn thuyết giảng như vậy. <i lang="pli" translate="no">Sunakkhatta</i> Licchaviputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; KINH BẤT ĐỘNG LỢI ÍCH</title>
		<link>https://thienvipassana.net/106-kinh-bat-dong-loi-ich-anenjasappaya-sutta-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 08:28:28 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5698</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ KINH BẤT ĐỘNG LỢI ÍCH &#8211; Āneñjasappāya Sutta Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH BẤT ĐỘNG LỢI ÍCH &#8211; </strong></span><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Āneñjasappāya Sutta</span></strong></p>
</div>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru (Câu-lâu). <i lang="pli" translate="no">Kammāsadhamma</i> (Kiềm-ma-sắt-đàm) là thị trấn của dân chúng Kuru. Tại đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này các Tỷ-kheo, các dục là vô thường, trống rỗng, giả dối, thuộc ngu si tánh. Này các Tỷ-kheo, đây là lời chào xáo của kẻ ngu xây dựng trên giả dối. Các dục hiện tại, và các dục tương lai, các dục tưởng hiện tại và các dục tưởng tương lai, cả hai đều thuộc lãnh vực của ma, là cảnh giới của ma, là chỗ dinh dưỡng của ma, là chỗ ăn uống của ma.</span></p>
<h2 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Bất động</span></h2>
<p style="text-align: left;"><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, các ác bất thiện ý này dẫn đến tham dục, sân hận, khích động, và chính những pháp ấy tác thành chướng ngại ở đây cho Thánh đệ tử học tập. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Các dục hiện tại và các dục tương lai … cho Thánh đệ tử học tập. Vậy ta hãy an trú với tâm quảng đại, đại hành, sau khi chiến thắng thế giới, sau khi xác định vị trí của ý. Khi ta an trú với tâm quảng đại, đại hành chiến thắng thế giới, xác định vị trí của ý, các ác bất thiện ý: tham dục, sân hận, khích động sẽ không khởi lên; với các pháp ấy được đoạn trừ, tâm của ta không trở thành hạn hẹp, trái lại thành vô lượng, khéo tu tập”. Trong khi ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu bất động ngay hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến (samvattanikam vinnanam) có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhất hành đạo về lợi ích Bất động”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại, và những dục tưởng tương lai, phàm bất cứ sắc pháp gì, là bốn đại chủng và sắc do bốn đại tạo thành”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Bất động ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhị hành đạo về lợi ích Bất động.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại và những dục tưởng tương lai, những sắc pháp hiện tại và những sắc pháp tương lai, những sắc tưởng hiện tại và những sắc tưởng tương lai, cả hai đều vô thường. Cái gì vô thường thời không đáng để được hoan hỷ, không đáng để được hoan nghênh, không đáng để được chấp trước”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Bất động ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo được gọi là đệ tam hành đạo về lợi ích Bất động.</span></p>
<h2 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vô hữu xứ</span></h2>
<p style="text-align: left;"><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại … và những sắc tưởng tương lai, và những bất động tưởng, tất cả tưởng, chỗ nào các tưởng ấy được đoạn diệt không có dư tàn, như vậy là tịch tịnh, như vậy là thù diệu, tức là vô sở hữu”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo được gọi là đệ nhất hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đi đến khu rừng hay đi đến dưới gốc cây và suy nghĩ như sau: “Trống không là tự ngã hay ngã này sở hữu”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhị hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong hình thức nào, và sở thuộc của ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong hình thức nào”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong trú xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo được gọi là đệ tam hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.</span></p>
<h2 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Phi tưởng, phi phi tưởng xứ</span></h2>
<p style="text-align: left;"><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại. Và những sắc tưởng và những Bất động tưởng, và những Vô sở hữu xứ tưởng, tất cả các tưởng, chỗ nào các tưởng ấy được đoạn diệt không có dư tàn, như vậy là tịch tịnh, như vậy là thù diệu, tức là Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong trú xứ (của nó). Với tâm an tịnh vị ấy có thể thành tựu Phi tưởng phi phi tưởng xứ ngay trong hiện tại, hoặc thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là hành đạo về lợi ích Phi tưởng phi phi tưởng xứ.</span></p>
<h2 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Niết-bàn</span></h2>
<p style="text-align: left;"><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi được nói như vậy, Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> bạch Thế Tôn</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Ở đây, bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy nghĩ: “Nếu trước không có như vậy, thời có thể không là của ta; nếu nay không có như vậy thời có thể sẽ không là của ta. Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có”. Và như vậy vị ấy được xả. Bạch Thế Tôn, môt vị Tỷ-kheo như vậy có chứng được cứu cánh Niết-bàn không?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, một số Tỷ-kheo có thể chứng được cứu cánh Niết-bàn, và ở đây, một số Tỷ-kheo có thể không chứng được cứu cánh Niết-bàn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một số Tỷ-kheo có thể chứng được cứu cánh Niết-bàn, và ở đây, một số Tỷ-kheo có thể không chứng được cứu cánh Niết-bàn?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, một Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy nghĩ: “Nếu trước không có như vậy thời có thể không là của ta. Nếu nay không có như vậy, thời có thể sẽ không là của ta. Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có”. Và như vậy vị ấy được xả. Vị ấy hoan hỷ trong xả ấy, hoan nghênh, chấp trước xả ấy. Do vị ấy hoan hỷ trong xả ấy, hoan nghênh, chấp trước xả ấy, thức lệ thuộc xả ấy và thủ trước xả ấy. Có thủ trước, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, vị Tỷ-kheo không chứng cứu cánh Niết-bàn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo ấy thủ trước là thủ trước chỗ nào?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Phi tưởng phi phi tưởng xứ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy thủ trước, thủ trước như vậy là thủ trước tối thượng?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Vị Tỷ-kheo ấy thủ trước, thủ trước như vậy là thủ trước tối thượng. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, đây là thủ trước tối thượng, tức là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, vị Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy nghĩ: “Nếu (trước) không có như vậy thời có thể không là của ta. Nếu (nay) không có như vậy, thời có thể không là của ta. Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có”. Như vậy, vị ấy được xả, vị ấy không hoan hỷ trong xả ấy, không hoan nghênh, không chấp trước xả ấy. Do vị ấy không hoan hỷ trong xả ấy, không hoan nghênh, không thủ trước xả ấy, thức không lệ thuộc xả ấy và không thủ trước xả ấy. Không thủ trước, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, vị Tỷ-kheo chứng cứu cánh Niết-bàn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Chính mười y cứ sự này sự kia, bạch Thế Tôn, sự vượt thoát dòng nước mạnh đã được Thế Tôn nói lên. Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là Thánh giải thoát?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại và những dục tưởng tương lai, những sắc pháp hiện tại và những sắc pháp tương lai, những Bất động tưởng, những Vô sở hữu xứ tưởng, và những Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, cái gì thuộc tự thân, là tự thân. Ðây là bất tử tức là tâm giải thoát không thủ trước”. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, đây là đạo lộ về lợi ích Bất động được Ta thuyết giảng, đạo lộ về lợi ích Vô sở hữu xứ được Ta thuyết giảng, đạo lộ về lợi ích Phi tưởng phi phi tưởng xứ được Ta thuyết giảng, là sự vượt qua dòng nước mạnh do y cứ sự này sự kia được Ta thuyết giảng, Thánh giải thoát được Ta thuyết giảng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Những gì, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, vị Ðạo sư cần phải làm, vì lòng từ mẫn mưu tìm hạnh phúc cho các đệ tử, những điều ấy đã được Ta làm, vì lòng từ mẫn của Ta đối với Ông. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, đây là những gốc cây, đây là những khoảng trống. Hãy tu Thiền, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là lời dạy của Ta cho Ông.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; KINH MOGGALLĀNA</title>
		<link>https://thienvipassana.net/107-kinh-ganaka-moggallana-ganakamoggallana-sutta-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 08:30:47 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5710</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ KINH MOGGALLĀNA &#8211; Gaṇakamoggallāna Sutta Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Pubbārāma,]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH MOGGALLĀNA &#8211; </strong></span><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Gaṇakamoggallāna Sutta</span></strong></p>
</div>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một thời Thế Tôn trú ở <i lang="pli" translate="no">Sāvatthi</i>, <i lang="pli" translate="no">Pubbārāma</i>, nơi lâu đài của Migaramatu (Ðông Viên Lộc Mẫu Giảng đường). Rồi Bà-la-môn Ganaka <i lang="pli" translate="no">Moggallāna</i> đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Ganaka <i lang="pli" translate="no">Moggallāna</i> bạch Thế Tôn</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Ví như, thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, tại lâu đài Migaramatu này, có thể thấy được một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là những tầng cấp của lầu thượng cuối cùng; thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, cũng vậy, đối với những vị Bà-la-môn này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là sự học hỏi (các tập Veda). Thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, cũng vậy, đối với những vị bắn cung này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là nghệ thuật bắn cung. Cũng vậy, thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, đối với chúng con là những người toán số, sống nhờ nghề toán số, cũng được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là toán số. Thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, vì rằng khi có được người đệ tử, trước hết chúng con bắt người ấy đếm như sau: “Một, một lần, hai, hai lần, ba, ba lần, bốn, bốn lần, năm, năm lần, sáu, sáu lần, bảy, bảy lần, tám, tám lần, chín, chín lần, mười, mười lần”. Và thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, chúng con bắt đếm tới một trăm. Có thể trình bày chăng, thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, trong Pháp và Luật này, cũng có một tuần tự học tập, một tuần tự công trình, một tuần tự đạo lộ như vậy?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Có thể trình bày, này Bà-la-môn, trong Pháp và Luật này, có một tuần tự học tập, có một tuần tự công trình, có một tuần tự đạo lộ. Ví như, này Bà-la-môn, một người huấn luyện ngựa thiện xảo, sau khi được một con ngựa hiền thiện, trước tiên luyện tập cho nó quen mang dây cương, rồi tập luyện cho nó quen các hạnh khác; cũng vậy, này Bà-la-môn, Như Lai khi được một người đáng được điều phục, trước tiên huấn luyện người ấy như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này Bà-la-môn, khi vị Tỷ-kheo giữ giới hạnh, chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị. Thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các pháp ác bất thiện khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy chú tâm cảnh giác! Ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh đầu, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này, Bà-la-môn, sau khi vị Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm nữa như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này Bà-la-môn, sau khi chánh niệm tỉnh giác rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị ấy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên; từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc; từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi đoạn trừ năm triền cái ấy, những pháp làm ô nhiễm tâm, làm trí tuệ yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này Bà-la-môn, đối với những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an tịnh các triền ách, đó là sự giảng dạy của Ta như vậy đối với những vị ấy. Còn đối với những vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát, những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi được nói vậy, Bà-la-môn Ganaka <i lang="pli" translate="no">Moggallāna</i> bạch Thế Tôn</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Các đệ tử của Sa-môn <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, khi được Sa-môn <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, có phải tất cả đều chứng được cứu cánh đích Niết-bàn hay chỉ có một số chứng được?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này Bà-la-môn, một số đệ tử của Ta, khi được khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, do nhân gì, do duyên gì trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đưa đến Niết-bàn, trong khi có mặt Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> là bậc chỉ đường, tuy vậy các đệ tử Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, được Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn, hãy trả lời cho Ta. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có giỏi về con đường đi đến <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i> (Vương Xá)?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa Tôn giả, con có giỏi về con đường đi đến <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có một người, muốn đi đến <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i>, người này đến Ông và nói như sau: “Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i>. Hãy chỉ cho tôi con đường đi đến <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i>”. Ông nói với người ấy như sau: “Ðược, này Bạn, đây là con đường đưa đến <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i>. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i> với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những hồ ao mỹ diệu”. Dầu cho người ấy được khuyến giáo như vậy, được giảng dạy như vậy, nhưng lại lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây. Rồi một người thứ hai đến, muốn đi đến <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i>. Người này đến Ông và hỏi như sau: “Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i>, mong Tôn giả chỉ con đường ấy cho tôi”. Rồi Ông nói với người ấy như sau: “Ðược, này Bạn, đây là đường đi đến <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i>. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i> với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những ao hồ mỹ diệu”. Người ấy được Ông khuyến giáo như vậy, giảng như vậy, đi đến <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i> một cách an toàn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này Bà-la-môn, do nhân gì, do duyên gì, trong khi có mặt <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i>, trong khi có mặt con đường đưa đến <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i>, trong khi có mặt Ông là người chỉ đường, dầu cho Ông có khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một người lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây, còn một người có thể đi đến <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i> một cách an toàn?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là người chỉ đường, thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà-la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggalana bạch Thế Tôn</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc23" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, đối với những người không phải vì lòng tin, chỉ vì sinh kế, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> không thể sống với những người như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc24" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Còn những Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, không lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không nói phô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm tỉnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, sống không quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ thối thất, đi đầu trong viễn ly, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, an trú, tỉnh giác, định tĩnh, nhứt tâm, có trí tuệ, không câm ngọng; Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> sống hòa hợp với những vị ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc25" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ví như Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, trong các loại căn hương, hắc chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại lõi cây hương, xích chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại hoa hương, vũ quý hương (jasmine) được gọi là tối thượng. Cũng vậy là lời khuyến giáo của Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> được xem là cao nhất trong những lời khuyến giáo hiện nay.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc26" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, quy y Pháp và chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; KINH GOPAKA MOGGALLÀNA</title>
		<link>https://thienvipassana.net/108-kinh-gopaka-moggallana-gopakamoggallana-sutta-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 08:33:40 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5712</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ KINH GOPAKA MOGGALLÀNA &#8211; Gopakamoggallāna Sutta Như vầy tôi nghe. Một thời Tôn giả Ānanda trú ở Rājagaha]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH GOPAKA MOGGALLÀNA &#8211;</strong></span><strong><span style="font-size: 14pt;"><i lang="pli" translate="no"> Gopakamoggallāna Sutta </i></span></strong></p>
