<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>ĐẠI PHẨM I &#8211; Thiền Vipassana Do Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Phương Thuốc Chữa Bệnh Phiền Não Của Chúng Sinh</title>
	<atom:link href="https://thienvipassana.net/kinh-dien-tam-tang/tang-luat/dai-pham-i/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://thienvipassana.net</link>
	<description>Tổng Hợp Chia Sẻ Các Bài Pháp Về Thiền Vipassana (Thiền Tứ Niệm Xứ) Theo Phương Pháp Ngài Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Các Tài Liệu Dhamma, Trợ Duyên Ai Đó Hữu Duyên Được Vững Vàng Trên Con Đường Tu Tập Giải Thoát Khổ, Được An Lạc Thực Sự, Hoà Hợp Thực Sự, Hạnh Phúc Thực Sự. #vipassana #dhamma #goenka #thienvipassana #buddha #phatphap #phatgiao #thiền</description>
	<lastBuildDate>Sat, 02 May 2020 01:06:11 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9.4</generator>

<image>
	<url>https://thienvipassana.net/wp-content/uploads/2020/05/cropped-LOGO-PHÁP-BẢO-ORIGINAL-7-32x32.png</url>
	<title>ĐẠI PHẨM I &#8211; Thiền Vipassana Do Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Phương Thuốc Chữa Bệnh Phiền Não Của Chúng Sinh</title>
	<link>https://thienvipassana.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>ĐẠI PHẨM TẬP 1: MỤC LỤC &#038; LỜI NÓI ĐẦU</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-tap-i/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 00:00:52 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=7441</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm Tập 1 Mục Lục &#124; 01 &#124; I.  CHƯƠNG TRỌNG YẾU Tụng phẩm thứ nhất &#8211; Phần giảng]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: center;"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đại Phẩm Tập 1</span></strong></h2>
<h3 style="text-align: center;"></h3>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;">Mục Lục</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">| 01 |</span><br />
<strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">I.  CHƯƠNG TRỌNG YẾU</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng phẩm thứ nhất</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về sự Giác Ngộ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về (cội cây si của những) người chăn dê</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về cây Mucalinda</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về cây Rājāyatana</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về sự thỉnh cầu của vị Phạm Thiên</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về nhóm năm vị</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng phẩm thứ nhì</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về sự xuất gia</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Sự xuất gia của bốn người bạn tại gia</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về Ma Vương</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về sự xuất gia và sự tu lên bậc trên bằng ba sự đi đến nương nhờ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng thứ nhì về Ma Vương</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về những người bạn thuộc nhóm các vương tử</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng phẩm thứ ba</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về điều kỳ diệu ở Uruvelā</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng phẩm thứ tư</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về việc gặp đức vua Bimbisāra</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Sự xuất gia của Sāriputta và Moggallāna</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">| 02 |</span><br />
<strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng phẩm thứ năm</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phận sự đối với thầy tế độ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phận sự đối với đệ tử</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về những kẻ bị đuổi đi</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng phẩm thứ sáu</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phận sự đối với thầy dạy học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phận sự đối với học trò</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc đuổi đi &#8211; Việc xin lỗi</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về các vị ngu dốt thiếu kinh nghiệm</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng phẩm thứ bảy</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Sự đình chỉ việc nương nhờ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Nhóm năm của phần ‘Nên ban phép tu lên bậc trên’</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Nhóm sáu của phần ‘Nên ban phép tu lên bậc trên’</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về người trước đây theo ngoại đạo</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">| 03 |</span><br />
<strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng phẩm thứ tám</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về năm thứ bệnh</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về các binh sĩ của đức vua</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về kẻ cướp có mang chuỗi ngón tay</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về kẻ cướp phá ngục</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về kẻ cướp bị cáo thị tầm nã</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về kẻ bị phạt đánh bằng roi</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về kẻ bị phạt đóng dấu</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về kẻ thiếu nợ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về kẻ nô tỳ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về người thợ bạc bị sói đầu</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về thiếu niên Upāli</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về bịnh dịch hạch</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về (sa di) Kaṇṭaka</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về (hướng đi) bị tắt nghẽn</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về việc nương nhờ</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng phẩm thứ chín</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về Rāhula</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về các điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về hành phạt</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về sự ngăn cấm khi chưa hỏi ý trước</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về việc dụ dỗ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về (sa di) Kaṇṭaka</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về kẻ vô căn</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về loài thú</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về kẻ giết mẹ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về kẻ giết cha</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về kẻ giết A-la-hán</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về kẻ làm nhơ tỳ khưu ni</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về người lưỡng căn</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về người không có thầy tế độ, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Các câu chuyện về người không có bình bát, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Hai mươi trường hợp không nên cho tu lên bậc trên</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Ba mươi hai trường hợp không nên cho xuất gia: người bị đứt cánh tay, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng phẩm thứ mười</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Các câu chuyện về sự nương nhờ vị không có liêm sỉ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Bốn câu chuyện về (sống) không nương nhờ: vị xuất hành, v.v&#8230;  </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Sự cho phép đọc tuyên ngôn với tên của dòng họ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Hai người có ý muốn tu lên bậc trên</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc tu lên bậc trên của người hai mươi (tuổi) tính theo thai bào</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc hỏi các pháp chướng ngại đối với người có ý muốn tu lên bậc trên</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Bốn vật nương nhờ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Bốn điều không nên làm</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Các vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các câu kệ tóm lược</span></strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">| 04 |</span><br />
<strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">II. CHƯƠNG UPOSATHA</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng phẩm về các ngoại đạo</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về việc tụ hội vào ngày lễ Uposatha</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về sự thanh tịnh của vị Mahākappina</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc ấn định ranh giới</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc chỉ định nhà hành lễ Uposatha</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc hủy bỏ nhà hành lễ Uposatha</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc ấn định mặt tiền của chỗ hành lễ Uposatha</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc ấn định ranh giới không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc hủy bỏ ranh giới</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về các ranh giới: làng, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Hai lễ Uposatha</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Bốn hành sự Uposatha</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Năm cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha một cách tóm tắt</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Các trường hợp nguy hiểm đối với việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc hỏi về Luật</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc trả lời về Luật</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc buộc tội</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc phản đối hành sự sai Pháp</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Sự ngăn cấm việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở hội chúng có sự hiện diện của cư sĩ</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng Phẩm Codanāvatthu</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc thỉnh mời vị đọc tụng giới bổn Pātimokkha</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc học cách tính toán (ngày) của nửa tháng, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc thông báo về ngày lễ Uposatha</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Các việc làm trước</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về các vị lên đường đi xa, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc bày tỏ sự trong sạch</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc bày tỏ sự tùy thuận</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc nắm giữ của các thân quyến, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Sự đồng ý về bệnh điên</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Sự phân loại các lễ Uposatha: Lễ Uposatha của hội chúng, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc sửa chữa tội (đã phạm)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc sửa chữa tội đã phạm giống nhau</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng Phẩm thứ ba</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Mười lăm trường hợp vô tội</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Mười lăm trường hợp là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Mười lăm trường hợp có sự nghi ngờ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Mười lăm trường hợp đã bỏ qua sự ngần ngại</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Mười lăm trường hợp có dự tính chia rẽ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần tương tợ có liên quan đến các vị đi vào trong ranh giới</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc nhìn thấy sự biểu hiện, đặc điểm, v.v&#8230; của việc cư trú</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc tiến hành lễ Uposatha với các vị thuộc nhóm cộng trú khác, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Các trường hợp không nên đi</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Các trường hợp có thể đi</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Về sự hiện diện (ở lễ Uposatha) của những nhân vật cần phải tránh, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các câu kệ tóm lược</span></strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">| 05 |</span><br />
<strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">III. CHƯƠNG VÀO MÙA MƯA</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Hai thời điểm vào mùa (an cư) mưa</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Sự ngăn cấm việc ra đi trong mùa (an cư) mưa</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc dời lại mùa (an cư) mưa</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về công việc có thể giải quyết trong bảy ngày</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa khi có chướng ngại</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa khi có sự chia rẽ hội chúng</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc vào mùa (an cư) mưa ở khu rào gia súc, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Các nơi chốn không nên vào mùa (an cư) mưa</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Điều thỏa thuận không nên thực hiện</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Tội dukkaṭa ở sự nhận lời</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các câu kệ tóm lược</span></strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">| 06 |</span><br />
<strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">IV. CHƯƠNG PAVĀRAṆĀ</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng phẩm thứ nhất</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần giảng về việc cư ngụ thoải mái và không thoải mái, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Cách thức và việc cho phép về lễ Pavāraṇā</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Hai lễ Pavāraṇā</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Bốn hành sự Pavāraṇā</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc bày tỏ lời thỉnh cầu</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc bày tỏ sự tùy thuận</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc nắm giữ của các thân quyến, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Sự phân loại các lễ Pavāraṇā: Lễ Pavāraṇā của hội chúng, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc sửa chữa tội (đã phạm)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc bày tỏ về tội (đã phạm)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc sửa chữa tội đã phạm giống nhau</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng phẩm thứ nhì</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Mười lăm trường hợp vô tội</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Mười lăm trường hợp là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Mười lăm trường hợp có sự nghi ngờ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Mười lăm trường hợp đã bỏ qua sự ngần ngại</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Mười lăm trường hợp có dự tính chia rẽ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Phần tương tợ có liên quan đến các vị đi vào trong ranh giới</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Tính chất khác biệt về các ngày mười bốn, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc nhìn thấy sự biểu hiện, đặc điểm, v.v&#8230; của việc cư trú</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Lễ Pavāraṇā với các vị thuộc nhóm cộng trú khác, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Các trường hợp không nên đi</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Các trường hợp có thể đi</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Về sự hiện diện của những nhân vật cần phải tránh</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng phẩm thứ ba</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Sự thỉnh cầu hai lần đọc</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Các sự nguy hiểm đối với lễ Pavāraṇā</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc đình chỉ lễ Pavāraṇā</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về tội thullaccaya</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Sự đình chỉ vì sự việc</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về các vị thường gây nên sự xung đột</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Sự đạt đến trạng thái trú ngụ thoải mái</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc hoãn lại ngày lễ Pavāraṇā</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các câu kệ tóm lược</span></strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">| 07 |</span><br />
<strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">V. CHƯƠNG DA THÚ</span></strong></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về Soṇa Koḷivīsa</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc ngăn cấm các đôi dép loại hai lớp, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc ngăn cấm các đôi dép toàn màu xanh, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc cho phép các đôi dép loại nhiều lớp</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Sự ngăn cấm việc (mang) dép trong khuôn viên tu viện</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc ngăn cấm các đôi guốc, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc ngăn cấm (di chuyển bằng) xe</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc ngăn cấm chỗ nằm cao và chỗ nằm rộng lớn</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc ngăn cấm tất cả các loại da thú</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Việc cho phép về chỗ (ngồi) đã được làm sẵn bởi cư sĩ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Câu chuyện về vị Soṇa Kuṭikaṇṇa</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Sự cho phép việc tu lên bậc trên với nhóm có vị thứ năm rành rẽ về Luật ở các xứ thuộc vùng biên địa</span></p>
<p style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các câu kệ tóm lược</span></strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;"><strong>Lời giới thiệu</strong></span></h4>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mahāvagga (Đại Phẩm) và Cullavagga (Tiểu Phẩm) thuộc Vinayapiṭaka(Tạng Luật) gồm các vấn đề có liên quan với nhau đã được sắp xếp thành từng chương. Tên gọi chung cho hai phẩm này là Khandhaka (Chúng tôi tạm gọi tên là Bộ Hợp Phần; khandha có nghĩa là khối, nhóm, uẩn, &#8230; Tiếp vĩ ngữ -ka trong trường hợp này có ý nghĩa là thuộc về, có liên quan, &#8230;).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mahāvagga (Đại Phẩm) được chia làm mười chương, và được ấn tống thành hai tập:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mahāvagga 1 &amp; Đại Phẩm 1 (TTPV tập 04) gồm có 5 chương đầu, và</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mahāvagga 2 &amp; Đại Phẩm 2 (TTPV tập 05) gồm có 5 chương còn lại.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tóm lược nội dung các chương như sau:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">1. Chương 1 nói về sự khởi đầu của Giáo Pháp được tính từ lúc đức Thế Tôn chứng đắc quả Vô Thượng Chánh Đẳng Giác và bao gồm quá trình hình thành nghi thức cho xuất gia và tu lên bậc trên trở thành tỳ khưu cùng một số vấn đề liên quan đến việc huấn luyện các vị xuất gia.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">2. Chương 2 giảng giải về lễ Uposatha với nguyên nhân ban đầu là lời thỉnh cầu của đức vua Seniya Bimbisāra và nhiều vấn đề có liên quan đến việc tiến hành cuộc lễ như việc ấn định ranh giới (sīmā) và nhà hành lễ Uposatha, việc sám hối, việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha, v.v&#8230; Việc gìn giữ sự hợp nhất của hội chúng là điểm được nhấn mạnh ở chương này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">3. Chương 3 giảng giải về việc vào mùa (an cư) mưa. Tuy chỉ được ghi lại trong hai tụng phẩm nhưng nội dung của chương này trình bày những sự việc có liên quan đến  1/3 thời gian sống và tu tập của vị tỳ khưu. Chương này cần được xem xét kỹ lưỡng vì có những tư liệu mới chưa được trình bày trong các tài liệu về Luật đã được phổ biến.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">4. Chương 4 giảng giải về lễ Pavāraṇā tức là một trong những hình thức góp ý nhau về đời sống tu tập có liên quan đến giới luật. Hành sự của lễ Pavāraṇā tuy chỉ được tiến hành một lần trong năm sau ba tháng cư trú mùa mưa nhưng có tầm quan trọng tương đương với lễ Uposatha nhằm bảo tồn sự trong sạch đồng thời tính hợp nhất của hội chúng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">5. Chương 5 nói về da thú có liên quan đến đời sống của các vị tỳ khưu ví dụ như giày dép, v.v&#8230; Câu chuyện xuất gia của thanh niên Soṇa Koḷivisa ở đầu chương giới thiệu về sự nỗ lực tinh tấn của vị tỳ khưu trẻ tuổi này, dẫu rằng do chính sự tinh tấn quá mức này đã là chướng ngại cho sự đắc chứng của vị ấy nhưng cũng là một ví dụ để chúng ta thấy được động cơ tu tập của các vị xuất gia vào thời đức Phật còn tại tiền.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">6. Chương 6 nói về dược phẩm và các cách thức chữa bệnh. Chương này gồm có 4 tụng phẩm đề cập đến cách thức chữa trị một số bệnh thông thường, về một số quy định đã được áp dụng trong thời kỳ khó khăn về vật thực, về đức tin vững chắc của nữ cư sĩ Suppiyā, về vấn đề thọ dụng cá và thịt trong Phật Giáo, ngoài ra còn có câu chuyện về kỷ nữ Ambapālī và một số vấn đề khác vẫn còn có được sự ứng dụng thực tiễn trong thời hiện tại.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">7. Chương 7 giảng giải về lễ dâng y Kaṭhina. Đây là cuộc phước thí có tầm vóc quan trọng vì sự thành tựu của Kaṭhina không những có ảnh hưởng đến phước báu của người thí chủ mà còn có liên quan đến sự tu tập của các vị tỳ khưu. Sự giảng giải chi tiết với những sự việc tương phản của chương này có lẽ không ngoài mục đích trình bày một số điểm tế nhị cần đến sự chú tâm suy xét.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">8. Chương 8 là chương về Y Phục giảng giải về loại y và các vấn đề có liên quan về nhiều phương diện. Điểm thú vị ở chương này là tụng phẩm mở đầu với câu chuyện về thầy thuốc Jīvaka Komārabhacca và tài năng chữa bệnh của vị này, đáng ngạc nhiên là việc giải phẩu ở đầu và ở bụng đã được tiến hành vào thời gian cách đây hơn 2,500 năm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">9. Chương 9 được đặt tên theo một sự kiện xảy ra ở Campā nêu lên một tiền lệ không tốt đẹp về việc sử dụng sức mạnh tập thể để áp đặt hành phạt sai trái lên cá nhân. Thời bấy giờ còn có đức Phật là vị quan tòa để phân xử, trong thời hiện tại trách nhiệm xem xét lại sự việc được trao cho các hội chúng tỳ khưu ở những trú xứ khác nếu có sự thỉnh cầu. Các điều giảng giải trong chương này không ngoài việc trình bày khuôn mẫu trong việc tiến hành các hành sự, khả năng thực hiện của hội chúng đối với các loại hành sự khác nhau tùy thuộc vào số lượng tỳ khưu hiện diện, và một số nguyên tắc cần được áp dụng để bảo đảm tính chất đúng Pháp đúng Luật của hành sự. Các hành sự của hội chúng cùng với việc thâu hồi các hành sự ấy cũng được trình bày ở chương này gồm có: hành sự khiển trách, hành sự chỉ dạy, hành sự xua đuổi, hành sự hòa giải, và ba loại hành sự án treo.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">10. Chương thứ 10 nói về sự việc chia rẽ hội chúng ở Kosambī từ lúc khởi đầu đến hồi kết thúc. Mầm mống chia rẽ trong câu chuyện này chỉ là một sự tranh cãi về một điều Luật không quan trọng, từ sự xung đột cá nhân đã lan rộng đến tập thể và trở nên căng thẳng không những đưa đến ẩu đả giữa các tỳ khưu mà còn khiến cho đức Phật đã bỏ đi vào rừng sâu sống với sự phục vụ của voi và khỉ. Yếu tố đưa đến việc giải quyết sự chia rẽ này là hành động tẩy chay tích cực của các cư sĩ ở thành Kosambī, cuối cùng sự tranh tụng được giải quyết do sự phục thiện của vị tỳ khưu sai trái. Câu chuyện về hoàng tử Dīghāvu và nếp sống sinh hoạt của ba vị đại đức Anuruddha, Nandiya, Kimbila nhằm đề cao sự sống chung hòa ái và không thù hận lẫn nhau là yếu tố quan trọng cần được xây dựng và duy trì trong đời sống tập thể.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Về hình thức, văn bản Pāḷi Roman được trình bày ở đây đã được phiên âm lại từ văn bản Pāḷi &#8211; Sinhala, ấn bản Buddha Jayanti Tripitaka Seriescủa nước quốc giáo Sri Lanka. Nhân đây, chúng tôi cũng xin thành tâm tán dương công đức của Ven. Mettāvihārī đã hoan hỷ cho phép chúng tôi sử dụng văn bản đã được phiên âm sẵn đang phổ biến trên mạng internet. Điều này đã tiết kiệm cho chúng tôi nhiều thời gian và công sức trong việc nhận diện mặt chữ và đánh máy; tuy nhiên việc kiểm tra đối chiếu lại với văn bản chánh cũng đã chiếm khá nhiều thời gian.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Về phương diện dịch thuật và trình bày văn bản tiếng Việt, như đã trình bày ở tập Luật trước, chúng tôi giữ nguyên từ Pāli của một số thuật ngữ không dịch sang tiếng Việt ví dụ như tên các điều học pārājika, saṅghādisesa, hoặc tên của các nghi thức như là lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, v.v&#8230; Ngoài ra cũng có một số từ không tìm ra được nghĩa Việt như trường hợp tên các loại thảo mộc. Thêm vào đó, chúng tôi cũng đã sử dụng dạngchữ nghiêng cho một số câu hoặc đoạn văn nhằm gợi sự chú ý của người đọc về tầm quan trọng của ý nghĩa hoặc về tính chất thực dụng của chúng. Riêng về các câu kệ ngôn, chúng tôi đã ghi nghĩa Việt bằng văn xuôi nhằm diễn tả trọn vẹn ý nghĩa của văn bản gốc, và được trình bày bằng dạng chữin nghiêng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Về văn phong của lời dịch, chúng tôi chủ trương ghi lại lời tiếng Việt sát theo văn bản gốc và cố gắng không bỏ sót từ nào không dịch. Lời văn tiếng Việt của chúng tôi có chứa đựng những mấu chốt giúp cho những ai có ý thích nghiên cứu Pāḷi thấy ra được cấu trúc của loại ngôn ngữ này. Việc làm này của chúng tôi không hẳn đã được hoàn hảo, dẫu sao cũng là bước khởi đầu nhằm thúc đẩy phong trào nghiên cứu cổ ngữ Phật Học của người Việt Nam. Tuy nhiên, một số sai sót trong quá trình phiên dịch đương nhiên không thể tránh khỏi, chúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về trình độ yếu kém.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhân đây, chúng tôi cũng xin chân thành ghi nhận sự quan tâm chăm sóc trực tiếp hoặc gián tiếp đối với công tác phiên dịch của chúng tôi về phương diện vật thực bồi dưỡng và thuốc men chữa bệnh của các vị hữu ân sau: Hòa Thượng Pháp Nhẫn, Đại Đức Minh Hạnh, nhóm Phật tử California do Cô Phạm Thị Thi đại điện, gia đình Nguyễn văn Hiền &amp; Trần Hường, các Phật tử Phạm Thu Hương, Võ thị Châu, Hựu Huyền, Ngô Lý Vạn Ngọc. Công việc soạn thảo này được thông suốt, không bị gián đoạn, chính là nhờ có sự hỗ trợ cấp thời và quý báu của quý vị. Thành tâm cầu chúc quý vị luôn giữ vững niềm tin và thành tựu được nhiều kết quả trong công việc tu tập giải thoát và hộ trì Tam Bảo.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một điều thiếu sót lớn nếu không đề cập đến sự nhiệt tình giúp đỡ của Phật tử Tung Thiên cùng với hai người bạn là Đông Triều và Hiền đã sắp xếp thời gian để đọc qua bản thảo và đã đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc giúp cho chúng tôi tránh được một số điểm vụng về trong việc sử dụng từ ngữ tiếng Việt. Chúng tôi cũng xin thành tâm tùy hỷ và tán dương công đức của các thí chủ đã nhiệt tâm đóng góp tài chánh giúp cho Công Trình Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi &#8211; Việt được tồn tại và phát triến, mong sao phước báu Pháp thí này luôn dẫn dắt quý vị vào con đường tu tập đúng theo Chánh Pháp, thành tựu Chánh Trí, chứng ngộ Niết Bàn, không còn luân hồi sanh tử nữa.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhân đây, cũng xin thành kính tri ân công đức của Ven. Wattegama Dhammawasa, Sanghanāyaka ở Australia và cũng là Tu Viện Trưởng tu viện Sri Subodharama Buddhist Centre ở Peradeniya &#8211; Sri Lanka, đã cung cấp trú xứ cho chúng tôi ở Khu Ẩn Lâm Subodha, dưới chân núi Ambuluwawa, Gampola, cách thủ đô Colombo khoảng 150 cây số. Điều kiện yên tĩnh và khí hậu mát mẻ trong lành ở đây đã giúp cho chúng tôi rất nhiều trong việc chú tâm và kiên trì thực hiện bản soạn thảo của các tập Luật. Cũng không quên nhắc đến sự phục vụ và chăm sóc về mọi mặt, nhất là vật thực của hai vị cư sĩ người Sri Lanka là Gunavardhana và Dayānanda ở trú xứ này đã giúp cho chúng tôi có thể tập trung toàn thời gian cho công việc phiên dịch này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cuối cùng, ngưỡng mong phước báu phát sanh trong công việc soạn thảo tập Kinh này được thành tựu đến thầy tổ, song thân, và tất cả chúng sanh trong tam giới. Nguyện cho hết thảy đều được an vui, sức khỏe, có trí tuệ, và tinh tấn tu tập ngõ hầu thành đạt cứu cánh giải thoát, chấm dứt khổ đau.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Kính bút,</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khu Ẩn Lâm Subodha</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">ngày 02 tháng 06 năm 2009</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tỳ Khưu Indacanda (Trương Đình Dũng)</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> &#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;"><strong>Các từ chuyên môn</strong></span></h4>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một số từ chuyên môn cùng với các từ dịch nghĩa hoặc dịch âm bởi các dịch giả khác đã được trích lục và ghi lại dưới đây:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Pātimokkha: giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa, biệt biệt giải thoát giới.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Pārājika: tội bất cộng trụ, ba-la-di, triệt khai, ba-la-thị-ca, giới khí.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Saṅghādisesa: tội tội tăng tàn, tăng tàng, tăng-già-bà-thi-sa, tăng-già-phạt-thi-sa.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Aniyata: tội bất định.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Nissaggiya pācittiya: tội ưng xả đối trị, ni-tát-kỳ-ba-dật-đề, ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca, giới xả đọa.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Pācittiya: tội ưng đối trị, ba-dật-đề, ba-dật-để-ca, giới đọa.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Pāṭidesanīya: tội ưng phát lộ, ba-la-đề đề-xá-ni, ba-dạ-đề, ba-la-để-đề-xá-ni, giới hối quá.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Sekhiya dhamma: ưng học pháp, chúng-học-pháp, pháp chúng học, giới học.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Adhikaraṇa dhamma: pháp diệt tranh, pháp diệt-tránh, pháp điều giải.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Thullaccaya: trọng tội, tội thâu lan giá.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Dukkaṭa: tội tác ác, đột cát la.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Dubbhāsita: tội ác khẩu.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Parivāsa: phạt biệt trú.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Mānatta: hành tự hối.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Abbhāna: phục vị.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Uposatha: lễ Bố Tát.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Pavāraṇā: lễ Tự Tứ.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;"><strong>Các chữ viết tắt</strong></span></h4>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">VinA: Vinaya Aṭṭhakathā (Samantapāsādikā)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Chú Giải Tạng Luật (PTS)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">ND: Chú thích của Người Dịch</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">PTS: Nhà Xuất Bản Pali Text Society (Anh Quốc)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sđd: Sách đã dẫn</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">TTPV: Tam Tạng Pāḷi &#8211; Việt</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐẠI PHẨM I: CHƯƠNG TRỌNG YẾU &#8211; TỤNG PHẨM THỨ NHẤT</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-i-chuong-trong-yeu-tung-pham-thu-nhat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 00:05:01 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58451</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm I Chương Trọng Yếu Tụng Phẩm Thứ Nhất Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Uruvelā]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;">Đại Phẩm I</span></strong></h2>
<h3><span style="font-size: 14pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương Trọng Yếu</span></strong></span></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tụng Phẩm Thứ Nhất</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Uruvelā bên bờ sông Nerañjarā nơi cội cây bồ đề và vừa mới thành tựu quả vị Chánh Đẳng Giác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã ngồi với một tư thế kiết già ở cội cây bồ đề trong bảy ngày, hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy vào canh một của đêm, đức Thế Tôn đã suy nghiệm về sự sanh khởi tùy thuận theo điều kiện thuận chiều và nghịch chiều rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vô minh</i> duyên cho <i>các hành</i> (sanh khởi), <i>các hành</i> duyên cho <i>thức</i> (sanh khởi), <i>thức</i>duyên cho <i>danh sắc</i> (sanh khởi), <i>danh sắc</i> duyên cho <i>sáu</i> <i>xứ</i> (sanh khởi), <i>sáu xứ</i> duyên cho<i>xúc</i> (sanh khởi), <i>xúc</i> duyên cho <i>thọ</i> (sanh khởi), <i>thọ</i> duyên cho <i>ái</i> (sanh khởi), <i>ái</i> duyên cho<i>thủ</i> (sanh khởi), <i>thủ</i> duyên cho <i>hữu</i> (sanh khởi), <i>hữu</i> duyên cho <i>sanh</i> (sanh khởi), <i>sanh</i> duyên cho <i>lão</i>, <i>tử</i>, <i>sầu</i>, <i>bi</i>, <i>khổ</i>, <i>ưu</i>, <i>não</i> sanh khởi. Như thế là sự sanh khởi của toàn bộ khổ uẩn này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhưng chính do sự diệt tận của <i>vô minh</i> hoàn toàn không còn tham ái (đưa đến) sự diệt tận của <i>các hành</i>, do sự diệt tận của <i>các hành</i> (đưa đến) sự diệt tận của <i>thức</i>, do sự diệt tận của <i>thức</i> (đưa đến) sự diệt tận của <i>danh sắc</i>, do sự diệt tận của <i>danh sắc</i> (đưa đến) sự diệt tận của <i>sáu xứ</i>, do sự diệt tận của <i>sáu xứ</i> (đưa đến) sự diệt tận của <i>xúc</i>, do sự diệt tận của <i>xúc</i>(đưa đến) sự diệt tận của <i>thọ</i>, do sự diệt tận của <i>thọ</i> (đưa đến) sự diệt tận của <i>ái</i>, do sự diệt tận của <i>ái</i> (đưa đến) sự diệt tận của <i>thủ</i>, do sự diệt tận của <i>thủ </i>(đưa đến) sự diệt tận của <i>hữu</i>, do sự diệt tận của <i>hữu </i>(đưa đến) sự diệt tận của <i>sanh</i>, do sự diệt tận của <i>sanh </i>(đưa đến) <i>lão</i>, <i>tử</i>,<i>sầu</i>, <i>bi</i>, <i>khổ</i>, <i>ưu</i>, <i>não</i> được diệt tận. Như thế là sự diệt tận của toàn bộ khổ uẩn này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã hiểu được ý nghĩa sự việc ấy, rồi vào lúc ấy đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Quả vậy, khi các pháp hiện rõ đến vị Bà-la-môn tinh cần đang tham thiền thì tất cả điều nghi hoặc của vị ấy được rũ sạch, từ đó nhận biết rằng (mọi) việc là có nguyên nhân</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó vào canh giữa của đêm, đức Thế Tôn đã suy nghiệm về sự sanh khởi tùy thuận theo điều kiện thuận chiều và nghịch chiều rằng: “<i>Vô minh</i> duyên cho <i>các hành</i> (sanh khởi),<i>các hành</i> duyên cho <i>thức</i> (sanh khởi), <i>thức</i> duyên cho <i>danh sắc</i> (sanh khởi), <i>danh sắc</i> duyên cho <i>sáu xứ</i> (sanh khởi), —(như trên)— Như thế là sự sanh khởi của toàn bộ khổ uẩn này. —(như trên)— là sự diệt tận (của toàn bộ khổ uẩn này).”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã hiểu được ý nghĩa sự việc ấy, rồi chính vào lúc ấy đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Quả vậy, khi các pháp hiện rõ đến vị Bà-la-môn tinh cần đang tham thiền thì tất cả điều nghi hoặc của vị ấy được rũ sạch, từ đó đã hiểu được sự tiêu hoại của các duyên</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó vào canh cuối của đêm, đức Thế Tôn đã suy nghiệm về sự sanh khởi tùy thuận theo điều kiện thuận chiều và nghịch chiều rằng: “<i>Vô minh</i> duyên cho <i>các hành</i> (sanh khởi),<i>các hành</i> duyên cho <i>thức</i> (sanh khởi), <i>thức</i> duyên cho <i>danh sắc</i> (sanh khởi), <i>danh sắc</i> duyên cho <i>sáu xứ</i> (sanh khởi), —(như trên)— Như thế là sự sanh khởi của toàn bộ khổ uẩn này. —(như trên)— là sự diệt tận (của toàn bộ khổ uẩn này).”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã hiểu được ý nghĩa sự việc ấy, rồi vào lúc ấy đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Quả vậy, khi các pháp hiện rõ đến vị Bà-la-môn tinh cần đang tham thiền, trong khi đánh tan binh đội của Ma Vương, (vị ấy) hiển hiện tựa như ánh mặt trời đang rọi sáng không gian</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần giảng về sự Giác Ngộ</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó khi bảy ngày trôi qua, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định ấy rồi từ cội cây Bồ Đề đã đi đến cây si của những người chăn dê,[1] sau khi đến đã ngồi xuống với một tư thế kiết già ở cội cây si của những người chăn dê trong bảy ngày, hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, có vị Bà-la-môn nọ thuộc nhóm chuyên luyện về âm “hum, hum” đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên, vị Bà-la-môn ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Thưa ngài Gotama, (khả năng) đến đâu (mới gọi) là Bà-la-môn? Và việc trở thành Bà-la-môn có bao nhiêu điều kiện?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi hiểu được ý nghĩa sự việc ấy, rồi vào lúc ấy đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị Bà-la-môn nào có ác pháp đã được ngăn trừ, là vị không làm tiếng ‘hum hum,’ đã thoát khỏi điều ô nhiễm, có bản thân đã được thu thúc, là vị thông thạo các bộ Vệ Đà, sống theo đời Phạm hạnh, vị ấy có thể thuyết giảng một cách đúng đắn lời nói của Phạm Thiên, vị ấy không có khuyết điểm về bất cứ điều gì ở trên thế gian</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần giảng về (cội cây si của những) người chăn dê.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó khi bảy ngày trôi qua, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định ấy rồi từ cội cây si của những người chăn dê đã đi đến cây Mucalinda, sau khi đến đã ngồi xuống với một tư thế kiết già ở cội cây Mucalinda trong bảy ngày, hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có đám mây đen lớn sái mùa xuất hiện, có mưa tầm tã trong bảy ngày, có gió lạnh và đầy mây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, rồng chúa Mucalinda đã rời khỏi chỗ ngụ của mình dùng thân quấn quanh cơ thể của đức Thế Tôn bảy vòng và phồng lớn mang rồi duy trì ở phía trên đầu của đức Thế Tôn (nghĩ rằng): “Chớ để đức Thế Tôn bị lạnh, chớ để đức Thế Tôn bị nóng, chớ để đức Thế Tôn bị xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó khi bảy ngày trôi qua, rồng chúa Mucalinda sau khi biết rằng bầu trời đã trở nên trong sáng và mây đã tan nên đã nới lỏng thân khỏi cơ thể của đức Thế Tôn, rồi thay đổi hình dạng của chính bản thân và biến thành hình dạng của người thanh niên đứng ở phía trước đức Thế Tôn, tay chắp lại, bày tỏ thái độ cung kính đến đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã hiểu được ý nghĩa sự việc ấy, rồi vào lúc ấy đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Sự sống cách ly là an lạc đối với vị hoan hỷ, đối với vị có Pháp đã được nghe, đối với vị đang xem xét. Sự không oán hận, sự chế ngự đối với các chúng sanh có mạng sống là niềm hạnh phúc ở trên đời</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Việc xa lìa luyến ái, sự vượt qua các dục là niềm an lạc ở trên đời. Điều gì là sự thoát ra khỏi tựmãn về bản ngã, điều ấy chính là sự an lạc tối thượng</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần giảng về cây Mucalinda</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó khi bảy ngày trôi qua, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định ấy rồi từ cội cây Mucalinda đã đi đến cây Rājāyatana, sau khi đến đã ngồi xuống với một tư thế kiết già ở cội cây Rājāyatana trong bảy ngày, hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có các thương buôn Tapassu và Bhallika đang đi đường xa từ Ukkalā đến khu vực ấy. Khi ấy, vị Thiên thần là thân quyến cùng huyết thống của các thương buôn Tapassu và Bhallika đã nói với các thương buôn Tapassu và Bhallika điều này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Này các bác, đức Thế Tôn này đang ngự ở cội cây Rājāyatana là vị đầu tiên được hoàn toàn giác ngộ. Hãy đi và bày tỏ lòng thành kính đến đức Thế Tôn ấy với bánh bột gạo và mật viên. Điều ấy sẽ đem lại cho các bác sự lợi ích và sự an vui lâu dài.