</div>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Một thời Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> trú ở <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i> (Vương Xá) tại <i lang="pli" translate="no">Veluvana</i> (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc, khi Thế Tôn thị tịch không bao lâu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Lúc bấy giờ, Vua <i lang="pli" translate="no">Ajātasattu</i> con bà <i lang="pli" translate="no">Videhi</i> nước <i lang="pli" translate="no">Magadha</i> (Ma-kiệt-đà), vì nghi ngờ Pajjota (Ðăng Quang Vương), nên cho xây kiên cố thành <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i> để khất thực. Rồi Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> suy nghĩ: “Nay còn quá sớm để vào <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i> khất thực. Vậy ta hãy đi đến Bà-la-môn Gopaka <i lang="pli" translate="no">Moggallāna</i> và chỗ làm việc của vị này”. Rồi Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> đi đến Bà-la-môn Gopaka <i lang="pli" translate="no">Moggallāna</i> và chỗ làm việc của vị này. Bà-la-môn Gopaka <i lang="pli" translate="no">Moggallāna</i> thấy Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i></span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Hãy đến, Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>! Thiện lai, Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>! Ðã lâu rồi Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> mới tạo được cơ hội này, tức là đến đây. Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> hãy ngồi xuống, đây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Còn Bà-la-môn Gopaka <i lang="pli" translate="no">Moggallāna</i> chọn một chỗ ngồi thấp khác rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Gopaka <i lang="pli" translate="no">Moggallāna</i> thưa với Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i></span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Có thể chăng, một Tỷ-kheo thành tựu một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thành tựu?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Không thể có một Tỷ-kheo, này Bà-la-môn, thành tựu một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thành tựu. Này Bà-la-môn, Thế Tôn là bậc làm khởi dậy con đường trước đây chưa được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng được nói; là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo. Và nay các đệ tử là những vị sống hành đạo và tùy hành, và sẽ thành tựu (những pháp ấy) về sau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Nhưng cuộc nói chuyện giữa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> và Bà-la-môn Gopaka <i lang="pli" translate="no">Moggallāna</i> bị gián đoạn. Bà-la-môn <i lang="pli" translate="no">Vassakāra</i>, bậc đại thần nước <i lang="pli" translate="no">Magadha</i>, đi thị sát các công sự <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i>(Vương Xá), đến công trường của Bà-la-môn Gopaka <i lang="pli" translate="no">Moggallāna</i>, đến chỗ Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>; sau khi đến, nói lên với Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn <i lang="pli" translate="no">Vassakāra</i>, bậc đại thần nước <i lang="pli" translate="no">Magadha</i>, thưa với Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i></span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Ở đây, thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Tôn giả đang ngồi đàm luận câu chuyện gì? Và câu chuyện gì của Tôn giả bị gián đoạn?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Này Bà-la-môn, ở đây, Bà-la-môn Gopaka <i lang="pli" translate="no">Moggallāna</i> nói với tôi như sau: “Có thể có chăng, Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, một Tỷ-kheo thành tựu một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thành tựu?” Khi được nói vậy, này Bà-la-môn, tôi nói với Bà-la-môn Gopaka <i lang="pli" translate="no">Moggallāna</i> như sau: “Này Bà-la-môn, không thể có một vị Tỷ-kheo nào thành tựu một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thành tựu. Này Bà-la-môn, Thế Tôn là bậc làm khởi dậy con đường trước đây chưa được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng được nói; là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo. Và các đệ tử Ngài là những vị sống hành đạo và tùy hành đạo và sẽ thành tựu (những pháp ấy) về sau”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có một vị Tỷ-kheo nào được Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> sắp đặt: “Vị này, sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và các Ông nay sẽ y chỉ vị này”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Này Bà-la-môn, không có một vị Tỷ-kheo nào được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sắp đặt: “Vị này, sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và các Ông sẽ y chỉ vị này”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có một vị Tỷ-kheo nào được chúng Tăng thỏa thuận và một số đông các vị Tỷ-kheo Trưởng lão sắp đặt: “Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và các Ông nay sẽ y chỉ vị này?”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Không có một vị Tỷ-kheo nào, này Bà-la-môn, được chúng Tăng thỏa thuận và được số đông các vị Tỷ-kheo Trưởng lão sắp đặt: “Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi, và chúng tôi nay sẽ y chỉ vị này”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Và như vậy là không có chỗ nương tựa, thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, như vậy do nhân gì, Quý vị có thể hòa hợp?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Này Bà-la-môn, chúng tôi không phải không có chỗ nương tựa. Này Bà-la-môn, chúng tôi có chỗ nương tựa, và Pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Khi được hỏi: “Có một vị Tỷ-kheo nào được Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> sắp đặt: “Vị này, sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và các Ông nay sẽ y chỉ vị này?” ”, Tôn giả trả lời: “Này Bà-la-môn, không có một vị Tỷ-kheo nào được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sắp đặt: “Vị này, sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và chúng tôi nay sẽ y chỉ vị này”. Khi được hỏi: “Có một vị Tỷ-kheo nào được chúng Tăng thỏa thuận và một số đông các vị Tỷ-kheo Trưởng lão sắp đặt: “Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, các Ông nay sẽ y chỉ vị này”. Và Tôn giả trả lời: “Không có một vị Tỷ-kheo nào, này Bà-la-môn, được chúng Tăng thỏa thuận và được số đông các vị Tỷ-kheo Trưởng lão sắp đặt: “Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi, và chúng tôi nay sẽ y chỉ vị này”. Khi được hỏi: “Và như vậy là không có chỗ nương tựa, thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, như vậy do nhân gì, Quý vị có thể hòa hợp?” Tôn giả trả lời: “Này Bà-la-môn, chúng tôi không phải không có chỗ nương tựa. Chúng tôi có chỗ nương tựa, này Bà-la-môn, và Pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi”. Nhưng thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, ý nghĩa lời nói này cần phải hiểu như thế nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Này Bà-la-môn, Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thi thiết học pháp, đã tuyên bố giới bổn <i lang="pli" translate="no">Pātimokkha</i> (Ba-la-đề-mộc-xoa) cho các Tỷ-kheo. Trong những ngày Bố-tát (Uposatha) chúng tôi cận trú ở chung một thôn điền, tất cả chúng tôi hội họp với nhau tại một chỗ; sau khi tụ họp, chúng tôi hỏi những gì đã xảy ra cho mỗi một người. Nếu trong khi hỏi nhau như vậy, có Tỷ-kheo phạm tội, phạm giới, chúng tôi bảo vị ấy làm đúng Pháp, đúng lời dạy. Thật vậy, không phải các Tôn giả xử sự chúng tôi, chính pháp xử sự chúng tôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có Tỷ-kheo nào mà nay Quý vị cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường, sau khi cung kính, tôn trọng, Quý vị nương tựa?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Này Bà-la-môn, có Tỷ-kheo mà nay chúng tôi cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường, và sau khi chúng tôi cung kính, tôn trọng, chúng tôi nương tựa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, khi được hỏi: “Có một vị Tỷ-kheo nào được Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> sắp đặt: “Sau khi Ta diệt độ, vị này sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông và các Ông nay sẽ y chỉ vị này?” ”. Và Tôn giả trả lời: “Này Bà-la-môn, không có một vị Tỷ-kheo nào được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sắp đặt: “Vị này, sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông”, và chúng tôi nay y chỉ vị này”. Khi được hỏi: “Thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có một vị Tỷ-kheo nào được chúng Tăng thỏa thuận, được một số đông Tỷ-kheo Trưởng lão sắp đặt: “Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và các Ông nay sẽ y chỉ vị này”, và Tôn giả trả lời: “Không có một Tỷ-kheo nào được chúng Tăng thỏa thuận, được một số đông Tỷ-kheo Trưởng lão sắp đặt: “Vị này sau khi Thế Tôn diệt độ sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi, và chúng tôi nay sẽ y chỉ vị này”. Khi được hỏi: “Có một Tỷ-kheo nào, thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, nay quý vị cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy và sau khi cung kính, tôn trọng, quý vị an trú, nương tựa vị ấy?”, và Tôn giả trả lời: “Này Bà-la-môn, có Tỷ-kheo, chúng tôi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường và sau khi cung kính, tôn trọng, chúng tôi an trú, nương tựa vị ấy”. Thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, ý nghĩa lời nói ấy cần phải hiểu như thế nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Này Bà-la-môn, có mười khả hỷ pháp được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Giữa chúng tôi, vị nào có đầy đủ mười pháp này, chúng tôi nay cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường vị ấy; sau khi cung kính, tôn trọng, chúng tôi an trú, nương tựa vị ấy. Thế nào là mười?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc23" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn <i lang="pli" translate="no">Pātimokkha</i>, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, sau khi thọ trì, học tập trong các học pháp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc24" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Vị ấy là bậc đa văn, thọ trì những điều đã nghe, cất chứa những điều đã nghe; những pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa, với văn, nói lên Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, những pháp ấy đều được nghe nhiều, được thọ trì, được lời nói làm cho quen thuộc, được ý tư niệm, được chánh kiến khéo ngộ nhập.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc25" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Vị ấy biết đủ đối với các vật thực dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc26" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Vị ấy là người tùy theo ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, chứng được bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm hiện tại lạc trú.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc27" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Vị ấy thực hiện các loại thần thông sai biệt, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết—già đi trên hư không như chim có cánh; với bàn tay, vị ấy chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến Phạm thiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc28" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Vị ấy với thiên nhĩ thuần tịnh siêu nhân, nghe được âm thanh của chư Thiên và loài người, gần cũng như xa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc29" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Sau khi đi sâu vào tâm chúng sanh, tâm loài Người với tâm của mình, vị ấy được biết như sau: Tâm có tham, biết tâm có tham. Tâm không tham, biết tâm không tham. Tâm có sân, biết tâm có sân. Tâm không sân, biết tâm không sân. Tâm có si, biết tâm có si. Tâm không si, biết tâm không si. Tâm chuyên chú, biết tâm chuyên chú. Tâm tán loạn, biết tâm tán loạn. Ðại hành tâm, biết là đại hành tâm; không phải đại hành tâm, biết không phải đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng, biết tâm chưa vô thượng. Tâm vô thượng, biết tâm vô thượng. Tâm Thiền định, biết tâm Thiền định. Tâm không Thiền định, biết tâm không Thiền định. Tâm giải thoát, biết tâm giải thoát. Tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc30" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời … nhớ đến các đời sống quá khứ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc31" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc32" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Với sự đoạn diệt các lậu hoặc, sau khi với thượng trí đã chứng ngộ, vị ấy chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc33" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Này Bà-la-môn, mười pháp khả hỷ này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói lên giữa chúng tôi. Vị nào có đầy đủ mười pháp này, chúng tôi nay cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy; sau khi cung kính, tôn trọng, chúng tôi an trú, nương tựa vị ấy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc34" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn <i lang="pli" translate="no">Vassakāra</i> (Vũ Thế), đại thần nước <i lang="pli" translate="no">Magadha</i>, nói với tướng quân Upananda</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc35" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Tướng quân nghĩ thế nào? Nếu là như vậy, này tướng quân, những vị Tôn giả này cung kính những ai đáng cung kính, tôn trọng những ai đáng tôn trọng, lễ bái những ai đáng lễ bái, cúng dường những ai đáng cúng dường; thời chắc chắn những Tôn giả này cung kính những ai đáng cung kính, tôn trọng những ai đáng tôn trọng, lễ bái những ai đáng lễ bái, cúng dường những ai đáng cúng dường. Và nếu những Tôn giả ấy không cung kính, không tôn trọng, không lễ bái, không cúng dường Tỷ-kheo này, thời những Tôn giả ấy cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường ai?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc36" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Rồi Bà-la-môn <i lang="pli" translate="no">Vassakāra</i>, vị đại thần nước <i lang="pli" translate="no">Magadha</i>, thưa với Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i></span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc37" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> nay trú tại đâu?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc38" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Này Bà-la-môn, tôi trú ở <i lang="pli" translate="no">Veluvana</i> (Trúc Lâm).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc39" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có phải <i lang="pli" translate="no">Veluvana</i> là một chỗ khả ái, ít tiếng động, ít tiếng ồn, được che khỏi gió, xa lánh dân cư đông đúc, thích hợp Thiền tịnh?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc40" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Thật vậy, này Bà-la-môn, <i lang="pli" translate="no">Veluvana</i> (Trúc Lâm) là một khả ái, ít tiếng động, ít tiếng ồn, được che khỏi gió, xa cách dân cư đông đúc, thích hợp Thiền tịnh, xứng đáng với những vị hộ trì và thủ hộ như Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc41" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Thật vậy, thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, <i lang="pli" translate="no">Veluvana</i> là một chỗ khả ái, ít tiếng động, ít tiếng ồn, được che khỏi gió, xa lánh dân cư đông đúc, thích hợp Thiền tịnh, xứng đáng với những người tu Thiền và tánh thiên về Thiền định như quý vị Tôn giả. Và chư vị Tôn giả là những vị tu Thiền và tánh thiên về Thiền định. Thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, một thời Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> ở tại <i lang="pli" translate="no">Vesālī</i>, Ðại Lâm, ở Kutagarasala (Trùng Các giảng đường). Rồi, thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, tôi đi đến Mahavana (Ðại Lâm), Kutagarasala, đến Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i>. Ở đấy, Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> dùng nhiều phương tiện nói về Thiền định luận. Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> thật là vị tu Thiền và tánh thiên về Thiền định. Và Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> tán thán tất cả Thiền định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc42" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Này Bà-la-môn, Thế Tôn ấy không tán thán tất cả Thiền định, không không tán thán tất cả Thiền định. Và này Bà-la-môn, loại Thiền định nào Thế Tôn ấy không tán thán? Ở đây, này Bà-la-môn, một số vị sống với tâm thấm nhuần dục tham, bị dục tham chi phối, và không như thật biết sự giải thoát khỏi dục tham đã được khởi lên. Vị ấy lấy dục tham làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập. Vị ấy sống với tâm thấm nhuần sân hận, bị sân hận chi phối, và không như thật biết sự giải thoát khỏi sân hận đã được khởi lên. Vị ấy lấy sân hận làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập. Vị ấy sống với tâm thấm nhuần hôn trầm thụy miên, bị hôn trầm thụy miên chi phối, và không như thật biết sự giải thoát khỏi hôn trầm thụy miên đã được khởi lên. Vị ấy lấy hôn trầm thụy miên làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập. Vị ấy sống với tâm thấm nhuần trạo hối, bị trạo hối chi phối và không như thật biết sự giải thoát khỏi trạo hối đã được khởi lên. Vị ấy lấy trạo hối làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập. Vị ấy sống với tâm thấm nhuần nghi hoặc, bị nghi hoặc chi phối và không như thật biết sự giải thoát khỏi nghi hoặc đã được khởi lên. Vị ấy lấy nghi hoặc làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập. Này Bà-la-môn, Thế Tôn ấy không tán thán loại Thiền định như vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc43" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Và này Bà-la-môn, loại Thiền định nào Thế Tôn ấy tán thán? Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn, loại Thiền như vậy, Thế Tôn ấy tán thán.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc44" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Thật vậy, thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Gotama</i> khiển trách Thiền đáng được khiển trách, tán thán Thiền đáng được tán thán. Nay thưa Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, chúng tôi phải đi. Chúng tôi có những việc, có nhiều phận sự phải làm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc45" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Này Bà-la-môn, hãy làm gì Bà-la-môn nghĩ là hợp thời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc46" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">Rồi Bà-la-môn <i lang="pli" translate="no">Vassakāra</i>, đại thần nước <i lang="pli" translate="no">Magadha</i>, hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Bà-la-môn Gopaka Moggalana, khi Bà-la-môn <i lang="pli" translate="no">Vassakāra</i>, đại thần nước <i lang="pli" translate="no">Magadha</i> đi không bao lâu, thưa với Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i></span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc47" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Nếu chúng tôi không hỏi Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, thời Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> đã không trả lời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><a id="sc48" class="sc"></a><span style="font-size: 14pt;">—Này Bà-la-môn, có phải chúng tôi đã nói với Ông: “Không có một Tỷ-kheo nào, này Bà-la-môn, thành tựu mười pháp ấy một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ, những pháp mà Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thành tựu. Này Bà-la-môn, vị Thế Tôn ấy là bậc làm cho khởi dậy con đường trước đây chưa từng được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng được nói; là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo. Và nay các đệ tử Ngài là những vị sống hành đạo và tùy hành đạo, và sẽ thành tựu những pháp ấy về sau”.</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; ÐẠI KINH MÃN NGUYỆT</title>
		<link>https://thienvipassana.net/109-dai-kinh-man-nguyet-mahapunnama-sutta-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 08:35:53 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5714</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ ÐẠI KINH MÃN NGUYỆT &#8211; Mahāpuṇṇama Sutta Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>ÐẠI KINH MÃN NGUYỆT &#8211; </strong></span><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Mahāpuṇṇama Sutta</span></strong></p>
</div>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một thời Thế Tôn ở tại <i lang="pli" translate="no">Sāvatthi</i> (Xá-vệ), <i lang="pli" translate="no">Pubbārāma</i> (Ðông Viên), Migaramatupasada (Lộc Mẫu Giảng đường).</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lúc bấy giờ trong ngày Bố-tát, ngày trăng tròn, trong đêm trăng rằm, Thế Tôn đang ngồi giữa trời, xung quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi một Tỷ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chấp tay vái Thế Tôn và bạch Thế Tôn</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề đặc biệt, nếu Thế Tôn cho con được phép nói lên câu hỏi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Vậy này Tỷ-kheo, hãy ngồi trên chỗ của Ông và hỏi như ý Ông muốn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Rồi vị Tỷ-kheo ấy, sau khi ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình, bạch Thế Tôn</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, có phải có năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Lành thay, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tỷ-kheo ấy sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn nói, hỏi Thế Tôn một câu hỏi khác</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này, lấy gì làm căn bản?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này Tỷ-kheo, năm thủ uẩn này lấy dục làm căn bản.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, có phải chính chấp thủ ấy là năm thủ uẩn, hay là ngoài năm thủ uẩn, có một chấp thủ (khác)?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này Tỷ-kheo, không phải chính chấp thủ ấy là năm thủ uẩn, cũng không phải ngoài năm thủ uẩn có sự chấp thủ. Này Tỷ-kheo, khi nào có lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn, ở đấy chính là chấp thủ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, phải chăng có thể có sự sai khác trong lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn?</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thế Tôn trả lời</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này Tỷ-kheo, có thể có. Ở đây, này Tỷ-kheo có người nghĩ như sau: “Mong rằng có sắc như thế này trong tương lai! Mong rằng có thọ như thế này trong tương lai! Mong rằng có tưởng như thế này trong tương lai! Mong rằng có hành như thế này trong tương lai! Mong rằng có thức như thế này trong tương lai!” Như vậy, này Tỷ-kheo, có sự sai khác trong lòng dục, lòng tham đối với năm uẩn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là ý nghĩa chữ uẩn trong các uẩn?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này Tỷ-kheo, phàm sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là sắc uẩn. Phàm cảm thọ gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là thọ uẩn. Phàm tưởng gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại … xa hay gần, như vậy là tưởng uẩn. Phàm những hành gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại … xa hay gần, như vậy là hành uẩn. Phàm thức gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại … xa hay gần, như vậy là thức uẩn. Cho đến như vậy, này Tỷ-kheo, là ý nghĩa chữ uẩn trong các uẩn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì được chấp nhận gọi là sắc uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là thọ uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là tưởng uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi hành uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là thức uẩn?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bốn đại là nhân, này Tỷ-kheo, bốn đại là duyên được chấp nhận gọi là sắc uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là thọ uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là tưởng uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là hành uẩn. Danh sắc là nhân, này Tỷ-kheo, danh sắc là duyên được chấp nhận gọi là thức uẩn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là thân kiến?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Ở đây, này Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không hiểu rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không hiểu rõ các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, xem sắc như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có sắc, hay xem sắc như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong sắc; xem thọ như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có thọ, hay xem thọ như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong thọ; xem tưởng như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có tưởng, hay xem tưởng như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong trưởng; xem hành như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có hành, hay xem hành như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong hành; xem thức như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có thức, hay xem có thức như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong thức.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là không thân kiến?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc23" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Ở đây, này Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chơn nhân, thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, tu tập pháp các bậc Chơn nhân, không xem sắc như là tự ngã, hay không xem tự ngã như là có sắc, hay không xem sắc như là trong tự ngã, hay không xem tự ngã như là trong sắc; không xem thọ như là tự ngã…, không xem tự ngã như là trong thọ; không xem tưởng như là tự ngã …, hay không xem tự ngã như là trong tưởng; không xem hành như là tự ngã …, hay không xem tự ngã như là trong hành; không xem thức như là tự ngã …, không xem tự ngã như là trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là không thân kiến.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc24" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, cái gì là vị ngọt của sắc, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly? Cái gì là vị ngọt của thọ, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly? Cái gì là vị ngọt của tưởng, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly? Cái gì là vị ngọt của hành, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly? Cái gì là vị ngọt của thức, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc25" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên sắc khởi lên, như vậy là vị ngọt của sắc. Cái gì vô thường, khổ, bị biến hoại trong sắc như vậy là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục tham đối với sắc, sự đoạn diệt dục tham, như vậy là sự xuất ly của sắc. Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên thọ khởi lên, như vậy là vị ngọt của thọ … như vậy là sự xuất ly của thọ. Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên tưởng khởi lên, như vậy là vị ngọt của tưởng … là sự xuất ly của tưởng. Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên hành khởi lên như vậy là vị ngọt của hành … là sự xuất ly của hành. Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên thức khởi lên, như vậy là vị ngọt của thức. Cái gì vô thường, khổ, bị biến hoại trong thức, như vậy là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục tham đối với thức, sự đoạn diệt dục tham, như vậy là sự xuất ly của thức.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc26" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, do biết gì, do thấy gì, mà không có mạn tùy miên rằng: “Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm”, đối với tự thân có ý thức, và đối với cả tưởng ở ngoài?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc27" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này Tỷ-kheo, phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đối với tất cả sắc, thấy được như thật với trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Phàm có thọ gì … tưởng gì … hành gì … phàm có thức gì, quá khứ vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đối với tất cả thức, thấy được như thật với trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Này Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, nên không có mạn tùy miên rằng: “Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm”, đối với tự thân có ý thức, và đối với tất cả tướng ở ngoài.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc28" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Rồi một Tỷ-kheo khác khởi lên sự suy tư như sau: “Nếu được nói rằng, chư Tôn giả, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã; như vậy những hành động do vô ngã làm đã được ngã nào cảm thọ kết quả?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc29" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thế Tôn biết được tâm tư của Tỷ-kheo ấy với tâm tư của mình, liền nói với các Tỷ-kheo</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc30" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này các Tỷ-kheo, sự kiện này xảy ra, khi ở đây có kẻ ngu si, vô tri, vô minh, với tâm bị tham dục chi phối, lại nghĩ cần phải vượt qua lời dạy của bậc Ðạo sư với câu hỏi: “Nếu được nói rằng, chư Tôn giả, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã; như vậy những hành động do vô ngã làm đã được ngã nào cảm thọ kết quả?” Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được Ta huấn luyện tìm kiếm nhân duyên, chỗ này chỗ kia, đối với những pháp này, pháp khác.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc31" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc32" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Vô thường, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc33" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Những gì vô thường là khổ hay lạc?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc34" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Là khổ, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc35" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Những gì vô thường, khổ, bị biến hoại, có hợp lý chăng khi xem: “Cái này của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc36" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc37" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, thọ … tưởng … hành … thức là thường hay vô thường?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc38" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Vô thường, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc39" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Những gì vô thường, là khổ hay lạc?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc40" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Là khổ, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc41" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Những gì vô thường, khổ, bị biến hoại, có hợp lý chăng khi xem: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc42" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc43" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Do vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại … tất cả loại sắc, cần phải như thật quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Phàm có thọ gì, phàm có tưởng gì, phàm có hành gì, phàm có thức gì quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại. Tất cả loại thức, cần phải như thật quán: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc44" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly đối với hành, yếm ly đối với thức.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc45" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Do yếm ly nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, vị ấy biết được vị ấy đã giải thoát. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm. Từ nay không còn trở lại đời sống thế này nữa”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc46" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi sự giảng giải này được nói lên, tâm của sáu mươi vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; TIỂU KINH MÃN NGUYỆT</title>
		<link>https://thienvipassana.net/110-tieu-kinh-man-nguyet-culapunnama-sutta-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 08:38:25 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5716</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ TIỂU KINH MÃN NGUYỆT &#8211; Cūḷapuṇṇama Sutta Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>TIỂU KINH MÃN NGUYỆT &#8211; </strong></span><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Cūḷapuṇṇama Sutta</span></strong></p>
</div>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một thời Thế Tôn trú ở <i lang="pli" translate="no">Sāvatthi</i>, tại <i lang="pli" translate="no">Pubbārāma</i> (Ðông Viên), Migaramatupasada (Lộc Mẫu Giảng đường).</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lúc bấy giờ trong ngày Bố-tát, ngày trăng tròn, trong đêm trăng rằm, Thế Tôn đang ngồi giữa trời, xung quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn nhìn chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, hết sức yên lặng và bảo các Tỷ-kheo</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này các Tỷ-kheo, một người bất chánh (asappurisa) có thể biết một người bất chánh: “Người bất chánh là vị này”, hay không?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, không biết được.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, không thể có sự tình, không thể có sự kiện, một người bất chánh có thể biết một người bất chánh: “Người bất chánh là vị này.” Này các Tỷ-kheo, nhưng một người bất chánh có thể biết một người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này” hay không?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, không biết được.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, không thể có sự tình, không thể có sự kiện một người bất chánh có thể biết được một người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người bất chánh, này các Tỷ-kheo, là người đầy đủ pháp bất chánh, giao du với người bất chánh, suy tư như người bất chánh, tư lường như người bất chánh, nói năng như người bất chánh, hành động như người bất chánh, có tà kiến như người bất chánh, bố thí như người bất chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh đầy đủ pháp bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh bất tín, vô tàm, vô quý, nghe ít, biếng nhác, thất niệm, liệt tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh đầy đủ pháp bất chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh giao du với những người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Bà-la-môn nào bất tín, vô tàm, vô quý, ít nghe, biếng nhác, thất niệm, liệt tuệ, những vị ấy là bạn, là thân hữu với người bất chánh ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh giao du với người bất chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh suy tư như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh suy nghĩ tự làm hại mình, suy nghĩ làm hại người khác, suy nghĩ làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh suy tư như người bất chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh tư lường như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh tư lường tự làm hại mình, tư lường làm hại người, tư lường làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh tư lường như người bất chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh nói năng như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh nói lời nói láo, nói lời hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm. Như vậy này các Tỷ-kheo, là người bất chánh nói năng như người bất chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh hành động như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh sát sanh, lấy của không cho, làm các tà hạnh trong các dục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh hành động như người bất chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh có tà kiến như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh có tà kiến như sau: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có cha, không có mẹ, không có loại hóa sanh. Ở đời, không có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh đã tự mình chứng đạt với thượng trí đời này và đời khác, và truyền dạy lại”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh có tà kiến như người bất chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người bất chánh bố thí như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh bố thí một cách vô lễ, bố thí không phải tự tay, bố thí không có suy tư kỹ lưỡng, bố thí những vật không cần dùng, bố thí không nghĩ đến tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh bố thí như người bất chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, người bất chánh ấy, đầy đủ pháp bất chánh như vậy, giao du với người bất chánh như vậy, suy tư như người bất chánh như vậy, tư lường như người bất chánh như vậy, nói năng như người bất chánh như vậy, hành động như người bất chánh như vậy, có tà kiến như người bất chánh như vậy, bố thí như người bất chánh như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cảnh giới của những người bất chánh. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cảnh giới của những người bất chánh? Ðịa ngục hay là bàng sanh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, một người chơn chánh có thể biết được một người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này” hay không?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa biết được, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Sự tình này xảy ra là người chơn chánh có thể biết được người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này”. Nhưng này các Tỷ-kheo, người chơn chánh có thể biết được người bất chánh: “Người bất chánh là vị này” hay không?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa biết được, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, có sự tình này là người chơn chánh có thể biết được người bất chánh: “Người bất chánh là vị này”. Này các Tỷ-kheo, người chơn chánh đầy đủ Chánh pháp, giao du với các bậc chơn chánh, suy nghĩ như các bậc chơn chánh, tư lường như các bậc chơn chánh, nói năng như bậc chơn chánh, hành động như bậc chơn chánh, có chánh kiến như bậc chơn chánh, bố thí như bậc chơn chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc23" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh đầy đủ Chánh pháp? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh có lòng tin, có lòng tàm, có lòng quý, có nghe nhiều, có tinh cần, tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh đầy đủ những Chánh pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc24" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh giao du với các bậc chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có lòng tin, có lòng tàm, có lòng quý nghe nhiều, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, có trí tuệ, những vị ấy là bạn, là thân hữu của vị chơn chánh ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh giao du với các bậc chơn chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc25" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này, các Tỷ-kheo, như thế nào là người chơn chánh suy tư như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh không suy nghĩ tự làm hại mình, không suy nghĩ làm hại người khác, không suy nghĩ làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh suy tư như người chơn chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc26" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này, các Tỷ-kheo, như thế nào là người chơn chánh tư lường như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh không tư lường tự làm hại mình, không tư lường làm hại người khác, không tư lường làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh tư lường như người chơn chánh?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc27" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người chơn chánh nói năng như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh từ bỏ không nói láo, từ bỏ không nói hai lưỡi, từ bỏ không nói ác khẩu, từ bỏ không nói phiếm luận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh nói năng như người chơn chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc28" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh hành động như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ làm các tà hạnh trong dâm dục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh hành động như người chơn chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc29" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh có chánh kiến như bậc chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh có chánh kiến như sau: “Có bố thí, có lễ hy sinh, có tế tự, có quả dị thục các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời khác, có cha, có mẹ, có loại hóa sanh. Ở đời có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng đạt với thượng trí đời này và đời khác, và truyền dạy lại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh có chánh kiến như người chơn chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc30" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh bố thí như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh bố thí một cách lễ độ, bố thí với tự tay, bố thí có suy tư kỹ lưỡng, bố thí những vật cần dùng, bố thí có nghĩ đến tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh bố thí như người chơn chánh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc31" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, người chơn chánh ấy, đầy đủ Chánh pháp như vậy, giao du với người chơn chánh như vậy, suy tư như người chơn chánh như vậy, tư lường như người chơn chánh như vậy, nói năng như người chơn chánh như vậy, hành động như người chơn chánh như vậy, có chánh kiến như người như người chơn chánh như vậy, bố thí như người chơn chánh như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cảnh giới của những người chơn chánh. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cảnh giới của những người chơn chánh? Ðại tánh của chư Thiên hay đại tánh của loài Người.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc32" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; KINH BẤT ĐOẠN</title>