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các thương buôn Tapassu và Bhallika đã mang theo bánh bột gạo và mật viên đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên, các thương buôn Tapassu và Bhallika đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên của chúng tôi. Điều ấy sẽ đem lại cho chúng tôi sự lợi ích và sự an vui lâu dài.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Các đức Như Lai không thọ lãnh ở (hai) tay, vậy ta nên thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên bằng vật gì?” Khi ấy, bốn vị Đại Thiên Vương dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã dâng lên đức Thế Tôn bốn cái bình bát làm bằng đá từ ở bốn phương (nói rằng): &#8211; “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên ở đây.” Đức Thế Tôn đã thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên trong bình bát mới[2] làm bằng đá, và sau khi thọ lãnh đã thọ dụng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các thương buôn Tapassu và Bhallika đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, chúng con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn và Giáo Pháp. Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là các nam cư sĩ đã đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.” Và họ đã trở thành những nam cư sĩ đọc hai câu (nương nhờ)[3] đầu tiên ở thế gian.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần giảng về cây Rājāyatana.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó khi bảy ngày trôi qua, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định ấy rồi từ cội cây Rājāyatana đã đi đến cây si của những người chăn dê. Ở nơi ấy, đức Thế Tôn ngụ tại cội cây si của những người chăn dê.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, trong khi đức Thế Tôn đang thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Pháp này đã được ta chứng ngộ là (Pháp) thâm sâu, khó lĩnh hội, khó nhận thức, thanh tịnh, cao quý, vượt trên lý luận, tinh tế, nên được hiểu biết bởi các bậc trí. Tuy nhiên, chúng sanh này có sự thỏa thích trong ngũ dục, được thỏa thích trong ngũ dục, được vui sướng trong ngũ dục. Quả vậy, đối với chúng sanh có sự thỏa thích trong ngũ dục, được thỏa thích trong ngũ dục, được vui sướng trong ngũ dục thì vấn đề này khó lĩnh hội tức là tính chất của duyên và sự sanh khởi tùy thuận theo điều kiện. Còn có vấn đề này còn khó lĩnh hội hơn nữa tức là sự yên lặng của tất cả các Hành, sự dứt bỏ tất cả mầm mống của sự tái sanh, sự diệt tận ái, sự không còn dục tình, sự tịch diệt, Niết Bàn. Hơn nữa, nếu ta thuyết giảng Giáo Pháp và những người khác không thể hiểu được ta, điều ấy sẽ đem lại sự mệt mỏi cho ta, điều ấy sẽ đem lại sự phiền toái cho ta.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rồi những lời kệ kỳ diệu này chưa từng được nghe trước đây trong thời quá khứ đã hiện khởi đến đức Thế Tôn:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>(Pháp này) đã được ta chứng đắc một cách khó khăn, giờ đây khỏi phải thuyết giảng. Pháp này không dễ dàng được hiểu thấu đáo bởi những kẻ chìm đắm trong ái dục và sân hận</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>(Pháp này) đi ngược giòng (đời), tinh tế, thâm sâu, khó lĩnh hội, vi diệu, những kẻ thỏa thích ái dục, bị che phủ bới tăm tối dày đặc, không thể nhận thức được</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi đắn đo cân nhắc như thế ấy, tâm của đức Thế Tôn thiên về (khuynh hướng) không ra sức nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp. Khi ấy, vị Phạm Thiên Sahampati dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã khởi ý điều này: “Như thế này thì thế gian bị tiêu diệt! Như thế này thì thế gian bị hủy hoại! Bởi vì tâm của đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri thiên về (khuynh hướng) không ra sức nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, cũng giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tự như thế vị Phạm Thiên Sahampati đã biến mất ở cõi Phạm Thiên và hiện ra ở phía trước đức Thế Tôn. Khi ấy, Phạm Thiên Sahampati đã đắp thượng y một bên vai, quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, rồi chắp tay hướng về đức Thế Tôn và đã nói điều này: &#8211; “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy thuyết giảng Giáo Pháp, xin đấng Thiện Thệ hãy thuyết giảng Giáo Pháp. Có những hạng người sanh lên có tầm nhìn ít bị vấy bụi sẽ là những người hiểu được Giáo Pháp, (nhưng) do việc không nghe Giáo Pháp sẽ bị tha hóa.” Phạm Thiên Sahampati đã nói điều ấy, sau khi nói điều ấy còn nói thêm điều khác nữa:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Trước đây ở trong xứ Magadha đã xuất hiện pháp không thanh tịnh được nghĩ ra bởi những người có sự ô nhiễm. Xin Ngài hãy mở ra cánh cửa Bất Tử này. Hãy (để cho chúng sanh) lắng nghe Giáo Pháp đã được chứng ngộ bởi bậc vô nhiễm.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Như người đứng trên tảng đá ở đỉnh đầu của ngọn núi, cũng giống như người nhìn xem nhân loại ở chung quanh, hỡi bậc trí, tương tự như thế ấy Ngài hãy bước lên tòa lâu đài được xây bằng Giáo Pháp. Hỡi bậc thông hiểu rộng, là bậc đã thoát khỏi buồn đau, xin Ngài hãy nhìn xuống xem nhân loại bị đắm chìm trong sầu khổ, bị hành hạ bởi sự sanh và sự già.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Hỡi vị anh hùng, người đã chiến thắng trận đấu, xin Ngài hãy đứng lên. Hỡi người hướng dẫn đoàn xe, vị không vướng nợ nần, xin Ngài hãy du hành ở thế gian. Xin đức Thế Tôn hãy thuyết giảng Giáo Pháp, sẽ có nhiều người hiểu được</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, sau khi hiểu được yêu cầu của vị Phạm Thiên, đức Thế Tôn thuận theo lòng thương tưởng chúng sanh đã dùng Phật nhãn quán xét thế gian. Trong khi dùng Phật nhãn quán xét thế gian, đức Thế Tôn đã nhìn thấy những chúng sanh có tầm nhìn bị vấy bụi ít và có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều, có giác quan sắc sảo và có giác quan cùn lụt, có tánh khí tốt và có tánh khí tồi, có thể hiểu được một cách nhanh chóng và có thể hiểu được một cách khó khăn, (và nhìn thấy) một số chúng sanh đang sống có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi trong tội lỗi và (sự tái sanh vào) những đời sống khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cũng giống như ở hồ sen xanh hoặc ở hồ sen hồng hoặc ở hồ sen trắng, có một số sen xanh, hoặc sen hồng, hoặc sen trắng được sanh ra ở trong nước, được phát triển ở trong nước, không vươn ra khỏi nước, và được nuôi dưỡng chìm ở bên trong (nước); có một số sen xanh, hoặc sen hồng, hoặc sen trắng được sanh ra ở trong nước, được phát triển ở trong nước, sống ngang bằng mặt nước; và có một số sen xanh, hoặc sen hồng, hoặc sen trắng được sanh ra ở trong nước, được phát triển ở trong nước, vươn lên khỏi nước, và tồn tại không bị thấm nước; tương tự như thế, đức Thế Tôn trong khi dùng Phật nhãn quán xét thế gian đã nhìn thấy những chúng sanh có tầm nhìn bị vấy bụi ít và có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều, có giác quan sắc sảo và có giác quan cùn lụt, có tánh khí tốt và có tánh khí tồi, có thể hiểu được một cách nhanh chóng và có thể hiểu được một cách khó khăn, (và nhìn thấy) một số chúng sanh đang sống có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi trong tội lỗi và (sự tái sanh vào) những đời sống khác; sau khi nhìn thấy đã nói với vị Phạm Thiên Sahampati bằng bài kệ này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Các cánh cửa Bất Tử đã được mở ra cho những người có sự lắng nghe. Hãy khiến chúng từ bỏ tà tín. Này Phạm Thiên, với suy nghĩ về việc tổn hại, ta đã không thuyết giảng Pháp cao quý tuyệt vời cho nhân loại</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, vị Phạm Thiên Sahampati (nghĩ rằng): “Ta đã tạo ra cơ hội cho đức Thế Tôn thuyết giảng Giáo Pháp” nên đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, và đã biến mất ngay tại chỗ ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần giảng về sự thỉnh cầu của vị Phạm Thiên</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Ta nên thuyết giảng Giáo Pháp đến ai trước tiên? Ai sẽ hiểu được Giáo Pháp này một cách thật nhanh chóng?” Khi ấy, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Vị Āḷāra Kālāma này là vị sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, đã lâu nay có bản thể bị ít ô nhiễm, hay là ta nên thuyết giảng Giáo Pháp đến Āḷāra Kālāma trước tiên? Vị ấy sẽ hiểu được Giáo Pháp này một cách thật nhanh chóng.” Khi ấy, có vị Thiên thần không hiện hình đã thông báo đến đức Thế Tôn rằng: &#8211; “Bạch ngài, vị Āḷāra Kālāma đã từ trần được bảy ngày rồi.” Và trí của đức Thế Tôn cũng đã khởi lên rằng: “Vị Āḷāra Kālāma đã từ trần được bảy ngày rồi.” Khi ấy, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Vị Āḷāra Kālāma thuộc hạng người cao cả, bởi vì nếu nghe được Giáo Pháp này vị ấy có thể hiểu được một cách thật nhanh chóng.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Ta nên thuyết giảng Giáo Pháp đến ai trước tiên? Ai sẽ hiểu được Giáo Pháp này một cách thật nhanh chóng?” Khi ấy, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Vị Uddaka Rāmaputta này là vị sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, đã lâu nay có bản thể bị ít ô nhiễm, hay là ta nên nên thuyết giảng Giáo Pháp đến Uddaka Rāmaputta trước tiên? Vị ấy sẽ hiểu được Giáo Pháp này một cách thật nhanh chóng.” Khi ấy, có vị Thiên thần không hiện hình đã thông báo đến đức Thế Tôn rằng: &#8211; “Bạch ngài, vị Uddaka Rāmaputta đã từ trần vào đêm qua.” Và trí của đức Thế Tôn cũng đã khởi lên rằng: “Vị Uddaka Rāmaputta đã từ trần vào đêm qua.” Khi ấy, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Vị Uddaka Rāmaputta thuộc hạng người cao cả, bởi vì nếu nghe được Giáo Pháp này vị ấy có thể hiểu được một cách thật nhanh chóng.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Ta nên thuyết giảng Giáo Pháp đến ai trước tiên? Ai sẽ hiểu được Giáo Pháp này một cách thật nhanh chóng?” Khi ấy, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Các tỳ khưu nhóm năm vị có nhiều công đức đối với ta, các vị này đã phục vụ ta trong khi bản thân ta nỗ lực tinh tấn,[4] hay là ta nên nên thuyết giảng Giáo Pháp đến các tỳ khưu nhóm năm vị trước tiên?” Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Giờ đây, các tỳ khưu nhóm năm vị này trú ngụ ở nơi nào?” Với Thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, đức Thế Tôn đã nhìn thấy các tỳ khưu nhóm năm vị đang trú ngụ tại thành Bārāṇasī, ở Isipatana, nơi vườn nai. Sau đó, khi đã ngự tại Uruvelā theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Bārāṇasī.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đạo sĩ lõa thể Upaka đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang đi đường xa ở khoảng giữa Gayā và cội Bồ Đề, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Này đạo hữu, các giác quan của đạo hữu được trầm tĩnh, màu da được thanh tịnh và trong sáng. Này đạo hữu, vì ai mà đạo hữu đã xuất gia? Ai là thầy của đạo hữu? Đạo hữu ưa thích pháp của vị nào?” Khi được nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ lõa thể Upaka bằng những lời kệ này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “<i>Ta là bậc vượt trên tất cả, là người hiểu biết toàn bộ, không còn bị vướng mắc trong tất cả các Pháp, đã dứt bỏ tất cả, đã được giải thoát trong việc đoạn tận tham ái, sau khi tự mình chứng đắc thì ai có thể chỉ dạy (được ta)?</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy, trong thế gian luôn cả cõi trời, không có ai là đối thủ của ta</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bởi vì ta là bậc A-la-hán, bậc Vô Thượng Sư, ở trên đời. Chỉ mình ta là bậc Chánh Đẳng Giác, ta có được trạng thái mát mẻ, Niết Bàn</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ta đi đến thành Kāsī để chuyển vận bánh xe Giáo Pháp. Ta sẽ đánh lên tiếng trống Bất Tử ở thế gian đang bị tối tăm</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “<i>Này đạo hữu, theo như đạo hữu cho biết thì đạo hữu xứng đáng là bậc Chiến Thắng vô biên</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Đức Phật đáp lại rằng):</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “<i>Này Upaka, quả vậy tương đương với ta là các các bậc Chiến Thắng đã đạt đến việc đoạn tận các lậu hoặc. Ta đã chiến thắng các ác pháp vì thế ta là bậc Jina</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi được nói như thế, đạo sĩ lõa thể Upaka đã nói rằng: &#8211; “Này đạo hữu, có thể là như vậy.” Rồi đã gục gặc cái đầu, rẽ sang con đường khác, và bỏ đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến thành Bārāṇasī, Isipatana, nơi vườn nai và đã đi đến gặp các tỳ khưu nhóm năm vị. Các tỳ khưu nhóm năm vị đã nhìn thấy đức Thế Tôn từ đằng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy các vị đã bàn bạc với nhau rằng: &#8211; “Này các vị, Sa-môn Gotama ấy đang đi đến. Ông ta là kẻ lợi dưỡng, bỏ dở dang việc nỗ lực và đã quay trở lại cuộc sống sung túc. Ông ta không đáng để đảnh lễ, không đáng để đứng dậy chào, y bát của ông ta không đáng để đón nhận; tuy nhiên, chỗ ngồi nên được xếp đặt, nếu ông ta muốn thì ông ta cứ việc ngồi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhưng khi đức Thế Tôn càng đi đến gần các tỳ khưu nhóm năm vị thì các tỳ khưu nhóm năm vị ấy đã không thể tuân theo điều bàn bạc của họ nữa. Trong khi không tuân theo, họ đã đi ra tiếp đón đức Thế Tôn, một vị đã nhận lấy y bát của đức Thế Tôn, một vị đã sắp đặt chỗ ngồi, một vị đã đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã rửa hai chân. Tuy nhiên, các vị vẫn xưng hô với đức Thế Tôn bằng tên và bằng tiếng gọi “Đạo hữu.” Khi được gọi như thế, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị điều này: &#8211; “Này các tỳ khưu, chớ xưng hô với Như Lai bằng tên và bằng tiếng gọi “Đạo hữu.” Này các tỳ khưu, Như Lai là vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe, ta sẽ chỉ dạy pháp Bất Tử đã đạt được, ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi thực hành theo như đã được chỉ dạy thì chẳng bao lâu sau ngay trong kiếp hiện tại này, các vị nhờ vào thắng trí của mình sẽ thực chứng, đạt đến, và an trú vào điểm tối thượng ấy là đích cuối cùng của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà xuất gia một cách chân chánh sống không nhà.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi được nói như thế, các tỳ khưu nhóm năm vị đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Này đạo hữu Gotama, thậm chí với hạnh kiểm ấy, bằng sự thực hành ấy, bằng việc theo đuổi khổ hạnh ấy còn không đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc Thánh, còn giờ đây là kẻ lợi dưỡng, bỏ dở dang việc nỗ lực, và đã quay trở lại cuộc sống sung túc, làm thế nào đạo hữu lại đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc Thánh?” Khi được nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị điều này: &#8211; “Này các tỳ khưu, Như Lai không phải là kẻ lợi dưỡng, không bỏ dở dang việc nỗ lực, và đã không quay trở lại cuộc sống sung túc. Này các tỳ khưu, Như Lai là vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe, ta sẽ chỉ dạy pháp Bất Tử đã đạt được, ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi thực hành theo như đã được chỉ dạy thì chẳng bao lâu sau ngay trong kiếp hiện tại này, các vị nhờ vào thắng trí của mình sẽ thực chứng, đạt đến, và an trú vào điểm tối thượng ấy là đích cuối cùng của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà xuất gia một cách chân chánh sống không nhà.” Đến lần thứ nhì, các tỳ khưu nhóm năm vị đã nói với đức Thế Tôn điều này: ―(như trên)― Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị điều này: ―(như trên)― Đến lần thứ ba, các tỳ khưu nhóm năm vị đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Này đạo hữu Gotama, thậm chí với hạnh kiểm ấy, bằng sự thực hành ấy, bằng việc theo đuổi khổ hạnh ấy còn không đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc Thánh, còn giờ đây là kẻ lợi dưỡng, bỏ dở dang việc nỗ lực, và đã quay trở lại cuộc sống sung túc, làm thế nào đạo hữu lại đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc Thánh?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi được nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, các vị có nhận ra rằng điều này đã không được ta nói ra như vầy trước đây hay không?” &#8211; “Bạch ngài, điều này đúng là không có (được nói).”[5] &#8211; “Này các tỳ khưu, Như Lai là vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe, ta sẽ chỉ dạy pháp Bất Tử đã đạt được, ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi thực hành theo như đã được chỉ dạy thì chẳng bao lâu sau ngay trong kiếp hiện tại này, các vị nhờ vào thắng trí của mình sẽ thực chứng, đạt đến, và an trú vào điểm tối thượng ấy là đích cuối cùng của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà xuất gia một cách chân chánh sống không nhà.” Đức Thế Tôn đã có thể thuyết phục các tỳ khưu nhóm năm vị. Sau đó, các tỳ khưu nhóm năm vị đã lắng nghe đức Thế Tôn, đã lắng tai, đã thiết lập tâm hướng đến trí chứng ngộ. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu nhóm năm vị rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, đây là hai cực đoan mà bậc xuất gia không nên thực hành: Đây là sự say đắm về dục lạc trong các dục, kém cỏi, thô thiển, tầm thường, không cao thượng, không đem lại lợi ích, và đây là sự gắn bó với việc hành hạ bản thân, đau khổ, không cao thượng, không đem lại lợi ích. Này các tỳ khưu, sau khi không tiếp cận cả hai cực đoan ấy, lối thực hành trung đạo đã được Như Lai tự mình giác ngộ khiến cho mắt được thấy, khiến cho trí được sáng,[6] dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ, Niết Bàn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, lối thực hành trung đạo ấy đã được Như Lai tự mình giác ngộ khiến cho mắt được thấy, khiến cho trí được sáng, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ, Niết Bàn là thế nào? Đó chính là Thánh Đạo tám chi phần tức là sự hiểu biết chân chánh, suy nghĩ chân chánh, lời nói chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, nuôi mạng chân chánh, tinh tấn chân chánh, ghi nhớ chân chánh, định tâm chân chánh.[7] Này các tỳ khưu, lối thực hành trung đạo ấy đã được Như Lai tự mình giác ngộ khiến cho mắt được thấy, khiến cho trí được sáng, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ, Niết Bàn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Khổ: Sanh cũng là khổ, già cũng là khổ, bệnh cũng là khổ, chết cũng là khổ, sự gắn bó với những gì không ưa thích cũng là khổ, sự chia lìa với những gì ưa thích cũng là khổ, không đạt được điều ước muốn cũng là khổ, một cách tóm tắt năm thủ uẩn là khổ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là Chân Lý Cao Thượng tức là Nguyên Nhân của Khổ. Điều ấy chính là Ái đưa đến tái sanh, liên kết với khoái lạc và say đắm, có sự thỏa thích ở nơi này nơi khác tức là: Dục Ái, Hữu Ái, Phi Hữu Ái.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Diệt Khổ. Điều ấy là sự dứt bỏ, sự dứt ra khỏi, sự giải thoát, sự không còn chỗ nương tựa, sự diệt tận và dứt bỏ lòng say đắm không còn dư sót của chính Ái ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Thực Hành theo Con Đường đưa đến sự Diệt Khổ. Đó chính là Thánh Đạo tám chi phần tức là sự hiểu biết chân chánh, suy nghĩ chân chánh, ―(như trên)― định tâm chân chánh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “<i>Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Khổ</i>.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được ―(như trên)― “<i>Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Khổ cần được hiểu rõ</i>.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “―(như trên)― <i>đã được hiểu rõ</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “<i>Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là Nguyên Nhân của Khổ</i>.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được ―(như trên)― “<i>Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là Nguyên Nhân của Khổ cần được dứt bỏ</i>.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “―(như trên)― <i>đã được dứt bỏ</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “<i>Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Diệt Khổ</i>.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được ―(như trên)― “<i>Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Diệt Khổ cần được chứng ngộ</i>.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, ―(như trên)― ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “―(như trên)― <i>đã được chứng ngộ</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, ―(như trên)― ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “<i>Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Thực Hành theo Con Đường đưa đến sự Diệt Khổ</i>.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được ―(như trên)― “<i>Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Thực Hành theo Con Đường đưa đến sự Diệt Khổ cần được tu tập</i>.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “―(như trên)― <i>đã được tu tập</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, và cho đến khi nào tri kiến thấy đúng thực chất của ta về ba Luân (vòng xoay) và mười hai Thể (tính chất) về Bốn Chân Lý Cao Thượng này chưa được thực sự thanh tịnh; này các tỳ khưu, cho đến khi ấy ta chưa công bố: “Ta đã hoàn toàn giác ngộ” về vô thượng Chánh Đẳng Giác ở trong thế gian tính luôn cõi của chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, các hạng chư Thiên và loài người.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, bởi vì tri kiến thấy đúng thực chất của ta về ba Luân và mười hai Thể ở Bốn Chân Lý Cao Thượng này đã được thực sự thanh tịnh; này các tỳ khưu, khi ấy ta đã công bố: “Ta đã hoàn toàn giác ngộ” về vô thượng Chánh Đẳng Giác ở trong thế gian tính luôn cõi của chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, các hạng chư Thiên và loài người. Hơn nữa, trí tuệ và sự thấy biết của ta đã sanh khởi: “Sự giải thoát tâm của ta là không thể thay đổi, đây là lần sanh cuối cùng, giờ đây không còn tái sanh nữa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hơn nữa, trong khi bài kinh này được thuyết giảng, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến đại đức Koṇḍañña: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hơn thế nữa, khi bánh xe Pháp được chuyển vận bởi đức Thế Tôn, chư Thiên ở địa cầu đã đồn đãi lời rằng: “Bánh xe Pháp vô thượng ấy đã được đức Thế Tôn chuyển vận ở Bārāṇasī, tại Isipatana, nơi vườn nai không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên nhân, Ma Vương, Phạm Thiên, hoặc bất cứ ai ở trên đời.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi nghe được tiếng đồn của chư Thiên ở địa cầu, chư Thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương đã đồn đãi lời rằng: ―(như trên)― Sau khi nghe được tiếng đồn của chư Thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương, chư Thiên ở cõi Đạo Lợi đã đồn đãi lời rằng: ―(như trên)― chư Thiên ở cõi Dạ Ma ―(như trên)― chư Thiên ở cõi Đẩu Suất ―(như trên)― chư Thiên ở cõi Hóa Lạc Thiên ―(như trên)― chư Thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại ―(như trên)― chư Thiên thuộc hàng Phạm Thiên đã đồn đãi lời rằng: “Bánh xe Pháp vô thượng ấy đã được đức Thế Tôn chuyển vận ở Bārāṇasī, tại Isipatana, nơi vườn nai không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên nhân, Ma Vương, Phạm Thiên, hoặc bất cứ ai ở trên đời.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào thời khắc ấy, vào giây phút ấy, lời đồn đãi ấy đã đi đến các cõi trời Phạm Thiên. Và mười ngàn thế giới này đã bị lay chuyển, rung động, chấn động. Và ánh sáng tuyệt vời không thể đo lường đã hiện ra ở thế gian, vượt quá năng lực siêu phàm của chư Thiên. Khi ấy, đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng rằng: “Koṇḍañña đã hiểu được! Koṇḍañña đã hiểu được!” Bởi thế, chính từ “Aññākoṇḍañña”[8] này đã trở thành tên gọi của đại đức Koṇḍañña.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, đại đức Aññākoṇḍañña đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng: &#8211; “Này tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của đại đức ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn đã giáo huấn, đã chỉ dạy các vị tỳ khưu còn lại bằng bài Pháp thoại. Khi ấy, trong lúc được giáo huấn, được chỉ dạy bởi đức Thế Tôn bằng bài Pháp thoại, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến đại đức Vappa và đại đức Bhaddiya: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, các vị ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các đại đức ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, với bữa ăn đã được mang lại, đức Thế Tôn đã giáo huấn, đã chỉ dạy các vị tỳ khưu còn lại bằng bài Pháp thoại. Nhóm sáu vị sống bằng vật mà ba vị tỳ khưu đi khất thực và mang về.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, trong lúc được giáo huấn, được chỉ dạy bởi đức Thế Tôn bằng bài Pháp thoại, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến đại đức Mahānāma và đại đức Assaji: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, các vị ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các đại đức ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu nhóm năm vị rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, Sắc là Vô Ngã.[9] Này các tỳ khưu, bởi vì nếu Sắc này là Ngã thì Sắc này không thể đi đến bệnh hoạn và có thể đạt được ở Sắc (theo ý muốn) rằng: “Sắc của ta hãy là như vầy, Sắc của ta đừng trở thành như vầy.” Này các tỳ khưu, chính vì Sắc là Vô Ngã do đó Sắc đi đến bệnh hoạn và không thể đạt được ở Sắc (theo ý muốn) rằng: “Sắc của ta hãy là như vầy, Sắc của ta đừng trở thành như vầy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, Thọ là Vô Ngã. Này các tỳ khưu, bởi vì nếu Thọ này là Ngã thì Thọ này không thể đi đến bệnh hoạn và có thể đạt được ở Thọ (theo ý muốn) rằng: “Thọ của ta hãy là như vầy, Thọ của ta đừng trở thành như vầy.” Này các tỳ khưu, chính vì Thọ là Vô Ngã do đó Thọ đi đến bệnh hoạn và không thể đạt được ở Thọ (theo ý muốn) rằng: “Thọ của ta hãy là như vầy, Thọ của ta đừng trở thành như vầy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, Tưởng là Vô Ngã. ―(như trên)― Này các tỳ khưu, các Hành là Vô Ngã. Này các tỳ khưu, bởi vì nếu các Hành này là Ngã thì các Hành này không thể đi đến bệnh hoạn và có thể đạt được ở các Hành (theo ý muốn) rằng: “Các Hành của ta hãy là như vầy, các Hành của ta đừng trở thành như vầy.” Này các tỳ khưu, chính vì các Hành là Vô Ngã do đó các Hành đi đến bệnh hoạn và không thể đạt được ở các Hành (theo ý muốn) rằng: “Các Hành của ta hãy là như vầy, các Hành của ta đừng trở thành như vầy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, Thức là Vô Ngã. Này các tỳ khưu, bởi vì nếu Thức này là Ngã thì Thức này không thể đi đến bệnh hoạn và có thể đạt được ở Thức (theo ý muốn) rằng: “Thức của ta hãy là như vầy, Thức của ta đừng trở thành như vầy.” Này các tỳ khưu, chính vì Thức là Vô Ngã do đó Thức đi đến bệnh hoạn và không thể đạt được ở Thức (theo ý muốn) rằng: “Thức của ta hãy là như vầy, Thức của ta đừng trở thành như vầy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Này các tỳ khưu, các vị nghĩ gì về Sắc ấy, là thường hay vô thường?” &#8211; “Bạch ngài, là vô thường.” &#8211; “Vậy cái gì (đã) là vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?” &#8211; “Bạch ngài, là khổ.” &#8211; “Vậy cái gì (đã) là vô thường, khổ, có trạng thái thay đổi, có phải là hợp lý khi quán xét về cái ấy rằng: “Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta”?” &#8211; “Bạch ngài, điều ấy không (hợp lý).” &#8211; “Này các tỳ khưu, Thọ ―(như trên)― Tưởng ―(như trên)― các Hành ―(như trên)― Thức là thường hay vô thường?” &#8211; “Bạch ngài, là vô thường.” &#8211; “Vậy cái gì (đã) là vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?” &#8211; “Bạch ngài, là khổ.” &#8211; Vậy cái gì (đã) là vô thường, khổ, có trạng thái thay đổi, có phải là hợp lý khi quán xét về cái ấy rằng: “Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta”? &#8211; “Bạch ngài, điều ấy không hợp lý.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, như thế trong trường hợp này, bất cứ Sắc nào thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, là trong thân, hay ngoài thân, hay thô kệch, hay vi tế, hay kém cỏi, hay cao quý, hay ở xa, hay ở gần, nên thấy được toàn bộ Sắc ấy đúng như bản chất thật sự bằng trí tuệ chân chánh (như vầy): “Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.” Bất cứ Thọ nào ―(như trên)― bất cứ Tưởng nào ―(như trên)― bất cứ các Hành nào ―(như trên)― bất cứ Thức nào thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, là trong thân, hay ngoài thân, hay thô kệch, hay vi tế, hay kém cỏi, hay cao quý, hay ở xa hay ở gần, nên thấy được toàn bộ Thức ấy đúng như bản chất thật sự bằng trí tuệ chân chánh (như vầy): “Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trong khi thấy được như thế, vị Thánh đệ tử có sự học hỏi không còn hứng thú trong Sắc, không còn hứng thú trong Thọ, không còn hứng thú trong Tưởng, không còn hứng thú trong các Hành, không còn hứng thú trong Thức; trong khi không còn hứng thú, vị ấy không còn say đắm; do không còn say đắm vị ấy được giải thoát; trong khi được giải thoát, trí khởi lên rằng: “Đã được giải thoát.” Vị ấy biết được rằng: “Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Thế Tôn đã giảng về điều ấy. Các tỳ khưu nhóm năm vị đã vô cùng hoan hỷ với lời dạy của đức Thế Tôn. Hơn thế nữa, trong khi bài kinh này được thuyết giảng, các tâm của các tỳ khưu nhóm năm vị đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có sáu vị A-la-hán.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tụng phẩm thứ nhất</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] <i>Ajapālanigrodha</i>: Bản dịch tiếng Anh của Rhys Davids and Hermann Oldenberg dẫn chứng tài liệu và giải thích rằng: 1/ Các người chăn dê dùng bóng mát của cây si (<i>nigrodha</i>) để nghỉ ngơi nên được gọi là cây si của những người chăn dê. 2/ Cây si đã được một đứa bé chăn dê trồng trong thời gian Bồ-tát Siddhattha hành khổ hạnh sáu năm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng đức Phật đã chú nguyện thành một bình bát mới từ bốn bình bát bằng đá ấy (VinA. v, 960).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Nghĩa là đi đến nương nhờ đức Thế Tôn và đi đến nương nhờ Giáo Pháp, vì Hội Chúng tỳ khưu vào lúc bấy giờ chưa được hình thành (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Đức Thế Tôn đề cập đến sự phục vụ của năm vị này trong thời gian Ngài hành khổ hạnh sáu năm. Điểm cần lưu ý là đức Thế Tôn dùng từ “<em>bhikkhu</em>” dịch là “<em>tỳ khưu</em>” để gọi năm vị này dầu các vị chưa trở thành đệ tử và chưa tu tập theo Giáo Pháp của Ngài (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Lúc này năm vị không gọi đức Phật là <i>āvuso</i> nữa mà gọi là <i>bhante</i>, tỏ ý tôn trọng (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Dịch sát nghĩa sẽ là “có sự tạo ra con mắt, có sự tạo ra trí tuệ” (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Nói cho gọn hơn là Bát Chánh Đạo gồm có: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh cần, chánh niệm, chánh định (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] “<em>Aññākoṇḍañña</em>” = <em>Aññā </em>+<em> koṇḍañña </em>nghĩa là Koṇḍañña đã hiểu. <strong><em>Aññā</em></strong> được trích từ lời nói của đức Phật là: “<strong><em>Aññāsi</em></strong><em> vata bho Koṇḍañño. <strong>Aññāsi</strong> vata bho Koṇḍañño</em>” rồi ghép vào phía trước tên Koṇḍañña (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Tốt hơn nên dịch là: ‘Sắc không phải là Ngã’ hoặc ‘Sắc không phải là Ta’ (ND).</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐẠI PHẨM I: CHƯƠNG TRỌNG YẾU &#8211; TỤNG PHẨM THỨ NHÌ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-i-chuong-trong-yeu-tung-pham-thu-nhat-den-thu-tu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 00:10:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=11587</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm I Chương Trọng Yếu Tụng Phẩm Thứ Nhì Vào lúc bấy giờ, ở Bārāṇasī có người con trai]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;">Đại Phẩm I</span></strong></h2>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương Trọng Yếu </span></h3>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tụng Phẩm Thứ Nhì</span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, ở Bārāṇasī có người con trai gia đình danh giá tên Yasa, là con trai nhà đại phú, có vóc dáng mảnh mai. Chàng trai có ba tòa lâu đài: một dành cho mùa lạnh, một dành cho mùa nóng, một dành cho mùa mưa. Vào bốn tháng mùa mưa ở trong tòa lâu đài dành cho mùa mưa, trong lúc được phục vụ bởi các nữ công tấu nhạc, chàng không bước xuống phía dưới của tòa lâu đài.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, trong lúc được phú cho, được thừa hưởng, được phục vụ bởi năm phần dục lạc,[10] người con trai gia đình danh giá Yasa đã nằm xuống ngủ trước rồi sau đó đám hầu thiếp mới nằm xuống ngủ. Và cây đèn dầu được đốt trọn đêm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa đã thức dậy trước và đã nhìn thấy đám hầu thiếp của mình đang ngủ, cây đàn ở khuỷu tay của nàng nọ, cái trống con ở cổ của nàng kia, cái trống ở đùi của nàng khác, nàng nọ có (đầu tóc) xổ ra, nàng kia nhễu nước dãi, các nàng khác thì nói lảm nhảm, chàng nghĩ rằng bãi tha ma đã đến ở trong tầm tay. Sau khi nhìn thấy, chàng trai đã thấy rõ được điều bất lợi và đã thiết lập tâm ở sự chán nản.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa đã thốt lên lời cảm thán rằng: “Thật là chán nản! Thật là khổ sở!”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, người con trai gia đình danh giá Yasa đã mang vào đôi hài bằng vàng và đi đến cánh cửa lớn của dinh thự. Các phi nhân đã mở cánh cửa ra (nghĩ rằng): “Chớ có ai gây trở ngại đến việc rời nhà xuất gia sống không nhà của người con trai gia đình danh giá Yasa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, người con trai gia đình danh giá Yasa đã đi đến cổng thành phố. Các phi nhân đã mở cánh cửa ra (nghĩ rằng): “Chớ có ai gây trở ngại đến việc rời nhà xuất gia sống không nhà của người con trai gia đình danh giá Yasa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, người con trai gia đình danh giá Yasa đã đi đến Isipatana, chỗ vườn nai. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm đang đi kinh hành ở ngoài trời. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa từ đằng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã rời đường kinh hành và ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, ở không xa đức Thế Tôn lắm người con trai gia đình danh giá Yasa đã thốt lên lời cảm thán rằng: “Thật là chán nản! Thật là khổ sở!”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với người con trai gia đình danh giá Yasa điều này: &#8211; “Này Yasa, việc này không chán nản, việc này không khổ sở. Này Yasa, hãy đến và ngồi xuống. Ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp cho ngươi.” Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa (nghĩ rằng): “Nghe nói việc này không chán nản, việc này không khổ sở” nên mừng rỡ phấn chấn rồi đã cởi ra đôi hài bằng vàng và đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi một bên. Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được người con trai gia đình danh giá Yasa có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, Ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tự như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến người con trai gia đình danh giá Yasa: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, mẹ của người con trai gia đình danh giá Yasa đã đi lên tòa lâu đài và không thấy người con trai gia đình danh giá Yasa nên đã đi đến gặp người gia chủ đại phú, sau khi đến đã nói với người gia chủ đại phú điều này: &#8211; “Gia chủ ơi, không có nhìn thấy con trai ông là Yasa.” Khi ấy, người gia chủ đại phú đã phân công cho các sứ giả phi ngựa bốn phương, còn chính bản thân đã đi đến Isipatana, chỗ vườn nai. Người gia chủ đại phú đã nhìn thấy dấu vết in (xuống đất) của đôi hài bằng vàng, sau khi nhìn thấy đã đi theo chính dấu vết ấy. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy người gia chủ đại phú từ đằng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Hay là ta nên thi triển thần thông để cho người gia chủ đại phú ngồi ở đây không thể nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi ở đây.” Rồi đức Thế Tôn đã thi triển thần thông như thế ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, người gia chủ đại phú đã đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, vậy chớ đức Thế Tôn có thể nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa không?” &#8211; “Này gia chủ, như thế thì ông hãy ngồi xuống đi. Có lẽ khi ông ngồi xuống ở đây, ông có thể nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi ở đây.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, người gia chủ đại phú (nghĩ rằng): “Nghe nói khi ta ngồi xuống ở chính nơi đây, ta sẽ nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi ở đây” nên mừng rỡ phấn chấn rồi đã đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến người gia chủ đại phú đang ngồi một bên. ―(như trên)― không còn cần sự trợ duyên của người khác, (người gia chủ đại phú) đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): “Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng;” tương tự như thế, Pháp đã được đức Thế Tôn giảng rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Và ông ta đã trở thành vị nam cư sĩ đọc ba câu[11] đầu tiên ở thế gian.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đang được giảng giải Giáo Pháp và trong khi quán sát bản chất như đã được thấy như đã được biết, tâm của người cha của người con trai gia đình danh giá Yasa đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Khi đang được giảng giải Giáo Pháp và trong khi quán sát bản chất như đã được thấy như đã được biết, tâm của người cha của người con trai gia đình danh giá Yasa đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Còn người con trai gia đình danh giá Yasa không thể nào quay trở lại đời sống thấp kém để thọ hưởng các dục lạc giống như trước đây khi còn ở tại gia, hay là ta nên thu hồi sự thi triển thần thông ấy?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn đã thu hồi sự thi triển thần thông ấy. Người gia chủ đại phú đã nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi, sau khi nhìn thấy đã nói với người con trai gia đình danh giá Yasa điều này: &#8211; “Này Yasa yêu quý, mẹ của con đã phải than vãn và sầu muộn. Hãy đem lại cho mẹ cuộc sống.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa đã ngước nhìn đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với người gia chủ đại phú điều này: &#8211; “Này gia chủ, ngươi nghĩ gì về việc ấy (là việc) người con trai gia đình danh giá Yasa đã thấy đã biết được Pháp bằng trí của vị hữu học, bằng sự hiểu biết của vị hữu học cũng giống ngươi vậy? Chàng trai ấy trong khi quán sát bản chất như đã được thấy như đã được biết, tâm đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Này gia chủ, có thể nào Yasa quay trở lại đời sống thấp kém để thọ hưởng các dục lạc giống như trước đây khi còn ở tại gia hay không?” &#8211; “Bạch ngài, điều ấy không thể nào.” &#8211; “Này gia chủ, người con trai gia đình danh giá Yasa đã thấy đã biết được Pháp bằng trí của vị hữu học, bằng sự hiểu biết của vị hữu học cũng giống ngươi vậy. Chàng trai ấy trong khi quán sát bản chất như đã được thấy như đã được biết, tâm đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Này gia chủ, Yasa không thể nào quay trở lại đời sống thấp kém để thọ hưởng các dục lạc giống như trước đây khi còn ở tại gia.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch ngài, thật là lợi ích cho người con trai gia đình danh giá Yasa! Thật khéo thành tựu cho người con trai gia đình danh giá Yasa! Như là việc tâm của người con trai gia đình danh giá Yasa đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời con về bữa thọ trai ngày mai cùng với người con trai gia đình danh giá Yasa làm Thị giả. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, người gia chủ đại phú hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, khi người gia chủ đại phú ra đi không lâu, người con trai gia đình danh giá Yasa đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng: &#8211; “Này tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của đại đức ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có bảy vị A-la-hán.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự xuất gia của Yasa</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, đi đến tư gia của người gia chủ đại phú cùng với đại đức Yasa làm thị giả, sau khi đến đã ngồi xuống chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, người mẹ và người vợ cũ của đại đức Yasa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến các người nữ ấy. Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, và sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được các người nữ ấy có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, Ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tự như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến các người nữ ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, các người nữ ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! ―(như trên)― Bạch ngài, chúng con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là các nữ cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Và các người nữ ấy đã trở thành những nữ cư sĩ đọc ba câu đầu tiên ở thế gian.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã tự tay làm hài lòng và toại ý đức Thế Tôn và đại đức Yasa với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm, đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, người mẹ người cha và người vợ cũ của đại đức Yasa đã ngồi xuống ở một bên. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người mẹ người cha và người vợ cũ của đại đức Yasa bằng bài Pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bốn người bạn tại gia của đại đức Yasa (tên) Vimala, Subāhu, Puṇṇaji, Gavampati là những người con trai của các gia đình đại phú và khá giả ở thành Bārāṇasī đã nghe được rằng: “Nghe nói người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa, và rời nhà xuất gia sống không nhà.” Sau khi nghe, các người ấy đã khởi ý điều này: “Pháp và Luật ấy chắc chắn không phải là tầm thường! Việc xuất gia ấy không phải là tầm thường khi mà người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa, và rời nhà xuất gia sống không nhà!” Các người ấy đã đi đến gặp đại đức Yasa, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Yasa rồi đứng ở một bên. Khi ấy, đại đức Yasa đã dẫn bốn người bạn tại gia ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Yasa đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, bốn người bạn tại gia này của con (tên) Vimala, Subāhu, Puṇṇaji, Gavampati là những người con trai của các gia đình đại phú và khá giả ở thành Bārāṇasī. Xin đức Thế Tôn hãy giáo huấn và chỉ dạy cho những người này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến những người ấy. Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, và sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được những người ấy có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, Ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tự như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến những người ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, những người ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Thế Tôn đã nói rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các đại đức ấy. Sau đó, đức Thế Tôn đã giáo huấn, đã chỉ dạy cho các vị tỳ khưu ấy bằng bài Pháp thoại. Trong khi được giáo huấn, được chỉ dạy bởi đức Thế Tôn bằng bài Pháp thoại, tâm của các vị ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có mười một vị A-la-hán.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự xuất gia của bốn người bạn tại gia</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">1.Những người bạn tại gia của đại đức Yasa có số lượng năm mươi (người) là những người con trai của các gia đình đầu tiên hoặc kế tục trong xứ sở đã nghe rằng: “Nghe nói người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa, và rời nhà xuất gia sống không nhà.” Sau khi nghe, các người ấy đã khởi ý điều này: “Pháp và Luật ấy chắc chắn không phải là tầm thường! Việc xuất gia ấy không phải là tầm thường khi mà người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa, và rời nhà xuất gia sống không nhà!” Các người ấy đã đi đến gặp đại đức Yasa, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Yasa rồi đứng ở một bên. Khi ấy, đại đức Yasa đã dẫn các người bạn tại gia có số lượng là năm mươi (người) ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Yasa đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, những người bạn tại gia này của con có số lượng năm mươi (người) là những người con trai của các gia đình đầu tiên hoặc kế tục trong xứ sở. Xin đức Thế Tôn hãy giáo huấn và chỉ dạy cho những người này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến những người ấy. Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, và sự lợi ích của việc xuất ly. ―(như trên)― Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tự như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến những người ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, những người ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của đại đức ấy. Sau đó, đức Thế Tôn đã giáo huấn, đã chỉ dạy cho các vị tỳ khưu ấy bằng bài Pháp thoại. Trong lúc được giáo huấn, được chỉ dạy bởi đức Thế Tôn bằng bài Pháp thoại, tâm của các vị ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có sáu mươi mốt vị A-la-hán.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, ta đã thoát khỏi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Này các tỳ khưu, các ngươi cũng đã thoát khỏi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Này các tỳ khưu, hãy cất bước du hành vì lợi ích của nhiều người, vì an lạc của nhiều người, vì lòng thương xót thế gian, vì sự tiến hóa, sự lợi ích, sự an vui của chư Thiên và nhân loại, chớ đi hai người chung một (đường). Này các tỳ khưu, hãy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ. Có những hạng người sanh lên bị ít ô nhiễm sẽ là những người hiểu được Giáo Pháp, (nhưng) do việc không nghe Giáo Pháp sẽ bị tha hóa. Này các tỳ khưu, ta cũng sẽ đi đến ngôi làng của Senāni ở Uruvelā cho việc thuyết giảng Giáo Pháp.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, Ma Vương tội lỗi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn bằng những lời kệ này:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “<i>Ngài đã bị trói buộc bởi tất cả các sự trói buộc thuộc về</i> <i>cõi trời và loài người. Ngài đã bị trói buộc bởi sự trói buộc lớn lao. Này vị Sa-môn, Ngài không thoát khỏi ta</i>!”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> (Đức Thế Tôn đáp lại rằng):</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “<i>Ta đã được thoát khỏi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Ta đã được thoát khỏi sự trói buộc lớn lao. Này kẻ gây tử vong, ngươi đã bị thua rồi</i>.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “<i>Có sự di chuyển ở khoảng không, sự trói buộc này hoạt động ở trong tâm. Ta sẽ trói buộc ngài lại bằng vật ấy. Này vị Sa-môn, ngài không thoát khỏi ta!</i>”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “<i>Các sắc, các thinh, các hương, các vị, và các xúc là các niềm thích thú của tâm. Sự mong muốn của ta ở điều ấy đã không còn. Này kẻ gây tử vong, ngươi đã bị thua rồi</i>.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, Ma Vương tội lỗi (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã nhận ra ta rồi! Đấng Thiện Thệ đã nhận ra ta rồi!” nên xấu hổ, bực bội, rồi đã biến mất ngay tại chỗ ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần giảng về Ma Vương là phần thứ mười một</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu thuộc nhiều phương khác nhau, thuộc nhiều xứ sở khác nhau đã dẫn theo những người có ý muốn xuất gia, những người có ý muốn tu lên bậc trên, (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn sẽ cho họ xuất gia, sẽ cho họ tu lên bậc trên.” Trong trường hợp ấy, chính các vị tỳ khưu luôn cả những người có ý muốn xuất gia và những người có ý muốn tu lên bậc trên đều mệt nhọc. Khi ấy, đức Thế Tôn trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Hiện nay, các vị tỳ khưu thuộc nhiều phương khác nhau, thuộc nhiều xứ sở khác nhau đã dẫn theo những người có ý muốn xuất gia, những người có ý muốn tu lên bậc trên, (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn sẽ cho họ xuất gia và sẽ cho họ tu lên bậc trên.’ Trong trường hợp ấy, chính các vị tỳ khưu luôn cả những người có ý muốn xuất gia và những người có ý muốn tu lên bậc trên đều mệt nhọc; hay là ta nên cho phép các vị tỳ khưu rằng: ‘Này các tỳ khưu, kể từ nay ở trong mọi phương ở trong mọi xứ sở, chính các ngươi hãy cho xuất gia, hãy cho tu lên bậc trên.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó vào lúc chiều tối, đức Thế Tôn đã xuất khỏi thiền tịnh rồi nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại, đã thuyết Pháp thoại, rồi đã bảo các vị tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, ở đây trong lúc ta thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: ‘Hiện nay, các vị tỳ khưu thuộc nhiều phương khác nhau, thuộc nhiều xứ sở khác nhau đã dẫn theo những người có ý muốn xuất gia, những người có ý muốn tu lên bậc trên, (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn sẽ cho họ xuất gia, sẽ cho họ tu lên bậc trên.’ Trong trường hợp ấy, chính các vị tỳ khưu luôn cả những người có ý muốn xuất gia và những người có ý muốn tu lên bậc trên đều mệt nhọc; hay là ta nên cho phép các vị tỳ khưu rằng: ‘Này các tỳ khưu, kể từ nay ở trong mọi phương ở trong mọi xứ sở, chính các ngươi hãy cho xuất gia, hãy cho tu lên bậc trên.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Này các tỳ khưu, ta cho phép ‘kể từ nay ở trong mọi phương ở trong mọi xứ sở, chính các ngươi hãy cho xuất gia, hãy cho tu lên bậc trên.’</i> Và này các tỳ khưu, nên cho xuất gia như vầy, nên cho tu lên bậc trên như vầy: Trước tiên, nên bảo cạo bỏ râu tóc, bảo khoác lên các tấm vải màu ca-sa, bảo đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các vị tỳ khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và nên bảo rằng: “Ngươi hãy nói như vầy:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Phật).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Pháp).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Tăng).[12]</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lần thứ nhì, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lần thứ nhì, tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lần thứ nhì, tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lần thứ ba, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lần thứ ba, tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lần thứ ba, tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, ta cho phép sự xuất gia, sự tu lên bậc trên bằng ba sự đi đến nương nhờ này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần giảng về sự xuất gia, sự tu lên bậc trên bằng ba sự đi đến nương nhờ là phần thứ mười hai</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã sống qua mùa mưa, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, ta có các sự tác ý đúng đắn, có các sự tinh tấn chân chánh đúng đắn, đã đạt đến sự giải thoát vô thượng, đã chứng ngộ sự giải thoát vô thượng. Này các tỳ khưu, ngay cả các ngươi cũng có các sự tác ý đúng đắn, có các sự tinh tấn chân chánh đúng đắn, (các ngươi) hãy đạt đến sự giải thoát vô thượng, hãy chứng ngộ sự giải thoát vô thượng.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, Ma Vương tội lỗi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn bằng bài kệ này:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “<i>Ngài đã bị trói buộc bởi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Ngài đã bị trói buộc bởi sự trói buộc của tử thần. Này vị Sa-môn, Ngài không thoát khỏi ta</i>!”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Đức Thế Tôn đáp lại rằng):</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “<i>Ta đã được thoát khỏi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Ta đã được thoát khỏi sự trói buộc của tử thần. Này kẻ gây tử vong, ngươi đã bị thua rồi</i>.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, Ma Vương tội lỗi (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã nhận ra ta rồi! Đấng Thiện Thệ đã nhận ra ta rồi!” nên xấu hổ, bực bội, rồi đã biến mất ngay tại chỗ ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã ngự tại thành Bārāṇasī theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía Uruvelā. Khi ấy, đức Thế Tôn đã rời đường lộ đi đến khu rừng rậm nọ, sau khi đến đã đi sâu vào trong khu rừng rậm ấy và đã ngồi xuống ở gốc cây nọ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, những người bạn thuộc nhóm các vương tử có số lượng ba mươi (người) cùng với những người vợ đang du ngoạn ở trong khu rừng rậm ấy. Một người không có vợ. Cô gái điếm đã được dẫn đến cho nhu cầu của vị ấy. Rồi trong khi những người ấy đang lơ đễnh du ngoạn, cô gái điếm ấy đã cầm lấy gói đồ rồi tẩu thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, những người bạn ấy trong lúc giúp đỡ bạn bè, trong lúc tìm kiếm người đàn bà ấy, trong khi lang thang ở khu rừng rậm ấy, đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang ngồi ở gốc cây nọ, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, vậy chớ đức Thế Tôn có nhìn thấy người đàn bà không?” &#8211; “Này các vương tử, các vị có chuyện gì với người đàn bà?” &#8211; “Bạch ngài, ở đây chúng tôi là những người bạn thuộc nhóm các vương tử có số lượng ba mươi (người) đã cùng với những người vợ du ngoạn ở trong khu rừng rậm này. Một người không có vợ. Cô gái điếm đã được dẫn đến cho nhu cầu của vị ấy. Bạch ngài, rồi trong khi chúng tôi đang lơ đễnh du ngoạn, cô gái điếm ấy đã cầm lấy gói đồ rồi tẩu thoát. Bạch ngài, là những người bạn trong lúc giúp đỡ bạn bè, trong lúc tìm kiếm người đàn bà ấy, chúng tôi đây lang thang đi đến khu rừng rậm này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các vương tử, các vị nghĩ thế nào về việc các vị nên tìm kiếm người đàn bà và việc các vị nên tìm kiếm lấy chính mình, đối với các vị việc nào quan trọng hơn?” &#8211; “Bạch ngài, đối với chúng tôi việc chúng tôi nên tìm kiếm lấy chính mình là việc quan trọng hơn.” &#8211; “Này các vương tử, chính vì việc ấy các vị hãy ngồi xuống, ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp cho các vị.” &#8211; “Bạch ngài, xin vâng.” Rồi những người bạn thuộc nhóm các vương tử ấy đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến các vị ấy. Tức là ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, và sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được các vị ấy có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tự như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến các vị ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, các vị ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của đại đức ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt câu chuyện về những người bạn thuộc nhóm các vương tử</b>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tụng phẩm thứ nhì</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[10] Khoái lạc sanh lên do năm giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[11] Lúc ấy trên thế gian này đã có sáu vị tỳ khưu A-la-hán đại diện cho Tăng Bảo. Vì thế người gia chủ này được quy y (đi đến nương nhờ) Tam Bảo và đã đọc ba câu là: “Quy y đức Thế Tôn, Quy y Giáo Pháp, và Quy y Hội Chúng tỳ khưu,” (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[12] <i>Saṅgha</i>: được dịch âm thành Tăng-già, nói ngắn gọn là Tăng. <i>Saṅgha</i> có ý nghĩa thông thường là hội chúng, tập thể, v.v&#8230; và được thiêng liêng hóa khi đề cập đến ba ngôi Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Điều cần lưu ý ở đây là từ <i>saṅgha</i> cũng được dùng cho tỳ khưu ni: <i>bhikkhunīsaṅgha</i> = hội chúng tỳ khưu ni, tỳ khưu ni Tăng (tương tợ như ở <i>bhikkhusaṅgha</i> = hội chúng tỳ khưu, tỳ khưu Tăng). Tuy nhiên, hiện nay có khuynh hướng dùng chữ ‘Tăng’ chỉ dành riêng cho phái Nam ví dụ như: “Tứ chúng gồm có Tăng, Ni, Thiện Nam, Tín Nữ,” hoặc “Kính bạch chư đại đức Tăng Ni,” hoặc bình dân hơn như “ông Tăng bà Ni,” v.v&#8230; Chữ ‘Tăng’ này chỉ tương đương với từ ‘<i>bhikkhu </i>= tỳ khưu’ chứ không phải là <i>saṅgha</i> như ở trên (ND).</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐẠI PHẨM I: CHƯƠNG TRỌNG YẾU &#8211; TỤNG PHẨM THỨ BA</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-i-chuong-trong-yeu-tung-pham-thu-ba/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 00:15:57 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58453</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm I Chương Trọng Yếu Tụng Phẩm Thứ Ba Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;">Đại Phẩm I</span></strong></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương Trọng Yếu </span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tụng Phẩm Thứ Ba</span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến Uruvelā. Vào lúc bấy giờ, có ba vị đạo sĩ bện tóc đang cư trú ở Uruvelā là Uruvela-kassapa, Nadīkassapa, và Gayākassapa. Trong số các vị ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của năm trăm đạo sĩ bện tóc. Đạo sĩ bện tóc Nadīkassapa là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của ba trăm đạo sĩ bện tóc. Đạo sĩ bện tóc Gayākassapa là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của hai trăm đạo sĩ bện tóc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã đi đến khu ẩn cư của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, sau khi đến đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này: &#8211; “Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì chúng ta có thể ngụ một đêm trong nhà thờ lửa.” &#8211; “Này vị đại Sa-môn, quả là không trở ngại cho tôi. (Tuy nhiên) ở đây có con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp, không thể để cho nó hại ngài được.” Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này: &#8211; “Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì chúng ta có thể ngụ một đêm trong nhà thờ lửa.” &#8211; “Này vị đại Sa-môn, quả là không trở ngại cho tôi. (Tuy nhiên) ở đây có con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp, không thể để cho nó hại ngài được.” Đến lần thứ ba, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này: &#8211; “Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì chúng ta có thể ngụ một đêm trong nhà thờ lửa.” &#8211; “Này vị đại Sa-môn, quả là không trở ngại cho tôi. (Tuy nhiên) ở đây có con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp, không thể để cho nó hại ngài được.” &#8211; “Biết đâu nó có thể không hại ta. Này Kassapa, ngươi hãy cho phép (ta cư ngụ) nhà thờ lửa đi.” &#8211; “Này vị đại Sa-môn, ngài hãy cư ngụ một cách thoải mái.” Sau đó, đức Thế Tôn đã đi vào nhà thờ lửa, sắp đặt tấm thảm trải bằng cỏ, rồi ngồi xuống, xếp (chân) thế kiết già, giữ thân thẳng, tập trung niệm ở phía trước.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, con rồng ấy đã nhìn thấy đức Thế Tôn đi vào, sau khi nhìn thấy trở nên bực bội nên đã phun khói. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Có lẽ ta không nên làm thương tổn đến lớp vỏ, làn da, thịt, gân, xương, tủy của con rồng này mà chỉ nên dùng lửa (của ta) làm cho lửa (của nó) bị kiệt quệ thôi.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thi triển phép thần thông có hình thức như thế và đã phun khói. Khi ấy, con rồng không chịu nổi sự khổ sở nên đã phun ra lửa. Đức Thế Tôn cũng đã nhập thiền đề mục lửa và đã phun ra lửa. Trong khi cả hai đều có trạng thái rực sáng, ngôi nhà thờ lửa như là bị đốt cháy, bị phát cháy, có trạng thái rực sáng. Khi ấy, những đạo sĩ bện tóc ấy đã vây xung quanh nhà thờ lửa và nói như vầy: &#8211; “Quả thật vị đại Sa-môn có vóc dáng xinh đẹp đã bị con rồng hãm hại!” Sau đó, khi trải qua đêm ấy đức Thế Tôn đã không làm thương tổn đến lớp vỏ, làn da, thịt, gân, xương, tủy của con rồng này mà đã dùng lửa (của Ngài) làm cho lửa (của nó) bị kiệt quệ, rồi bỏ vào trong bình bát, và đưa cho đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa xem (nói rằng): &#8211; “Này Kassapa, đây là con rồng của ngươi. Lửa của nó đã bị lửa (của ta) làm cho kiệt quệ.” Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị ấy đã dùng lửa (của vị ấy) làm cho lửa của con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp bị kiệt quệ, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ở Nerañjarā, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rằng: &#8211; ‘Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì đêm nay hãy để ta ngụ ở nơi thờ phụng lửa.’</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; ‘<i>Này vị đại Sa-môn, quả chằng có trở ngại cho tôi. Chỉ vì muốn được yên tâm mà tôi ngăn cản ngài. Nơi đây có con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp, không thể để cho nó hại ngài được</i>.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; ‘<i>Biết đâu nó có thể không hại ta. Này Kassapa, ngươi hãy cho phép (ta cư ngụ) nhà thờ lửa đi.’ Sau khi biết được điều ấy là: ‘Đã được cho phép,’ Ngài đã đi vào, không khiếp đảm, đã lìa nỗi sợ hãi</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Thấy vị ẩn sĩ đã đi vào, con rồng chúa có ý bực bội đã phun khói. Vị chúa của loài người, với tâm hòa dịu, với ý cao cả, tại nơi đó cũng đã phun khói</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Và không nén được nỗi bực tức, con rồng chúa đã phun lửa như là cơn hỏa hoạn. Vị chúa của loài người, thiện xảo về các đề mục lửa, tại nơi đó cũng đã phun lửa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Trong khi cả hai đều có trạng thái rực sáng, các đạo sĩ bện tóc đã vây xung quanh nhà thờ lửa và nói rằng: &#8211; ‘Đương nhiên là vị đại Sa-môn có vóc dáng xinh đẹp bị con rồng hãm hại!’ </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Rồi đêm đã qua đi, các ngọn lửa lửa của rồng chúa chẳng còn, còn các ngọn lửa của vị có thần lực vẫn tồn tại và có nhiều màu sắc</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Các ngọn lửa nhiều màu sắc từ cơ thể của vị Aṅgīrasa có các màu sắc trong suốt, xanh, đỏ, tím, vàng</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Sau khi đặt con rồng vào bình bát, Ngài đã đưa ra cho vị Bà-la-môn xem: &#8211; ‘Này Bà-la-môn, đây là con rồng của ngươi. Lửa của nó đã bị kiệt quệ vì ngọn lửa (của ta).</i>’”[13]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa vô cùng hoan hỷ với sự kỳ diệu của thần thông này của đức Thế Tôn nên đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Này vị đại Sa-môn, hãy cư ngụ ngay tại đây, tôi có thức ăn trường kỳ cho ngài.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều kỳ diệu thứ nhất</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn đã cư ngụ trong khu rừng rậm nọ không xa khu ẩn cư của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa. Khi ấy vào lúc đêm khuya, bốn vị Đại Thiên Vương có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở bốn phương giống như là những khối lửa khổng lồ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi trải qua đêm ấy đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Này vị đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị đại Sa-môn, trong lúc đêm khuya những ai có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm, rồi đã đi đến gặp ngài, sau khi đến đã đảnh lễ ngài rồi đứng ở bốn phương giống như là những khối lửa khổng lồ vậy?” &#8211; “Này Kassapa, các vị ấy là bốn vị Đại Thiên Vương đã đi đến gặp ta để nghe Pháp.” Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả bốn vị Đại Thiên Vương còn đi đến gặp để nghe Pháp, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều kỳ diệu thứ nhì</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, trong lúc đêm khuya vị chúa của chư Thiên Sakka có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên giống như là khối lửa khổng lồ còn rực rỡ hơn và thù thắng hơn những hào quang đầy màu sắc trước đây nữa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi trải qua đêm ấy đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Này vị đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị đại Sa-môn, trong lúc đêm khuya người nào có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm, rồi đã đi đến gặp ngài, sau khi đến đã đảnh lễ ngài rồi đứng ở một bên giống như là khối lửa khổng lồ còn rực rỡ hơn và thù thắng hơn những hào quang đầy màu sắc trước đây nữa vậy?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Kassapa, vị ấy là chúa của chư Thiên Sakka đã đi đến gặp ta để nghe Pháp.” Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả chúa của chư Thiên Sakka còn đi đến gặp để nghe Pháp, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều kỳ diệu thứ ba</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, trong lúc đêm khuya vị Phạm Thiên Sahampati có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên giống như là khối lửa khổng lồ còn rực rỡ hơn và thù thắng hơn những hào quang đầy màu sắc trước đây nữa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi trải qua đêm ấy đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Này vị đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị đại Sa-môn, trong lúc đêm khuya người nào có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm, rồi đã đi đến gặp ngài, sau khi đến đã đảnh lễ ngài rồi đứng ở một bên giống như là khối lửa khổng lồ còn rực rỡ hơn và thù thắng hơn những hào quang đầy màu sắc trước đây nữa vậy?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Kassapa, vị ấy là Phạm Thiên Sahampati đã đi đến gặp ta để nghe Pháp.” Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị Phạm Thiên Sahampati còn đi đến gặp để nghe Pháp, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều kỳ diệu thứ tư</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, buổi đại lễ cúng tế của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đến. Toàn bộ dân chúng ở Aṅga và Magadha đem lại nhiều thức ăn loại cứng loại mềm với ý định tham dự. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Giờ đây buổi đại lễ cúng tế của ta đã đến, toàn bộ dân chúng ở Aṅga và Magadha sẽ đem lại nhiều thức ăn loại cứng loại mềm và tham dự. Nếu vị đại Sa-môn thực hiện sự kỳ diệu của thần thông trước đám đông thì lợi lộc và tôn kính sẽ tăng trưởng cho vị đại Sa-môn, còn lợi lộc và tôn kính của ta sẽ bị giảm đi; vậy thì vị đại Sa-môn không thể đi đến vào ngày mai.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa nên đã đi đến xứ Kuru ở phương Bắc, từ nơi ấy đã đem lại đồ ăn khất thực và đã thọ thực ở hồ Anotatta, rồi đã nghỉ trưa ở ngay tại nơi ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi trải qua đêm ấy đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Này vị đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị đại Sa-môn, việc gì khiến ngài đã không đi đến ngày hôm qua? Tuy nhiên, chúng tôi cũng có nhớ đến ngài rằng: ‘Việc gì khiến vị đại Sa-môn không đi đến?’ Phần chia về thức ăn loại cứng và loại mềm đã được để dành cho ngài.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Kassapa, thế không phải ngươi đã khởi ý điều này: ‘Giờ đây buổi đại lễ cúng tế của ta đã đến, toàn bộ dân chúng ở Aṅga và Magadha sẽ đem lại nhiều thức ăn loại cứng loại mềm và tham dự. Nếu vị đại Sa-môn thực hiện sự kỳ diệu của thần thông trước đám đông thì lợi lộc và tôn kính sẽ tăng trưởng cho vị đại Sa-môn, còn lợi lộc và tôn kính của ta sẽ bị giảm đi; vậy thì vị đại Sa-môn không thể đi đến vào ngày mai.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Kassapa, ta đây dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ngươi nên đã đi đến xứ Kuru ở phương Bắc, từ nơi ấy đã đem lại đồ ăn khất thực và đã thọ thực ở hồ Anotatta, rồi đã nghỉ trưa ở ngay tại nơi ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị ấy còn biết được tâm bằng tâm, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều kỳ diệu thứ năm</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vải <i>paṃsukūla</i>[14] đã phát sanh đến đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể giặt vải <i>paṃsukūla</i> ở đâu?” Khi ấy, vị chúa của chư Thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã dùng tay đào thành cái hồ nước rồi nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy giặt vải<i>paṃsukūla</i> ở đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể nhồi vải <i>paṃsukūla</i> ở nơi vật gì?” Khi ấy, vị chúa của chư Thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã mang lại tảng đá lớn rồi nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nhồi vải <i>paṃsukūla</i> ở đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể nắm vào vật gì và bước lên?” Khi ấy, vị Thiên thần ngụ ở cây <i>Kakudha </i>dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã uốn cong cành cây xuống (nói rằng): &#8211; “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nắm vào đây và bước lên.” Sau đó, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể phơi khô vải <i>paṃsukūla</i> ở nơi vật gì?” Khi ấy, vị chúa của chư Thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã mang lại tảng đá lớn rồi nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy phơi khô vải<i>paṃsukūla</i> ở đây.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi trải qua đêm ấy đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Này vị đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị đại Sa-môn, có phải trước kia cái hồ nước này không có ở đây, giờ cái hồ nước này đây lại có ở đây? Trước kia hòn đá này không được đem lại, do ai mà hòn đá này đã được đem lại? Trước kia cành của cây <i>Kakudha</i> này không bị uốn cong xuống, giờ cành cây này đây đã bị uốn cong xuống?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Kassapa, trường hợp này là có vải <i>paṃsukūla</i> đã phát sanh đến ta. Ta đây đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể giặt vải <i>paṃsukūla</i> ở đâu?” Khi ấy, vị chúa của chư Thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ta nên đã dùng tay đào thành cái hồ nước rồi nói với ta điều này: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy giặt vải <i>paṃsukūla</i> ở đây.” Cái hồ này đây đã được đào bằng bàn tay bởi hạng không phải là người. Này Kassapa, ta đây đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể nhồi vải <i>paṃsukūla</i> ở nơi vật gì?” Khi ấy, vị chúa của chư Thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ta nên đã mang lại tảng đá lớn: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nhồi vải <i>paṃsukūla</i> ở đây.” Hòn đá này đây đã được đem lại bởi hạng không phải là người. Này Kassapa, ta đây đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể nắm vào vật gì và bước lên?” Khi ấy, vị Thiên thần ngụ ở cây <i>Kakudha</i> dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ta nên đã uốn cong cành cây xuống: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nắm vào đây và bước lên.” Cây <i>Kakudha</i> này đây là vật để tay nắm vào. Này Kassapa, ta đây đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể phơi khô vải <i>paṃsukūla</i> ở nơi vật gì?” Khi ấy, vị chúa của chư Thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ta nên đã mang lại tảng đá lớn: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy phơi khô vải <i>paṃsukūla</i> ở đây.” Hòn đá này đây đã được đem lại bởi hạng không phải là người. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị chúa của chư Thiên Sakka còn phải phục vụ, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi trải qua đêm ấy đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Này vị đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” &#8211; “Này Kassapa, ngươi hãy đi rồi ta đến.” Sau khi bảo vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đi, Ngài đã hái trái cây từ cây <i>Jambu</i>,[15] do cây <i>Jambu</i> mà Jambudīpa<sup>[16]</sup>được biết tiếng, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa. Vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã nhìn thấy đức Thế Tôn ngồi trong nhà thờ lửa, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Này vị đại Sa-môn, ngài đã đi đến bằng con đường nào? Tôi đã ra đi trước ngài, vậy mà ngài đây đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa.” &#8211; “Này Kassapa, trong trường hợp này, sau khi bảo ngươi đi, ta đã hái trái cây từ cây <i>Jambu</i>, do cây <i>Jambu</i> mà Jambudīpa được biết tiếng, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa. Này Kassapa, trái cây <i>Jambu</i> này đạt được màu sắc, đạt được hương thơm, đạt được mùi vị, nếu ngươi thích thì hãy ăn đi.” &#8211; “Này vị đại Sa-môn, thôi đi. Chính ngài đã mang nó lại thì chính ngài hãy ăn nó.” Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì sau khi bảo ta đi trước, vị ấy đã hái trái cây từ cây <i>Jambu</i>, do cây <i>Jambu</i> mà Jambudīpa được biết tiếng, rồi đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi trải qua đêm ấy đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Này vị đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” &#8211; “Này Kassapa, ngươi hãy đi rồi ta đến.” Sau khi bảo vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đi, ngài đã hái trái xoài không xa cây <i>Jambu</i>, do cây <i>Jambu</i> mà Jambudīpa được biết tiếng, ―(như trên)― trái <i>Āmalakī</i> không xa cây <i>Jambu</i>, ―(như trên)― trái<i>Harītakī</i> không xa cây <i>Jambu</i>, ―(như trên)― đã đi đến cõi trời Đạo Lợi hái bông hoa của cây san hô, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa. Vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã nhìn thấy đức Thế Tôn ngồi trong nhà thờ lửa, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Này vị đại Sa-môn, ngài đã đi đến bằng con đường nào? Tôi đã ra đi trước ngài vậy mà ngài đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa.” &#8211; “Này Kassapa, trong trường hợp này, sau khi bảo ngươi đi, ta đã đi đến cõi trời Đạo Lợi hái bông hoa của cây san hô, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa. Này Kassapa, bông hoa của cây san hô này đạt được màu sắc, đạt được hương thơm.” Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì sau khi bảo ta đi trước, vị ấy đã đi đến cõi trời Đạo Lợi hái bông hoa của cây san hô, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy, có ước muốn thờ phụng lửa, không thể chẻ nhỏ các thanh củi được. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị đại Sa-môn nên chúng ta không thể nào chẻ nhỏ các thanh củi được!” Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này: &#8211; “Này Kassapa, hãy khiến các thanh củi được chẻ nhỏ.” &#8211; “Này vị đại Sa-môn, hãy khiến chúng được chẻ nhỏ.” Ngay lập tức, năm trăm thanh củi đã được chẻ nhỏ. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả các thanh củi cũng không chẻ nhỏ được, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy, có ước muốn thờ phụng lửa, không thể đốt lên ngọn lửa được. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị đại Sa-môn nên chúng ta không thể nào đốt lên ngọn lửa được!” Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này: &#8211; “Này Kassapa, hãy khiến các ngọn lửa được đốt lên.” &#8211; “Này vị đại Sa-môn, hãy khiến chúng được đốt lên.” Ngay lập tức, năm trăm ngọn lửa đã được đốt lên. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả các ngọn lửa cũng không đốt lên được, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy sau khi thờ phụng lửa không thể dập tắt ngọn lửa được. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị đại Sa-môn nên chúng ta không thể nào dập tắt các ngọn lửa được!” Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này: &#8211; “Này Kassapa, hãy khiến các ngọn lửa được dập tắt.” &#8211; “Này vị đại Sa-môn, hãy khiến chúng được dập tắt.” Ngay lập tức, năm trăm ngọn lửa đã được dập tắt. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvela-kassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả các ngọn lửa cũng không dập tắt được, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong khoảng thời gian tám đêm của mùa đông lạnh lẽo, vào lúc tuyết rơi các vị đạo sĩ bện tóc ấy hụp xuống và trồi lên trong giòng sông Nerañjarā, rồi lại thực hiện những hành động trồi lên hụp xuống. Khi ấy, đức Thế Tôn đã làm hiện ra các chảo lửa có số lượng năm trăm cái ở chỗ các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã lội lên và sưởi ấm. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị đại Sa-môn cho nên các chảo lửa này đã được hiện ra.” Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị ấy còn làm hiện ra các chảo lửa nhiều đến mức này, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có đám mây đen lớn sái mùa đã đổ mưa tạo thành trận lũ lụt lớn. Trong khu vực nào đức Thế Tôn cư ngụ thì nước không tràn đến khu vực ấy. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Hay là ta nên đẩy nước ra xung quanh rồi đi kinh hành ở khoảng giữa trên mặt đất được phủ đầy bụi?” Sau đó, đức Thế Tôn đã đẩy nước ra xung quanh rồi đi kinh hành ở khoảng giữa trên mặt đất được phủ đầy bụi. Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa (nghĩ rằng): “Chỉ mong sao vị đại Sa-môn không bị nước cuốn trôi đi!” rồi đã cùng nhiều vị đạo sĩ bện tóc đi thuyền đến khu vực đức Thế Tôn cư ngụ. Vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang đi kinh hành ở khoảng giữa trên mặt đất được phủ đầy bụi sau khi đã đẩy nước ra xung quanh, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Này vị đại Sa-môn, ngài có đây không?” &#8211; “Này Kassapa, có ta đây.” Đức Thế Tôn đã bay lên không trung và đứng ở tại chiếc thuyền. Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả nước (lũ) cũng không làm gì được, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Đã lâu nay, kẻ rồ dại này chỉ khởi ý rằng: ‘Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.’ Hay là ta nên làm cho vị đạo sĩ bện tóc này phải nao núng? ” Sau đó, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này: &#8211; “Này Kassapa, ngươi chẳng phải là A-la-hán và cũng chẳng đạt được con đường đưa đến quả vị A-la-hán. Thậm chí ngươi cũng không có đường lối thực hành để ngươi có thể trở thành A-la-hán hoặc đạt được con đường đưa đến quả vị A-la-hán.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Con có thể tu lên bậc trên không?” &#8211; “Này Kassapa, ngươi là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của năm trăm đạo sĩ bện tóc. Ngươi hãy thông báo đến các vị ấy. Các vị ấy sẽ làm theo cách các vị ấy suy tính. các vị suy tính như thế nào thì các vị sẽ làm như thế ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp các đạo sĩ bện tóc ấy, sau khi đến đã nói với các đạo sĩ bện tóc ấy điều này: &#8211; “Này các ông, ta muốn thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa-môn. Các ông suy tính như thế nào thì các ông hãy làm như thế ấy.” &#8211; “Ngài ơi, chúng tôi có niềm tin với vị đại Sa-môn đã lâu nay. Nếu ngài thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa-môn, hết thảy tất cả chúng tôi sẽ thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa-môn.