		<link>https://thienvipassana.net/111-kinh-bat-doan-anupada-sutta-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 09:05:30 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5719</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ KINH BẤT ĐOẠN &#8211; Anupada Sutta Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH BẤT ĐOẠN &#8211; </strong></span><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Anupada Sutta</span></strong></p>
</div>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một thời Thế Tôn trú ở <i lang="pli" translate="no">Sāvatthi</i> (Xá-vệ), tại <i lang="pli" translate="no">Jetavana</i> (Kỳ-đà-lâm), tinh xá ông <i lang="pli" translate="no">Anāthapiṇḍika</i> (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” —“ Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> (Xá-lợi-phất) là bậc Hiền trí; này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> là bậc Ðại tuệ; này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> là bậc Quảng tuệ; này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> là bậc Hỷ tuệ (Hasupanna); này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> là bậc Tiệp tuệ (javanapanna); này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> là bậc Lợi tuệ (tikkhapanna); này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> là bậc Quyết trạch tuệ (nibbedhikapanna). Này các Tỷ-kheo, cho đến nửa tháng, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>quán bất đoạn pháp quán. Này các Tỷ-kheo, đây là do bất đoạn pháp quán của <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và những pháp thuộc về Thiền thứ nhất như tầm, tứ, hỷ, lạc, nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý; các pháp ấy được an trú bất đoạn. Các pháp ấy được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng khởi lên, được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi an trú, được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi đoạn diệt. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết rõ như sau: “Như vậy các pháp ấy trước không có nơi ta, nay có hiện hữu, sau khi hiện hữu, chúng đoạn diệt”. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> đối với những pháp ấy, cảm thấy không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, còn có nhiều việc phải làm hơn nữa”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> diệt tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhứt tâm. Và những pháp thuộc về Thiền thứ hai như nội tĩnh, hỷ, lạc, nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý, những pháp ấy được an trú bất đoạn. Các pháp ấy được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng khởi lên, được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng an trú, được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng đoạn diệt. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết rõ như sau: “Như vậy các pháp ấy trước không có nơi ta, nay có hiện hữu, sau khi hiện hữu, chúng đoạn diệt”. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> đối với những pháp ấy, không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và những pháp thuộc về Thiền thứ ba, như xả, lạc, niệm, tỉnh giác, nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, xả, tác ý; những pháp ấy được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> an trú bất đoạn, các pháp ấy được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng khởi lên, được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>biết đến khi chúng an trú, được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng đoạn diệt. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> đối với những pháp ấy, không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm, thanh tịnh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và những pháp thuộc về Thiền thứ tư, như xả, bất khổ bất lạc thọ, thọ (passivedana), vô quán niệm tâm (Cetaso anabhogo), thanh tịnh nhờ niệm, nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý; những pháp ấy được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> an trú bất đoạn, các pháp ấy được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng khởi lên, được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng an trú, được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng đoạn diệt. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> đối với những pháp ấy, không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> vượt lên hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và những pháp thuộc về Không vô biên xứ như hư không, vô biên xứ tưởng, nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý; những pháp ấy được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> an trú bất đoạn, các pháp ấy được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng khởi lên, được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng an trú, được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng đoạn diệt. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> đối với những pháp ấy, không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> vượt lên hoàn toàn Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và những pháp thuộc về Thức vô biên xứ như Thức vô biên xứ tưởng, nhất tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý; những pháp ấy được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> an trú bất đoạn; các pháp ấy được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng khởi lên, được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng đoạn diệt. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> đối với những pháp ấy không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> vượt lên hoàn toàn Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và những pháp thuộc về Vô sở hữu xứ, như Vô sở hữu xứ tưởng, nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý; những pháp ấy được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>an trú bất đoạn; các pháp ấy được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng khởi lên, được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>biết đến khi chúng an trú, được <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết đến khi chúng đoạn diệt. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> đối với những pháp ấy không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> vượt lên hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với chánh niệm, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> xuất khỏi định ấy. Sau khi với chánh niệm xuất khỏi định ấy, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> thấy các pháp ấy thuộc về quá khứ, bị đoạn diệt, bị biến hoại: “Như vậy các pháp ấy trước không có nơi ta, nay có hiện hữu, sau khi hiện hữu chúng đoạn diệt”. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> đối với những pháp ấy cảm thấy không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không hạn chế. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và an trú Diệt thọ tưởng (định). Sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với chánh niệm, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> xuất khỏi định ấy. Sau khi với chánh niệm xuất khỏi định ấy, <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> thấy các pháp ấy thuộc về quá khứ, bị đoạn diệt, bị biến hoại: “Như vậy các pháp ấy, trước không có nơi ta, sau có hiện hữu, sau khi hiện hữu, chúng đoạn diệt”. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> đối với các pháp ấy cảm thấy không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không hạn chế. <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> biết: “Không có sự giải thoát nào vô thượng hơn thế nữa. Ðối với <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, không có việc phải làm nhiều hơn thế nữa”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, nếu nói một cách chơn chánh, một người có thể nói về người ấy như sau: “Người này được tự tại, được cứu cánh trong Thánh giới, được tự tại, được cứu cánh trong Thánh định, được tự tại, được cứu cánh trong Thánh tuệ, được tự tại, được cứu cánh trong Thánh giải thoát. Nói một cách chơn chánh về <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, người ấy có thể nói như sau: “<i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> được tự tại, được cứu cánh trong Thánh giới, được tự tại, được cứu cánh trong Thánh định, được tự tại, được cứu cánh trong Thánh tuệ, được tự tại, được cứu cánh trong Thánh giải thoát”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, nếu nói một cách chơn chánh, một người có thể nói về người ấy như sau: “Người này là con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, sanh ra từ Pháp, do Pháp hóa thành, thừa tự Chánh pháp, không thừa tự vật chất”. Nói một cách chơn chánh về <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, người ấy có thể nói như sau: “<i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> là con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, sanh ra từ Pháp, do Pháp hóa thành, thừa tự Chánh pháp, không thừa tự vật chất”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, này các Tỷ-kheo, chơn chánh chuyển Pháp luân vô thượng đã được Như Lai chuyển vận.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc23" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; KINH SÁU THANH TỊNH</title>
		<link>https://thienvipassana.net/112-kinh-sau-thanh-tinh-chabbisodhana-sutta-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 09:09:45 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5722</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ KINH SÁU THANH TỊNH &#8211; Chabbisodhana Sutta Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH SÁU THANH TỊNH &#8211; </strong></span><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chabbisodhana Sutta</span></strong></p>
</div>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một thời Thế Tôn trú ở <i lang="pli" translate="no">Sāvatthi</i>, <i lang="pli" translate="no">Jetavana</i>, tại tinh xá ông <i lang="pli" translate="no">Anāthapiṇḍika</i>. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo, “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói lên chánh trí (annam) như sau: “Ta tuệ tri như vầy:” Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa” ”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, lời nói của vi Tỷ-kheo ấy, không nên tán thán cũng không nên bác bỏ. Không tán thán, không bác bỏ, cần hỏi câu hỏi: “Này Hiền giả, có bốn hình thức tuyên bố này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chân chánh nói lên. Thế nào là bốn? Cái gì được thấy được nói lên như là được thấy. Cái gì được nghe được nói lên là được nghe. Cái gì được cảm giác được nói lên như là cảm giác. Cái gì được nhận thức được nói lên như là được nhận thức. Bốn hình thức tuyên bố này, Này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì, đối với bốn hình thức tuyên bố này, Tôn giả có thể nói là tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo, các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp (anudhamma) của vị ấy phải như sau:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này chư Hiền, tôi không cảm thấy luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế, đối với những vật được thấy … được nghe … được cảm giác … được nhận thức. Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với bốn hình thức tuyên bố này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, phải được tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!” Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: “Lành thay”, một câu hỏi nữa cần phải được hỏi.:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này Hiền giả, năm thủ uẩn này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chân chánh nói lên. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, thọ thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Năm thủ uẩn này, này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chân chánh nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì, đối với năm thủ uẩn này, Tôn giả có thể nói tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này chư Hiền, sau khi biết sắc này là vô lực, biến hoại, không an ổn, đối với những sắc là những chấp thủ phương tiện (upayupadana), là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên, đối với những sắc ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này chư Hiền, sau khi biết thọ này …</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này chư Hiền, sau khi biết tưởng này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này chư Hiền, sau khi biết hành này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này chư Hiền, sau khi biết thức này là vô lực, biến hoại, không an ổn, đối với thức là những chấp thủ phương tiện, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên. Ðối với những thức ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với năm thủ uẩn này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, phải được tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!”. Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: “Lành thay”, một câu hỏi nữa cần phải được hỏi thêm:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này Hiền giả, sáu giới này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên. Thế nào là sáu? Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới. Sáu giới này, này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì với sáu giới này, Tôn giả có thể nói tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục địch, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Chư Hiền, tôi đã đi đến địa giới như là không phải tự ngã, và (đi đến) tự ngã như là không tùy thuộc địa giới. Ðối với những pháp là những chấp thủ phương tiện tùy thuộc địa giới, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến thủy giới …</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến hỏa giới …</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến phong giới …</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến không giới …</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc23" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến thức giới như là không phải tự ngã, và (đi đến) tự ngã như là không tùy thuộc thức giới. Ðối với những pháp là những chấp thủ phương tiện tùy thuộc thức giới, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc24" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu giới này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc25" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, cần phải được tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!”. Sau khi tán thán tùy hỷ với lời nói:” Lành thay”, một câu hỏi nữa cần phải được hỏi:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc26" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này Hiền giả, sáu nội ngoại xứ này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên. Thế nào là sáu? Mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Sáu nội ngoại xứ này, này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì, thấy cái gì đối với sáu nội ngoại xứ này, Tôn giả có thể nói tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ?”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc27" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc28" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Chư Hiền, đối với mắt, đối với sắc, đối với nhãn thức, đối với những pháp được nhận thức bởi nhãn thức, phàm có dục gì, tham gì, hỷ gì, ái gì, phàm có những pháp chấp thủ phương tiện, những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên. Ðối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát. Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu nội ngoại xứ này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc29" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chư Hiền, đối với tai, đối với tiếng, đối với nhĩ thức…; chư Hiền, đối với mũi, đối với hương, đối với tỷ thức…; chư Hiền, đối với lưỡi, đối với vị, đối với thiệt thức…; chư Hiền, đối với thân, đối với xúc, đối với thân thức…; chư Hiền, đối với ý, đối với pháp, đối với ý thức, đối với các pháp được nhận thức bởi ý thức, phàm có dục gì, tham gì, hỷ gì, ái gì, phàm có những chấp thủ phương tiện, những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc30" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu nội ngoại xứ này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc31" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, cần phải được tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!” Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: “Lành thay”, một câu hỏi nữa cần phải được hỏi thêm:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc32" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Nhưng này Hiền giả, do biết gì, thấy gì, do đối với các thân có nhận thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, Tôn giả có thể nói về mạn tùy miên: “Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm”, mạn tùy miên của Tôn giả được đoạn trừ một cách hoàn toàn?”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc33" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chư Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm, đã làm, đã đặt gánh xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc34" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Chư Hiền, thuở xưa, khi tôi chưa xuất gia, tôi còn ngu muội. Tôi được Như Lai, đệ tử Như Lai thuyết pháp. Sau khi nghe pháp. Tôi có lòng tịnh tín đối với Như Lai. Thành tựu được tịnh tín ấy, tôi suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc35" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chư Hiền, một thời gian sau, tôi từ bỏ tài sản nhỏ hay từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay từ bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc36" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi đã xuất gia như vậy, tôi thành tựu học giới và nếp sống các vị Tỷ-kheo, tôi từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót tất cả chúng sanh và các loại hữu tình. Tôi từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh không có trộm cướp. Tôi từ bỏ phi Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống tránh xa phi Phạm hạnh, từ bỏ dâm dục tục pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc37" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tôi từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chơn thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không phản lại đời. Tôi từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi; nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều này ở chỗ kia, không đi nói với những người này, để sinh chia rẽ ở những người kia. Tôi sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Tôi từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, tôi nói những lời nhẹ nhàng, thuận tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, tôi nói những lời nói như vậy. Tôi từ bỏ nói lời phù phiếm, tránh xa nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc38" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tôi từ bỏ, không làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn phi thời. Tôi từ bỏ, không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn. Tôi từ bỏ, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, các thời trang, các thời sức. Tôi từ bỏ, không dùng giường cao và giường lớn. Tôi từ bỏ, không nhận các hạt sống. Tôi từ bỏ, không nhận thịt sống. Tôi từ bỏ, không nhận đàn bà, con gái. Tôi từ bỏ, không nhận nô tỳ gái và trai. Tôi từ bỏ, không nhận cừu dê. Tôi từ bỏ, không nhận gia cầm và heo. Tôi từ bỏ, không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái. Tôi từ bỏ, không nhận ruộng nương và đất đai. Tôi từ bỏ, không nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới. Tôi từ bỏ, không buôn bán. Tôi từ bỏ các sự gian lận bằng cân tiền bạc và đo lường. Tôi từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo. Tôi từ bỏ, không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc39" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tôi bằng lòng (tri túc) với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo y bát. Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, tôi bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo y bát. Tôi thành tựu Thánh giới uẩn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc40" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi mắt thấy sắc, tôi không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, tôi tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, tôi không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, tôi tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Tôi thành tựu Thánh hộ trì các căn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không vẩn đục.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc41" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi đi tới, khi đi lui, tôi đều tỉnh giác. Khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh, tôi đều tỉnh giác. Khi co tay, khi duỗi tay, tôi đều tỉnh giác. Khi mang y kép, y bát, tôi đều tỉnh giác. Khi ăn, uống, nhai, nuốt, tôi đều tỉnh giác. Khi đi đại tiện, tiểu tiện, tôi đều tỉnh giác. Khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng, tôi đều tỉnh giác.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc42" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và tôi đều thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này và thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, chọn một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc43" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sau khi đi khất thực về và ăn xong, tôi ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. Tôi từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, tôi sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hân. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, tôi sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trâm thụy miên. Trừ bỏ trạo cử hối quá, tôi sống không trạo cử, hối quá, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, tôi sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc44" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tôi từ bỏ năm triền cái, các pháp làm cho tâm ô uế, làm cho trí tuệ muội lược này, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Tôi diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tôi ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Tôi xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc45" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, tôi dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Tôi biết như thật: “Ðây là khổ”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của khổ”, biết như thật: “Ðây là khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là các lậu hoặc được đoạn trừ”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc được diệt trừ”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc46" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tôi nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của tôi thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, tôi khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát” ”. Tôi biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc47" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chư Hiền do biết như vậy, thấy như vậy, đối với các thân có nhận thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, mạn tùy miên: “Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm”, mạn tùy miên này được đoạn trừ một cách hoàn toàn”.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc48" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này các Tỷ-kheo Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, cần phải được tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!” Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!”, vị ấy cần phải nói thêm như sau: “Thật lợi ích thay cho chúng tôi, thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một vị sống Phạm hạnh như Tôn giả”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc49" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; KINH CHÂN NHÂN</title>
		<link>https://thienvipassana.net/113-kinh-chan-nhan-sappurisa-sutta-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 09:11:51 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5724</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ KINH CHÂN NHÂN &#8211; Sappurisa Sutta Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi,]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH CHÂN NHÂN &#8211; </strong></span><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sappurisa Sutta</span></strong></p>
</div>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một thời Thế Tôn trú ở <i lang="pli" translate="no">Sāvatthi</i>, <i lang="pli" translate="no">Jetavana</i>, tại tịnh xá ông <i lang="pli" translate="no">Anāthapiṇḍika</i> (Cấp Cô Ðộc). Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”:: “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông Chân nhân pháp và phi Chân nhân pháp. Các Ông hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng”:: “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này các Tỷ-kheo, thế nào là phi Chân nhân pháp? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân xuất gia từ một gia đình cao sang. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta xuất gia từ một gia đình cao sang. Còn các Tỷ-kheo này không xuất gia từ một gia đình cao sang”. Vì người ấy thuộc gia đình cao sang nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, người Chân nhân suy nghĩ như sau: “Không phải vì thuộc một gia đình cao sang mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người xuất gia, không phải từ một gia đình cao sang, và người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ (patipadam) làm chánh yếu (antaram), không khen mình chê người vì tự mình thuộc vào gia đình cao sang. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một người phi Chân nhân xuất gia từ một gia đình lớn … xuất gia từ một gia đình đại phú … xuất gia từ một gia đình quý phái. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta xuất gia từ một gia đình quý phái, còn các Tỷ-kheo này không xuất gia từ một gia đình quý phái”. Vì người ấy thuộc gia đình quý phái, nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, người Chân nhân suy nghĩ như sau: “Không phải vì thuộc về một gia đình quý phái mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người xuất gia không phải từ một gia đình quý phái và người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chính yếu, không khen mình chê người vì tự mình thuộc vào gia đình quý phái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân được nhiều người biết, có danh xưng. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta được nhiều người biết, có danh xưng, còn các Tỷ-kheo này được ít người biết đến, không được trọng vọng”. Vì người ấy tự mình được nhiều người biết đến nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, người Chân Nhân suy nghĩ như sau: “Không phải vì mình được nhiều người biết đến mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người xuất gia không được nhiều người biết, không có danh xưng, và người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chính yếu, không khen mình chê người vì tự mình được nhiều người biết và có danh xưng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân được các vật (cúng dường) như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, y liệu trị bệnh. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta nhận được các vật (cúng dường) như y phục, các đồ ăn khất thực, sàng tọa, y liệu trị bệnh, còn các Tỷ-kheo này không nhận được y phục, các đồ ăn khất thực, sàng tọa, y liệu trị bệnh”. Vì người ấy thâu nhận được như vậy nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, người Chân nhân suy nghĩ như sau: “Không phải vì tự mình nhận được các vật (cúng dường như) y phục, các đồ ăn khất thực, sàng tọa, y liệu trị bịnh mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người xuất gia không nhận được các vật (cúng dường như) y phục, các đồ ăn khất thực, sàng tọa, y liệu trị bệnh và người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp hành, trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người, vì tự mình được thâu nhận như vậy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân là người nghe nhiều. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta là người nghe nhiều, còn các Tỷ-kheo này không nghe nhiều”. Người ấy do được nghe nhiều nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, Người Chân nhân suy nghĩ như sau: “Không phải vì nghe nhiều mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu có người không nghe nhiều và người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người, vì tự mình được nghe nhiều. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân là bậc trì luật. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta là bậc trì luật, còn các Tỷ-kheo này không là bậc trì luật”. Do tự mình trì luật, người ấy khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và này các Tỷ-kheo, người Chân nhân suy nghĩ như sau: “Không phải vì tự mình là bậc trì luật mà các tham pháp đi đến đoạn trừ hay các sân pháp đi đến đoạn trừ hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu có người không phải là bậc trì luật, những người này hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người vì tự mình là bậc trì luật. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân là người thuyết pháp. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta là người thuyết pháp, còn các Tỷ-kheo này không phải là người thuyết pháp”. Vì tự mình là người thuyết pháp, nên người ấy khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Không phải do tự mình là bậc thuyết pháp mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không phải là người thuyết pháp, nhưng hành trì đúng pháp, và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người vì tự mình là bậc thuyết pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân là người theo hạnh sống ở núi rừng. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta là người theo hạnh sống ở rừng núi, còn các Tỷ-kheo này không theo hạnh sống ở rừng núi”. Người ấy vì tự mình theo hạnh sống ở rừng núi nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Không phải vì tự mình theo hạnh sống ở rừng núi mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không theo hạnh sống ở rừng núi, nhưng hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người, vì tự mình theo hạnh sống ở rừng núi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân theo hạnh mặc phấn tảo y. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta là người theo hạnh mặc phấn tảo y. Còn các Tỷ-kheo này không là người theo hạnh mặc phấn tảo y”. Người này do tự mình theo hạnh mặc phấn tảo y nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Không phải vì tự mình theo hạnh mặc phấn tảo y mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không theo hạnh mặc phấn tảo y, nhưng người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người vì tự mình mặc phấn tảo y. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân là người theo hạnh khất thực. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta theo hạnh khất thực, còn các Tỷ-kheo này không theo hạnh khất thực”. Người ấy, do tự mình theo hạnh khất thực nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Không phải vì tự mình theo hạnh khất thực mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không theo hạnh khất thực, nhưng người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người, vì tự mình theo hạnh khất thực. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một người phi Chân nhân theo hạnh sống dưới gốc cây. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta là người theo hạnh sống dưới gốc cây, còn các Tỷ-kheo này không theo hạnh sống dưới gốc cây”. Người ấy, do tự mình theo hạnh sống dưới gốc cây nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc23" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Không phải vì tự mình theo hạnh sống dưới gốc cây mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không theo hạnh sống dưới gốc cây, nhưng người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh và hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người vì tự mình theo hạnh sống dưới gốc cây. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc24" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân theo hạnh sống tại nghĩa địa … theo hạnh sống ngoài trời … theo hạnh thường ngồi (không nằm) … Theo hạnh ngồi tại chỗ mời … theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi, còn các Tỷ-kheo này không theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi. Do tự mình theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc25" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Không phải vì mình theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không theo hạnh chỉ ăn một lần, nhưng hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người vì tự mình sống chỉ ăn một lần ngồi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc26" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tâm có tứ. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta là người chứng được sơ Thiền, các người Tỷ-kheo này không chứng được sơ Thiền”. Người ấy do tự mình chứng được sơ Thiền nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc27" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Ðịnh sơ Thiền, tự tánh là vô tham ái, Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ thế này, thế khác, thời tự tánh liền đổi khác”. Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chánh yếu, không khen mình chê người vì chứng được định sơ Thiền. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc28" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân pháp diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhứt tâm … Thiền thứ ba … chứng và trú Thiền thứ tư. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta chứng đắc định Thiền thứ tư, còn các Tỷ-kheo này không chứng đắc định Thiền thứ tư”. Người ấy vì chứng đắc định Thiền thứ tư ấy nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc29" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Ðịnh Thiền thứ tư, tánh là vô tham ái. Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ thế này, thế khác, thời tự tánh liền đổi khác”. Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chánh yếu, không khen mình chê người vì chứng đắc định Thiền thứ tư. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc30" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, người ấy nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta chứng được định Không vô biên xứ, còn các Tỷ-kheo này không chứng được định Không vô biên xứ”. Người ấy, vì chứng được định Không vô biên xứ ấy, nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc31" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Ðịnh Không vô biên, xứ tự tánh là vô tham ái. Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ như thế này, thế khác, thời tự tánh liền đổi khác”. Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chính yếu, không khen mình chê người vì chứng được định Không vô biên xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc32" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân, vượt lên Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta chứng được định Thức vô biên xứ, còn các Tỷ-kheo này không chứng được định Thức vô biên xứ”. Người ấy vì chứng được định Thức vô biên xứ ấy nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc33" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Ðịnh Thức vô biên xứ tự tánh là vô tham ái. Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ thế này, thế khác, thời tự tánh liền đổi khác”. Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chính yếu, không khen mình chê người vì chứng được định Thức vô biên xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc34" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân vượt lên một cách hoàn toàn Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có sở hữu”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta chứng được định Vô sở hữu xứ, còn các Tỷ-kheo này không chứng được định Vô sở hữu xứ”. Người ấy, vì chứng được định Vô sở hữu xứ ấy, nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc35" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Ðịnh Vô sở hữu xứ tự tánh là vô tham ái. Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ thế này, thế khác, thời tự tánh liền đổi khác”. Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chánh yếu, không khen mình chê người vì chứng được định Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc36" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân vượt lên Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta chứng được định Phi tưởng phi phi tưởng xứ, còn các Tỷ-kheo này không chứng được định Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Người ấy vì chứng được định Phi tưởng phi phi tưởng xứ ấy nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc37" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Ðịnh Phi tưởng phi phi tưởng xứ tự tánh là vô tham ái. Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ thế này, thế khác, thời tự tánh liền đổi khác”. Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chánh yếu, không khen mình chê người vì định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc38" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người Chân nhân sau khi vượt lên Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng định, sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị này được đoạn trừ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này không nghĩ mình là bất cứ vật gì, không nghĩ đến bất cứ chỗ nào, không nghĩ đến bất cứ vì sự việc gì.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc39" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; KINH NÊN HÀNH TRÌ, KHÔNG NÊN HÀNH TRÌ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/114-kinh-nen-hanh-tri-khong-nen-hanh-tri-sevitabba-asevitabba-sutta-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 09:14:45 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5727</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ KINH NÊN HÀNH TRÌ, KHÔNG NÊN HÀNH TRÌ &#8211; Sevitabbāsevitabba Sutta Như vầy tôi nghe. Một thời Thế]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH NÊN HÀNH TRÌ, KHÔNG NÊN HÀNH TRÌ &#8211;</strong></span><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> Sevitabbāsevitabba Sutta</span></strong></p>
</div>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe.</span></p>
<p><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một thời Thế Tôn trú ở <i lang="pli" translate="no">Sāvatthi</i>, <i lang="pli" translate="no">Jetavana</i>, tại tịnh xá ông <i lang="pli" translate="no">Anāthapiṇḍika</i> (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông pháp môn về nên hành trì, không nên hành trì. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng”:: “Thưa vâng bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau</span></p>
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(Lời giảng đầu tiên)</span></h2>
<p><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này các Tỷ-kheo, Ta nói thân hành có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa thân hành”. Này các Tỷ-kheo, Ta nói khẩu hành cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa khẩu hành”. Này các Tỷ-kheo, Ta nói ý hành cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa ý hành”. Này các Tỷ-kheo, Ta nói tâm sanh cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa tâm sanh”. Này các Tỷ-kheo, Ta nói tưởng đắc cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa tưởng đắc”. Kiến đắc, này các Tỷ-kheo, Ta nói cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa kiến đắc (ditthipatilabha)”. Ngã tánh đắc, này các Tỷ-kheo, Ta nói cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa ngã tánh đắc”.</span></p>
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(Giảng rộng)</span></h2>
<p><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ðược nghe nói vậy, Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> bạch Thế Tôn</span></p>
<p><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, lời nói này được Thế Tôn nói lên vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau:</span></p>
<p><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thân hành, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa thân hành”. Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên? Bạch Thế Tôn nếu một thân hành nào khi hành trì, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm, thân hành như vậy không nên hành trì. Bạch Thế Tôn, và một thân hành nào khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng, thân hành như vậy nên hành trì.</span></p>
<p><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Bạch Thế Tôn, thân hành gì khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại, đả thương, tâm không từ bi đối với các loại hữu tình. Người này lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy. Người ấy sống tà hạnh trong các dục vọng, giao cấu các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Thân hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.</span></p>
<p><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Bạch Thế Tôn, thân hành gì khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng?</span></p>
<p><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ở đây, bạch Thế Tôn, có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Người ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho; bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy. Người ấy từ bỏ sống tà hạnh trong các dục vọng, không giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Thân hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.</span></p>
<p><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thân hành, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa thân hành”. Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khẩu hành, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa khẩu hành”. Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên gì lời nói ấy được nói lên? Bạch Thế Tôn, một khẩu hành nào khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm, khẩu hành như vậy không nên hành trì. Bạch Thế Tôn và một khẩu hành nào khi hành trì bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng, khẩu hành như vậy nên hành trì.</span></p>
<p><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Bạch Thế Tôn, khẩu hành gì khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiệp pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này Người kia, hãy nói những gì Ông biết”. Dầu cho người ấy không biết, người ấy nói: “Tôi biết”; dầu cho người ấy biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay dầu cho người ấy không thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”; hay dầu cho người ấy thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”. Như vậy, lời nói của người ấy trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Và người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy ly gián những kẻ hòa hợp, hay xúi dục những kẻ ly gián, ưa thích phá hoại, vui thích phá hoại, thích thú phá hoại, nói những lời đưa đến phá hoại. Và người ấy là người nói lời thô ác. Bất cứ lời gì thô ác, tàn ác, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời như vậy. Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích. Khẩu hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.</span></p>
<p><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Bạch Thế Tôn, khẩu hành gì khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người từ bỏ vọng ngữ, tránh xa vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì Ông biết”. Nếu biết, người ấy nói: “Tôi biết ”; nếu không biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay nếu không thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”; nếu thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”. Như vậy lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia; như vậy, người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hợp, ưa thích hòa hợp, vui thích hòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác; như vậy, người ấy nói những lời nói nhu hòa, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người. Từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm; người ấy nói đúng thời, nói những lời chơn thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. Khẩu hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.</span></p>
<p><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khẩu hành, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa khẩu hành”. Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ý hành, này các Tỷ-kheo, Tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa khẩu hành”. Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên gì lời nói ấy được nói lên? Bạch Thế Tôn, một ý hành nào khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, khẩu hành như vậy không nên hành trì. Bạch Thế Tôn, và một ý hành nào khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, ý hành như vậy nên hành trì.</span></p>
<p><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ý hành gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn có người có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình!” Lại có người sân tâm, khởi lên hại ý, hại niệm như sau: “Mong rằng những loài hữu hình này bị giết, hay bị tàn sát, hay bị tiêu diệt hay bị làm hại, hay mong chúng không còn tồn tại”. Ý hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.</span></p>
<p><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ý hành gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng? Ở đây có người không có tham ái, không tham lam tài vật của kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác không trở thành của mình!” Lại có người không có sân tâm, không khởi lên hại ý, hại niệm, nhưng nghĩ rằng: “Mong rằng những loài hữu tình này sống không thù hận, không oán thù, không nhiễu loạn, được an lạc, lo nghĩ tự thân”. Ý hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.</span></p>
<p><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ý hành, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa ý hành”. Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tâm sanh, này các Tỷ-kheo, tôi nói cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa tâm sanh”. Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? Bạch Thế Tôn, nếu một tâm sanh nào khi hành trì, các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, tâm sanh như vậy không nên hành trì. Và một tâm sanh nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, tâm sanh như vậy nên hành trì.</span></p>
<p><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tâm sanh gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người có tham dục, sống với tâm câu hữu với tham dục; người ấy sân hận và sống với tâm câu hữu với sân hận; người ấy có hại tâm và sống với tâm câu hữu với hại tâm. Tâm sanh như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm.</span></p>
<p><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tâm sanh gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người không có tham dục; sống với tâm không câu hữu với tham dục; người ấy không có sân hận và sống với tâm không câu hữu với sân hận; người ấy không có hại tâm và sống với tâm không câu hữu với hại tâm. Tâm sanh như vậy, bạch Thế Tôn, nếu hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng.</span></p>
<p><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tâm sanh, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa tâm sanh”. Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tưởng đắc, này các Tỷ-kheo, tôi nói cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sư tương đối giữa tưởng đắc”. Thế Tôn đã nói vậy. Và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? Một tưởng đắc nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, tưởng đắc như vậy không nên hành trì. Và một tưởng đắc nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, tưởng đắc như vậy nên hành trì.</span></p>
<p><a id="sc23" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tưởng đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người có tham dục sống với tưởng câu hữu với sân hận, người ấy có hại tâm và sống với tưởng câu hữu với hại tâm. Tưởng đắc như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm.</span></p>
<p><a id="sc24" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tưởng đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì, bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người không có tham dục, sống với tưởng không câu hữu với tham dục, người ấy không có sân hận và sống với tưởng không câu hữu với sân hận, người ấy không có hại tâm và sống với tưởng không câu hữu với hại tâm. Tưởng đắc như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng.</span></p>
<p><a id="sc25" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tưởng đắc, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa tưởng đắc”. Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc26" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Kiến đắc, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì và không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa kiến đắc”. Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? Một kiến đắc nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, kiến đắc như vậy không nên hành trì. Và một kiến đắc nào khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, kiến đắc như vậy nên hành trì.</span></p>
<p><a id="sc27" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Kiến đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng; thiện pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn có người có (tà) kiến như sau: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn, chánh hướng, chánh hạnh đã tự mình với thượng trí chứng tri, chứng đạt và an trú đời này, đời khác và truyền dạy lại”. Kiến đắc như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì, các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.</span></p>
<p><a id="sc28" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Kiến đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người có (chánh) kiến như sau: “Có bố thí, có lễ hy sinh, có tế tự, có quả dị thục các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời khác, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, ở đời có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh đã tự mình với thượng trí chứng tri, chứng đắc và an trú đời này, đời khác và truyền dạy lại”. Kiến đắc như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.</span></p>
<p><a id="sc29" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Kiến đắc, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa kiến đắc”. Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc30" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ngã tánh đắc, này các Tỷ-kheo, tôi nói cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa ngã tánh đắc”. Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên gì lời nói ấy được nói lên? Ngã tánh đắc nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, ngã tánh đắc như vậy không nên hành trì. Ngã tánh đắc nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, ngã tánh đắc như vậy nên hành trì.</span></p>
<p><a id="sc31" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ngã tánh đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm? Ngã tánh đắc có hại, bạch Thế Tôn, vì sự không rốt ráo khi được sanh khởi, các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.</span></p>
<p><a id="sc32" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ngã tánh đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng? Ngã tánh đắc vô hại, bạch Thế Tôn, vì sự rốt ráo khi được sanh khởi, các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.</span></p>
<p><a id="sc33" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ngã tánh đắc, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa ngã tánh đắc”. Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên. Bạch Thế Tôn, lời nói mà được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, con được hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.</span></p>
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(Ðức Thế Tôn khen và tóm tắt)</span></h2>
<p><a id="sc34" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Lành thay, lành thay, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>! Lành thay, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>! Lời nói này được Ta nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.</span></p>
<p><a id="sc35" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thân hành, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa thân hành”. Ta đã nói như vậy và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? Thân hành nào, này Sariputtta, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm, thân hành như vậy không nên hành trì. Và thân hành nào, này Sariputtta, khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiệp pháp tăng trưởng, thân hành như vậy nên hành trì.</span></p>
<p><a id="sc36" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thân hành gì, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, khi hành trì bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm? Ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, có người sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loại hữu tình. Người này lấy của không cho; bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy. Người ấy sống tà hạnh trong các dục vọng, giao cấu các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Thân hành như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.</span></p>
<p><a id="sc37" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thân hành gì, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng? Ở đây, này Sariputtta, có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Người ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho; bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy. Người ấy từ bỏ sống theo tà hạnh trong các dục vọng, không giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Thân hành như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.</span></p>
<p><a id="sc38" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thân hành, này các Tỷ-kheo, ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa thân hành”. Ta đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc39" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khẩu hành, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa khẩu hành”. Ta đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên? Này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, khẩu hành nào khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, khẩu hành như vậy không nên hành trì. Và khẩu hành nào, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, khi hành trì, các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, khẩu hành như vậy nên hành trì.</span></p>
<p><a id="sc40" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khẩu hành gì, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm? Ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, có người vọng ngữ đến chỗ tập hội …</span></p>
<p><a id="sc41" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ý hành, … Tâm sanh, … Tưởng đắc, … Kiến đắc, … Ngã tánh đắc, …</span></p>