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã quăng trôi theo dòng nước các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của đại đức ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đạo sĩ bện tóc Nadīkassapa đã nhìn thấy các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa ở dòng nước đang trôi chảy, sau khi nhìn thấy, đã khởi ý điều này: “Chớ có việc gì nguy hiểm xảy ra cho anh trai của ta!” rồi đã phái các đạo sĩ bện tóc (nói rằng): “Các vị hãy đi và tìm hiểu xem các anh trai của ta (thế nào)!” Còn bản thân cùng với ba trăm đạo sĩ bện tóc đã đi đến gặp đại đức Uruvelakassapa, sau khi đến đã nói với đại đức Uruvelakassapa điều này: &#8211; “Này Kassapa, điều này là tốt hơn hay sao?” &#8211; “Này đệ, đúng vậy. Điều này là tốt hơn.” Sau đó, các đạo sĩ bện tóc ấy đã quăng trôi theo dòng nước các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của đại đức ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đạo sĩ bện tóc Gayākassapa đã nhìn thấy các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa ở dòng nước đang trôi chảy, sau khi nhìn thấy, đã khởi ý điều này: “Chớ có việc gì nguy hiểm xảy ra cho các anh trai của ta!” rồi đã phái các đạo sĩ bện tóc (nói rằng): “Các vị hãy đi và tìm hiểu xem các anh trai của ta (thế nào)!” Còn bản thân cùng với hai trăm đạo sĩ bện tóc đã đi đến gặp đại đức Uruvelakassapa, sau khi đến đã nói với đại đức Uruvelakassapa điều này: &#8211; “Này Kassapa, điều này là tốt hơn hay sao?” &#8211; “Này đệ, đúng vậy. Điều này là tốt hơn.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các đạo sĩ bện tóc ấy đã quăng trôi theo dòng nước các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của đại đức ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Do nguyện lực của đức Thế Tôn, năm trăm thanh củi đã không chẻ ra được, rồi đã được chẻ ra, các ngọn lửa đã không đốt lên được, rồi đã được đốt lên, đã không dập tắt được, rồi đã được dập tắt, năm trăm chảo lửa đã được làm hiện ra. Theo cách thức ấy, có ba ngàn năm trăm điều kỳ diệu</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã ngự tại Uruvelā theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía đỉnh Gayā cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn vị tỳ khưu, hết thảy tất cả đều là các đạo sĩ bện tóc trước đây. Tại nơi đó ở Gayā, đức Thế Tôn ngự tại đỉnh Gayā cùng với một ngàn vị tỳ khưu. Tại nơi đó, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, tất cả đều bị cháy rực. Và này các tỳ khưu, cái gì là tất cả đều bị cháy rực? Này các tỳ khưu, mắt bị cháy rực, các sắc bị cháy rực, sự nhận thức của mắt bị cháy rực, sự tiếp xúc của mắt bị cháy rực, tức là sự cảm thọ được sanh lên do duyên tiếp xúc của mắt là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc cũng đều bị cháy rực. Bị cháy rực bởi điều gì? Ta nói rằng: ‘Bị cháy rực bởi lửa tham, bởi lửa sân, bởi lửa si. Bị cháy rực bởi sanh, bởi già, bởi chết, bởi những nỗi buồn rầu, bởi những điều ta thán, bởi những nỗi khổ đau, bởi những sự bất mãn, bởi những điều thất vọng.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tai bị cháy rực, các âm thanh bị cháy rực, ―(như trên)― Mũi bị cháy rực, các mùi bị cháy rực, ―(như trên)― Lưỡi bị cháy rực, các vị nếm bị cháy rực, ―(như trên)― Thân bị cháy rực, các sự xúc chạm bị cháy rực, ―(như trên)― Ý bị cháy rực, các pháp bị cháy rực, sự nhận thức của ý bị cháy rực, sự tiếp xúc của ý bị cháy rực, tức là sự cảm thọ được sanh lên do duyên tiếp xúc của ý là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc cũng đều bị cháy rực. Bị cháy rực bởi điều gì? Ta nói rằng: ‘Bị cháy rực bởi lửa tham, bởi lửa sân, bởi lửa si. Bị cháy rực bởi sanh, bởi già, bởi chết, bởi những nỗi buồn rầu, bởi những điều ta thán, bởi những nỗi khổ đau, bởi những sự bất mãn, bởi những điều thất vọng.’ Này các tỳ khưu, trong khi thấy như thế vị Thánh đệ tử có sự học hỏi không còn hứng thú đến mắt, không còn hứng thú đến các sắc, không còn hứng thú đến sự nhận thức của mắt, không còn hứng thú đến sự tiếp xúc của mắt, tức là không còn hứng thú đến sự cảm thọ được sanh lên do duyên tiếp xúc của mắt là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Vị ấy) không còn hứng thú đến tai, không còn hứng thú đến các âm thanh, ―(như trên)― không còn hứng thú đến mũi, không còn hứng thú đến các mùi, ―(như trên)― không còn hứng thú đến lưỡi, không còn hứng thú đến các vị nếm, ―(như trên)― không còn hứng thú đến thân, không còn hứng thú đến các sự xúc chạm, ―(như trên)― không còn hứng thú đến ý, không còn hứng thú đến các pháp, không còn hứng thú đến sự nhận thức của ý, không còn hứng thú đến sự tiếp xúc của ý, tức là không còn hứng thú đến sự cảm thọ được sanh lên do duyên tiếp xúc của ý là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc; trong khi không còn hứng thú, vị ấy không còn tham ái; do không còn tham ái vị ấy được giải thoát; trong khi được giải thoát, trí khởi lên rằng: ‘Đã được giải thoát.’ Vị ấy biết được rằng: ‘Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và trong khi bài kinh này được thuyết giảng, các tâm của một ngàn vị tỳ khưu ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần giảng về ‘Bị Cháy Rực.’</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm ‘Sự Kỳ Diệu ở Uruvelā’ là thứ ba.</b></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[13] Ngài Buddhaghosa cho biết đây là các lời kệ được lưu truyền về sau này  (VinA. v, 971).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[14] Vải <i>paṃsukūla</i>: Chủ yếu là vải quấn thây người chết được đem bỏ ở bãi tha ma, hoặc là vải nhặt ở các đống rác. Ở một vài chỗ, chúng tôi đã dịch là ‘vải dơ bị quăng bỏ’ (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[15] Trái <i>Jambu</i> là trái mận (tiếng miền Nam), hoặc đào đỏ (tiếng miền Trung).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[16] Jambudīpa, dịch là đảo Jambu, tức là bán đảo Ấn Độ (ND).</span></p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐẠI PHẨM I: CHƯƠNG TRỌNG YẾU &#8211; TỤNG PHẨM THỨ TƯ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-i-chuong-trong-yeu-tung-pham-thu-tu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 00:20:04 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58454</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm I Chương Trọng Yếu Tụng Phẩm Thứ Tư Sau đó, khi đã ngự tại Uruvelā theo như ý]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;">Đại Phẩm I</span></strong></h2>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương Trọng Yếu </span></h3>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tụng Phẩm Thứ Tư</span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã ngự tại Uruvelā theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Rājagaha cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn vị tỳ khưu, hết thảy tất cả đều là các đạo sĩ bện tóc trước đây. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Rājagaha. Tại nơi đó ở thành Rājagaha, đức Thế Tôn ngự tại khu rừng Laṭṭhi, nơi điện thờ Suppatiṭṭha. Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nghe được rằng: “Chắc chắn là ngài Sa-môn Gotama, con trai dòng Sakya, từ dòng dõi Sakya đã xuất gia, đã ngự đến thành Rājagaha và trú ở thành Rājagaha, tại khu rừng Laṭṭhi, nơi điện thờ Suppatiṭṭha. Tiếng tăm tốt đẹp về ngài Gotama ấy đã được lan rộng ra như vầy: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Tối Thượng Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Với thắng trí của mình, vị ấy chứng ngộ và công bố về thế gian này tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Vị ấy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ. Tốt thay cho việc diện kiến các vị A-la-hán như thế ấy!”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha được tháp tùng bởi một trăm hai mươi ngàn[17] Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Còn một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy, một số đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, một số đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi ngồi xuống ở một bên, một số đã chắp tay cúi chào đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên, một số đã xưng tên họ trước đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên, một số có thái độ im lặng rồi ngồi xuống ở một bên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn thực hành Phạm hạnh theo Uruvelakassapa, hay là Uruvelakassapa thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa-môn?” Khi ấy, đức Thế Tôn dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy nên đã nói với đại đức Uruvelakassapa bằng bài kệ này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Kẻ trú ở Uruvelā, người giáo huấn các đạo sĩ khổ hạnh, sau khi đã thấy điều gì, mà đã từ bỏ ngọn lửa? Này Kassapa, ta hỏi ngươi điều này: “Tại sao việc thờ lửa của ngươi bị từ bỏ?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Việc cúng tế đề cập đến các hình ảnh, các âm thanh, và các mùi vị, dục lạc, và đàn bà. Sau khi nhận biết rằng ‘việc ấy là ô nhiễm’ trong các mầm mống tái sanh, vì thế con đã không thích thú các việc hy sinh (hay) các việc cúng tế.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Đức Thế Tôn nói với Kassapa): &#8211; “Ở đây tâm của ngươi đã không thích thú đối với các hình ảnh, các âm thanh, và các mùi vị, như thế cái gì ở thế giới nhân Thiên là được tâm thích thú? Này Kassapa, hãy nói với ta về điều ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Sau khi đã nhìn thấy đạo lộ thanh tịnh, không mầm mống tái sanh, không có gì (về tham ái), không bị trói buộc trong dục lạc và hiện hữu, không còn những thứ khác (sanh, lão, tử, v.v&#8230;), không thể đạt đến bằng đường lối nào khác, vì thế con đã không thích thú các việc hy sinh (hay) các việc cúng tế.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Uruvelakassapa đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của con, con là người đệ tử. Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của con, con là người đệ tử.” Khi ấy, một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy đã khởi ý điều này: “Uruvelakassapa thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa-môn.” Sau đó, đức Thế Tôn dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy nên đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến những người ấy. Tức là ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, và sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được những người ấy có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tự như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy có đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đứng đầu: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Mười ngàn người đã tuyên bố bản thân là cư sĩ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, trước đây khi còn là hoàng tử trẫm đã có năm điều ước nguyện, giờ đây các điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. Bạch ngài, trước đây khi còn là hoàng tử trẫm đã khởi ý điều này: ‘Ước gì họ tấn phong ta làm vua!’ Bạch ngài, đó là điều ước nguyện thứ nhất của trẫm; giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. ‘Ước gì bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đi vào vương quốc của ta đây!’ Bạch ngài, đó là điều ước nguyện thứ nhì của trẫm; giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. ‘Ước gì ta được tỏ lòng tôn kính đến đức Thế Tôn ấy!’ Bạch ngài, đó là điều ước nguyện thứ ba của trẫm; giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. ‘Ước gì đức Thế Tôn ấy thuyết giảng Giáo Pháp cho ta!’ Bạch ngài, đó là điều ước nguyện thứ tư của trẫm; giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. ‘Ước gì ta có thể hiểu được Giáo Pháp của đức Thế Tôn ấy!’ Bạch ngài, đó là điều ước nguyện thứ năm của trẫm; giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. Bạch ngài, trước đây khi còn là hoàng tử, trẫm đã có năm điều ước nguyện này; giờ đây các điều ấy đã được thành tựu cho trẫm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): ‘Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng;’ tương tự như thế, Pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, trẫm đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội Chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận trẫm là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời trẫm về bữa thọ trai vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, khi trải qua đêm ấy đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã cho người chuẩn bị thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm rồi sai người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: &#8211; “Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, đi vào thành Rājagaha cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn vị tỳ khưu, hết thảy tất cả đều là các đạo sĩ bện tóc trước đây. Vào lúc bấy giờ, chúa của chư Thiên Sakka đã biến thành hình dáng của người thanh niên đi phía trước hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu ngâm nga những lời kệ này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị đã tự rèn luyện, đã hoàn toàn giải thoát, cùng những vị trước đây là các đạo sĩ bện tóc (giờ) đã được rèn luyện, đã hoàn toàn giải thoát. Với sắc màu vàng khối, đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị đã được thanh tịnh, đã hoàn toàn giải thoát, cùng những vị trước đây là các đạo sĩ bện tóc (giờ) đã được thanh tịnh, đã hoàn toàn giải thoát. Với sắc màu vàng khối, đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị đã được tự do, đã hoàn toàn giải thoát, cùng những vị trước đây là các đạo sĩ bện tóc (giờ) đã được tự do, đã hoàn toàn giải thoát. Với sắc màu vàng khối, đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị đã tự vượt qua, đã hoàn toàn giải thoát, cùng những vị trước đây là các đạo sĩ bện tóc (giờ) đã được vượt qua, đã hoàn toàn giải thoát. Với sắc màu vàng khối, đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đấng Thập Trú,[18] Thập Lực, bậc thông hiểu mười pháp,[19] và đã thành đạt mười điều,[20] đức Thế Tôn ấy được tháp tùng bởi một ngàn vị đã đi vào thành Rājagaha.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dân chúng sau khi nhìn thấy chúa của chư Thiên Sakka đã nói như vầy: -“Chàng thanh niên trẻ này thật đẹp trai! Chàng thanh niên trẻ này thật duyên dáng! Chàng thanh niên trẻ này thật đáng tin! Chàng thanh niên trẻ này là thuộc về ai vậy?” Khi được nói như thế, chúa của chư Thiên Sakka đã nói với đám người ấy bằng bài kệ này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Vị nào là bậc trí tuệ, đã được rèn luyện về mọi mặt, là vị trong sạch, không có đối thủ, là bậc A-la-hán, đấng Thiện Thệ ở thế gian, ta là người phục vụ cho vị ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn đã đi đến tư dinh của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, đức vua đã ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn nên ngụ ở nơi nào đây? Đối với ngài, chỗ ấy không nên xa làng mạc lắm, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc tới lui, dân chúng có thể đi đến khi nào có ước muốn, ban ngày không đông đảo, ban đêm ít âm thanh, ít tiếng ồn, gió bị hạn chế, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh.” Rồi đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã khởi ý điều này: “Khu vườn Veḷuvana này của chúng ta là không xa làng mạc lắm, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc tới lui, dân chúng có thể đi đến khi nào có ước muốn, ban ngày không đông đảo, ban đêm ít âm thanh, ít tiếng ồn, gió bị hạn chế, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh, hay là ta nên dâng khu vườn Veḷuvana đến hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã cầm lấy bình nước làm bằng vàng rưới nước lên đức Thế Tôn (nói rằng): &#8211; “Bạch ngài, trẫm dâng khu vườn Veḷuvana này đến hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu.” Đức Thế Tôn đã thọ lãnh khu vườn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép khu vườn.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, vị du sĩ Sañjaya cư trú tại thành Rājagaha cùng với tập thể du sĩ đông đảo gồm có hai trăm năm mươi vị du sĩ. Vào lúc bấy giờ, Sāriputta và Moggallāna thực hành Phạm hạnh theo du sĩ Sañjaya. Họ đã giao ước với nhau rằng: “Người nào chứng đạt sự bất tử trước phải thông báo cho vị kia hay.” Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Assaji đã mặc y cầm y bát đi vào thành Rājagaha để khất thực. Vị ấy có mắt nhìn xuống, đã thành tựu các oai nghi, tạo được niềm tịnh tín khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duỗi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Du sĩ Sāriputta đã nhìn thấy đại đức Assaji, là vị có mắt nhìn xuống, đã thành tựu các oai nghi, tạo được niềm tịnh tín khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duỗi, đang đi khất thực trong thành Rājagaha. Sau khi nhìn thấy đã khởi ý điều này: “Đây chính là vị tỳ khưu trong số các vị thật sự là A-la-hán trên thế gian, hoặc là đã đạt được con đường đưa đến quả vị A-la-hán. Hay là ta nên đến gần vị tỳ khưu này và hỏi rằng: ‘Thưa đại đức, đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào?’ hoặc là ‘Ai là thầy của đại đức?’ hoặc là ‘Đại đức ưa thích pháp của vị nào?’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, du sĩ Sāriputta đã khởi ý điều này: “Không phải lúc để hỏi vị tỳ khưu này, vị ấy đã đi vào xóm nhà và đang đi khất thực. Hay là ta nên đi sát theo sau vị tỳ khưu này là vị biết đạo lộ đang được học tập bởi những kẻ mong cầu sự lợi ích?” Sau đó, khi đã đi khất thực ở trong thành Rājagaha xong đại đức Assaji đã cầm lấy đồ ăn khất thực đi trở về. Khi ấy, du sĩ Sāriputta đã đi đến gần đại đức Assaji, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đại đức Assaji, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, du sĩ Sāriputta đã nói với đại đức Assaji điều này: &#8211; “Thưa đại đức, các giác quan của ngài thật thanh tịnh, màu sắc cơ thể thật trong sáng và thuần khiết. Thưa đại đức, đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào? Ai là thầy của đại đức? Đại đức ưa thích pháp của vị nào?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này đạo hữu, có vị đại Sa-môn con trai dòng Sakya, từ dòng họ Sakya đã xuất gia. Ta đã được xuất gia có liên quan đến đức Thế Tôn ấy. Đức Thế Tôn ấy là đạo sư của ta và ta ưa thích Pháp của đức Thế Tôn ấy.” &#8211; “Vị đạo sư của đại đức đã thuyết về điều gì? Đã giảng về điều gì?” &#8211; “Này đạo hữu, ta là vị mới tu, được xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này, ta không thể thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết cho đạo hữu được; tuy nhiên ta sẽ nói cho đạo hữu ý nghĩa một cách tóm tắt.” Khi ấy, du sĩ Sāriputta đã nói với đại đức Assaji điều này: &#8211; “Thưa đại đức, hãy là vậy đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xin hãy nói ít hoặc nhiều, xin hãy giảng thuần ý nghĩa cho tôi. Tôi chỉ cần ý nghĩa thôi, ngài nói nhiều từ làm chi?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Assaji đã nói với du sĩ Sāriputta lời dạy này thuộc về Giáo Pháp:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Các pháp nào có nguồn sanh khởi do nhân, đức Như Lai đã nói về nhân của chúng và về sự diệt tắt của chúng, bậc Đại Sa-môn đã có lời dạy như thế.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã nghe được lời dạy thuộc về Giáo Pháp này thì Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến du sĩ Sāriputta: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Đây chính là Giáo Pháp, nếu chỉ bấy nhiêu thôi mà đã thấu triệt được Niết Bàn không sầu muộn (là pháp) đã không được nhìn thấy, đã trôi qua hàng vạn kiếp.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, du sĩ Sāriputta đã đi đến gặp du sĩ Moggallāna. Du sĩ Moggallāna đã nhìn thấy du sĩ Sāriputta từ đằng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với du sĩ Sāriputta điều này: &#8211; “Này bạn, các giác quan của bạn thật thanh tịnh, màu sắc cơ thể thật trong sáng và thuần khiết. Này bạn, chắc hẳn là bạn đã chứng đạt sự bất tử?” &#8211; “Này bạn, đúng vậy. Tôi đã chứng đạt sự bất tử.” &#8211; “Này bạn, bạn đã chứng đạt sự bất tử bằng cách như thế nào?” &#8211; “Này bạn, ở đây tôi đã nhìn thấy vị tỳ khưu Assaji, là vị có mắt nhìn xuống, đã thành tựu các oai nghi, tạo được niềm tịnh tín khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duỗi, đang đi khất thực trong thành Rājagaha. Sau khi nhìn thấy đã khởi ý điều này: ‘Đây chính là vị tỳ khưu trong số các vị thật sự là A-la-hán trên thế gian, hoặc là đã đạt được con đường đưa đến quả vị A-la-hán. Hay là ta nên đến gần vị tỳ khưu này và hỏi rằng: Thưa đại đức, đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào? hoặc là: Ai là thầy của đại đức? hoặc là: Đại đức ưa thích pháp của vị nào?’ Này bạn, khi ấy tôi đây đã khởi ý điều này: ‘Không phải lúc để hỏi vị tỳ khưu này, vị ấy đã đi vào xóm nhà và đang đi khất thực, hay là ta nên đi sát theo sau vị tỳ khưu này là vị biết đạo lộ đang được học tập bởi những kẻ mong cầu sự lợi ích?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này bạn, sau khi đi khất thực ở trong thành Rājagaha xong, vị tỳ khưu Assaji đã cầm lấy đồ ăn khất thực đi trở về. Này bạn, khi ấy tôi đã đi đến gần vị tỳ khưu Assaji, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với vị tỳ khưu Assaji, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng ở một bên. Này bạn, khi đã đứng một bên tôi đã nói với vị tỳ khưu Assaji điều này: ‘Thưa đại đức, các giác quan của ngài thật thanh tịnh, màu sắc cơ thể thật trong sáng và thuần khiết. Thưa đại đức, đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào? Ai là thầy của đại đức? Đại đức ưa thích pháp của vị nào?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Này đạo hữu, có vị đại Sa-môn con trai dòng Sakya, từ dòng họ Sakya đã xuất gia. Ta đã được xuất gia có liên quan đến đức Thế Tôn ấy. Đức Thế Tôn ấy là đạo sư của ta và ta ưa thích Pháp của đức Thế Tôn ấy.’ ‘Vị đạo sư của đại đức đã thuyết về điều gì? Đã giảng về điều gì?’ ‘Này đạo hữu, ta là vị mới tu, được xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này, ta không thể thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết cho đạo hữu được; tuy nhiên ta sẽ nói cho đạo hữu ý nghĩa một cách tóm tắt.’ Này bạn, khi ấy tôi đã nói với đại đức Assaji điều này: ‘Thưa đại đức, hãy là vậy đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xin hãy nói ít hoặc nhiều, xin hãy giảng thuần ý nghĩa cho tôi. Tôi chỉ cần ý nghĩa thôi, ngài nói nhiều từ làm chi?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này bạn, khi ấy vị tỳ khưu Assaji đã nói với tôi lời dạy này thuộc về Giáo Pháp:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Các pháp nào có nguồn sanh khởi do nhân, đức Như Lai đã nói về nhân của chúng và về sự diệt tắt của chúng, bậc Đại Sa-môn đã có lời dạy như thế.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã nghe được lời dạy thuộc về Giáo Pháp này thì Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến du sĩ Moggallāna: ‘Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Đây chính là Giáo Pháp, nếu chỉ bấy nhiêu thôi mà đã thấu triệt được Niết Bàn không sầu muộn (là pháp) đã không được nhìn thấy, đã trôi qua hàng vạn kiếp.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, du sĩ Moggallāna đã nói với du sĩ Sāriputta điều này: &#8211; “Này bạn, chúng ta hãy đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng ta.” &#8211; “Này bạn, hai trăm năm mươi du sĩ này sống ở đây đang nương tựa vào chúng ta, và đang trông nom chúng ta, chúng ta hãy thông báo đến các vị ấy, các vị suy tính như thế nào thì các vị sẽ làm như thế ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đi đến gặp các vị du sĩ ấy, sau khi đến đã nói với các vị du sĩ ấy điều này: &#8211; “Này các đạo hữu, chúng tôi đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng tôi.” &#8211; “Chúng tôi sống ở đây nương tựa vào các đại đức, và đang trông nom các đại đức, nếu các đại đức sẽ thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa-môn hết thảy tất cả chúng tôi sẽ thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa-môn.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đi đến gặp du sĩ Sañjaya, sau khi đến đã nói với du sĩ Sañjaya điều này: &#8211; “Này đại đức, chúng tôi đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng tôi.” &#8211; “Này các đại đức, thôi đủ rồi. Chớ có đi. Chính tất cả ba chúng ta sẽ quản trị nhóm người này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đến lần thứ nhì, ―(như trên)― Đến lần thứ ba, Sāriputta và Moggallāna đã nói với du sĩ Sañjaya điều này: &#8211; “Này đại đức, chúng tôi đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng tôi.” &#8211; “Này các đại đức, thôi đủ rồi. Chớ có đi. Chính tất cả ba chúng ta sẽ quản trị nhóm người này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đưa hai trăm năm mươi du sĩ ấy đi đến Veḷuvana. Về phần du sĩ Sañjaya, ngay tại chỗ ấy máu nóng đã ứa ra từ miệng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Thế Tôn đã nhìn thấy Sāriputta và Moggallāna từ đằng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, họ là hai người bạn, Kolita và Upatissa, đang đi đến. Họ sẽ trở thành một cặp đệ tử của ta, một cặp (đệ tử) xuất sắc, đứng đầu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi hai vị có lãnh vực trí tuệ thâm sâu, (đã chứng) Niết Bàn vô thượng, đã được giải thoát, còn chưa đến được Veluvana, bậc Đạo Sư đã nói với các vị (tỳ khưu) ấy rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Họ là hai người bạn, Kolita và Upatissa, đang đi đến. Họ sẽ trở thành một cặp đệ tử của ta, một cặp (đệ tử) xuất sắc, đứng đầu.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu đảnh lễ ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các đại đức ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, những người con trai gia đình danh giá ở xứ Magadha là những người có nhiều tiếng tăm thực hành Phạm hạnh theo đức Thế Tôn. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Sa-môn Gotama đã tạo ra khuynh hướng không con cái, Sa-môn Gotama đã gây nên cảnh vợ không chồng, Sa-môn Gotama đã gây nên sự đổ vỡ của các gia đình. Hiện nay, cùng với ông ta một ngàn vị đạo sĩ bện tóc đã xuất gia, hai trăm năm mươi du sĩ này của Sañjaya đã xuất gia, và những người con trai gia đình danh giá này ở xứ Magadha là những người có nhiều tiếng tăm đang thực hành Phạm hạnh theo Sa-môn Gotama.” Hơn nữa, khi gặp các vị tỳ khưu họ đã quở trách bằng bài kệ này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Quả là vị đại Sa-môn đã đi đến thành Giribbaja thuộc xứ Magadha. Sau khi đã dẫn đi toàn bộ Sañjaya, giờ đây sẽ dẫn người nào đi?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tiếng đồn đãi ấy sẽ không tồn tại lâu, sẽ tồn tại chỉ được bảy ngày, khi trải qua bảy ngày thì sẽ biến mất. Này các tỳ khưu, chính vì việc ấy những người nào quở trách các ngươi bằng bài kệ này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Quả là vị đại Sa-môn đã đi đến thành Giribbaja thuộc xứ Magadha. Sau khi đã dẫn đi toàn bộ Sañjaya, giờ đây sẽ dẫn người nào đi?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các ngươi hãy quở trách lại họ bằng bài kệ này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Đúng vậy, các bậc Đại Hùng các đức Như Lai dẫn dắt bằng Chánh Pháp. Những người có sự nhận thức thì có điều ganh tỵ gì với những vị đang dẫn đi bằng Chánh Pháp?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, dân chúng khi gặp các vị tỳ khưu đã quở trách bằng bài kệ này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Quả là vị đại Sa-môn đã đi đến thành Giribbaja thuộc xứ Magadha. Sau khi đã dẫn đi toàn bộ Sañjaya, giờ đây sẽ dẫn người nào đi?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị tỳ khưu đã quở trách lại những người ấy bằng bài kệ này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Đúng vậy, các bậc Đại Hùng các đức Như Lai dẫn dắt bằng Chánh Pháp. Những người có sự nhận thức thì có điều ganh tỵ gì với những vị đang dẫn đi bằng Chánh Pháp?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dân chúng nghĩ rằng: &#8211; “Nghe nói các Sa-môn Thích tử dẫn dắt bằng Chánh Pháp không phải bằng Phi Pháp.” Tiếng đồn ấy đã tồn tại chỉ có bảy ngày, sau khi trải qua bảy ngày đã biến mất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự xuất gia của Sāriputta và Moggallāna</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm thứ tư</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[17] Dvādasa + nahuta = 12 nahuta. Ngài Buddhaghosa giải thích là: 1 nahuta = 10.000, như vậy 12 nahuta = 120.000 (VinA. v, 972). Trong khi đó từ điển “A dictionary of the Pali Language” của Robert Cæsar Childers ghi là: 1 nahuta = 10.000.000<sup>4</sup>, tức là 28 con số không (0) sau con số một, như thế 12 nahuta là một con số quá lớn, không hợp lý trong trường hợp này. </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[18] Đấng Thập Trú (dasavāso): là vị có sự cư trú trong mười pháp của bậc Thánh. H.T. Minh Châu dịch là ‘Mười Thánh cư’ (Xin xem Kinh Trường Bộ, kinh Phúng Tụng, phần Mười Pháp, hoặc Kinh Tăng Chi Bộ, chương 10 pháp, phẩm 2).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[19] Thông hiểu mười pháp (dasadhammavidū): là vị thông hiểu về mười đường lối tạo nghiệp (liên quan đến thân có 3, liên quan đến khẩu có 4 và liên quan đến ý có 3).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[20] Thành đạt mười điều (dasabhi cupeto): là thành tựu mười pháp của bậc vô học gồm có: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh cần, chánh niệm, chánh định, chánh trí, chánh giải thoát (Kinh Tăng Chi Bộ, chương 10 pháp, phẩm 11). Ba điều này được giải thích dựa theo Chú Giải (VinA. v, 973).</span></p>
<p style="text-align: center;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐẠI PHẨM I: CHƯƠNG TRỌNG YẾU &#8211; TỤNG PHẨM THỨ NĂM</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-i-chuong-trong-yeu-tung-pham-thu-nam-den-thu-bay/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 00:25:38 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=11589</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm I Chương Trọng Yếu Tụng Phẩm Thứ Năm Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu không có]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đại Phẩm I</span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Chương Trọng Yếu </span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tụng Phẩm Thứ Năm</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu không có thầy tế độ, trong khi không được giáo huấn và không được chỉ dạy nên mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực. Trong khi dân chúng đang ăn, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức uống, các vị còn tự mình yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức uống, các vị còn tự mình yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn giống như các Bà-la-môn trong bữa ăn của các Bà-la-môn vậy?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các vị tỳ khưu lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức uống, các vị còn tự mình yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn vậy?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức uống, các vị còn tự mình yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn, có đúng không vậy?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại ấy, thật không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức uống, các vị còn tự mình yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã khiển trách các vị tỳ khưu ấy bằng nhiều phương thức, đức Thế Tôn đã chê trách về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, sự khó khăn trong việc ăn uống, sự tầm cầu quá nhiều, sự không biết đủ, sự kết phe nhóm, sự biếng nhác; và bằng nhiều phương thức ngài đã ngợi khen về sự dễ dàng trong việc cấp dưỡng, sự dễ dàng trong việc ăn uống, sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức tinh tấn. Ngài đã nói Pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các tỳ khưu rồi bảo các tỳ khưu rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị thầy tế độ. Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ sẽ gợi lên ở người đệ tử [1] tâm của người con và người đệ tử sẽ gợi lên ở vị thầy tế độ tâm của người cha. Như thế, trong khi sống cùng nhau có sự tôn kính, có sự phục tùng, có sự cư xử hài hòa với nhau, họ sẽ đạt đến sự lớn mạnh, sự tăng trưởng, sự phát triển trong Pháp và Luật này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, vị thầy tế độ nên được xác định như vầy: (Người đệ tử) nên đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: “Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy tế độ của con. Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy tế độ của con. Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy tế độ của con.” (Vị thầy tế độ nên nói rằng): “Tốt rồi!” hay là “Được nhẹ nhàng rồi!” hay là “Đúng rồi!” hay là “Được phù hợp rồi!” hay là “Hãy được thành tựu sự hoan hỷ!” (Nếu) vị (thầy tế độ) bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói, thì vị thầy tế độ đã được xác định. (Nếu) vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, vị thầy tế độ đã không được xác định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, người đệ tử nên thực hành phận sự đúng đắn đối với vị thầy tế độ. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này: Nên thức dậy vào lúc sáng sớm, cởi dép ra, đắp thượng y một bên vai, rồi nên dâng gỗ chà răng, nên dâng nước súc miệng, và nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa sạch tô rồi đem cháo lại. Khi thầy đã uống cháo xong, nên dâng nước, nên nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi thầy tế độ đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy tế độ có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, và nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi dâng lên. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. Nếu thầy tế độ muốn có thị giả đi theo, (người đệ tử) nên mặc y nội tròn đều với sự che phủ ba vòng tròn, buộc dây thắt lưng, gấp y hai lớp thành nếp rồi đắp lên, thắt lại dây buộc, rửa và ôm lấy bình bát, rồi nên đi theo làm thị giả cho thầy tế độ. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy bình bát được (vị thầy) hoán đổi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi thầy tế độ đang nói, không nên cắt ngang lời nói nửa chừng. Khi thầy tế độ có khả năng phạm tội lúc đang nói thì nên ngăn lại. Khi quay trở về, nên đi về trước tiên và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây) và nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi y ở chỗ nắng quá lâu. Nên gấp y lại. Khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.”[2] Nên đặt dây thắt lưng ở bên trong phần gấp lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu có đồ ăn khất thực và thầy tế độ có ý muốn thọ dụng thì nên dâng nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý thầy tế độ về nước uống. Khi thầy ăn xong nên dâng nước (rửa), nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi bình bát ở chỗ nắng quá lâu. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi thầy tế độ đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy tế độ có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy tế độ có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi rồi đi đến từ phía sau lưng và trao ghế ngồi của nhà tắm hơi cho thầy tế độ, nên nhận lấy y và để ở một bên, nên trao bột tắm, nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên đắp lên cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Khi tắm xong nên đi ra trước, lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của thầy tế độ. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý thầy tế độ về nước uống. Nếu có ý muốn thỉnh (thầy) đọc tụng, nên thỉnh (thầy) đọc tụng. Nếu có ý muốn vấn đạo, nên thỉnh (thầy) vấn đạo.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở trú xá nào thầy tế độ cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác rến, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc. Nếu có mạng nhện ở trú xá, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu phần nền không được thực hiện, nên rải nước rồi quét (nghĩ rằng): “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc. Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa, và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa, và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu phòng có rác rến, nên quét phòng. Nếu cổng có rác rến, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác rến, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác rến, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác rến, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu sự bực bội sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu nỗi ân hận sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu tà kiến sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy tế độ bị phạm tội nặng xứng đáng hành phạt <i>parivāsa</i>, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt <i>parivāsa</i> cho thầy tế độ?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy tế độ xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể cho thầy tế độ (thực hành) trở lại từ đầu?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy tế độ xứng đáng hành phạt <i>mānatta</i>, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt <i>mānatta</i> cho thầy tế độ?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy tế độ xứng đáng sự giải tội, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho thầy tế độ?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu hội chúng có ý định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với thầy tế độ, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự đối với thầy tế độ, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đã tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với thầy tế độ, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thầy tế độ có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu y của thầy tế độ cần phải giặt, người đệ tử nên giặt hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy tế độ được giặt?” Nếu y của thầy tế độ cần phải may, người đệ tử nên may hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy tế độ được may?” Nếu thuốc nhuộm của thầy tế độ cần phải nấu, người đệ tử nên nấu hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy tế độ được nấu?” Nếu y của thầy tế độ cần phải nhuộm, người đệ tử nên nhuộm hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy tế độ được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên nhuộm bằng cách đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không có phép của thầy tế độ, không nên cho bình bát đến người khác, không nên thọ lãnh bình bát của người khác, không nên cho y đến người khác, không nên thọ lãnh y của người khác, không nên cho vật dụng đến người khác, không nên thọ lãnh vật dụng của người khác, không nên cạo tóc cho người khác, không nên bảo người khác cạo tóc, không nên kỳ cọ người khác, không nên bảo người khác kỳ cọ, không nên hầu hạ người khác, không nên bảo người khác hầu hạ, không nên làm thị giả người khác, không nên nhận người khác làm thị giả, không nên mang đồ ăn khất thực lại dùm người khác, không nên nhờ người khác mang dùm đồ ăn khất thực lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chưa xin phép thầy tế độ không nên đi vào làng, không nên đi đến mộ địa, không nên bỏ đi hướng khác. Nếu thầy tế độ bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. Nên đợi cho đến khi vị thầy khỏe lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phận sự đối với thầy tế độ</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ nên thực hành phận sự đúng đắn đối với người đệ tử. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này: Này các tỳ khưu, thầy tế độ nên quan tâm đến người đệ tử, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự vấn hỏi, bằng sự giáo huấn, bằng sự chỉ dạy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy tế độ có bình bát và người đệ tử không có bình bát, thầy tế độ nên cho bình bát đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để bình bát có thể phát sanh đến đệ tử?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy tế độ có y và người đệ tử không có y, thầy tế độ nên cho y đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y có thể phát sanh đến đệ tử?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy tế độ có vật dụng và người đệ tử không có vật dụng, thầy tế độ nên cho vật dụng đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến đệ tử?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người đệ tử bị bệnh, (vị thầy tế độ) nên thức dậy vào lúc sáng sớm. Nên trao gỗ chà răng. Nên trao nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa sạch tô rồi đem cháo lại. Khi người đệ tử đã uống cháo xong, nên trao nước (rửa), nên nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi người đệ tử đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác rến thì nên quét khu vực ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người đệ tử có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, và nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trao cho. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. (Nghĩ rằng): “Đến lúc vị ấy sắp trở về,” nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây) và nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi y ở chỗ nắng quá lâu. Nên gấp y lại. Khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.” Nên đặt dây thắt lưng ở bên trong phần gấp lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu có đồ ăn khất thực và người đệ tử có ý muốn thọ dụng thì nên trao nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý người đệ tử về nước uống. Khi người đệ tử ăn xong nên trao nước (rửa). Nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi bình bát ở chỗ nắng quá lâu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi người đệ tử đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác rến thì nên quét khu vực ấy. Nếu người đệ tử có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người đệ tử có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi đến, trao ghế ngồi của nhà tắm hơi, nhận lấy y, rồi nên đem để ở một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên đắp lên cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho người đệ tử. Khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho người đệ tử. Khi tắm xong nên đi ra trước, lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của người đệ tử. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý người đệ tử về nước uống. Ở trú xá nào người đệ tử cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác rến, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc. Nếu có mạng nhện ở trú xá, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rải nước rồi quét (nghĩ rằng): “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc. Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu phòng có rác rến, nên quét phòng. Nếu cổng có rác rến, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác rến, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác rến, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác rến, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu sự bực bội sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu nỗi ân hận sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người đệ tử bị phạm tội nặng xứng đáng hành phạt <i>parivāsa</i>, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt <i>parivāsa</i> cho đệ tử?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người đệ tử xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể cho đệ tử (thực hành) trở lại từ đầu?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người đệ tử xứng đáng hành phạt <i>mānatta</i>, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt <i>mānatta</i> cho đệ tử?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người đệ tử xứng đáng sự giải tội, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho đệ tử?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu hội chúng có ý định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người đệ tử, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự đối với đệ tử, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đã tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người đệ tử, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để đệ tử có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu y của người đệ tử cần phải giặt, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên giặt như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của đệ tử được giặt?” Nếu y của người đệ tử cần phải may, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên may như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của đệ tử được may?” Nếu thuốc nhuộm của người đệ tử cần phải nấu, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nấu như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của đệ tử được nấu?” Nếu y của người đệ tử cần phải nhuộm, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nhuộm như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của đệ tử được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng. Nếu người đệ tử bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. Nên đợi cho đến khi người đệ tử khỏe lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phận sự đối với đệ tử</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các người đệ tử không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các người đệ tử lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các người đệ tử không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, người đệ tử không nên không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ; vị nào không thực hành đúng đắn thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Các người đệ tử) vẫn không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, ta cho phép đuổi đi người (đệ tử) không thực hành phận sự đúng đắn</i>. Và này các tỳ khưu, nên đuổi đi như vầy: “Ta đuổi ngươi đi,” hay là “Đừng có quay trở lại đây,” hay là “Hãy đem đi y bát của ngươi,” hay là “Ta không giúp đỡ ngươi nữa.” (Nếu) vị (thầy tế độ) bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói, thì người đệ tử đã bị đuổi đi. (Nếu) vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, thì người đệ tử không bị đuổi đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, những người đệ tử bị đuổi đi đã không xin lỗi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, ta cho phép xin lỗi</i>.” Các người (đệ tử) vẫn không xin lỗi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, người (đệ tử) bị đuổi đi không nên không xin lỗi; vị nào không xin lỗi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, khi được xin lỗi các vị thầy tế độ không tha thứ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, ta cho phép tha thứ</i>.” Các vị (thầy tế độ) vẫn không tha thứ. Những người đệ tử rời đi, (hoặc) hoàn tục, (hoặc) theo ngoại đạo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, khi được xin lỗi không nên không tha thứ; vị nào không tha thứ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị thầy tế độ đuổi đi những người (đệ tử) thực hành phận sự đúng đắn, không đuổi đi những người (đệ tử) không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người (đệ tử) thực hành phận sự đúng đắn; vị nào đuổi đi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Và này các tỳ khưu, không nên không đuổi đi người (đệ tử) không thực hành phận sự đúng đắn; vị nào không đuổi đi thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều niềm tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện.[3] Này các tỳ khưu, nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ có nhiều lòng yêu mến, có nhiều niềm tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, người đệ tử là đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều niềm tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, người đệ tử là đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, người đệ tử là không đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ có nhiều lòng yêu mến, có nhiều niềm tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, người đệ tử là không đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều niềm tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ có nhiều lòng yêu mến, có nhiều niềm tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người Bà-la-môn nọ (tên Rādha) đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã không ưng thuận cho người ấy xuất gia. Người ấy trong khi không đạt được sự xuất gia ở nơi các tỳ khưu đã trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Thế Tôn đã nhìn thấy người Bà-la-môn ấy ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân, sau khi nhìn thấy đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, việc gì khiến người Bà-la-môn ấy ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân vậy?” &#8211; “Bạch ngài, người Bà-la-môn ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã không ưng thuận cho người ấy xuất gia. Người ấy trong khi không đạt được sự xuất gia ở nơi các tỳ khưu đã trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, có vị nào nhớ được điều tốt đẹp của người Bà-la-môn ấy?” Khi được nói như vậy, đại đức Sāriputta đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, con nhớ được điều tốt đẹp của người Bà-la-môn ấy.” &#8211; “Này Sāriputta, ngươi nhớ được điều tốt đẹp gì của người Bà-la-môn ấy?” &#8211; “Bạch ngài, trường hợp này là khi con đang đi khất thực ở trong thành Rājagaha, người Bà-la-môn ấy đã sai người cho một muỗng vật thực. Bạch ngài, đó là điều tốt đẹp của người Bà-la-môn ấy mà con nhớ được.” &#8211; “Này Sāriputta, tốt lắm, tốt lắm! Này Sāriputta, bởi vì những người tốt là những người biết ơn và nhớ ơn đã thọ. Này Sāriputta, chính vì điều ấy ngươi hãy cho người Bà-la-môn ấy xuất gia và tu lên bậc trên.” &#8211; “Bạch ngài, con cho người Bà-la-môn ấy xuất gia và tu lên bậc trên như thế nào?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, việc tu lên bậc trên bằng ba sự đi đến nương nhờ (Tam Quy) đã được ta cho phép, kể từ nay ta hủy bỏ việc ấy. Này các tỳ khưu, ta cho phép tu lên bậc trên bằng hành sự với lời thông báo đến lần thứ tư. Và này các tỳ khưu, nên cho tu lên bậc trên như vầy. Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ thực hiện hành động sai trái liền ngay sau khi được tu lên bậc trên. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này đại đức, chớ có hành động như thế, điều ấy không được phép.” Vị ấy đã nói như vầy: &#8211; “Tôi đâu có cầu xin các đại đức rằng: ‘Các đại đức hãy cho tôi tu lên bậc trên.’ Tại sao các ngài khi chưa được tôi cầu xin mà đã cho tu lên bậc trên?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không cầu xin; vị nào ban phép tu lên bậc trên thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép ban phép tu lên bậc trên đối với người đã cầu xin. Và này các tỳ khưu, nên được cầu xin như vầy: Vị có ý muốn tu lên bậc trên ấy nên đi đến hội chúng tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các vị tỳ khưu, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với hội chúng như vầy: &#8211; ‘<i>Bạch các ngài, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, vì lòng thương xót xin hội chúng hãy tế độ tôi.</i>’ Nên được cầu xin đến lần thứ nhì. ―(như trên)― Nên được cầu xin đến lần thứ ba. ―(như trên)― Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Vị tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Vị tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, ở trong thành Rājagaha sự tuần tự của các bữa trai phạn gồm các thức ăn hảo hạng được tiến hành đều đặn. Khi ấy, có người Bà-la-môn nọ đã khởi ý điều này: “Những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, hay là ta nên xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử này?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, người Bà-la-môn ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã cho người ấy xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Khi người ấy đã được xuất gia, sự tuần tự của các bữa ăn đã hết. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này đại đức, hãy đến. Hôm nay chúng ta sẽ đi khất thực.” Vị ấy đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, tôi đã không xuất gia vì nguyên nhân này: ‘Ta sẽ đi khất thực.’ Nếu các vị cho tôi thì tôi sẽ ăn, nếu các vị không cho tôi thì tôi sẽ hoàn tục.” &#8211; “Này đại đức, có phải ngài đã xuất gia vì nguyên nhân của bao tử?” &#8211; “Này các đại đức, đúng vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao vị tỳ khưu lại xuất gia trong Pháp và Luật khéo được thuyết giảng như vầy vì nguyên nhân của bao tử?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này tỳ khưu, nghe nói ngươi đã xuất gia vì nguyên nhân của bao tử, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại xuất gia trong Pháp và Luật khéo được thuyết giảng như vầy vì nguyên nhân của bao tử? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đang ban phép tu lên bậc trên chỉ dẫn về bốn vật nương nhờ: Việc xuất gia nương vào thức ăn do khất thực, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lãnh ngoại lệ là: bữa ăn dâng hội chúng, bữa ăn được chỉ định, sự mời thỉnh, bữa ăn theo thẻ, vào mỗi nửa tháng, vào ngày <i>Uposatha</i>, vào ngày đầu của mỗi nửa tháng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Việc xuất gia nương vào y làm bằng vải dơ bị quăng bỏ, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lãnh ngoại lệ là: (y làm bằng) sợi lanh, bông vải, tơ lụa, sợi len, gai thô, chỉ bố.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Việc xuất gia nương vào chỗ trú ngụ là gốc cây, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lãnh ngoại lệ là: trú xá, nhà một mái, tòa nhà dài, khu nhà lớn, hang động.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Việc xuất gia nương vào dược phẩm là nước tiểu gia súc, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lãnh ngoại lệ là: bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm về phận sự đối với thầy tế độ là thứ năm</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] <em>saddhivihārika</em>: dịch sát theo từ là: ‘vị sống chung trú xá.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Nếu gấp đôi y lại sẽ có đường gấp ở chính giữa, phần giữa này sẽ ở phần sau lưng khi trùm y vào và là phần thường bị hư hỏng trước nhất do sự cọ xát. Cách gấp y như vầy để hạn chế điều ấy (Theo lời giải thích của ngài Mahāsamaṇa Chao được ghi ở tài liệu <i>Vinayamukha</i>).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Ngài Buddhaghosa giải thích là sự rèn luyện về tâm từ (VinA. v, 983).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng tăng thượng giới (<i>adhisīla</i>) gồm có bốn tội <em>pārājika</em> và mười ba tội <em>saṅghādisesa</em>. (VinA. v, 989).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Tăng thượng hạnh (<i>ajjhācāra</i>) là các tội khác thuộc về năm nhóm tội của giới bổn <em>Pātimokkha</em> (Sđd.).</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐẠI PHẨM I: CHƯƠNG TRỌNG YẾU &#8211; TỤNG PHẨM THỨ SÁU</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-i-chuong-trong-yeu-tung-pham-thu-sau/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 00:30:48 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58460</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm I Chương Trọng Yếu Tụng Phẩm Thứ Sáu Vào lúc bấy giờ, có chàng thanh niên nọ đã]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đại Phẩm I</span></strong></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Chương Trọng Yếu </span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tụng Phẩm Thứ Sáu</span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có chàng thanh niên nọ đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã chỉ dẫn cho chàng trai về các vật nương nhờ trước. Chàng trai đã nói như vầy: &#8211; “Thưa các ngài, nếu khi tôi đã được xuất gia các ngài mới chỉ dẫn về các vật nương nhờ thì tôi còn có thể thích thú. Thưa các ngài, giờ đây tôi sẽ không xuất gia, đối với tôi các vật nương nhờ là ghê tởm đáng ghét.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên chỉ dẫn về các vật nương nhờ trước; vị nào chỉ dẫn thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ dẫn về các vật nương nhờ liền ngay sau khi đã được tu lên bậc trên.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đã ban phép tu lên bậc trên với tập thể là nhóm hai vị, nhóm ba vị. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên ban phép tu lên bậc trên với tập thể là nhóm ít hơn mười vị; vị nào ban phép tu lên bậc trên thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép ban phép tu lên bậc trên với tập thể là nhóm mười vị hoặc nhóm trên mười vị.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu chỉ được một năm, hai năm đã cho đệ tử tu lên bậc trên. Ngay cả đại đức Upasena con trai của Vaṅganta được một năm đã cho người đệ tử tu lên bậc trên. Khi đã sống qua mùa (an cư) mưa là được hai năm, vị ấy đã đưa người đệ tử được một năm đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Điều này đã trở thành thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm nở với các tỳ khưu đi đến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Upasena con trai của Vaṅganta điều này: &#8211; “Này các tỳ khưu, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Các ngươi đi đến đường xa có được ít mệt nhọc không?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, sức khoẻ có khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc được tốt đẹp. Và bạch ngài, chúng con đi đường xa ít có mệt nhọc.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi, có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai mới hỏi và không (hỏi việc) không có liên quan đến lợi ích, khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách để cắt đứt vấn đề. Chư Phật Thế Tôn hỏi các tỳ khưu với hai lý do: “Chúng ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp hoặc là chúng ta sẽ quy định điều học cho các đệ tử.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Upasena con trai của Vaṅganta điều này: &#8211; “Này tỳ khưu, ngươi được bao nhiêu năm?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con được hai năm.” &#8211; “Còn vị tỳ khưu này được bao nhiêu năm?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, được một năm.” &#8211; “Vị tỳ khưu này là gì của ngươi?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, là đệ tử của con.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao (trong khi) ngươi còn cần được những người khác giáo huấn chỉ dạy lại nghĩ đến giáo huấn chỉ dạy người khác? Này kẻ rồ dại, ngươi trở thành đa đoan quá nhanh chóng tức là việc kết nạp đồ chúng. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, vị dưới mười năm không nên ban phép tu lên bậc trên; vị nào ban phép tu lên bậc trên thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị mười năm hoặc trên mười năm được ban phép tu lên bậc trên.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm (nghĩ rằng): “Ta được mười năm! Ta được mười năm!” rồi ban phép tu lên bậc trên. (Các trường hợp) những thầy tế độ ngu dốt và các đệ tử sáng trí được phát hiện, những thầy tế độ thiếu kinh nghiệm và các đệ tử có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy tế độ nghe ít và các đệ tử nghe nhiều được phát hiện, những thầy tế độ trí kém và các đệ tử trí tuệ được phát hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có vị nọ trước đây theo ngoại đạo trong khi được thầy tế độ nói về vấn đề thuộc Giáo Pháp đã bắt bẻ lời dạy của thầy tế độ rồi chuyển qua địa phận của chính ngoại đạo ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm (nghĩ rằng): ‘Ta được mười năm! Ta được mười năm!’ rồi ban phép tu lên bậc trên khiến (các trường hợp) những thầy tế độ ngu dốt và các đệ tử sáng trí được phát hiện, những thầy tế độ thiếu kinh nghiệm và các đệ tử có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy tế độ nghe ít và các đệ tử nghe nhiều được phát hiện, những thầy tế độ trí kém và các đệ tử trí tuệ được phát hiện?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm (nghĩ rằng): ‘Ta được mười năm! Ta được mười năm!’ rồi ban phép tu lên bậc trên khiến (các trường hợp) những thầy tế độ ngu dốt và các đệ tử sáng trí được phát hiện, những thầy tế độ thiếu kinh nghiệm và các đệ tử có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy tế độ nghe ít và các đệ tử nghe nhiều được phát hiện, những thầy tế độ trí kém và các đệ tử trí tuệ được phát hiện, có đúng không vậy?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy là ngu dốt thiếu kinh nghiệm lại (nghĩ rằng): ‘Ta được mười năm! Ta được mười năm!’ rồi ban phép tu lên bậc trên khiến (các trường hợp) những thầy tế độ ngu dốt ―(như trên)― và các đệ tử trí tuệ được phát hiện? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, vị ngu dốt thiếu kinh nghiệm không nên ban phép tu lên bậc trên; vị nào ban phép tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực với mười năm hoặc trên mười năm được ban phép tu lên bậc trên</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong khi các vị thầy tế độ rời đi, hoàn tục, từ trần, qua bên nhóm khác, các tỳ khưu trở thành không có thầy dạy học, và trong khi không được giáo huấn, không được chỉ dạy (nên đã) mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi dân chúng đang ăn, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, ở phía trên thức ăn có hương vị, ở phía trên thức uống, các vị còn tự mình yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực, và Trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, ở phía trên thức ăn có hương vị, ở phía trên thức uống, các vị còn tự mình yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn giống như các Bà-la-môn trong bữa ăn của các Bà-la-môn vậy?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói ―(như trên)― có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị thầy dạy học. Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học sẽ gợi lên ở người học trò tâm của người con và người học trò sẽ gợi lên ở vị thầy dạy học tâm của người cha. Như thế, trong khi sống cùng nhau có sự tôn kính, có sự phục tùng, có sự cư xử hài hòa với nhau, họ sẽ đạt đến sự lớn mạnh, sự tăng trưởng, sự phát triển trong Pháp và Luật này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Này các tỳ khưu, ta cho phép sống nương nhờ mười năm và vị mười năm được ban cho sự nương nhờ</i>. Và này các tỳ khưu, vị thầy dạy học nên được xác định như vầy: (Người học trò) nên đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: “Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy dạy học của con. Con sẽ sống nương nhờ vào đại đức. Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy dạy học của con. Con sẽ sống nương nhờ vào đại đức. Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy dạy học của con. Con sẽ sống nương nhờ vào đại đức.” (Vị thầy dạy học nên nói rằng): “Tốt rồi!” hay là “Được nhẹ nhàng rồi!” hay là “Đúng rồi!” hay là “Được phù hợp rồi!” hay là “Hãy được thành tựu sự hoan hỷ!” (Nếu) vị (thầy dạy học) bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói, thì vị thầy dạy học đã được xác định. (Nếu) vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, vị thầy dạy học đã không được xác định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, người học trò nên thực hành phận sự đúng đắn đối với vị thầy dạy học. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này: Nên thức dậy vào lúc sáng sớm, cởi dép ra, đắp thượng y một bên vai, rồi nên dâng gỗ chà răng, nên dâng nước súc miệng, nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa sạch tô rồi đem cháo lại. Khi thầy đã uống cháo xong, nên dâng nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi thầy dạy học đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác rến thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy dạy học có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, và nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi dâng lên. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. Nếu thầy dạy học muốn có thị giả đi theo, vị ấy nên mặc y nội tròn đều với sự che phủ ba vòng tròn, buộc dây thắt lưng, sửa sang cho tề chỉnh rồi trùm y hai lớp lên, thắt lại dây buộc, rửa và ôm lấy bình bát, rồi nên đi theo làm thị giả cho thầy dạy học. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy bình bát được (vị thầy) hoán đổi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi thầy dạy học đang nói, không nên cắt ngang lời nói nửa chừng. Khi thầy dạy học có khả năng phạm tội lúc đang nói thì nên ngăn lại. Khi quay trở về, nên đi về trước tiên và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây) và nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi y ở chỗ nắng quá lâu. Nên gấp y lại. Khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.” Nên đặt dây thắt lưng ở bên trong phần gấp lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu có đồ ăn khất thực và thầy dạy học có ý muốn thọ dụng thì nên dâng nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý thầy dạy học về nước uống. Khi thầy ăn xong nên dâng nước (rửa), nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Không nên phơi bình bát ở chỗ nắng quá lâu. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi thầy dạy học đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác rến thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy dạy học có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu (thầy dạy học) có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy dạy học có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi rồi đi đến từ phía sau lưng và trao ghế ngồi của nhà tắm hơi cho thầy dạy học, nên nhận lấy y, và để ở một bên, nên trao bột tắm, nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên đắp lên cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho thầy dạy học. Khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho thầy dạy học. Khi tắm xong nên đi ra trước, lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của thầy dạy học. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý thầy dạy học về nước uống. Nếu có ý muốn thỉnh (thầy) đọc tụng, nên thỉnh (thầy) đọc tụng. Nếu có ý muốn vấn đạo, nên thỉnh (thầy) vấn đạo.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở trú xá nào thầy dạy học cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác rến, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc. Nếu có mạng nhện ở trú xá, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rải nước rồi quét (nghĩ rằng): “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc. Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và đồ trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu phòng có rác rến, nên quét phòng. Nếu cổng có rác rến, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác rến, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác rến, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác rến, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu sự bực bội sanh khởi ở thầy dạy học, người học trò nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu nỗi ân hận sanh khởi ở thầy dạy học, người học trò nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu tà kiến sanh khởi ở thầy dạy học, người học trò nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy dạy học bị phạm tội nặng xứng đáng hành phạt <i>parivāsa</i>, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt <i>parivāsa</i> cho thầy dạy học?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy dạy học xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể cho thầy dạy học (thực hành) trở lại từ đầu?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy dạy học xứng đáng hành phạt <i>mānatta</i>, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt <i>mānatta</i> cho thầy dạy học?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy dạy học xứng đáng sự giải tội, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho thầy dạy học?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu hội chúng có ý định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với thầy dạy học, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự đối với thầy dạy học, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đã tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với vị thầy dạy học, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thầy dạy học có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu y của thầy dạy học cần phải giặt, người học trò nên giặt hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy dạy học được giặt?” Nếu y của thầy dạy học cần phải may, người học trò nên may hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy dạy học được may?” Nếu thuốc nhuộm của thầy dạy học cần phải nấu, người học trò nên nấu hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy dạy học được nấu?” Nếu y của thầy dạy học cần phải nhuộm, người học trò nên nhuộm hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy dạy học được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không có phép của thầy dạy học, không nên cho bình bát đến người khác. Không nên thọ lãnh bình bát của người khác. Không nên cho y đến người khác. Không nên thọ lãnh y của người khác. Không nên cho vật dụng đến người khác. Không nên thọ lãnh vật dụng của người khác. Không nên cạo tóc cho người khác. Không nên bảo người khác cạo tóc. Không nên kỳ cọ người khác. Không nên bảo người khác kỳ cọ. Không nên hầu hạ người khác. Không nên bảo người khác hầu hạ. Không nên làm thị giả người khác. Không nên nhận người khác làm thị giả. Không nên mang đồ ăn khất thực lại dùm người khác. Không nên nhờ người khác mang dùm đồ ăn khất thực lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chưa xin phép thầy dạy học không nên đi vào làng, không nên đi đến mộ địa, không nên bỏ đi hướng khác. Nếu thầy dạy học bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. Nên đợi cho đến khi vị thầy khỏe lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phận sự đối với thầy dạy học</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học nên thực hành phận sự đúng đắn đối với người học trò. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này: Này các tỳ khưu, thầy dạy học nên quan tâm đến người học trò, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự vấn hỏi, bằng sự giáo huấn, bằng sự chỉ dạy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy dạy học có bình bát và người học trò không có bình bát, thầy dạy học nên cho bình bát đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để bình bát có thể phát sanh đến học trò?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy dạy học có y và người học trò không có y, thầy dạy học nên cho y đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y có thể phát sanh đến học trò?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy dạy học có vật dụng và người học trò không có vật dụng, thầy dạy học nên cho vật dụng đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến học trò?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người học trò bị bệnh, (vị thầy dạy học) nên thức dậy vào lúc sáng sớm. Nên trao gỗ chà răng. Nên trao nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa sạch tô rồi đem cháo lại. Khi người học trò đã uống cháo xong, nên cho nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi người học trò đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác rến thì nên quét khu vực ấy. Nếu người học trò có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, và nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trao cho. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. (Nghĩ rằng): “Đến lúc vị ấy sắp trở về,” nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây) và nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi y ở chỗ nắng quá lâu. Nên gấp y lại. Khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.” Nên đặt dây thắt lưng ở bên trong phần gấp lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu có đồ ăn khất thực và người học trò có ý muốn thọ dụng thì nên trao nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý người học trò về nước uống. Khi người học trò ăn xong nên trao nước (rửa). Nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Không nên phơi bình bát ở chỗ nắng quá lâu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi người học trò đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác rến thì nên quét khu vực ấy. Nếu người học trò có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu (người học trò) có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người học trò có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi đến, trao ghế ngồi của nhà tắm hơi, nhận lấy y, rồi để ở một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên đắp lên cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho người học trò. Khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho người học trò. Khi tắm xong nên đi ra trước, nên lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của người học trò. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý người học trò về nước uống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở trú xá nào người học trò cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác rến, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu có mạng nhện ở trú xá, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rải nước rồi quét (nghĩ rằng): “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.” Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu phòng có rác rến, nên quét phòng. Nếu cổng có rác rến, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác rến, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác rến, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác rến, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu sự bực bội sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu nỗi ân hận sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người học trò bị phạm tội nặng xứng đáng hành phạt <i>parivāsa</i>, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt <i>parivāsa</i> cho học trò?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người học trò xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể cho học trò (thực hành) trở lại từ đầu?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người học trò xứng đáng hành phạt <i>mānatta</i>, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt <i>mānatta</i> cho học trò?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người học trò xứng đáng sự giải tội, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho học trò?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu hội chúng có ý định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người học trò, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự đối với học trò, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đã tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người học trò, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để học trò có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu y của người học trò cần phải giặt, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên giặt như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của học trò được giặt?” Nếu y của học trò cần phải may, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên may như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của học trò được may?” Nếu thuốc nhuộm của người học trò cần phải nấu, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nấu như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của học trò được nấu?” Nếu y của người học trò cần phải nhuộm, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nhuộm như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của học trò được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng. Nếu người học trò bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. Nên đợi cho đến khi người học trò khỏe lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phận sự đối với học trò</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các người học trò không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy dạy học. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, người học trò nên thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy dạy học; vị nào không thực hành đúng đắn thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (Các người học trò) vẫn không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép đuổi đi người (học trò) không thực hành phận sự đúng đắn. Và này các tỳ khưu, nên đuổi đi như vầy: “Ta đuổi ngươi đi,” hay là “Đừng có quay trở lại đây,” hay là “Hãy đem đi y bát của ngươi,” hay là “Ta không giúp đỡ ngươi nữa.” (Nếu) vị (thầy dạy học) bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói, thì người học trò đã bị đuổi đi. (Nếu) vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, thì người học trò không bị đuổi đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, những người học trò bị đuổi đi không xin lỗi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, ta cho phép xin lỗi</i>.” Các người (học trò) vẫn không xin lỗi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, người (học trò) bị đuổi đi không nên không xin lỗi; vị nào không xin lỗi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong khi được xin lỗi các vị thầy dạy học không tha thứ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, ta cho phép tha thứ</i>.” Các vị (thầy dạy học) vẫn không tha thứ. Những người học trò rời đi, (hoặc) hoàn tục, (hoặc) theo ngoại đạo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, trong khi được xin lỗi không nên không tha thứ; vị nào không tha thứ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị thầy dạy học đuổi đi những người (học trò) thực hành phận sự đúng đắn, không đuổi đi những người (học trò) không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người (học trò) thực hành phận sự đúng đắn; vị nào đuổi đi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, không nên không đuổi đi người (học trò) không thực hành phận sự đúng đắn; vị nào không đuổi đi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, nên đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều đức tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, nên đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học có nhiều lòng yêu mến, có nhiều đức tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, người học trò là đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều đức tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, người học trò là đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, người học trò là không đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học có nhiều lòng yêu mến, có nhiều đức tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, người học trò là không đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều đức tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học có nhiều lòng yêu mến, có nhiều đức tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm (nghĩ rằng): “Ta được mười năm! Ta được mười năm!” rồi ban cho sự nương nhờ. (Các trường hợp) những thầy dạy học ngu dốt và các học trò sáng trí được phát hiện, những thầy dạy học thiếu kinh nghiệm và các học trò có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy dạy học nghe ít và các học trò nghe nhiều được phát hiện, những thầy dạy học trí kém và các học trò trí tuệ được phát hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm (nghĩ rằng): ‘Ta được mười năm! Ta được mười năm!’ rồi ban cho sự nương nhờ khiến (các trường hợp) những thầy dạy học ngu dốt và các học trò sáng trí được phát hiện, những thầy dạy học thiếu kinh nghiệm và các học trò có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy dạy học nghe ít và các học trò nghe nhiều được phát hiện, những thầy dạy học trí kém và các học trò trí tuệ được phát hiện?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói ―(như trên)― có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, vị ngu dốt thiếu kinh nghiệm không nên ban cho sự nương nhờ; vị nào ban cho thì phạm tội dukkaṭa.