<p><a id="sc42" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ngã tánh đắc, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa ngã tánh đắc”, Ta đã nói như vậy, và do duyên như vậy lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc43" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, lời nói này được Ta nói một cách vắn tắt, cần phải hiểu một cách rộng rãi như vậy.</span></p>
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(Lời giảng thứ hai)</span></h2>
<p><a id="sc44" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sắc do mắt nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Tiếng do tai nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Hương do mũi nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Vị do lưỡi nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Xúc do thân nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Pháp do ý nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.</span></p>
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(Giảng rộng)</span></h2>
<p><a id="sc45" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi được nghe nói vậy, Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> bạch Thế Tôn</span></p>
<p><a id="sc46" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, lời nói này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, con được hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau:</span></p>
<p><a id="sc47" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Sắc do mắt nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?</span></p>
<p><a id="sc48" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sắc nào do mắt nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, sắc do mắt nhận thức như vậy không nên hành trì. Sắc nào do mắt nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, sắc ấy do mắt nhận thức như vậy nên hành trì. “Sắc do mắt nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc49" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Tiếng do tai nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?</span></p>
<p><a id="sc50" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tiếng nào do tai nhận thức bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, tiếng do tai nhận thức như vậy không nên hành trì. Tiếng nào do tai nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, tiếng do tai nhận thức như vậy nên hành trì. “Tiếng do tai nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc51" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Hương do mũi nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?</span></p>
<p><a id="sc52" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Hương nào do mũi nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, hương do mũi nhận thức như vậy không nên hành trì. Hương nào do mũi nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì, các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, hương do mũi nhận thức như vậy nên hành trì.” Hương do mũi nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc53" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Vị do lưỡi nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?</span></p>
<p><a id="sc54" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị nào do lưỡi nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, vị do lưỡi nhận thức như vậy không nên hành trì. Vị nào do lưỡi nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, vị do lưỡi nhận thức như vậy nên hành trì. “Vị do lưỡi nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc55" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Xúc do thân nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?</span></p>
<p><a id="sc56" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Xúc nào do thân nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, xúc do thân nhận thức như vậy không nên hành trì. Xúc nào do thân nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, xúc do thân nhận thức như vậy nên hành trì. “Xúc do thân nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc57" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Pháp do ý nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?</span></p>
<p><a id="sc58" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Pháp nào do ý nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, pháp do ý nhận thức như vậy không nên hành trì. Pháp nào do ý nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, pháp do ý nhận thức như vậy nên hành trì. Pháp do ý nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc59" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Bạch Thế Tôn, lời nói này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, con được hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.</span></p>
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(Ðức Thế Tôn khen và tóm tắt)</span></h2>
<p><a id="sc60" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Lành thay, lành thay, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>! Lành thay, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>! Lời nói này được Ta nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.</span></p>
<p><a id="sc61" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sắc do mắt nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Lời nói như vậy được Ta nói lên. Và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? …</span></p>
<p><a id="sc62" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tiếng do tai nhận thức, … Hương do mũi nhận thức, … Vị do lưỡi nhận thức, … Xúc do thân nhận thức, … Pháp do ý nhận thức, …</span></p>
<p><a id="sc63" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Pháp do ý nhận thức, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Lời nói như vậy được Ta nói lên và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc64" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, lời nói này được Ta nói lên một cách vắn tắt, ý nghĩa lời nói ấy cần được hiểu một cách rộng rãi như vậy.</span></p>
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(Lời giảng thứ ba)</span></h2>
<p><a id="sc65" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Y, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Ðồ ăn khất thực, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Sàng tọa, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Làng, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thị trấn, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Ðô thị, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Quốc độ, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Người (Puggala), này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.</span></p>
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(Giảng rộng)</span></h2>
<p><a id="sc66" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi được nghe nói vậy, Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> bạch Thế Tôn</span></p>
<p><a id="sc67" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Bạch Thế Tôn, lời nói này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa một cách rộng rãi, con được hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau:</span></p>
<p><a id="sc68" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Y, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.’ Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? Y nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì, các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, y như vậy không nên hành trì. Y nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, y như vậy nên hành trì. “Y, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.’ Thế Tôn đã nói lên như vậy. Và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc69" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Ðồ ăn khất thực, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc70" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Sàng tọa, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc71" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Làng, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc72" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Thị trấn, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc73" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Ðô thị, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc74" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Quốc độ, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc75" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Người, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc76" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Bạch Thế Tôn, lời nói này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải thích rộng rãi, con đã hiểu một cách rộng rãi như vậy.</span></p>
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(Ðức Thế Tôn khen và tóm tắt)</span></h2>
<p><a id="sc77" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Lành thay, lành thay, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>! Lành thay, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>! Lời nói này được Ta nói lên vắn tắt, không giải thích rộng rãi, Ông đã hiểu một cách rộng rãi như vậy.</span></p>
<p><a id="sc78" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Y, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Ta đã nói lên như vậy. Và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? Y nào, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, y như vậy không nên hành trì. Y nào, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, y như vậy nên hành trì. Y, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Ta đã nói lên như vậy. Do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc79" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ðồ ăn khất thực, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc80" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sàng tọa, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc81" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Làng, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc82" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thị trấn, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc83" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ðô thị, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc84" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Quốc độ, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc85" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người, này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.</span></p>
<p><a id="sc86" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, lời nói này được Ta nói vắn tắt, ý nghĩa lời nói ấy cần được hiểu một cách rộng rãi như vậy.</span></p>
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">(Kết luận)</span></h2>
<p><a id="sc87" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, nếu tất cả những vị Sát đế lỵ, đối với lời nói này được Ta nói vắn tắt, có thể hiểu ý nghĩa lời nói ấy một cách rộng rãi như vậy, tất cả những vị ấy sẽ được hưởng hạnh phúc, an lạc lâu dài. Này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, nếu tất cả những vị Bà-la-môn. Nếu tất cả những vị Vessa … Này <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i>, nếu tất cả những vị Thủ đà (Sudda), đối với lời nói này được Ta nói vắn tắt, có thể hiểu ý nghĩa lời nói ấy một cách rộng rãi như vậy, tất cả những vị ấy sẽ được hưởng hạnh phúc, an lạc lâu dài.</span></p>
<p><a id="sc88" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Sāriputta</i> hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; KINH ÐA GIỚI</title>
		<link>https://thienvipassana.net/115-kinh-da-gioi-bahudhatuka-sutta-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 09:16:57 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5729</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ KINH ÐA GIỚI &#8211; Bahudhātuka Sutta Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH ÐA GIỚI &#8211; </strong></span><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Bahudhātuka Sutta</span></strong></p>
</div>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một thời Thế Tôn trú ở <i lang="pli" translate="no">Sāvatthi</i> (Xá-vệ), <i lang="pli" translate="no">Jetavana</i> (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông <i lang="pli" translate="no">Anāthapiṇḍika</i> (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Phàm có những sợ hãi gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả những sợ hãi ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí (pandita). Phàm có những thất vọng gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả thất vọng ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí. Phàm có những hoạn nạn gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả hoạn nạn ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí. Ví như, này các Tỷ-kheo, tia lửa từ ngôi nhà bằng cỏ, thiêu cháy ngôi nhà có lầu gác được trét trong trét ngoài, được che chở khỏi gió, có chốt khóa gài kỹ, có cửa sổ đóng kỹ; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những sợ hãi gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả những sợ hãi ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí; phàm có những thất vọng gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả những thất vọng ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí; phàm có những hoạn nạn gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả những hoạn nạn ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí. Như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu đầy những sợ hãi, người hiền trí không có sợ hãi. Kẻ ngu đầy những thất vọng, người hiền trí không có thất vọng. Kẻ ngu đầy những hoạn nạn, người hiền trí không có hoạn nạn. Này các Tỷ-kheo, không có sợ hãi cho người hiền trí, không có thất vọng cho người hiền trí, không có hoạn nạn cho người hiền trí. Do vậy, này các Tỷ-kheo, “Chúng tôi sẽ thành người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu”, như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi được nghe nói vậy, Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> bạch Thế Tôn</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Ðến mức độ nào, bạch Thế Tôn, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo là người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Cho đến khi, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Tỷ-kheo thiện xảo về giới, thiện xảo về xứ, thiện xảo về duyên khởi và thiện xảo về xứ phi xứ, cho đến mức độ như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo là người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu”.</span></p>
<h2 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><a id="115.h1" href="https://suttacentral.net/index.html#toc" rel="nofollow noopener" target="_blank">(Giới)</a></span></h2>
<p style="text-align: left;"><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Ðến mức độ nào, bạch Thế Tôn, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có mười tám giới này: nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới; nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới; tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thân giới, xúc giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, cho đến khi biết được, thấy được mười tám giới này, cho đến mức độ như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Có thể có, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có sáu giới này: địa giới, thủy giới, phong giới, hỏa giới, không giới, thức giới. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, cho đến khi biết được, thấy được sáu giới này, cho đến mực độ như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Có thể có, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có sáu giới này: lạc giới, khổ giới, hỷ giới, ưu giới, xả giới, vô minh giới. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, cho đến khi biết được, thấy được sáu giới này, cho đến mức độ như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Có thể có, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có sáu giới này: dục giới, ly dục giới, sân giới, vô sân giới, hại giới, bất hại giới. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, cho đến khi biết được, thấy được sáu giới này, cho đến mức độ như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Có thể có, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có ba giới này: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, cho đến khi biết được, thấy được ba giới này, cho đến mức độ như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Có thể có, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có hai giới này: hữu vi giới và vô vi giới. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, cho đến khi biết được, thấy được hai giới này, cho đến mức độ như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”</span></p>
<h2 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><a id="115.h2" href="https://suttacentral.net/index.html#toc" rel="nofollow noopener" target="_blank">(Xứ)</a></span></h2>
<p style="text-align: left;"><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về xứ?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, có sáu nội xứ, ngoại xứ này: mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, cho đến khi biết được, thấy được sáu nội ngoại xứ này, cho đến mức độ như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về xứ”.</span></p>
<h2 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><a id="115.h3" href="https://suttacentral.net/index.html#toc" rel="nofollow noopener" target="_blank">(Duyên khởi)</a></span></h2>
<p style="text-align: left;"><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về duyên khởi?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Tỷ-kheo biết như sau: Nếu cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Nếu cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; do duyên sanh lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhưng do sự diệt trừ, sự ly tham hoàn toàn của chính vô minh này, các hành diệt; do các hành diệt, danh sắc diệt; do danh sắc diệt, lục nhập diệt; do lục nhập diệt, xúc diệt; do xúc diệt, thọ diệt; do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt hoàn toàn của khổ uẩn này. Cho đến như vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về duyên khởi”.</span></p>
<h2 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><a id="115.h4" href="https://suttacentral.net/index.html#toc" rel="nofollow noopener" target="_blank">(Xứ, phi xứ)</a></span></h2>
<p style="text-align: left;"><a id="sc23" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Nhưng cho đến mức độ nào, bạch Thế Tôn, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về xứ phi xứ?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc24" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Ở đây, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Tỷ-kheo biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: khi một người thành tựu (chánh) kiến lại đi đến các hành (samkhara) và xem là thường còn. Sự kiện như vậy không xảy ra”. Và vị ấy biết rằng: “Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một người phàm phu đi đến các hành và xem là thường còn. Sự hiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến, lại có thể đi đến các hành với ý niệm lạc thọ. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một người phàm phu đi đến các hành với ý niệm lạc thọ. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người nào thành tựu (chánh) kiến, lại có thể đi đến các pháp với ý niệm tự ngã. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rằng: “Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một người phàm phu đi đến các pháp với ý niệm tự ngã. Sự kiện như vậy có xảy ra”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc25" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: khi một người thành tựu (chánh) kiến, có thể giết sinh mạng người mẹ. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người phàm phu có thể giết sinh mạng người mẹ. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến, có thể giết sinh mạng người cha … có thể giết sinh mạng A-la-hán. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến có thể với ác tâm làm Như Lai chảy máu. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người phàm phu với ác tâm làm Như Lai chảy máu. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến có thể phá hòa hợp Tăng. Sự kiện như vậy không xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người phàm phu có thể phá hòa hợp với Tăng. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến có thể đề cao một Ðạo sư khác. Sự kiên như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người phàm phu đề cao một Ðạo sư khác. Sự kiện như vậy có xảy ra”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc26" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi cùng trong một thế giới (lokadhatu), hai A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có thể xuất hiện (một lần) không trước không sau. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi cùng trong một thế giới, một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có thể xuất hiện. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra: Khi cùng trong một thế giới, hai vua Chuyển Luân có thể xuất hiện (một lần), không trước không sau. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi trong một thế giới, một vị vua Chuyển Luân có thể xuất hiện. Sự kiện như vậy có xảy ra”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc27" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể thành A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: Sự kiện này có xảy ra: Khi một nam nhân có thể thành một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự kiện như vậy có xảy ra. “Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể thành Sakka (Ðế -thích). Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một nam nhân có thể trở thành Sakka. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể trở thành Ma vương. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra khi một nam nhân trở thành một Ma vương. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể trở thành Phạm thiên. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một nam nhân có thể trở thành Phạm thiên. Sự kiện này như vậy có xảy ra”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc28" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một thân ác hành có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc. Sự kiện này không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một thân ác hành có thể sanh ra quả báo không khả ái, không khả hỷ, không khả lạc. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một khẩu ác hành … Khi một ý ác hành có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một ý ác hành có thể sanh ra quả báo không khả ái, không khả hỷ, không khả lạc. Sự kiện như vậy có xảy ra”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc29" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một thân thiện hành có thể sanh ra quả báo không khả ái, không khả hỷ, không khả lạc. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một thân thiện hành có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một khẩu thiện hành … một ý thiện hành có thể sanh ra quả báo không khả ái, không khả hỷ, không khả lạc. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một ý thiện hành có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc. Sự kiện như vậy có xảy ra”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc30" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người hành trì thân ác hành, do nhân thân ác hành ấy, do duyên thân ác hành ấy sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người hành trì thân ác hành, do nhân thân ác hành ấy, do duyên thân ác hành ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Sự kiện này có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người hành trì khẩu ác hành … hành trì ý ác hành, do nhân ý ác hành ấy, do duyên ý ác hành ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra, khi một người hành trì khẩu ác hành … ý ác hành, sau khi thân hoại mạng chung có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Sự kiện như vậy có xảy ra”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc31" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người hành trì thân thiện hành, do nhân thân thiện hành ấy, do duyên thân thiện ấy, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người hành trì thân thiện hành, do nhân thân thiện hành ấy, do duyên thân thiện hành ấy, có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người hành trì khẩu thiện hành … hành trì thiện hành, do nhân ý thiện hành ấy, do duyên ý thiện hành ấy, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một người hành trì khẩu thiện hành … hành trì ý thiện hành, do nhân ý thiện hành ấy, do duyên ý thiện hành ấy, có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Sự kiện như vậy có xảy ra”.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc32" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Cho đến mức độ như vậy, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về xứ phi xứ”.</span></p>
<h2 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><a id="115.h5" href="https://suttacentral.net/index.html#toc" rel="nofollow noopener" target="_blank">(Kết luận)</a></span></h2>
<p style="text-align: left;"><a id="sc33" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi được nghe nói vậy, Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> bạch Thế Tôn</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc34" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, pháp môn này có tên gì?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc35" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Do vậy, này <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Ông hãy thọ trì pháp môn này là Ða giới, hãy thọ trì pháp môn nầy là Bốn chuyển (Dhammadasa), hãy thọ trì pháp môn này là Pháp kính (Dhammadasa), hãy thọ trì pháp môn này là Trống bất tử, hãy thọ trì pháp môn này là Vô thượng chiến thắng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc36" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả <i lang="pli" translate="no">Ānanda</i> hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TRUNG BỘ III &#8211; KINH THÔN TIÊN</title>
		<link>https://thienvipassana.net/5731-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 May 2020 09:21:32 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[KINH TRUNG BỘ III]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG KINH]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ III]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=5731</guid>

					<description><![CDATA[KINH TRUNG BỘ KINH THÔN TIÊN &#8211; Isigili Sutta Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú tại Rājagaha]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="hgroup">
<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH TRUNG BỘ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>KINH THÔN TIÊN &#8211; </strong></span><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Isigili Sutta</span></strong></p>
</div>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Như vầy tôi nghe.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc1" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một thời Thế Tôn trú tại <i lang="pli" translate="no">Rājagaha</i> (Vương Xá), trên núi Isigili (Thôn tiên). Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”:: “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc2" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi <i lang="pli" translate="no">Vebhāra</i> (Phụ Trọng) này không?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc3" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc4" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi <i lang="pli" translate="no">Vebhāra</i> này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi <i lang="pli" translate="no">Paṇḍava</i> (Bạch Thiện) này không?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc5" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc6" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi <i lang="pli" translate="no">Paṇḍava</i> này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Vepulla (Quảng Phổ) này không?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc7" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc8" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi Vepulla này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi <i lang="pli" translate="no">Gijjhakūta</i> (Linh Thứu) này không?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc9" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc10" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng khác cho núi <i lang="pli" translate="no">Gijjhakūta</i> này, một tên gọi khác. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy núi Isigili (Thôn tiên) này không?</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc11" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa có thấy, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc12" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Này các Tỷ-kheo, đây chỉ là một danh xưng của núi Isigili, một tên gọi khác.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc13" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có năm trăm vị Ðộc Giác Phật sống trong một thời gian khá dài, trong núi Isigili này. Những vị ấy được thấy đi vào trong ngọn núi này, nhưng khi đi vào rồi thời không được thấy nữa. Quần chúng thấy vậy nói như sau: “Ngọn núi này nuốt những ẩn sĩ ấy (Ime Isi gilatiti) nên được danh xưng là Isigili. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ kể tên các vị Ðộc Giác Phật; này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng tên các vị Ðộc Giác Phật. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc14" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc15" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc16" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">—<i lang="pli" translate="no">Ariṭṭha</i> (A-lợi-sá), này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. <i lang="pli" translate="no">Upariṭṭha</i> (Bà-lợi-sá), này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. <i lang="pli" translate="no">Tagarasikhī</i>, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Yasassi, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Sudassana (Thiện Kiến), này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. <i lang="pli" translate="no">Piyadassī</i>, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Gandhara, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. <i lang="pli" translate="no">Piṇḍola</i>, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Upasabha, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Nitha, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Tatha, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Sutava, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này. Bhavitatta, này các Tỷ-kheo, là tên vị Ðộc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili này.</span></p>
<blockquote class="gatha">
<p style="text-align: left;"><a id="sc17" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chư hữu tình tinh hoa,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Không khổ, không tham ái,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Riêng tự mình chứng đắc,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chánh Ðẳng Giác (vô thượng).</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chư vị thượng thắng nhân,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vượt ngoài mũi tên bắn,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Hãy lóng tai nghe kỹ,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ta sẽ xướng danh hiệu:</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc18" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><i lang="pli" translate="no">Ariṭṭha</i>, <i lang="pli" translate="no">Upariṭṭha</i>, <i lang="pli" translate="no">Tagarasikhī</i>, Yasassi</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sudassan, Phật <i lang="pli" translate="no">Piyadassī</i></span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Gandhara, <i lang="pli" translate="no">Piṇḍola</i>,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Upasabha, Nitha, Tatha, Sutava, Bhavitatta.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc19" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sumbha, Subha, Methula,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Atthama, Athassumegha,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Anigha, Sudatha</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chư vị Ðộc Giác Phật,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ðoạn trừ nguồn tái sanh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc20" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Hingu và Hinga</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chư vị Ðại Uy lực,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Hai ẩn sĩ Jali</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Rồi đến <i lang="pli" translate="no">Aṭṭhaka</i>,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ðức Phật <i lang="pli" translate="no">Kosala</i>,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tiếp đến Subahu.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc21" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ngài Upanemi, cả Ngài Nemi này,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ngài Santacitta, các Ngài bậc Chân thực,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sống như chân, ly trần,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Cũng là bậc Hiền triết.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc22" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><i lang="pli" translate="no">Kāla</i>, Upakala, Vijita, Jita</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Anga, Panga và Gutijjita</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Passi bỏ chấp thủ</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Căn rễ của khổ đau.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc23" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Aparajita, đánh bại ma quân lực,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Satthà, Pavatta, Sarabhanga, Lomahansa,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Uccangamaya, Asita, Anasava,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Manomaya đoạn trừ được nạn,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và Bandhuma,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tadadhimutta vô cấu uế,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và Ketuma.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc24" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ketumbaraga và Matanga Ariya,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Accuta, Accutagama, Byamaka,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sumangala, Dabbila, Supatitthita</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Asayha, Khemabhirata và Sorata,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Durannaya, Sangha, rồi đến Ujjaya,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Rồi đến ẩn sĩ Sayha,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với can đảm phi thường</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><i lang="pli" translate="no">Ānanda</i>, Nanda, Upananda,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tất cả là mười hai.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc25" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><i lang="pli" translate="no">Bhāradvāja</i> thọ trì thân cuối cùng,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Bodhi, <i lang="pli" translate="no">Mahānāma</i>, kể cả <i lang="pli" translate="no">Bhāradvāja</i></span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thượng thắng, có chóp tóc và đẹp trai,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tissa, Upatissa, Upasidari</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ðã đoạn hữu kiết sữ,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và Sidari, đã đoạn trừ tham ái.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc26" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ðức Phật tên Mangala,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với tham được đoạn trừ,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Usabha đã cắt lưới khổ căn</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Upanita, vị chứng an tịnh đạo.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc27" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Uposatha, Sundara, Saccanama,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Jeta, Jayanta, Paduma, Uppala và</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Padumuttara,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><i lang="pli" translate="no">Rakkhita</i> và Pabbata,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Manatthaddha, Sobhita, Vitaraga,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Và Ðức Phật <i lang="pli" translate="no">Kaṇha</i></span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với tâm được giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc28" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Những vị này, vị khác</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Là những bậc Ðộc Giác,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Những bậc Ðại Uy Lực,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ðã đoạn nguồn tái sanh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a id="sc29" class="sc"></a><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Hãy đảnh lễ chư vị,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ðại Ẩn sĩ vô lượng,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ðã thắng mọi chiến trận,</span><br />
<span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ðã đạt bát Niết-bàn.</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8212;-</span></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn &#8220;<a href="https://theravada.vn/category/kinh-dien-tam-tang/tang-kinh/trung-bo-iii/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8220;, <a href="https://theravada.vn/category/cac-tac-gia/ngai-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ngài Thích Minh Châu</a> Dịch Việt<br />
* Link tải sách ebook: &#8220;<a href="https://theravada.vn/book/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-hoa-thuong-thich-minh-chau-dich-viet/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Kinh Điển Tam Tạng &#8211; Tạng Kinh &#8211; Kinh Trung Bộ III</a>&#8221; ebook<br />
* Link thư mục ebook: <a href="https://theravada.vn/book-author/hoa-thuong-thich-minh-chau/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Sách Ngài Thích Minh Châu</a><br />
* Link tải app mobile: <a href="https://theravada.vn/app/" rel="nofollow noopener" target="_blank">Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda</a><span style="font-size: 14pt;"> </span></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