</i> <i>Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực với mười năm hoặc trên mười năm được ban cho sự nương nhờ</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm về phận sự đối với thầy dạy học là thứ sáu</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐẠI PHẨM I: CHƯƠNG TRỌNG YẾU &#8211; TỤNG PHẨM THỨ BẢY</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-i-chuong-trong-yeu-tung-pham-thu-bay/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 00:35:24 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58461</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm I Chương Trọng Yếu Tụng Phẩm Thứ Bảy Vào lúc bấy giờ, trong khi các vị thầy dạy]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đại Phẩm I</span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Chương Trọng Yếu </span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tụng Phẩm Thứ Bảy</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong khi các vị thầy dạy học và thầy tế độ rời đi, hoàn tục, từ trần, chuyển qua nhóm khác, các vị tỳ khưu không biết các trường hợp đình chỉ sự nương nhờ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, đây là năm trường hợp đình chỉ sự nương nhờ ở thầy tế độ: Thầy tế độ rời đi, hoặc hoàn tục, hoặc từ trần, hoặc chuyển qua nhóm khác, hoặc sự ra lệnh (đuổi đi) là thứ năm. Này các tỳ khưu, đây là năm trường hợp đình chỉ sự nương nhờ ở thầy tế độ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là sáu trường hợp đình chỉ sự nương nhờ ở thầy dạy học: Thầy dạy học rời đi, hoặc hoàn tục, hoặc từ trần, hoặc chuyển qua nhóm khác, hoặc sự ra lệnh (đuổi đi) là thứ năm, hoặc đã được gặp lại thầy tế độ. Này các tỳ khưu, đây là sáu trường hợp đình chỉ sự nương nhờ ở thầy dạy học.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không thành tựu vô học giới uẩn, không thành tựu vô học định uẩn, không thành tựu vô học tuệ uẩn, không thành tựu vô học giải thoát uẩn, không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn, thành tựu vô học giải thoát uẩn, thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị bản thân không thành tựu vô học giới uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giới uẩn, bản thân không thành tựu vô học định uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học định uẩn, bản thân không thành tựu vô học tuệ uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học tuệ uẩn, bản thân không thành tựu vô học giải thoát uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát uẩn, bản thân không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị bản thân thành tựu vô học giới uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giới uẩn, bản thân thành tựu vô học định uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học định uẩn, bản thân thành tựu vô học tuệ uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học tuệ uẩn, bản thân thành tựu vô học giải thoát uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát uẩn, bản thân thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn (tội lỗi), không có sự ghê sợ (tội lỗi), biếng nhác, có niệm bị quên lãng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn (tội lỗi), có sự ghê sợ (tội lỗi), có sự nỗ lực tinh tấn, có niệm được thiết lập. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới,[4] bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh,[5] bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan,[6] ít học hỏi, trí kém. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, không bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, nghe nhiều, có trí tuệ. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có khả năng để phục vụ hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học trò bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội (ở đệ tử hay học trò), để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo Pháp nỗi ân hận đã sanh khởi (ở đệ tử hay học trò), không biết về sự phạm tội, không biết cách thoát khỏi tội. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có khả năng để phục vụ hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học trò bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội (ở đệ tử hay học trò), để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo Pháp nỗi ân hận đã sanh khởi (ở đệ tử hay học trò), biết về sự phạm tội, biết cách thoát khỏi tội. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản,[7] để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh,[8] để hướng dẫn về Thắng Pháp, để hướng dẫn về Thắng Luật,[9] để phân tách đúng theo Pháp xu hướng tà kiến đã sanh khởi cho đệ tử hay học trò. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản, để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh, để hướng dẫn về Thắng Pháp, để hướng dẫn về Thắng Luật, để phân tách đúng theo Pháp xu hướng tà kiến đã sanh khởi cho đệ tử hay học trò. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn <i>Pātimokkha</i> không khéo được truyền thừa một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo thuộc nằm lòng, không khéo được xác định theo từng điều học và từng phần phụ thuộc. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn<i>Pātimokkha</i> khéo được truyền thừa một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo thuộc nằm lòng, khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt mười sáu nhóm năm của phần ‘Nên ban phép tu lên bậc trên.’</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không thành tựu vô học giới uẩn, không thành tựu vô học định uẩn, không thành tựu vô học tuệ uẩn, không thành tựu vô học giải thoát uẩn, không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn, thành tựu vô học giải thoát uẩn, thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị bản thân không thành tựu vô học giới uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giới uẩn, bản thân không thành tựu vô học định uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học định uẩn, bản thân không thành tựu vô học tuệ uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học tuệ uẩn, bản thân không thành tựu vô học giải thoát uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát uẩn, bản thân không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát tri kiến uẩn, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị bản thân thành tựu vô học giới uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giới uẩn, bản thân thành tựu vô học định uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học định uẩn, bản thân thành tựu vô học tuệ uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học tuệ uẩn, bản thân thành tựu vô học giải thoát uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát uẩn, bản thân thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát tri kiến uẩn, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn (tội lỗi), không có sự ghê sợ (tội lỗi), biếng nhác, có niệm bị quên lãng, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn (tội lỗi), có sự ghê sợ (tội lỗi), có sự nỗ lực tinh tấn, có niệm được thiết lập, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, ít học hỏi, trí kém, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, không bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, nghe nhiều, có trí tuệ, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có khả năng để phục vụ hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học trò bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội (ở đệ tử hay học trò), để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo Pháp nỗi ân hận đã sanh khởi (ở đệ tử hay học trò), không biết về tội, không biết cách thoát khỏi tội, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có khả năng để phục vụ hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học trò bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội (ở đệ tử hay học trò), để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo Pháp nỗi ân hận đã sanh khởi (ở đệ tử hay học trò), biết về tội, biết cách thoát khỏi tội, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản, để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh, để hướng dẫn về Thắng Pháp, để hướng dẫn về Thắng Luật, để phân tách đúng theo Pháp xu hướng tà kiến đã sanh khởi cho đệ tử hay học trò, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản, để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh, để hướng dẫn về Thắng Pháp, để hướng dẫn về Thắng Luật, để phân tách đúng theo Pháp xu hướng tà kiến đã sanh khởi cho đệ tử hay học trò, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn <i>Pātimokkha</i> không khéo được truyền thừa một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo thuộc nằm lòng, không khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn <i>Pātimokkha</i> khéo được truyền thừa một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo thuộc nằm lòng, khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt mười bốn mhóm sáu của phần ‘Nên ban phép tu lên bậc trên.’</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người trước đây theo ngoại đạo trong khi được thầy tế độ nói về vấn đề thuộc Giáo Pháp đã bắt bẻ lời dạy của thầy tế độ rồi chuyển qua địa phận của chính ngoại đạo ấy. Người ấy đã quay trở lại lần nữa và cầu xin các tỳ khưu sự tu lên bậc trên. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, người nào trước đây theo ngoại đạo trong khi được thầy tế độ nói về vấn đề thuộc Giáo Pháp đã bắt bẻ lời dạy của thầy tế độ rồi chuyển qua địa phận của chính ngoại đạo ấy, người ấy đi đến thì không nên cho tu lên bậc trên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, còn có hạng người khác, trước đây theo ngoại đạo, mong mỏi sự xuất gia trong Pháp và Luật này, mong mỏi việc tu lên bậc trên, nên ban cho vị ấy bốn tháng<i>parivāsa</i>.[10] Này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Trước tiên, nên bảo cạo bỏ râu tóc, bảo khoác lên các tấm vải màu ca-sa, bảo đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các vị tỳ khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và nên bảo rằng: “Ngươi hãy nói như vầy: ‘Tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Phật). Tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Pháp). Tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Tăng). Lần thứ nhì, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Lần thứ nhì, tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ. Lần thứ nhì, tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo ấy nên đi đến hội chúng, nên đắp thượng y một bên vai, nên đảnh lễ ở chân các tỳ khưu, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: “Bạch các ngài, tôi tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo mong mỏi việc tu lên bậc trên trong Pháp và Luật này. Bạch các ngài, tôi đây cầu xin hội chúng bốn tháng <i>parivāsa</i>.” Nên được cầu xin lần thứ nhì. Nên được cầu xin lần thứ ba.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hội chúng cần đưc thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo mong mỏi việc tu lên bậc trên trong Pháp và Luật này. Vị ấy cầu xin hội chúng bốn tháng <i>parivāsa</i>. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho vị tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo bốn tháng <i>parivāsa</i>. Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo mong mỏi việc tu lên bậc trên trong Pháp và Luật này. Vị ấy cầu xin hội chúng bốn tháng <i>parivāsa</i>. Hội chúng ban cho vị tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo bốn tháng <i>parivāsa</i>. Đại đức nào đồng ý việc ban cho bốn tháng <i>parivāsa</i> đến vị tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bốn tháng <i>parivāsa</i> đã được hội chúng ban cho vị tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế này là người đạt yêu cầu, như thế này là người không đạt yêu cầu. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế nào là người không đạt yêu cầu? Này các tỳ khưu, trường hợp người trước đây theo ngoại đạo đi vào làng quá sớm và trở về quá trễ. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo lai vãng với đĩ điếm, hoặc lai vãng với góa phụ, hoặc lai vãng với gái lỡ thời, hoặc lai vãng với người vô căn, hoặc lai vãng với tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, có những công việc lớn nhỏ gì đó cần phải làm đối với các vị có Phạm hạnh, trong những trường hợp ấy người trước đây theo ngoại đạo lại không khéo léo, không năng động, không có sự tìm tòi cách giải quyết các vấn đề ấy, không đủ khả năng làm, không đủ khả năng hướng dẫn (người khác làm). Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo không có ước muốn mãnh liệt đối với việc đọc tụng, đối với việc học hỏi, đối với tăng thượng giới, đối với tăng thượng tâm, đối với tăng thượng tuệ.[11] Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài lòng với lời chê bai nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đã chuyển sang; trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài lòng với lời chê bai nói về đức Phật, về Giáo Pháp, hoặc về Hội Chúng; trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài lòng với lời khen ngợi nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đã chuyển sang; trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài lòng với lời khen ngợi nói về đức Phật, về Giáo Pháp, hoặc về Hội Chúng. Này các tỳ khưu, đây là điểm chủ yếu trong việc không đạt yêu cầu của người trước đây theo ngoại đạo. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo đã đi đến (nếu) là người không đạt yêu cầu như thế ấy thì không nên cho tu lên bậc trên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế nào là người đạt yêu cầu? Này các tỳ khưu, trường hợp người trước đây theo ngoại đạo đi vào làng không quá sớm và trở về không quá trễ. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo không lai vãng với đĩ điếm, không lai vãng với góa phụ, không lai vãng với gái lỡ thời, không lai vãng với người vô căn, không lai vãng với tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, có những công việc lớn nhỏ gì đó cần phải làm đối với các vị có Phạm hạnh, trong những trường hợp ấy người trước đây theo ngoại đạo là khéo léo, năng động, có sự tìm tòi cách giải quyết các vấn đề ấy, có đủ khả năng làm, có đủ khả năng hướng dẫn (người khác làm). Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo có ước muốn mãnh liệt đối với việc đọc tụng, đối với việc học hỏi, đối với tăng thượng giới, đối với tăng thượng tâm, đối với tăng thượng tuệ. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài lòng với lời chê bai nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đã chuyển sang; trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài lòng với lời chê bai nói về đức Phật, về Giáo Pháp, hoặc về Hội Chúng; trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài lòng với lời khen ngợi nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đã chuyển sang; trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài lòng với lời khen ngợi nói về đức Phật, về Giáo Pháp, hoặc về Hội Chúng. Này các tỳ khưu, đây là điểm chủ yếu trong việc đạt yêu cầu của người trước đây theo ngoại đạo. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo đã đi đến (nếu) là người đạt yêu cầu như thế ấy thì nên cho tu lên bậc trên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, nếu người trước đây theo ngoại đạo là trần truồng đi đến, y là trách nhiệm thuộc về thầy tế độ cần được tìm kiếm. Nếu người có tóc chưa được cắt đi đến thì hội chúng nên được thông báo về việc cạo tóc. Này các tỳ khưu, những người nào là các vị thờ lửa là các đạo sĩ bện tóc, (nếu) các vị ấy đã đi đến thì nên cho tu lên bậc trên, không cần ban cho <i>parivāsa</i> đến những người ấy. Lý do của điều ấy là gì? Này các tỳ khưu, những người ấy là những người thuyết về Nghiệp, là những người thuyết về Nhân Quả. Này các tỳ khưu, nếu người trước đây theo ngoại đạo là người thuộc dòng Sakya đi đến, (nếu) người ấy đã đi đến thì nên cho tu lên bậc trên, không cần ban cho <i>parivāsa</i> đến người ấy. Này các tỳ khưu, ta ban cho đặc ân ngoại lệ này đến các thân quyến.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần giảng về người trước đây theo ngoại đạo</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tụng phẩm thứ bảy</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Tri kiến cực đoan (<i>atidiṭṭhi</i>) là từ bỏ chánh kiến và chấp nhận hữu biên kiến (Sđd.). Xem phần giải thích về hữu biên kiến (<i>antaggāhikā diṭṭhi</i>) ở <i>Paṭisambhidāmagga &#8211; Phân Tích Đạo</i> tập 1 (TTPV 37, trang 286-295).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Ngài Buddhaghosa giải thích về các điều học thuộc về phận sự căn bản (<em>abhisamācārikā</em> <i>sikkhā</i>) là các phận sự được quy định ở trong <em>Khandhaka</em> tức là <i>Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm</i> và <i>Cullavagga &#8211; Tiểu Phẩm</i>(VinA. v, 990).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Còn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh (<i>ādibrahmacariyikā sikkhā</i>) là phần quy định dành cho bậc hữu học, tức là hai phần giới bổn <i>Pātimokkha</i> đã được quy định cho tỳ khưu và tỳ khưu ni (Sđd.).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Hướng dẫn về Thắng Pháp là có khả năng hướng dẫn về sự phân biệt Danh Sắc, và hướng dẫn về Thắng Luật là hướng dẫn về toàn bộ Tạng Luật (Sđd.).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[10] <i>Parivāsa</i>: Trường hợp vị tỳ khưu phạm tội <i>saṅghādisesa</i> có che giấu muốn được trong sạch trở lại phải xin hành phạt cũng có tên là <i>parivāsa</i>. Tuy có tên gọi giống nhau nhưng phận sự thực hành không giống nhau (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[11] Ngài Buddhaghosa giải thích về tăng thượng giới (<em>adhisīla</em>) là giới bổn <em>Pātimokkha</em>, tăng thượng tâm (<em>adhicitta</em>) là sự tu tập các loại định hợp thế, tăng thượng tuệ (<em>adhipaññā</em>) là sự tu tập (các tâm) Đạo Siêu Thế (VinA. v, 993).</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐẠI PHẨM I: CHƯƠNG TRỌNG YẾU &#8211; TỤNG PHẨM THỨ TÁM</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-i-chuong-i-phan-iii/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 00:40:55 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=11591</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm I Chương Trọng Yếu Tụng Phẩm Thứ Tám Vào lúc bấy giờ, có năm thứ bệnh phát triển]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đại Phẩm I</span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương Trọng Yếu </span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 14pt;">Tụng Phẩm Thứ Tám</span> </span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có năm thứ bệnh phát triển rộng khắp trong dân chúng xứ Magadha là: bệnh cùi, bệnh mụt nhọt, bệnh chàm, bệnh lao phổi, bệnh động kinh. Những người mắc phải năm thứ bệnh đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca và nói như vầy: &#8211; “Thưa thầy, tốt đẹp thay thầy hãy điều trị cho chúng tôi.” &#8211; “Các ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm. Và tôi còn phải phục vụ đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, các cung phi, và hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu nữa; tôi không thể điều trị (các ngài) được.” &#8211; “Thưa thầy, tất cả tài sản hãy là của thầy và chúng tôi sẽ là đầy tớ của thầy. Tốt đẹp thay thầy hãy điều trị cho chúng tôi.” &#8211; “Các ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm. Và tôi còn phải phục vụ đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, các cung phi, và hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu nữa; tôi không thể điều trị (các ngài) được.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, những người dân ấy đã khởi ý điều này: “Những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, hay là chúng ta nên xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử? Trong trường hợp ấy, chính các vị tỳ khưu sẽ chăm sóc (chúng ta) và Jīvaka Komārabhacca sẽ điều trị.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, những người dân ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã cho họ xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Và chính các tỳ khưu đã chăm sóc họ và Jīvaka Komārabhacca đã điều trị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong lúc chăm sóc nhiều tỳ khưu bị bệnh các vị tỳ khưu sống có nhiều sự xin xỏ, có nhiều sự yêu cầu: “Hãy bố thí vật thực dành cho người bệnh, hãy bố thí vật thực dành cho người chăm sóc bệnh, hãy bố thí dược phẩm dành cho người bệnh.” Ngay cả Jīvaka Komārabhacca, trong lúc điều trị nhiều tỳ khưu bị bệnh, đã xao lãng phận sự nào đó đối với đức vua.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và có người đàn ông nọ cũng mắc phải năm thứ bệnh đã đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca và đã nói điều này: &#8211; “Thưa thầy, tốt đẹp thay thầy hãy điều trị cho tôi.” &#8211; “Ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm. Và tôi còn phải phục vụ đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, các cung phi, và hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu nữa; tôi không thể điều trị (ngài) được.” &#8211; “Thưa thầy, tất cả tài sản hãy là của thầy và tôi sẽ là đầy tớ của thầy. Tốt đẹp thay thầy hãy điều trị cho tôi.” &#8211; “Ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm. Và tôi còn phải phục vụ đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, các cung phi, và hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu nữa; tôi không thể điều trị (ngài) được.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, người đàn ông ấy đã khởi ý điều này: “Những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, hay là ta nên xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử? Trong trường hợp ấy, chính các vị tỳ khưu sẽ chăm sóc (ta) và Jīvaka Komārabhacca sẽ điều trị, khi khỏi bệnh ta đây sẽ hoàn tục.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, người đàn ông ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã cho người ấy xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Và chính các tỳ khưu đã chăm sóc người ấy và Jīvaka Komārabhacca đã điều trị. Người ấy khi khỏi bệnh đã hoàn tục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Jīvaka Komārabhacca đã nhìn thấy người đàn ông hoàn tục ấy, sau khi nhìn thấy đã nói với người đàn ông ấy điều này: &#8211; “Thưa ngài, có phải ngài đã xuất gia nơi các tỳ khưu không?” &#8211; “Thưa thầy, đúng vậy.” &#8211; “Thưa ngài, điều gì khiến ngài đã làm việc như thế?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, người đàn ông ấy đã kể lại sự việc ấy cho Jīvaka Komārabhacca. Jīvaka Komārabhacca phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các đại đức lại cho người bị mắc phải năm thứ bệnh xuất gia?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, tốt đẹp thay các ngài đại đức không cho người bị mắc phải năm thứ bệnh xuất gia.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Jīvaka Komārabhacca bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Jīvaka Komārabhacca đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho người bị mắc phải năm chứng bệnh xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, vùng biên địa của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bị (trộm cướp) dấy loạn. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra lệnh cho các quan đại thần lãnh đạo quân đội rằng: &#8211; “Này các khanh, hãy đi và thâu hồi lại vùng biên địa.” &#8211; “Tâu bệ hạ, xin vâng.” Các quan đại thần lãnh đạo quân đội đã đáp lại đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các chiến sĩ danh tiếng lẫy lừng đã khởi ý điều này: “Là những người say mê chiến trận, trong khi đi (đánh trận) chúng ta tạo nghiệp ác và gây ra nhiều điều bất thiện. Với phương kế gì chúng ta có thể tránh được việc ác và có thể làm việc lành?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các chiến sĩ ấy đã khởi ý điều này: “Những vị Sa-môn Thích tử này là những vị thực hành Giáo Pháp, thực hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp, nếu chúng ta có thể xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử, như vậy chúng ta có thể tránh được việc ác và có thể làm việc lành.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các chiến sĩ ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã cho họ xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Các quan đại thần lãnh đạo quân đội đã hỏi các binh sĩ của đức vua rằng: &#8211; “Này các khanh, sao các chiến sĩ tên (như vầy) và tên (như vầy) lại không hiện diện?” &#8211; “Thưa tướng quân, các chiến sĩ tên (như vầy) và tên (như vầy) đã xuất gia nơi các vị tỳ khưu.” Các quan đại thần lãnh đạo quân đội phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho binh sĩ của đức vua xuất gia?” Các quan đại thần lãnh đạo quân đội đã trình sự việc ấy lên đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã hỏi các quan đại thần phụ trách tòa án rằng: &#8211; “Này các khanh, người cho binh sĩ của đức vua xuất gia phạm vào điều gì?” &#8211; “Tâu bệ hạ, đầu của thầy tế độ nên bị chặt đi, lưỡi của vị đọc tuyên ngôn nên bị rút ra, một phần xương sườn của nhóm (các vị chứng minh) nên bị bẻ gãy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, có những vị vua không có đức tin, không có mộ đạo, những vị ấy có thể hãm hại các tỳ khưu chỉ vì chuyện không đáng gì. Bạch ngài, tốt đẹp thay các ngài đại đức không cho binh sĩ của đức vua xuất gia.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho binh sĩ của đức vua xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, kẻ cướp có mang chuỗi ngón tay[1] đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Dân chúng khi nhìn thấy trở nên sợ hãi, hoảng hốt, bỏ chạy, rẽ sang hướng khác, quay mặt chỗ khác, đóng cửa lại. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ cướp có mang biểu tượng xuất gia?” Các tỳ khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ cướp có mang biểu tượng xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: “Những người nào đã xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, không được phép làm bất cứ điều gì đến những người ấy. Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn ngõ hầu chấm dứt khổ đau.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ sau khi thực hiện vụ trộm đã bị giam trong ngục. Người ấy đã phá ngục tẩu thoát và đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Dân chúng sau khi nhìn thấy đã nói như vầy: &#8211; “Chính người này là kẻ cướp phá ngục. Nào, chúng ta hãy dẫn gã ấy đi.” Một số người đã nói như vầy: &#8211; “Này các ngài, chớ có nói như thế. Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: ‘Những người nào đã xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, không được phép làm bất cứ điều gì đến những người ấy. Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn ngõ hầu chấm dứt khổ đau.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các vị Sa-môn Thích tử này không phải lo sợ nữa rồi. Không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ cướp phá ngục xuất gia?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ cướp phá ngục xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ sau khi thực hiện vụ trộm đã tẩu thoát và đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Người ấy đã bị cáo thị tầm nã ở hoàng cung rằng: “Được nhìn thấy tại đâu thì được giết tại đấy.” Dân chúng đã nói như vầy: &#8211; “Chính người này là kẻ cướp bị cáo thị tầm nã. Nào, chúng ta hãy giết gã ấy đi.” Một số người đã nói như vầy: &#8211; “Này các ngài, chớ có nói như thế. Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: “Những người nào đã xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, không được phép làm bất cứ điều gì đến những người ấy. Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn ngõ hầu chấm dứt khổ đau.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các vị Sa-môn Thích tử này không phải lo sợ nữa rồi. Không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ cướp bị cáo thị tầm nã xuất gia?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ cướp bị cáo thị tầm nã xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bị xử hình phạt đánh bằng roi đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ bị xử hình phạt đánh bằng roi xuất gia?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ bị xử hình phạt đánh bằng roi xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bị xử hình phạt đóng dấu đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ bị xử hình phạt đóng dấu xuất gia?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ bị xử hình phạt đóng dấu xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ là kẻ thiếu nợ đã bỏ trốn và đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Những người chủ nợ đã nhìn thấy và nói như vầy: &#8211; “Chính người này là kẻ thiếu nợ của chúng ta. Nào, chúng ta hãy dẫn gã ấy đi.” Một số người đã nói như vầy: &#8211; “Này các ngài, chớ có nói như thế. Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: “Những người nào đã xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, không được phép làm bất cứ điều gì đến những người ấy. Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn ngõ hầu chấm dứt khổ đau.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các vị Sa-môn Thích tử này không phải lo sợ nữa rồi. Không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ thiếu nợ xuất gia?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ thiếu nợ xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người nô tỳ nọ đã bỏ trốn và đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Những người chủ đã nhìn thấy và nói như vầy: &#8211; “Chính người này là kẻ nô tỳ của chúng ta. Nào chúng ta hãy dẫn gã ấy đi.” Một số người đã nói như vầy: &#8211; “Này các ngài, chớ có nói như thế. Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: ‘Những người nào đã xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, không được phép làm bất cứ điều gì đến những người ấy. Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn ngõ hầu chấm dứt khổ đau.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các vị Sa-môn Thích tử này không phải lo sợ nữa rồi. Không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ nô tỳ xuất gia?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ nô tỳ xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người thợ bạc bị sói đầu nọ sau khi cãi vã với cha mẹ đã đi đến tu viện và đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Sau đó, cha mẹ của người thợ bạc bị sói đầu ấy, trong khi tìm kiếm người thợ bạc bị sói đầu ấy, đã đi đến tu viện và đã hỏi các tỳ khưu rằng: &#8211; “Thưa các ngài, vậy chớ các ngài có nhìn thấy người trai trẻ hình dáng như thế này không?” Các vị tỳ khưu trong khi không biết nên đã nói rằng: &#8211; “Chúng tôi không biết,” trong khi không nhìn thấy nên đã nói rằng: &#8211; “Chúng tôi không nhìn thấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, cha mẹ của người thợ bạc bị sói đầu ấy, trong lúc tìm kiếm người thợ bạc bị sói đầu ấy, nhìn thấy (người ấy) đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu nên phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Những Sa-môn Thích tử này thật vô liêm sỉ, giới hạnh xấu xa, là những kẻ nói láo, trong khi biết lại nói rằng: ‘Chúng tôi không biết,’ trong khi nhìn thấy lại nói rằng: ‘Chúng tôi không nhìn thấy.’ Người trai trẻ này đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được cha mẹ của người thợ bạc bị sói đầu ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thông báo đến hội chúng về việc cạo tóc.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong thành Rājagaha có nhóm mười bảy thiếu niên là bạn bè. Thiếu niên Upāli là thủ lãnh của họ. Khi ấy, cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Có phương kế gì để sau khi chúng ta từ trần, Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Nếu Upāli có thể học chữ viết, như thế sau khi chúng ta từ trần Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Nếu Upāli học chữ viết thì các ngón tay sẽ bị đau. Nếu Upāli có thể học tính toán, như thế sau khi chúng ta từ trần Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Nếu Upāli học tính toán thì ngực sẽ bị đau. Nếu Upāli có thể học hội họa, như thế sau khi chúng ta từ trần Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Nếu Upāli học hội họa thì các con mắt sẽ bị đau. Còn những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, nếu Upāli có thể xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử, như thế sau khi chúng ta từ trần Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thiếu niên Upāli đã nghe được cuộc nói chuyện trao đổi ấy của cha mẹ. Sau đó, thiếu niên Upāli đã đi đến gặp những thiếu niên ấy, sau khi đến đã nói với những thiếu niên ấy điều này: &#8211; “Này các bạn, hãy đi. Chúng ta sẽ xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử.”  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, những thiếu niên ấy từng người một đã đi đến gặp cha mẹ của mình và đã nói điều này: &#8211; “Hãy cho phép con rời nhà xuất gia sống không nhà.” Khi ấy, cha mẹ của những thiếu niên ấy (nghĩ rằng): “Tất cả những đứa trẻ này có ước muốn giống nhau, có ý định tốt đẹp” nên đã chấp thuận. Chúng đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã cho chúng xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Những thiếu niên ấy sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm đã khóc lóc: &#8211; “Hãy cho cháo, hãy cho thức ăn, hãy cho vật nhai.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này các sư đệ, hãy chờ đến khi trời sáng, nếu có cháo thì các đệ sẽ húp cháo, nếu có thức ăn thì các đệ sẽ ăn, nếu có vật nhai thì các đệ sẽ nhai; còn nếu không có cháo, hoặc thức ăn, hoặc vật nhai, thì các đệ sẽ ăn sau khi đi khất thực.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi được nói như thế bởi các tỳ khưu, các tỳ khưu (thiếu niên) ấy vẫn khóc lóc: &#8211; “Hãy cho cháo, hãy cho thức ăn, hãy cho vật nhai,” rồi đại tiện tiểu tiện ở chỗ nằm ngồi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Thế Tôn sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm đã nghe tiếng của các đứa trẻ, sau khi nghe đã bảo đại đức Ānanda rằng: &#8211; “Này Ānanda, tiếng của các đứa trẻ ấy là gì vậy?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu trong khi biết vẫn cho tu lên bậc trên người chưa đến hai mươi tuổi, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy trong khi biết vẫn cho tu lên bậc trên người chưa đến hai mươi tuổi? Này các tỳ khưu, người chưa đến hai mươi tuổi không có khả năng chịu đựng đối với sự lạnh, sự nóng, sự đói, sự khát, các sự xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát, các lối nói lăng mạ công kích, có khuynh hướng không cam chịu các cảm thọ khổ, nhức nhối, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc về cơ thể đã sanh khởi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, người đã được hai mươi tuổi có khả năng chịu đựng đối với sự lạnh, sự nóng, sự đói, sự khát, các sự xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát, các lối nói lăng mạ công kích, có khuynh hướng cam chịu các cảm thọ khổ, nhức nhối, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc về cơ thể đã sanh khởi. Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Sau khi khiển trách, Ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, người chưa đến hai mươi tuổi, trong khi biết, không nên cho tu lên bậc trên; vị nào cho tu lên bậc trên thì nên được hành xử theo Pháp.”[2]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có gia đình nọ bị chết bởi bịnh dịch hạch. Người cha và người con trai của gia đình ấy là (những người) còn sót lại. Họ đã xuất gia nơi các tỳ khưu rồi đi khất thực chung với nhau. Khi ấy, lúc đồ ăn khất thực được bố thí đến người cha, đứa trẻ ấy đã chạy lại gần và nói điều này: &#8211; “Cha yêu quý, hãy cho con với. Cha yêu quý, hãy cho con với.” Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Những Sa-môn Thích tử này không có Phạm hạnh. Đứa trẻ này đã được sanh ra bởi tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, đứa trẻ dưới mười lăm tuổi không nên cho xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, gia đình hộ độ có đức tin mộ đạo của đại đức Ānanda bị chết bởi bịnh dịch hạch. Và có hai đứa trẻ trai là (những người) còn sót lại. Khi nhìn thấy các vị tỳ khưu, chúng theo thói quen được phép trước đây đã chạy đến gần. Các tỳ khưu đã đuổi (chúng) đi. Trong khi bị các vị tỳ khưu đuổi đi, chúng đã khóc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Ānanda đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Đứa trẻ dưới mười lăm tuổi không nên cho xuất gia;’ và những đứa trẻ này dưới mười lăm tuổi, vậy bằng phương cách gì để những đứa trẻ này không thể bị tiêu hoại đây?” Sau đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này Ānanda, những đứa trẻ ấy có khả năng để đuổi các con quạ bay đi không?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, chúng có khả năng.” Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép xuất gia đứa trẻ dưới mười lăm tuổi là trẻ (có thể) đuổi được quạ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai dòng Sakya có hai sa di là Kaṇṭaka và Mahaka. Chúng đã làm điều tồi bại với nhau. Các vị tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các sa di lại thực hành điều sai trái có hình thức như thế ấy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, một vị không nên để cho hai sa di phục vụ; vị nào để cho phục vụ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đã sống mùa mưa ở ngay tại nơi ấy trong thành Rājagaha, mùa lạnh ở tại nơi ấy, mùa nóng ở tại nơi ấy. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các hướng đi của các Sa-môn Thích tử bị tắt nghẽn, tăm tối. Các hướng đi không còn được các vị này nhận ra nữa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng: &#8211; “Này Ānanda, hãy đi, cầm lấy chìa khóa, và thông báo cho các vị tỳ khưu ở dãy phòng rằng: ‘Này các đại đức, đức Thế Tôn muốn ra đi du hành ở đến núi Dakkhiṇāgiri.[3] Đại đức nào có ý thích thì hãy đi.’” &#8211; “Bạch Thế Tôn, xin vâng.” Nghe theo lời đức Thế Tôn, đại đức Ānanda đã cầm lấy chìa khóa và đã thông báo cho các vị tỳ khưu ở dãy phòng rằng: &#8211; “Này các đại đức, đức Thế Tôn muốn ra đi du hành đến núi Dakkhiṇāgiri. Đại đức nào có ý thích thì hãy đi.” Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này đại đức Ānanda, đức Thế Tôn đã quy định là sống nương nhờ mười năm, vị mười năm được cho nương nhờ. Và (nếu) chúng tôi đi đến nơi ấy thì sự nương nhờ sẽ cần được xác định (ở nơi ấy). Và việc cư trú sẽ là ngắn ngủi và sẽ quay trở về lại, rồi sự nương nhờ sẽ cần được xác định lại. Nếu các thầy tế độ hoặc thầy dạy học của chúng tôi sẽ đi thì chúng tôi cũng sẽ đi, nếu các thầy tế độ hoặc thầy dạy học của chúng tôi sẽ không đi thì chúng tôi cũng sẽ không đi. Này đại đức Ānanda, chúng tôi hành xử với tâm tư nhẹ nhàng là điều sẽ được nhận biết.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến núi Dakkhiṇāgiri với nhóm số lượng ít ỏi. Sau đó, khi đã ngự tại núi Dakkhiṇāgiri theo như ý thích, đức Thế Tôn đã quay trở về lại thành Rājagaha. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng: &#8211; “Này Ānanda, vì sao Như Lai đã ra đi du hành đến núi Dakkhiṇāgiri với hội chúng tỳ khưu là nhóm số lượng ít ỏi?” Khi ấy, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực sống nương nhờ năm năm, vị không có kinh nghiệm thì trọn đời.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố không nên sống không nương nhờ: Là vị không thành tựu vô học giới uẩn, không thành tựu vô học định uẩn, không thành tựu vô học tuệ uẩn, không thành tựu vô học giải thoát uẩn, không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn, thành tựu vô học giải thoát uẩn, thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này được sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn (tội lỗi), không có sự ghê sợ (tội lỗi), biếng nhác, có niệm bị quên lãng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn (tội lỗi), có sự ghê sợ (tội lỗi), có sự nỗ lực tinh tấn, có niệm được thiết lập. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này được sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, ít học hỏi, trí kém. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, không bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, nghe nhiều, có trí tuệ. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này được sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn<i>Pātimokkha</i> không khéo được truyền thừa một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo thuộc nằm lòng, không khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, đối với vị này hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn <i>Pātimokkha</i> khéo được truyền thừa một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo thuộc nằm lòng, khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này được sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, chưa đủ năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này được sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên sống không nương nhờ: Là vị không thành tựu vô học giới uẩn, không thành tựu vô học định uẩn, không thành tựu vô học tuệ uẩn, không thành tựu vô học giải thoát uẩn, không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn, chưa đủ năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này được sống không nương nhờ: Là vị thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn, thành tựu vô học giải thoát uẩn, thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này được sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn (tội lỗi), không có sự ghê sợ (tội lỗi), biếng nhác, có niệm bị quên lãng, chưa đủ năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn (tội lỗi), có sự ghê sợ (tội lỗi), có sự nỗ lực tinh tấn, có niệm được thiết lập, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này được sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, ít học hỏi, trí kém, chưa đủ năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, không bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, nghe nhiều, có trí tuệ, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này được sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, đối với vị này hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn <i>Pātimokkha</i> không khéo được truyền thừa một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo thuộc nằm lòng, không khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc, chưa đủ năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn <i>Pātimokkha</i> khéo được truyền thừa một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo thuộc nằm lòng, khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này được sống không nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm ‘Không Phải Lo Sợ’ là thứ tám</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] <em>Coro aṅgulimālo</em>: mới xem qua dễ lầm tưởng với kẻ cướp tên Aṅgulimāla trong bài kệ tụng về Tám Phật Lực. Dịch giả I.B. Horner đã nêu lên điều này với lý do không có chữ ‘<em>nāma = </em>tên là’ hoặc ‘<em>iti</em>’ như được thường dùng trong trường hợp danh từ riêng; hơn nữa ở đây vị này được xuất gia ở nơi các tỳ khưu còn vị kia được xuất gia theo lối ‘<em>ehi bhikkhu</em>’ với đức Phật. Thêm vào đó, sự biến đổi từ nữ tánh sang nam tánh của <em>mālā</em> trong cụm từ <em>aṅgulimālo</em> xác định đây là trường hợp <em>bahubbīhi</em> làm phận sự của tính từ (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Liên quan đến tội <em>pācittiya</em> 65 về cho tu lên bậc trên người kém hai mươi tuổi (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Dakkhiṇāgiri nghĩa là ‘ngọn núi ở phía Nam.’ Tuy nhiên, ở phía nam của thành Rājagaha có ngọn núi tên là <em>Dakkhiṇāgiri</em>, vì là địa danh cho nên giữ nguyên không dịch (ND).</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐẠI PHẨM I: CHƯƠNG TRỌNG YẾU &#8211; TỤNG PHẨM THỨ CHÍN</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-i-chuong-trong-yeu-tung-pham-thu-chin/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 00:45:10 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58465</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm I Chương Trọng Yếu Tụng Phẩm Thứ Chín Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đại Phẩm I</span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương Trọng Yếu </span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 14pt;">Tụng Phẩm Thứ Chín</span></span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Kapilavatthu. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Kapilavatthu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tại nơi đó giữa dân chúng dòng Sakya, đức Thế Tôn ngự ở thành Kapilavatthu, tại tu viện Nigrodha. Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, đi đến tư dinh của Suddhodana (Tịnh Phạn) dòng Sakya, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, hoàng hậu mẹ của Rāhula đã nói với hoàng tử Rāhula (La Hầu La) điều này: &#8211; “Này Rāhula, người kia là cha của con. Hãy đi và cầu xin phần thừa kế.” Khi ấy, hoàng tử Rāhula đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đứng ở phía trước đức Thế Tôn (nói rằng): &#8211; “Này vị Sa-môn, bóng che của ngài thật an lạc.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Khi ấy, hoàng tử Rāhula đã theo sát phía sau của đức Thế Tôn (nói rằng): &#8211; “Này vị Sa-môn, hãy ban cho con phần thừa kế. Này vị Sa-môn, hãy ban cho con phần thừa kế.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Sāriputta rằng: &#8211; “Này Sāriputta, như thế thì ngươi hãy cho hoàng tử Rāhula xuất gia.” &#8211; “Bạch ngài, con cho hoàng tử Rāhula xuất gia như thế nào?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép việc xuất gia sa di bằng ba sự đi đến nương nhờ (Tam Quy). Và này các tỳ khưu, nên cho xuất gia như vầy: Trước tiên, nên cho cạo bỏ râu tóc, cho choàng lên các tấm vải màu ca-sa, cho đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các vị tỳ khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và nên bảo rằng: ‘Ngươi hãy nói như vầy: Tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Phật). Tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Pháp). Tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Tăng). Lần thứ nhì, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Lần thứ nhì, tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ. Lần thứ nhì, tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ.’ Này các tỳ khưu, ta cho phép việc xuất gia sa di bằng ba sự đi đến nương nhờ này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Sāriputta đã cho hoàng tử Rāhula xuất gia. Sau đó, Suddhodana dòng Sakya đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Suddhodana dòng Sakya đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, trẫm cầu xin đức Thế Tôn một điều ước muốn.” &#8211; “Này vị Gotama, các đấng Như Lai đã vượt khỏi các điều ước muốn.” &#8211; “Bạch ngài, điều ấy là hợp lý, điều ấy không bị chê trách.” &#8211; “Này vị Gotama, hãy nói đi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch ngài, khi đức Thế Tôn đã xuất gia, đau khổ đã khởi lên ở trẫm không phải là ít, tương tự như vậy trong việc Nandā,[4] (nhưng là sự đau khổ) vô cùng mãnh liệt trong việc Rāhula. Bạch ngài, lòng thương yêu đối với người con trai cắt vào da; sau khi cắt vào da, nó cắt vào lớp da trong; sau khi cắt vào lớp da trong, nó cắt vào thịt; sau khi cắt vào thịt, nó cắt vào gân; sau khi cắt vào gân, nó cắt vào xương; sau khi cắt vào xương, nó đạt đến tủy xương rồi trú (ở đó). Bạch ngài, tốt đẹp thay các ngài đại đức không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Suddhodana dòng Sakya bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Suddhodana dòng Sakya đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần giảng về câu chuyện của Rāhula</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã ngự tại thành Kapilavatthu theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Sāvatthi. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi đó trong thành Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự ở Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, gia đình hộ độ của đại đức Sāriputta đã gởi đứa trẻ trai đến đại đức Sāriputta (nói rằng): “Xin ngài trưởng lão hãy cho đứa trẻ này xuất gia.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Sāriputta đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Một vị không nên để cho hai sa di phục vụ,’ và ta đây đã có sa di Rāhula. Vậy ta nên thực hành như thế nào?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực một mình được để cho hai sa di phục vụ, hoặc để cho nhiều (sa di) phục vụ với số lượng mà vị ấy vẫn có đủ khả năng để giáo huấn và chỉ dạy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị sa di đã khởi ý điều này: “Chúng ta có bao nhiêu điều học? Và chúng ta nên học tập về vấn đề gì?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép mười điều học đến các sa di và (cho phép) các sa di học tập về các điều học ấy: Việc tránh xa sự giết hại mạng sống, việc tránh xa sự lấy vật không được cho, việc tránh xa điều phi Phạm hạnh (sự hành dâm), việc tránh xa sự nói dối, việc tránh xa trường hợp dễ duôi uống chất say là rượu và chất lên men, việc tránh xa sự ăn phi thời, việc tránh xa sự múa hát đờn và xem trình diễn, việc tránh xa trường hợp đeo vòng hoa thoa vật thơm và tô điểm bằng đồ trang sức, việc tránh xa chỗ nằm ngồi cao và rộng lớn, việc tránh xa sự thọ lãnh vàng bạc. Này các tỳ khưu, ta cho phép mười điều học này đến các sa di và (cho phép) các sa di học tập về các điều học này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các sa di sống không tôn kính, không vâng lời, không cư xử theo phép tắc đối với các tỳ khưu. Các vị tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các sa di lại sống không tôn kính, không vâng lời, không cư xử theo phép tắc đối với các tỳ khưu? Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thực thi hành phạt đối với vị sa di hội đủ năm yếu tố: Là vị ra sức làm cho các tỳ khưu không được lợi lộc, ra sức làm cho các tỳ khưu không được sự lợi ích, ra sức làm cho các tỳ khưu không có chỗ ngụ, mắng nhiếc gièm pha các tỳ khưu, chia rẽ các tỳ khưu (này) với các tỳ khưu (khác). Này các tỳ khưu, ta cho phép thực thi hành phạt đối với vị sa di hội đủ năm yếu tố này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Hành phạt gì nên được thực hiện?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện sự ngăn cấm.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu thực hiện sự ngăn cấm toàn bộ khu vực tu viện của hội chúng đối với các sa di. Các sa di trong khi không thể đi vào tu viện nên rời đi, hoàn tục, chuyển sang ngoại đạo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên thực hiện sự ngăn cấm toàn bộ khu vực tu viện của hội chúng; vị nào thực hiện thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện sự ngăn cấm ở chỗ (tỳ khưu) sinh sống hoặc ở chỗ (tỳ khưu) lui tới.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu thực hiện sự ngăn cấm thức ăn theo đường miệng đối với các sa di. Dân chúng trong lúc làm nước cháo và bữa ăn dâng hội chúng nói với các sa di như vầy: &#8211; “Này các ngài, hãy đến và húp cháo. Này các ngài, hãy đến và thọ dụng bữa ăn.” Các vị sa di nói như vầy: &#8211; “Này các đạo hữu, không thể được. Các tỳ khưu đã thực hiện sự ngăn cấm.” Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các đại đức lại thực hiện sự ngăn cấm thức ăn theo đường miệng đối với các sa di?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên thực hiện sự ngăn cấm thức ăn theo đường miệng, vị nào thực hiện thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt câu chuyện về hành phạt</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư không hỏi các vị thầy tế độ lại thực hiện sự ngăn cấm đối với các sa di. Các vị thầy tế độ tìm kiếm (hỏi rằng): “Vì sao các sa di của chúng tôi lại không được nhìn thấy?” Các tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư đã thực hiện sự ngăn cấm.” Các vị thầy tế độ phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư không hỏi chúng tôi lại thực hiện sự ngăn cấm đối với các sa di của chúng tôi? Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, chưa hỏi các vị thầy tế độ không nên thực hiện sự ngăn cấm; vị nào thực hiện thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã dụ dỗ các sa di của các tỳ khưu trưởng lão. Các vị trưởng lão bị mệt nhọc trong khi tự mình lấy gỗ chà răng và nước súc miệng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên dụ dỗ tập thể của vị khác; vị nào dụ dỗ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, sa di tên Kaṇṭaka của đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã làm nhơ tỳ khưu ni tên Kaṇṭakī. Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao vị sa di lại thực hành điều sai trái có hình thức như thế?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép trục xuất sa di hội đủ mười yếu tố này: Là kẻ giết hại mạng sống, là kẻ lấy vật không được cho, là kẻ phi Phạm hạnh (hành dâm), là kẻ nói dối, là kẻ uống chất say, là kẻ phỉ báng đức Phật, phỉ báng Giáo Pháp, phỉ báng Hội Chúng, là kẻ có tri kiến sai trái, là kẻ làm nhơ tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, ta cho phép trục xuất vị sa di hội đủ mười yếu tố này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người vô căn nọ đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Người ấy đi đến gặp các vị tỳ khưu trẻ rồi nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, hãy đi đến. Hãy làm điều nhơ nhớp với tôi.” Các vị tỳ khưu đuổi đi: &#8211; “Này kẻ vô căn, tiêu mất đi! Này kẻ vô căn, biến mất đi! Ai mà cần đến ngươi?” Bị các tỳ khưu xua đuổi, người ấy đi đến gặp các sa di to bự lớn xác rồi nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, hãy đi đến. Hãy làm điều nhơ nhớp với tôi.” Các vị sa di đuổi đi: &#8211; “Này kẻ vô căn, tiêu mất đi! Này kẻ vô căn, biến mất đi! Ai mà cần đến ngươi?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người ấy khi bị các vị sa di xua đuổi lại đi đến gặp những người chăn voi, những người giữ ngựa rồi nói như vầy: &#8211; “Này các đạo hữu, hãy đi đến. Hãy làm điều nhơ nhớp với tôi.” Những người chăn voi, những người giữ ngựa đã làm điều nhơ nhớp. Những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Những Sa-môn Thích tử này là những kẻ vô căn. Những người nào trong bọn họ không phải là những kẻ vô căn thì những người ấy làm điều nhơ nhớp với những kẻ vô căn. Như vậy, chính tất cả những người này không có Phạm hạnh.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được những người chăn voi những người giữ ngựa phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, kẻ vô căn chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người con trai của gia đình bị khánh tận không còn gia quyến nọ là người mảnh mai. Khi ấy, người con trai của gia đình bị khánh tận không còn gia quyến ấy đã khởi ý điều này: “Ta là người mảnh mai, không đủ khả năng để đạt đến tài sản chưa có hoặc làm tăng trưởng tài sản đã có, với phương kế gì để ta có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rồi người con trai của gia đình bị khánh tận không còn gia quyến ấy đã khởi ý điều này: “Những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, hay là ta nên tự mình chuẩn bị y bát, cạo bỏ râu tóc, khoác lên các mảnh vải màu ca-sa, đi đến tu viện, và chung sống với các tỳ khưu?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, người con trai của gia đình bị khánh tận không còn gia quyến ấy đã tự mình chuẩn bị y bát, cạo bỏ râu tóc, khoác lên các mảnh vải màu ca-sa, đi đến tu viện, và đảnh lễ các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này đại đức, đại đức được bao nhiêu năm?” &#8211; “Được bao nhiêu năm? Này các đại đức, điều ấy là gì vậy?” &#8211; “Này đại đức, ai là thầy tế độ của đại đức?” &#8211; “Thầy tế độ? Này các đại đức, điều ấy là gì vậy?” Các vị tỳ khưu đã nói với đại đức Upāli điều này: “ &#8211; “Này đại đức Upāli, hãy thẩm tra người đã xuất gia này đi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, trong khi được đại đức Upāli thẩm tra người con trai của gia đình bị khánh tận không còn gia quyến ấy đã kể lại sự việc ấy. Đại đức Upāli đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu)[5] chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. Này các tỳ khưu, kẻ đã đi theo ngoại đạo chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.” (2 &#8211; 3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có con rồng nọ lo ngại, xấu hổ, và chán ghét với sự xuất thân là loài rồng. Sau đó, con rồng ấy đã khởi ý điều này: “Với phương kế gì ta có thể hoàn toàn thoát khỏi sự xuất thân là loài rồng và có thể thành tựu bản thể của loài người một cách nhanh chóng?” Khi ấy, con rồng ấy đã khởi ý điều này: “Những vị Sa-môn Thích tử này là những vị thực hành Giáo Pháp, thực hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp; nếu ta có thể xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, như thế ta có thể hoàn toàn thoát khỏi sự xuất thân là loài rồng và có thể thành tựu bản thể của loài người một cách nhanh chóng.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, con rồng ấy với hình dáng của người thanh niên đã đi đến gặp các vị tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các vị tỳ khưu đã cho người ấy xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Vào lúc bấy giờ, con rồng ấy cùng với vị tỳ khưu khác ngụ trong trú xá ở chỗ giáp ranh. Khi ấy vào lúc hừng sáng của đêm, vị tỳ khưu ấy thức dậy và đi kinh hành ở ngoài trời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, trong khi vị tỳ khưu ấy đã đi ra ngoài con rồng ấy hết lo âu nên đã chìm vào giấc ngủ. Toàn bộ trú xá đã bị tràn ngập bởi (thân của) con rồng và các vòng thân còn ló ra khỏi các cửa sổ. Sau đó, vị tỳ khưu ấy (nghĩ rằng): “Ta sẽ đi vào trú xá,” trong lúc đẩy cánh cửa đã nhìn thấy toàn bộ trú xá bị tràn ngập bởi (thân của) con rồng và các vòng thân đang ló ra khỏi các cửa sổ, sau khi nhìn thấy (trở nên) sợ hãi và đã kêu thét lên. Các vị tỳ khưu đã chạy lại và nói với vị tỳ khưu ấy điều này: &#8211; “Này đại đức, vì sao đại đức lại kêu thét lên vậy?” &#8211; “Này các đại đức, toàn bộ trú xá này bị tràn ngập bởi (thân của) con rồng và các vòng thân còn ló ra khỏi các cửa sổ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, con rồng ấy sau khi thức giấc bởi tiếng động ấy đã ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này đệ, ngươi là ai vậy?” &#8211; “Thưa các ngài, tôi là rồng.” &#8211; “Này đệ, vì sao ngươi lại biến thành hình dạng như thế này?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, con rồng ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và nói với con rồng ấy điều này: &#8211; “Các ngươi là loài rồng không có được pháp tiến bộ trong Pháp và Luật này. Này rồng, ngươi hãy đi đi. Và hãy tiến hành <i>Uposatha</i>[6]vào ngày mười bốn, ngày mười lăm và ngày thứ tám của mỗi nửa tháng ở ngay nơi ấy, như thế ngươi sẽ hoàn toàn thoát khỏi sự xuất thân là loài rồng và sẽ thành tựu bản thể của loài người một cách nhanh chóng.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, con rồng ấy (nghĩ rằng): “Nghe nói ta không có được pháp tiến bộ trong Pháp và Luật này” (trở nên) đau khổ, rầu rĩ, trong khi đang trào ra nước mắt đã khóc rống lên, rồi bỏ đi. Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, đây là hai lý do đưa đến việc hiện ra bản thể thật của loài rồng là khi nó thực hiện việc lứa đôi với rồng cái và khi nó hết lo âu rồi chìm vào giấc ngủ. Này các tỳ khưu, hai lý do này đưa đến việc hiện ra bản thể thật của loài rồng. Này các tỳ khưu, loài thú chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người thanh niên nọ là kẻ đã đoạt đi mạng sống của người mẹ. Người ấy lo ngại, xấu hổ, và chán ghét với hành động ác độc ấy. Sau đó, người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: “Với phương kế gì ta có thể thực hiện sự thoát ly đối với nghiệp ác ấy?” Khi ấy, người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: “Những vị Sa-môn Thích tử này là những vị thực hành Giáo Pháp, thực hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp; nếu ta có thể xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, như thế ta có thể thực hiện sự thoát ly đối với nghiệp ác ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, người thanh niên ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã nói với đại đức Upāli điều này: &#8211; “Này đại đức Upāli, cũng trước đây con rồng với hình dáng của người thanh niên đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Này đại đức Upāli, hãy thẩm tra người thanh niên này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, trong khi được đại đức Upāli thẩm tra người thanh niên ấy đã kể lại sự việc ấy. Đại đức Upāli đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, kẻ giết mẹ chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.” (5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người thanh niên nọ là kẻ đã đoạt đi mạng sống của người cha. Người ấy lo ngại, xấu hổ, và chán ghét với nghiệp ác ấy. Sau đó, người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: “Với phương kế gì ta có thể thực hiện sự thoát ly đối với nghiệp ác ấy?” Khi ấy, người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: “Những vị Sa-môn Thích tử này là những vị thực hành Giáo Pháp, thực -hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp; nếu ta có thể xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, như thế ta có thể thực hiện sự thoát ly đối với nghiệp ác ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, người thanh niên ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã nói với đại đức Upāli điều này: &#8211; “Này đại đức Upāli, cũng trước đây con rồng với hình dáng của người thanh niên đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Này đại đức Upāli, hãy thẩm tra người thanh niên này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, trong khi được đại đức Upāli thẩm tra người thanh niên ấy đã kể lại sự việc ấy. Đại đức Upāli đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, kẻ giết cha chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.” (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đi đường xa từ Sāketa đến thành Sāvatthi. Giữa đường bọn cướp đã xuất hiện; chúng đã cướp bóc một số tỳ khưu và đã giết chết một số tỳ khưu. Các binh lính của đức vua phát xuất từ thành Sāvatthi đã bắt được một số kẻ cướp. Một số kẻ cướp đã tẩu thoát. Những kẻ tẩu thoát ấy đã xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Những kẻ nào đã bị bắt thì bị đưa đi tử hình.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Những kẻ đã được xuất gia ấy đã nhìn thấy những kẻ cướp ấy đang bị đưa đi tử hình, sau khi nhìn thấy đã nói như vầy: &#8211; “May mắn thay chúng ta đã tẩu thoát, nếu hôm nay chúng ta bị bắt, chúng ta cũng có thể bị giết y như thế này.” Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, các vị đã nói điều gì vậy?” Khi ấy, những kẻ đã được xuất gia ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy là các vị A-la-hán. Này các tỳ khưu, kẻ giết A-la-hán chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.” (7)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu ni đi đường xa từ Sāketa đến thành Sāvatthi. Giữa đường, bọn cướp đã xuất hiện; chúng đã cướp bóc một số tỳ khưu ni, đã làm nhơ nhớp một số tỳ khưu ni. Các binh lính của đức vua phát xuất từ thành Sāvatthi đã bắt được một số kẻ cướp. Một số kẻ cướp đã tẩu thoát. Những kẻ tẩu thoát ấy đã xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Những kẻ nào đã bị bắt thì bị đưa đi tử hình.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Những kẻ đã được xuất gia ấy đã nhìn thấy những kẻ cướp ấy đang bị đưa đi tử hình, sau khi nhìn thấy đã nói như vầy: &#8211; “May mắn thay chúng ta đã tẩu thoát. Nếu hôm nay chúng ta bị bắt, chúng ta cũng có thể bị giết y như thế này.” Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, các vị đã nói điều gì vậy?” Khi ấy, những kẻ đã được xuất gia ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, kẻ làm nhơ tỳ khưu ni chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. Này các tỳ khưu, kẻ làm chia rẽ hội chúng chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. Này các tỳ khưu, kẻ làm chảy máu (đức Phật) chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.” (8 &#8211; 9 &#8211; 10)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người lưỡng căn nọ[7] đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Người ấy hành động (như người nam) rồi bảo (người nam khác) hành động (với mình). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, người lưỡng căn chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.” (11)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt mười một câu chuyện về người chưa được tu lên bậc trên</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên người không có thầy tế độ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không có thầy tế độ; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên với hội chúng là thầy tế độ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên với hội chúng là thầy tế độ; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên với nhóm (hai hoặc ba vị tỳ khưu) là thầy tế độ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên với nhóm (hai hoặc ba vị tỳ khưu) là thầy tế độ; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên với kẻ vô căn là thầy tế độ. ―(như trên)― cho tu lên bậc trên với kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu) là thầy tế độ. ―(như trên)― cho tu lên bậc trên với kẻ đã đi theo ngoại đạo là thầy tế độ. ―(như trên)― cho tu lên bậc trên với loài thú là thầy tế độ. ―(như trên)― cho tu lên bậc trên với kẻ giết mẹ là thầy tế độ. ―(như trên)― cho tu lên bậc trên với kẻ giết cha là thầy tế độ. ―(như trên)― cho tu lên bậc trên với kẻ giết A-la-hán là thầy tế độ. ―(như trên)― cho tu lên bậc trên với kẻ làm nhơ tỳ khưu ni là thầy tế độ. ―(như trên)― cho tu lên bậc trên với kẻ chia rẽ hội chúng là thầy tế độ. ―(như trên)― cho tu lên bậc trên với kẻ làm chảy máu (đức Phật) là thầy tế độ. ―(như trên)― cho tu lên bậc trên với kẻ lưỡng căn là thầy tế độ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên với kẻ vô căn là thầy tế độ. ―(như trên)― Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu) là thầy tế độ. ―(như trên)― Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ đã đi theo ngoại đạo là thầy tế độ. ―(như trên)― Không nên cho tu lên bậc trên với loài thú là thầy tế độ. ―(như trên)― Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ giết mẹ là thầy tế độ. ―(như trên)― Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ giết cha là thầy tế độ. ―(như trên)― Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ giết A-la-hán là thầy tế độ. ―(như trên)― Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ làm nhơ tỳ khưu ni là thầy tế độ. ―(như trên)― Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ chia rẽ hội chúng là thầy tế độ. ―(như trên)― Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ làm chảy máu (đức Phật) là thầy tế độ. ―(như trên)― Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ lưỡng căn là thầy tế độ; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (4 &#8211; 14)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên người không có bình bát. Các vị đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không có bình bát; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (15)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên người không có y. Các vị lõa thể đi khất thực. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không có y; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (16)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên người không có y và bình bát. Các vị lõa thể đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không có y và bình bát; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (17)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên với bình bát (mượn) của người đã được yêu cầu (trước). Khi đã được tu lên bậc trên, các vị trả lại bình bát. Các vị đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên với bình bát mượn; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (18)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên với y (mượn) của người đã được yêu cầu (trước). Khi đã được tu lên bậc trên, các vị trả lại y. Các vị lõa thể đi khất thực. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên với y mượn; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (19)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên với y và bình bát (mượn) của người đã được yêu cầu (trước). Khi đã được tu lên bậc trên, các vị trả lại y và bình bát. Các vị lõa thể đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên với y và bình bát mượn; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (20)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt hai mươi trường hợp về người không nên cho tu lên bậc trên</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho người bị đứt cánh tay xuất gia. ―(như trên)― cho người bị đứt bàn chân xuất gia. &#8230; cho người bị đứt cánh tay và bàn chân xuất gia. &#8230; cho người bị sứt tai xuất gia. &#8230; cho người bị sứt mũi xuất gia. &#8230; cho người bị sứt tai và mũi xuất gia. &#8230; cho người bị đứt ngón tay xuất gia. &#8230; cho người bị đứt móng tay xuất gia. &#8230; cho người bị đứt gân chân xuất gia. &#8230; cho người có bàn tay dính liền giống cánh dơi xuất gia. &#8230; cho người gù lưng xuất gia. &#8230; cho người lùn tịt xuất gia. &#8230; cho người có bướu cổ xuất gia. &#8230; cho người bị xử hình phạt đóng dấu xuất gia. &#8230; cho người bị xử hình phạt đánh bằng roi xuất gia. &#8230; cho người bị cáo thị tầm nã xuất gia. &#8230; cho người phù chân voi xuất gia. &#8230; cho người có bệnh trầm trọng xuất gia. &#8230; cho người bôi nhọ tập thể xuất gia. &#8230; cho người chột mắt xuất gia. &#8230; cho người có tứ chi bị co rút xuất gia. &#8230; cho người què xuất gia. &#8230; cho người bị liệt nửa thân xuất gia. &#8230; cho người đi khập khiễng xuất gia. &#8230; cho người già yếu xuất gia. &#8230; cho người mù xuất gia. &#8230; cho người câm xuất gia. &#8230; cho người điếc xuất gia. &#8230; cho người mù và câm xuất gia. &#8230; cho người mù và điếc xuất gia. &#8230; cho người câm và điếc xuất gia. &#8230; cho người mù câm điếc xuất gia.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho người bị đứt cánh tay xuất gia. ―(như trên)― Không nên cho người bị đứt bàn chân xuất gia. &#8230; Không nên cho người bị đứt cánh tay và bàn chân xuất gia. &#8230; Không nên cho người sứt tai xuất gia. &#8230; Không nên cho người bị sứt mũi xuất gia. &#8230; Không nên cho người bị sứt tai và mũi xuất gia. &#8230; Không nên cho người bị đứt ngón tay xuất gia. &#8230; Không nên cho người bị đứt móng tay xuất gia. &#8230; Không nên cho người bị đứt gân chân xuất gia. &#8230; Không nên cho người có bàn tay dính liền giống cánh dơi xuất gia. &#8230; Không nên cho người gù lưng xuất gia. &#8230; Không nên cho người lùn tịt xuất gia. &#8230; Không nên cho người có bướu cổ xuất gia. &#8230; Không nên cho người bị xử hình phạt đóng dấu xuất gia. &#8230; Không nên cho người bị xử hình phạt đánh bằng roi xuất gia. &#8230; Không nên cho người bị cáo thị tầm nã xuất gia. &#8230; Không nên cho người phù chân voi xuất gia. &#8230; Không nên cho người có bệnh trầm trọng kinh niên xuất gia. &#8230; Không nên cho người bôi nhọ tập thể xuất gia. &#8230; Không nên cho người chột mắt xuất gia. &#8230; Không nên cho người có tứ chi bị co rút xuất gia. &#8230; Không nên cho người què xuất gia. &#8230; Không nên cho người bị liệt nửa thân xuất gia. &#8230; Không nên cho người đi khập khiễng xuất gia. &#8230; Không nên cho người già yếu xuất gia. &#8230; Không nên cho người mù xuất gia. &#8230; Không nên cho người câm xuất gia. &#8230; Không nên cho người điếc xuất gia. &#8230; Không nên cho người mù và câm xuất gia. &#8230; Không nên cho người mù và điếc xuất gia. &#8230; Không nên cho người câm và điếc xuất gia. &#8230; Không nên cho người mù câm điếc xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt ba mươi hai trường hợp không nên cho xuất gia</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm ‘Phần Thừa Kế’ là thứ chín</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Nandā là con trai của đức vua Suddhodana và bà Mahāpajāpati Gotamī, tức em cùng cha khác mẹ với đức Phật (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] <i>Theyyasaṃvāsaka</i> nghĩa là kẻ sống chung theo lối trộm cắp. Chú Giải đề cập 3 loại <i>theyyasaṃvāsaka</i>:<i>liṅgatthenaka</i> (kẻ trộm tướng mạo) nghĩa là kẻ tự mình xuất gia rồi đi đến tu viện và không biết gì về các điều quy định, <i>saṃvāsatthenaka</i> (kẻ trộm trong việc cộng trú) nghĩa là vị sa di đã hoàn tục rồi đi đến tu viện nói dối là tỳ khưu và có biết về các điều quy định, hạng thứ ba <i>ubhayatthenaka</i> (kẻ trộm theo cả hai cách) nghĩa là kẻ tự mình xuất gia rồi đi đến tu viện và có biết về các điều quy định (VinA. v, 1016-1017).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Vào các ngày này, các cư sĩ thường thọ trì tám giới hoặc mười giới một ngày đêm (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Người có cả hai bộ phận sinh dục nam và nữ (ND).</span></p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐẠI PHẨM I: CHƯƠNG TRỌNG YẾU &#8211; TỤNG PHẨM THỨ MƯỜI</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-i-chuong-trong-yeu-tung-pham-thu-muoi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 00:50:26 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58467</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm I Chương Trọng Yếu Tụng Phẩm Thứ Mười Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đại Phẩm I</span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương Trọng Yếu </span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 14pt;">Tụng Phẩm Thứ Mười</span></span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư ban cho sự nương nhờ đến những vị không có liêm sỉ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên ban cho sự nương nhờ đến những vị không có liêm sỉ; vị nào ban cho thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sống (với pháp) nương nhờ vào những vị không có liêm sỉ. Chẳng bao lâu sau, các vị ấy cũng trở thành các tỳ khưu ác xấu, không có liêm sỉ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên sống (với pháp) nương nhờ vào những vị không có liêm sỉ; vị nào sống thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên ban cho sự nương nhờ đến những vị không có liêm sỉ và không nên sống (với pháp) nương nhờ vào những vị không có liêm sỉ,’ vậy làm thế nào chúng ta biết được (vị nào) là có liêm sỉ hoặc không có liêm sỉ?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép chờ đợi bốn năm ngày đến khi (xác định rằng): “Ta biết được bản chất của vị tỳ khưu.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ du hành đường xa trong xứ Kosala. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ,’ và ta là cần có sự nương nhờ nhưng đang du hành đường xa, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu đang du hành đường xa trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ khưu du hành đường xa trong xứ Kosala. Họ đã đi đến gần trú xứ nọ. Tại đó, một vị tỳ khưu đã bị lâm bệnh. Khi ấy, vị tỳ khưu bị bệnh ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ,’ và ta là cần có sự nương nhờ nhưng bị bệnh, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, vị tỳ khưu chăm sóc vị bị bệnh ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ,’ và ta là cần có sự nương nhờ nhưng vị tỳ khưu này thì bị bệnh, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu chăm sóc vị bị bệnh trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ (dầu) được yêu cầu.”[8]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trú ngụ ở rừng. Và ở chỗ trú ngụ ấy có được sự thoải mái cho vị ấy (trong việc tiến tu). Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ,’ và ta là cần có sự nương nhờ nhưng ta trú ngụ ở trong rừng. Và ở chỗ trú ngụ này có được sự thoải mái cho ta (trong việc tiến tu), vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu ở rừng đang quan tâm đến việc có chỗ cư trú thoải mái (cho việc tiến tu) trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ (nghĩ rằng): “Khi nào có vị ban pháp nương nhờ xứng đáng đi đến thì ta sẽ sống nương nhờ vào vị ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức Mahākassapa. Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã phái sứ giả đến gặp đại đức Ānanda nhắn rằng: “Ānanda hãy đi đến và tuyên ngôn cho người này.” Đại đức Ānanda đã nói như vầy: &#8211; “Tôi không thể nêu lên tên của ngài trưởng lão, ngài trưởng lão là bậc trưởng thượng của tôi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép tuyên ngôn với tên của dòng họ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có hai người có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức Mahākassapa. Họ tranh cãi rằng: “Tôi sẽ tu lên bậc trên trước, tôi sẽ tu lên bậc trên trước.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.” &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hai (người) trong một lần tuyên ngôn.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có những người có ý muốn tu lên bậc trên với nhiều vị trưởng lão. Họ tranh cãi rằng: “Tôi sẽ tu lên bậc trên trước tiên, tôi sẽ tu lên bậc trên trước tiên.” Các vị trưởng lão đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, chúng ta hãy thực hiện hết thảy tất cả trong một lần tuyên ngôn đi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hai hoặc ba (người) trong một lần tuyên ngôn. Và điều ấy là với cùng một thầy tế độ chứ không phải với thầy tế độ khác nhau.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, đại đức Kumārakassapa là hai mươi (tuổi) tính theo thai bào đã được tu lên bậc trên. Sau đó, đại đức Kumārakassapa đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên cho tu lên bậc trên người chưa đủ hai mươi tuổi,’ và ta là hai mươi (tuổi) tính theo thai bào đã được tu lên bậc trên, vậy thì ta đã được tu lên bậc trên hay là chưa được tu lên bậc trên?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, khi tâm đầu tiên sanh khởi trong bụng của người mẹ thì thức đầu tiên đã xuất hiện; do điều ấy nên chính thời điểm đó là sự sanh ra của người ấy. Này các tỳ khưu, ta cho phép cho tu lên bậc trên người hai mươi (tuổi) tính theo thai bào.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị đã tu lên bậc trên được phát hiện là có (liên quan đến) bệnh cùi, bệnh mụt nhọt, bệnh chàm, bệnh lao phổi, bệnh động kinh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đang ban phép tu lên bậc trên được hỏi về mười ba pháp chướng ngại. Và này các tỳ khưu, nên hỏi như vầy: “Ngươi có các bệnh như vầy không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Ngươi là loài người? Ngươi là người nam? Ngươi là người được tự do (không phải nô lệ)? Ngươi không bị thiếu nợ? Ngươi không phải là lính của đức vua? Ngươi đã được cha mẹ cho phép? Ngươi đã tròn hai mươi tuổi? Ngươi có đầy đủ y bát không? Ngươi tên gì? Vị thầy tế độ của ngươi tên gì?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu hỏi các pháp chướng ngại đến các người có ý muốn tu lên bậc trên chưa được chỉ bảo trước. Các người có ý muốn tu lên bậc trên đã bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ bảo trước rồi hỏi các pháp chướng ngại sau.” Các vị đã chỉ bảo ngay tại chỗ ấy, ở giữa hội chúng. Như thế ấy, các người có ý muốn tu lên bậc trên đã bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ bảo ở một góc rồi hỏi các pháp chướng ngại ở giữa hội chúng. Và này các tỳ khưu, nên chỉ bảo như vầy: Trước tiên, nên bảo chọn vị thầy tế độ. Sau khi đã bảo chọn vị thầy tế độ rồi nên chỉ dẫn về y và bình bát: “Đây là bình bát của ngươi, đây là y hai lớp của ngươi, đây là thượng y của ngươi, đây là y nội của ngươi. Hãy đi đến đứng ở chỗ trống đàng kia.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị (tỳ khưu) ngu dốt, thiếu kinh nghiệm đã chỉ bảo. Những người có ý muốn tu lên bậc trên do được chỉ bảo tồi nên đã bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, vị (tỳ khưu) ngu dốt thiếu kinh nghiệm không nên chỉ bảo; vị nào chỉ bảo thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ khả năng được chỉ bảo.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Những vị (tỳ khưu) không được chỉ định đã chỉ bảo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, vị không được chỉ định không nên chỉ bảo; vị nào chỉ bảo thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ bảo đối với vị đã được chỉ định. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Tự mình chỉ định cho chính mình, hoặc người khác chỉ định cho người khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là tự mình chỉ định cho chính mình? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ chỉ bảo cho người tên (như vầy).” Như vậy là tự mình chỉ định cho chính mình.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là người khác chỉ định cho người khác? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, vị tên (như vầy) sẽ chỉ bảo cho người tên (như vầy).” Như vậy là người khác chỉ định cho người khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu đã được chỉ định ấy nên đi đến gần người có ý muốn tu lên bậc trên và nên nói với như vầy: “Này người tên (như vầy), hãy lắng nghe. Đối với ngươi, bây giờ là thời điểm của sự thật, là thời điểm của bản chất. Trong khi được hỏi ở giữa hội chúng về việc đã sanh khởi, nếu điều ấy là đúng thì nên nói: ‘Có;’ nếu không đúng, nên nói: ‘Không có.’ Chớ có bối rối, chớ nên mắc cở. Các vị sẽ hỏi ngươi như vầy: ‘Ngươi có các bệnh như thế này không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Ngươi là loài người? Ngươi là người nam? Ngươi là người được tự do (không phải nô lệ)? Ngươi không thiếu nợ? Ngươi không phải là lính của đức vua? Ngươi đã được cha mẹ cho phép? Ngươi đã tròn hai mươi tuổi? Ngươi có đầy đủ y bát không? Ngươi tên gì? Vị thầy tế độ của ngươi tên gì?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Họ đi đến cùng một lúc. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên đi đến cùng một lúc. Vị chỉ bảo nên đi đến trước và thông báo cho hội chúng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Tôi đã chỉ bảo cho người ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, thì người tên (như vầy) có thể đi đến.” Và nên nói rằng: “Ngươi hãy đi đến.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên bảo (người ấy) đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các tỳ khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và bảo cầu xin sự tu lên bậc trên:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Bạch các ngài, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch các ngài, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên lần thứ nhì. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch các ngài, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hội chúng nên được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ hỏi người tên (như vầy) về các pháp chướng ngại.” “Này người tên (như vầy), hãy lắng nghe. Đối với ngươi, bây giờ là thời điểm của sự thật, là thời điểm của bản chất. Ta hỏi về việc đã sanh khởi, nếu điều ấy là đúng thì nên nói: ‘Có;’ nếu không đúng, nên nói: ‘Không có.’ Ngươi có các bệnh như thế này không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Ngươi là loài người? Ngươi là người nam? Ngươi là người được tự do (không phải nô lệ)? Ngươi không thiếu nợ? Ngươi không phải là lính của đức vua? Ngươi đã được cha mẹ cho phép? Ngươi đã tròn hai mươi tuổi? Ngươi có đầy đủ y bát không? Ngươi tên gì? Vị thầy tế độ của ngươi tên gì?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hội chúng nên được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy), là người trong sạch về các pháp chướng ngại, là người có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho người tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy), là người trong sạch về các pháp chướng ngại, là người có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Hội chúng cho người tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của người tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy), là người trong sạch về các pháp chướng ngại, là người có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Hội chúng cho người tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của người tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy), là người trong sạch về các pháp chướng ngại, là người có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Hội chúng cho người tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của người tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt hành sự tu lên bậc trên</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ngay khi ấy, bóng nắng cần được đo đạc, việc xác định mùa tiết nên được chỉ dạy, việc phân chia ngày (giờ) nên được chỉ dạy, điều đã được kết tập lại nên được chỉ dạy, bốn vật nương nhờ nên được chỉ dạy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Việc xuất gia nương vào thức ăn do khất thực, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là bữa ăn dâng hội chúng, bữa ăn được chỉ định, sự mời thỉnh, bữa ăn theo thẻ, vào mỗi nửa tháng, vào ngày <i>Uposatha</i>, vào ngày đầu của mỗi nửa tháng. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Việc xuất gia nương vào y làm bằng vải dơ bị quăng bỏ; trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là (y làm bằng) sợi lanh, bông vải, tơ lụa, sợi len, gai thô, chỉ bố. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Việc xuất gia nương vào chỗ trú ngụ là gốc cây; trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là trú xá, nhà một mái, tòa nhà dài, khu nhà lớn, hang động. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Việc xuất gia nương vào dược phẩm là nước tiểu gia súc, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật, đường mía.” (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt bốn vật nương nhờ</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu sau khi cho tu lên bậc trên vị tỳ khưu nọ đã bỏ lại (vị ấy) mỗi một mình rồi ra đi. Sau đó trong khi đang đi chỉ mỗi một mình, giữa đường vị ấy đã gặp lại người vợ cũ. Cô ta đã nói như vầy: &#8211; “Nay chàng đã xuất gia rồi sao?” &#8211; “Đúng vậy, tôi đã xuất gia.” &#8211; “Đối với các vị xuất gia việc đôi lứa là khó đạt được. Hãy đến và thực hiện việc đôi lứa đi.” Vị ấy sau khi thực hiện việc đôi lứa với nàng ta đã đi về trễ. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này sư đệ, vì sao sư đệ đã đi về trễ như vậy?” Khi ấy, vị ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho người cộng sự và chỉ dạy bốn điều không nên làm ngay sau khi cho tu lên bậc trên:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Vị đã được tu lên bậc trên trở thành tỳ khưu không nên thực hành việc đôi lứa, thậm chí với loài thú cái. Vị tỳ khưu nào thực hành việc đôi lứa thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như người đàn ông đã bị chặt đầu không thể sống với việc gắn lại cái đầu ấy vào thân; tương tự như thế, vị tỳ khưu sau khi thực hiện việc đôi lứa thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị đã được tu lên bậc trên trở thành tỳ khưu không nên lấy vật không được cho được xem là sự trộm cắp, thậm chí có liên quan đến cọng cỏ. Vị tỳ khưu nào lấy vật không được cho là một <i>pāda</i> hoặc tương đương một <i>pāda</i> hoặc hơn một <i>pāda</i> được xem là sự trộm cắp thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như chiếc lá vàng đã lìa khỏi cành không thể trở lại màu xanh; tương tự như thế, vị tỳ khưu sau khi lấy vật không được cho là một <i>pāda</i> hoặc tương đương một <i>pāda</i> hoặc hơn một <i>pāda</i> được xem là sự trộm cắp thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị đã được tu lên bậc trên trở thành tỳ khưu không nên tước đoạt lấy mạng sống của chúng sanh một cách cố tình thậm chí có liên quan đến loài kiến, mối. Vị tỳ khưu nào tước đoạt lấy mạng sống khỏi cơ thể con người một cách cố tình thậm chí có liên quan đến việc phá thai thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như tảng đá lớn đã bị vỡ làm hai mảnh không gắn liền lại được; tương tự như thế, vị tỳ khưu sau khi tước đoạt lấy mạng sống khỏi cơ thể con người một cách cố tình thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị đã được tu lên bậc trên trở thành tỳ khưu không nên khẳng định về pháp của bậc thượng nhân thậm chí (nói rằng): ‘Tôi thỏa thích trong ngôi nhà trống vắng.’ Vị tỳ khưu nào có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, rồi khẳng định về pháp của bậc thượng nhân (mà bản thân) không có, không thực chứng, là pháp thiền, hoặc là pháp giải thoát, hoặc là sự nhập định, hoặc là sự chứng đắc, hoặc là Đạo, hoặc là Quả thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như cây thốt nốt bị chặt ngọn không thể đâm chồi lại được nữa; tương tự như thế, vị tỳ khưu có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, sau khi khẳng định về pháp của bậc thượng nhân (mà bản thân) không có, không thực chứng thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời.” (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt bốn điều không nên làm</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ là người bị án treo trong việc không nhìn nhận tội đã hoàn tục. Vị ấy đã quay trở lại và cầu xin các tỳ khưu sự tu lên bậc trên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là người bị án treo trong việc không nhìn nhận tội lại hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và cầu xin các tỳ khưu sự tu lên bậc trên. Vị ấy nên được nói như vầy: “Ngươi sẽ nhìn nhận tội ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ nhìn nhận” thì nên cho xuất gia. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không nhìn nhận” thì không nên cho xuất gia. Sau khi cho xuất gia, nên nói rằng: “Ngươi sẽ nhìn nhận tội ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ nhìn nhận” thì nên cho tu lên bậc trên. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không nhìn nhận” thì không nên cho tu lên bậc trên. Sau khi đã cho tu lên bậc trên, nên nói rằng: “Ngươi sẽ nhìn nhận tội ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ nhìn nhận” thì nên phục hồi. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không nhìn nhận” thì không nên phục hồi. Sau khi đã phục hồi nên nói rằng: “Ngươi nhìn nhận tội ấy?” Nếu vị ấy nhìn nhận thì việc ấy được tốt đẹp, nếu vị ấy không nhìn nhận thì trong khi đạt được sự hợp nhất (của hội chúng) nên phạt án treo lại. Nếu không đạt được sự hợp nhất thì không phạm tội trong việc thọ hưởng chung, cư ngụ chung (với vị ấy).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là người bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi lại hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và cầu xin các tỳ khưu sự tu lên bậc trên. Vị ấy nên được nói như vầy: “Ngươi sẽ sửa chữa lỗi ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ sửa chữa” thì nên cho xuất gia. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không sửa chữa” thì không nên cho xuất gia. Sau khi cho xuất gia, nên nói rằng: “Ngươi sẽ sửa chữa lỗi ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ sửa chữa” thì nên cho tu lên bậc trên. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không sửa chữa” thì không nên cho tu lên bậc trên. Sau khi đã cho tu lên bậc trên, nên nói rằng: “Ngươi sẽ sửa chữa lỗi ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ sửa chữa” thì nên phục hồi. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không sửa chữa,” thì không nên phục hồi. Sau khi đã phục hồi nên nói rằng: “Ngươi sửa chữa lỗi ấy?” Nếu vị ấy sửa chữa thì việc ấy được tốt đẹp, nếu vị ấy không sửa chữa thì trong khi đạt được sự hợp nhất (của hội chúng) nên phạt án treo lại. Nếu không đạt được sự hợp nhất thì không phạm tội trong việc thọ hưởng chung, cư ngụ chung (với vị ấy).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là người bị án treo trong việc không chịu từ bỏ tà kiến ác lại hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và cầu xin các tỳ khưu sự tu lên bậc trên. Vị ấy nên được nói như vầy: “Ngươi sẽ từ bỏ tà kiến ác ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ từ bỏ” thì nên cho xuất gia. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không từ bỏ” thì không nên cho xuất gia. Sau khi cho xuất gia, nên nói rằng: “Ngươi sẽ từ bỏ tà kiến ác ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ từ bỏ” thì nên cho tu lên bậc trên. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không từ bỏ” thì không nên cho tu lên bậc trên. Sau khi đã cho tu lên bậc trên, nên nói rằng: “Ngươi sẽ từ bỏ tà kiến ác ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ từ bỏ” thì nên phục hồi. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không từ bỏ” thì không nên phục hồi. Sau khi đã phục hồi nên nói rằng: “Ngươi từ bỏ tà kiến ác ấy?” Nếu vị ấy từ bỏ thì việc ấy được tốt đẹp, nếu vị ấy không từ bỏ thì trong khi đạt được sự hợp nhất (của hội chúng) nên phạt án treo lại. Nếu không đạt được sự hợp nhất thì không phạm tội trong việc thọ hưởng chung, cư ngụ chung (với vị ấy).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chương Trọng Yếu là thứ nhất</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tóm lược chương này</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Luật, về các ý nghĩa quan trọng, là nguồn đem đến sự an lạc cho các tỳ khưu hiền thiện có sự ngăn chặn các ước muốn về việc ác và có sự khiêm nhường trong những việc ra sức</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Và còn là sự nâng đỡ của Giáo Pháp, là hành xứ của các đấng Toàn Tri và các bậc Chiến Thắng, là lãnh vực không xa lạ, được an toàn, đã khéo được quy định, không có điều nghi hoặc</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tương tự như người làm điều lợi ích, (vị tỳ khưu) tốt thực hành một cách đúng đắn về Luật ở bộ Hợp Phần (Đại Phẩm và Tiểu Phẩm), luôn cả bộ Tập Yếu và các tiêu đề (bộ Đại Phân Tích)</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Người không hiểu biết về loài bò không chăn giữ đàn bò được. Như vậy, trong khi không biết giới, làm sao vị ấy có thể gìn giữ sự thu thúc?</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Cho đến khi Kinh và Vi Diệu Pháp bị quên lãng mà Luật chưa bị tiêu hoại thì Giáo Pháp vẫn còn tồn tại</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vì điều đó, với việc kết tập là nguyên nhân, tôi sẽ tuần tự nói về phần tóm lược theo như sự hiểu biết, xin các vị hãy lắng nghe tôi nói</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Câu chuyện, phần duyên khởi, tội vi phạm, phương thức, và luôn cả phần trùng lặp. Để không giản lược thì việc ấy thật khó làm. Các vị hãy hiểu rõ điều ấy đúng theo phương pháp</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Sự giác ngộ, và cội cây Rājayatana, cội cây người chăn dê, vị Sahampati, đấng Phạm Thiên, vị Aḷāra, và vị Uddaka, (năm) tỳ khưu, và ẩn sĩ Upaka</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Koṇḍañña, Bhaddiya, Vappa, Mahānāma, và Assaji, Yasa, bốn (người bạn), năm mươi (người bạn), Ngài đã phái đi tất cả, (việc xuất gia ở) các phương</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Câu chuyện với các Ma Vương, và ba mươi (vị vương tử), ba đạo sĩ bện tóc ở Uruvelā, nhà thờ lửa, vị đại vương Sakka, Phạm Thiên, và toàn thể (dân chúng)</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Y paṃsukūla, hồ nước, tảng đá, và (cành cây) Kakudha, khối đá (phơi y), trái Jambu, trái xoài, trái Āmalakī, và Ngài đã mang lại bông hoa san hô</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Này Kassapa, hãy chẻ ra, hãy đốt lên, và hãy dập tắt đi. Các vị hụp (xuống nước), chảo lửa, đám mây đen, (đỉnh) Gayā, (khu rừng) Laṭṭhi, và vua xứ Magadha</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Rồi Upatissa và Kolita danh tiếng đã xuất gia. Các vị mặc y luộm thuộm, (cho phép) việc đuổi đi, và vị Bà-la-môn bị ốm o cằn cỗi</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị làm hành động sai trái, (vì) bao tử, chàng trai trẻ, hội chúng (là mười vị). (Bao nhiêu) năm, với các vị ngu dốt, trong khi (thầy) ra đi, mười năm, việc nương nhờ</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Các vị không thực hành, để đuổi đi, các vị ngu dốt, sự đình chỉ, năm, sáu (điều kiện), vị nào là ngoại đạo, lõa thể, tóc chưa cắt, đạo sĩ bện tóc, và dòng Sakya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ở xứ Magadha, năm thứ bệnh, một (trường hợp), (lính của) đức vua, và (kẻ cướp đeo) ngón tay, và vua Magadha đã cho phép, kẻ (phá) ngục, án ghi, bị phạt roi</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Các dấu hiệu, kẻ nợ và nô tỳ, kẻ sói đầu, (thiếu niên) Upāli, bệnh dịch, gia đình có đức tin, sa di Kaṇṭaka, và luôn cả chuyện bị tắt nghẽn (hướng đi)</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Về việc nương nhờ, đứa trẻ trai, các điều học, chúng sống, và điều gì nữa? (việc ngăn cấm) toàn bộ, miệng, các thầy tế độ, việc dụ dỗ, chuyện Kaṇṭaka</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Kẻ vô căn, trộm (tướng mạo), chuyển sang (ngoai đạo), con rồng, và (kẻ giết) mẹ, cha, A-la-hán, (làm nhơ) tỳ khưu ni, chia rẽ, (làm chảy) máu, và kẻ lưỡng căn</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Thầy tế độ không có, với hội chúng, hoặc nhóm, kẻ vô căn, không bình bát, không y, hoặc cả hai, với đồ mượn là ba</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Các người (bị đứt) bàn tay, bàn chân, bàn tay và bàn chân, lỗ tai và lỗ mũi, hoặc cả hai điều ấy, các ngón, móng tay, và gân chân, tay có màng, gù lưng, và người lùn</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Người bị bướu cổ, và luôn cả người bị đóng dấu, bị phạt roi, bị tầm nã, phù chân voi, bệnh nặng, kẻ bôi nhọ hội chúng, người chột mắt và bị bệnh co rút, là tương tự như thế</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Người què, và luôn cả người bị liệt nửa thân, người có tướng đi khập khiễng, người già yếu, người mù, người câm, người điếc, người mù và câm là ở nơi ấy</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Người mù và điếc đã được nói đến, và luôn cả người bị câm và điếc, người bị mù câm điếc, và việc nương nhờ của những kẻ không liêm sỉ</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Có thể sống, và đi đường xa là tương tự, với vị yêu cầu, những người mong muốn, hãy đi đến, chúng tranh cãi, với cùng thầy tế độ, vị Kumārakassapa.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Và được thấy những vị đã tu lên bậc trên bị khổ sở vì các thứ bệnh, chưa được chỉ dạy, các vị bị bối rối, việc chỉ dạy ở ngay chính nơi ấy</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Rồi ở nơi hội chúng, kẻ ngu, chưa được chỉ định, cùng một lúc, xin hãy tế độ, sự tu lên bậc trên, vật nương nhờ, mỗi một mình, ba (trường hợp)</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần tóm lược của chương Trọng Yếu</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Được vị bị bệnh yêu cầu hãy sống nương nhờ vào vị ấy (VinA. v, 1032).</span></p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐẠI PHẨM I &#8211; CHƯƠNG UPOSATHA: TỤNG PHẨM CÁC NGOẠI ĐẠO</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-i-chuong-uposatha-tung-pham-cac-ngoai-dao/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 00:55:48 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58472</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm I Chương Uposatha Tụng Phẩm Các Ngoại Đạo Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đại Phẩm I</span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương Uposatha</span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tụng Phẩm Các Ngoại Đạo</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, ở núi Gijjhakūṭa. Vào lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo tụ hội lại và giảng pháp vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng. Dân chúng đi đến gần họ để nghe pháp. Họ có lòng mến chuộng, có niềm tin vào các du sĩ ngoại đạo; các du sĩ ngoại đạo có được đồ chúng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Hiện nay, các du sĩ ngoại đạo tụ hội lại và giảng pháp vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng. Dân chúng đi đến gần họ để nghe pháp. Họ có lòng mến chuộng, có niềm tin vào các du sĩ ngoại đạo; các du sĩ ngoại đạo có được đồ chúng. Hay là các ngài đại đức cũng nên tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đức Thế Tôn điều này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch ngài, trường hợp trẫm trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: ‘Hiện nay, các du sĩ ngoại đạo tụ hội lại và giảng pháp vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng. Dân chúng đi đến gần họ để nghe pháp. Họ có lòng mến chuộng, có niềm tin vào các du sĩ ngoại đạo; các du sĩ ngoại đạo có được đồ chúng. Hay là các ngài đại đức cũng nên tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng?’ Bạch ngài, tốt đẹp thay các ngài đại đức cũng nên tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cho phép tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng,” nên sau khi tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng, các vị ấy ngồi im lặng. Dân chúng đi đến gần họ để nghe Pháp. Những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử sau khi tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng lại ngồi im lặng giống như là các con heo đần độn vậy? Sao các vị đã tụ hội lại mà không chịu giảng Pháp?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép giảng Pháp sau khi tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Hay là ta nên cho phép các vị ấy việc đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> gồm các điều học đã được ta quy định cho các tỳ khưu, việc ấy sẽ là hành sự <i>Uposatha</i> cho các vị ấy?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó vào lúc chiều tối, đức Thế Tôn đã xuất khỏi thiền tịnh rồi nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, trường hợp ta trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: ‘Hay là ta nên cho phép các vị ấy việc đọc tụng <i>Pātimokkha</i> gồm các điều học đã được ta quy định cho các tỳ khưu, việc ấy sẽ là hành sự <i>Uposatha</i> cho các vị ấy?’ Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Và này các tỳ khưu, nên đọc tụng như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">12.“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên tiến hành lễ <i>Uposatha</i>, nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Phận sự trước tiên của hội chúng là gì? Các đại đức hãy tuyên bố sự trong sạch rồi tôi sẽ đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Hết thảy tất cả các vị hiện diện (chúng ta) hãy nghiêm chỉnh lắng nghe và hãy chú tâm đến điều ấy. Nếu vị nào có phạm tội, vị ấy nên bày tỏ; vị không có phạm tội thì nên im lặng. Do thái độ im lặng, tôi sẽ nhận biết về các đại đức rằng: ‘(Các vị) được trong sạch.’ Giống như đối với mỗi lần được hỏi đến thì có câu trả lời; tương tự như thế, trong hội chúng như thế này (câu hỏi) được thông báo đến lần thứ ba. Trong khi đang được thông báo đến lần thứ ba, vị tỳ khưu nào nhớ ra mà không bày tỏ tội đang có thì vị ấy cố tình nói dối. Bạch chư đại đức, việc cố tình nói dối là pháp chướng ngại đã được đức Thế Tôn đề cập đến; do đó, vị tỳ khưu bị phạm tội mà nhớ ra và có ý muốn được trong sạch thì nên bày tỏ ra tội đang có. Bởi vì khi (tội) đã được bày tỏ thì vị ấy sẽ được thoải mái.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b><i>Pātimokkha</i></b>: điều này là đầu tiên, điều này là lối đưa vào, điều này là đứng đầu của các thiện pháp, do đó được gọi là “<i>Pātimokkha</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Các đại đức</b>: điều này là lời nói quý mến, điều này là lời nói kính trọng, điều này là lời nói có sự tôn kính và có sự phục tùng, tức là “các đại đức.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tôi sẽ đọc tụng</b>: Tôi sẽ chỉ ra, tôi sẽ giảng, tôi sẽ cho biết, tôi sẽ bày ra, tôi sẽ khai triển, tôi sẽ phân tích, tôi sẽ làm rõ ràng, tôi sẽ cho thấy rõ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều ấy</b> nghĩa là giới bổn <i>Pātimokkha</i> được nói đến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hết thảy tất cả các vị hiện diện</b>: trong hội chúng ấy cho đến các vị trưởng lão, các vị mới tu, hoặc các vị trung niên, các vị này được gọi là “hết thảy tất cả các vị hiện diện.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Chúng ta) hãy nghiêm chỉnh lắng nghe</b>: Sau khi định thần, sau khi chú tâm, sau khi tập trung tất cả tâm ý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Chúng ta) hãy chú tâm</b>: (chúng ta) hãy chăm chú với tâm trú vào một điểm, với tâm không bị xao lãng, với tâm không bị rối loạn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nếu vị nào có phạm tội</b>: Bất cứ tội nào thuộc nhóm năm tội hoặc bất cứ tội nào thuộc nhóm bảy tội của vị trưởng lão, của vị mới tu, hoặc của vị trung niên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị ấy nên bày tỏ</b>: vị ấy nên sám hối, vị ấy nên khai ra, vị ấy nên làm rõ ràng, vị ấy nên cho thấy rõ ở giữa hội chúng, hoặc ở giữa nhóm, hoặc nơi một cá nhân.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Không có phạm tội</b>: nghĩa là vị ấy không phạm tội, hoặc là sau khi phạm tội đã được thoát khỏi tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nên im lặng</b>: nên ưng thuận, không nên phát biểu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tôi sẽ nhận biết rằng: ‘(Các vị) được trong sạch’</b>: Tôi sẽ biết được, tôi sẽ ghi nhận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Giống như đối với mỗi lần được hỏi đến thì có câu trả lời</b>: Giống như việc một người được một người khác hỏi thì nên trả lời, tương tự như thế đối với hội chúng ấy, điều cần được biết là: “Vị ấy hỏi tôi.” <b>Hội chúng như thế này</b> nghĩa là hội chúng các tỳ khưu được nói đến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Được thông báo đến lần thứ ba</b>: Được thông báo một lần, được thông báo đến lần thứ nhì, được thông báo đến lần thứ ba.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Vị ấy) nhớ ra</b>: (vị ấy) đang biết được, đang nhận ra được.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội đang có</b>: nghĩa là tội đã vi phạm, hoặc là tội sau khi đã vi phạm còn chưa được thoát ra.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Không bày tỏ</b>: (vị ấy) không sám hối, không khai ra, không làm rõ ràng, không cho thấy rõ ở giữa hội chúng, hoặc ở giữa nhóm, hoặc nơi một cá nhân.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị ấy cố tình nói dối</b>: Là điều gì trong việc cố tình nói dối? Là đã làm điều sai trái.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Pháp chướng ngại đã được đức Thế Tôn đề cập đến</b>: Chướng ngại của điều gì? Là chướng ngại cho việc chứng đắc sơ thiền, chướng ngại cho việc chứng đắc nhị thiền, chướng ngại cho việc chứng đắc tam thiền, chướng ngại cho việc chứng đắc tứ thiền, chướng ngại cho việc chứng đắc của các thiền, của các sự giải thoát, của các sự thể nhập định, của các sự xuất ly, của các sự ra khỏi (luân hồi), của các sự tịch tịnh, của các thiện pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Do đó</b>: Vì nguyên nhân ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Với) vị nhớ ra được</b>: (Với) vị đang biết được, (với) vị đang nhận ra được.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có ý muốn được trong sạch</b>: có sự mong muốn được thoát ra, có sự mong muốn được làm cho trong sạch.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội đang có</b>: nghĩa là tội đã vi phạm, hoặc là tội sau khi đã vi phạm còn chưa được thoát ra.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nên bày tỏ ra</b>: Nên được bày tỏ ra ở giữa hội chúng, hoặc ở giữa nhóm, hoặc nơi một cá nhân.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bởi vì khi (tội) đã được bày tỏ thì vị ấy sẽ được thoải mái</b>: Thoải mái của điều gì? Là sự thoải mái trong việc chứng đắc sơ thiền, là sự thoải mái trong việc chứng đắc nhị thiền, là sự thoải mái trong việc chứng đắc tam thiền, là sự thoải mái trong việc chứng đắc tứ thiền, là sự thoải mái trong việc chứng đắc của các thiền, của các sự giải thoát, của các sự thể nhập vào các tầng định, của các sự xuất ly, của các sự ra khỏi (luân hồi), của các sự tịch tịnh, của các thiện pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Việc đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> đã được đức Thế Tôn cho phép” nên đã đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> hàng ngày. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> hàng ngày; vị nào đọc tụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> vào ngày <i>Uposatha</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Việc đọc tụng giới bổn<i> Pātimokkha </i>đã được đức Thế Tôn cho phép vào ngày<i> Uposatha</i>” nên đã đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> ba lần trong nửa tháng vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của nửa tháng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> ba lần trong nửa tháng; vị nào đọc tụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> một lần vào ngày mười bốn hoặc ngày mười lăm của nửa tháng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> theo tập thể, nghĩa là theo từng tập thể riêng của mình. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> theo tập thể, nghĩa là theo từng tập thể riêng của mình; vị nào đọc tụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép hành sự <i>Uposatha</i> hợp nhất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định ‘hành sự <i>Uposatha </i>hợp nhất,’ vậy sự hợp nhất có phạm vi đến tận đâu, cho đến phạm vi một trú xứ hay toàn bộ trái đất?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép sự hợp nhất cho đến phạm vi một trú xứ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, đại đức Mahākappina ngụ tại Rājagaha, ở Maddakucchi, nơi vườn nai. Khi ấy, đại đức Mahākappina trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Ta nên đi (tham dự) lễ<i> Uposatha </i>hay là không nên đi, ta nên đi (tham dự) hành sự của hội chúng hay là không nên đi, trong khi ta đã được thanh tịnh với sự thanh tịnh tối thượng?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đại đức Mahākappina, rồi giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tự như thế (đức Thế Tôn) đã biến mất tại núi Gijjhakūṭa rồi hiện ra trước mặt đại đức Mahākappina ở Maddakucchi, nơi vườn nai. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Đại đức Mahākappina đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đại đức Mahākappina đã ngồi xuống ở một bên, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Mahākappina điều này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Kappina, có phải ngươi trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: ‘Ta nên đi (tham dự) lễ<i> Uposatha </i>hay là không nên đi, ta nên đi (tham dự) hành sự của hội chúng hay là không nên đi, trong khi ta đã được thanh tịnh với sự thanh tịnh tối thượng?’” &#8211; “Bạch ngài, đúng vậy.” &#8211; “Nếu các ngươi là những người có Phạm hạnh không tôn trọng, không kính trọng, không quý trọng, không cúng dường lễ <i>Uposatha</i> thì còn ai sẽ tôn trọng, sẽ kính trọng, sẽ quý trọng, sẽ cúng dường lễ <i>Uposatha</i> nữa? Này người có Phạm hạnh, ngươi hãy đi (tham dự) lễ <i>Uposatha</i>, chớ có không đi. Ngươi hãy đi (tham dự) hành sự của hội chúng, chớ có không đi.” &#8211; “Bạch ngài, xin vâng.” Đại đức Mahākappina đã đáp lời đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đại đức Mahākappina bằng bài Pháp thoại rồi giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tự như thế (đức Thế Tôn) đã biến mất trước mặt đại đức Mahākappina ở Maddakucchi nơi vườn nai rồi hiện ra tại núi Gijjhakūṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “‘Đức Thế Tôn đã cho phép sự hợp nhất cho đến phạm vi một trú xứ,’ vậy (phạm vi của) một trú xứ là đến tận đâu?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép ấn định ranh giới. Và này các tỳ khưu, nên ấn định như vầy: Trước tiên, các điểm mốc cần được định danh: điểm mốc là ngọn núi, điểm mốc là tảng đá, điểm mốc là khu rừng, điểm mốc là cội cây, điểm mốc là đường đi, điểm mốc là gò mối, điểm mốc là con sông, điểm mốc là vũng nước. Sau khi định danh các điểm mốc, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các điểm mốc xung quanh (phạm vi) đã được định danh. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ấn định ranh giới với các điểm mốc ấy là (khu vực) đồng cộng trú chung một lễ Uposatha. Đây là lời đề nghị.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các điểm mốc xung quanh (phạm vi) đã được định danh. Hội chúng ấn định ranh giới với các điểm mốc ấy là (khu vực) đồng cộng trú chung một lễ Uposatha. Đại đức nào đồng ý việc ấn định ranh giới với các điểm mốc ấy là (khu vực) đồng cộng trú chung một lễ Uposatha xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ranh giới với các điểm mốc ấy đã được hội chúng ấn định là (khu vực) đồng cộng trú chung một lễ Uposatha. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.</i>”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cho phép việc ấn định ranh giới” rồi ấn định các ranh giới quá rộng lớn bốn do tuần,[1] năm do tuần, sáu do tuần. Các vị tỳ khưu đi (tham dự) lễ <i>Uposatha</i> đi đến trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i>đang được đọc tụng, đi đến khi vừa mới được đọc tụng xong, (hoặc) đã trú ngụ ở khoảng giữa (đường đi). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên ấn định ranh giới quá rộng lớn bốn do tuần, năm do tuần, hoặc sáu do tuần; vị nào ấn định thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép ấn định ranh giới tối đa ba do tuần.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư ấn định ranh giới đến bờ bên kia của dòng sông. Trong khi đi đến lễ <i>Uposatha</i>, các vị tỳ khưu đã bị cuốn trôi đi, các bình bát cũng đã bị cuốn trôi đi, các y cũng đã bị cuốn trôi đi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên ấn định ranh giới đến bờ bên kia của dòng sông; vị nào ấn định thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ở nơi nào có thuyền bè thường trực hoặc có cầu cố định ta cho phép ấn định ranh giới đến bờ bên kia của dòng sông theo hình thức như thế.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> ở dãy phòng. Do không được quy định nên các vị tỳ khưu vãng lai không biết được: “Hôm nay lễ <i>Uposatha</i> sẽ được thực hiện ở đâu?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> ở dãy phòng không được quy định; vị nào đọc tụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện lễ <i>Uposatha</i> sau khi chỉ định nhà hành lễ <i>Uposatha</i> tùy theo hội chúng mong muốn là trú xá, hoặc nhà một mái, hoặc tòa nhà dài, hoặc khu nhà lớn, hoặc hang động. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định trú xá tên (như vầy) làm nhà hành lễ Uposatha. Đây là lời đề nghị.</i></span><i style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> </i></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định trú xá tên (như vầy) làm nhà hành lễ Uposatha. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định trú xá tên (như vầy) làm nhà hành lễ Uposatha xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Trú xá tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định làm nhà hành lễ Uposatha. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong trú xứ nọ có hai nhà hành lễ <i>Uposatha</i> được chỉ định. Các tỳ khưu tụ hội ở cả hai nơi (nghĩ rằng): “Lễ <i>Uposatha</i> sẽ được thực hiện ở đây. Lễ <i>Uposatha</i> sẽ được thực hiện ở đây.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên chỉ định hai nhà hành lễ <i>Uposatha</i> ở trong một trú xứ; vị nào chỉ định thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép sau khi hủy bỏ một rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở một nơi (còn lại). Và này các tỳ khưu nên hủy bỏ như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên hủy bỏ nhà hành lễ Uposatha tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.</i></span><i style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> </i></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng hủy bỏ nhà hành lễ Uposatha tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc hủy bỏ nhà hành lễ Uposatha tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Nhà hành lễ Uposatha tên (như vầy) đã được hội chúng hủy bỏ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, ở tại trú xứ nọ nhà hành lễ <i>Uposatha</i> được ấn định quá nhỏ. Vào ngày <i>Uposatha</i>, có đại chúng tỳ khưu đã tụ hội lại. Các vị tỳ khưu đã ngồi xuống ở khu vực không được ấn định và nghe giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Lễ <i>Uposatha</i> nên được thực hiện sau khi chỉ định nhà hành lễ <i>Uposatha</i>,’ còn chúng ta đây đã ngồi ở khu vực không được ấn định và nghe giới bổn<i>Pātimokkha</i>, như thế thì lễ <i>Uposatha</i> của chúng ta đã được thực hiện hay đã không được thực hiện?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, vị ngồi ở khu vực đã được ấn định hay không được ấn định và lắng nghe giới bổn <i>Uposatha</i> thì từ chỗ đó lễ <i>Uposatha</i> của vị ấy đã được thực hiện. Này các tỳ khưu, như thế thì hội chúng mong muốn mặt tiền của chỗ hành lễ <i>Uposatha</i> rộng tới mức nào thì hội chúng hãy ấn định mặt tiền của chỗ hành lễ <i>Uposatha</i> rộng tới mức ấy. Và này các tỳ khưu, nên ấn định như vầy: Trước tiên, các điểm mốc cần được định danh. Sau khi định danh các điểm mốc, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">55.<i>“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các điểm mốc xung quanh (phạm vi) đã được định danh. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ấn định mặt tiền của chỗ hành lễ Uposatha với các điểm mốc ấy. Đây là lời đề nghị.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các điểm mốc xung quanh (phạm vi) đã được định danh. Hội chúng ấn định mặt tiền của chỗ hành lễ Uposatha với các điểm mốc ấy. Đại đức nào đồng ý việc ấn định mặt tiền của chỗ hành lễ Uposatha với các điểm mốc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Mặt tiền của chỗ hành lễ Uposatha với các điểm mốc ấy đã được hội chúng ấn định. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</i></span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> các vị tỳ khưu mới tu đã tụ hội trước tiên (nghĩ rằng): “Các vị trưởng lão vẫn chưa có đến” nên đã bỏ đi. Lễ <i>Uposatha</i> đã bị thiếu sót. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu trưởng lão tụ hội trước nhất vào ngày lễ <i>Uposatha</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong thành Rājagaha có nhiều trú xứ là cùng chung ranh giới. Các vị tỳ khưu ở đó tranh cãi rằng: “Lễ <i>Uposatha</i> hãy được thực hiện ở trú xứ của chúng tôi. Lễ <i>Uposatha</i> hãy được thực hiện ở trú xứ của chúng tôi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, trong trường hợp có nhiều trú xứ là cùng chung ranh giới và các vị tỳ khưu ở đó tranh cãi rằng: “Lễ <i>Uposatha</i> hãy được thực hiện ở trú xứ của chúng tôi. Lễ <i>Uposatha</i> hãy được thực hiện ở trú xứ của chúng tôi.” Này các tỳ khưu, toàn bộ tất cả các tỳ khưu ấy nên tụ hội lại một chỗ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i>, nơi nào có vị tỳ khưu trưởng lão cư ngụ thì nên tụ hội ở nơi ấy rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i>. Và lễ <i>Uposatha</i> không được thực hiện bởi hội chúng theo phe nhóm; vị nào thực hiện thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, đại đức Mahākassapa từ Andhakavinda đang đi đến lễ <i>Uposatha</i> ở thành Rājagaha, trên đường đi trong khi vượt qua con sông đã suýt bị nước cuốn trôi. Các y của vị ấy bị ướt. Các tỳ khưu đã nói với đại đức Mahākassapa điều này: &#8211; “Thưa ngài, vì sao các y của ngài bị ướt?” &#8211; “Này các đại đức, trường hợp tôi từ Andhakavinda đang đi đến lễ<i>Uposatha</i> ở thành Rājagaha, trên đường đi trong khi vượt qua con sông tôi đã suýt bị nước cuốn trôi; vì thế các y của tôi bị ướt.”[2] Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ<i>Uposatha</i> thì hội chúng nên ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y.[3] Và này các tỳ khưu, nên ấn định như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ Uposatha, nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y. Đây là lời đề nghị.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ Uposatha, hội chúng ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y. Đại đức nào đồng ý việc ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ranh giới ấy đã được hội chúng ấn định là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</i></span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Sự ấn định về việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y đã được Đức Thế Tôn cho phép” nên để các y trong xóm nhà. Các y ấy bị mất, bị cháy, bị chuột gặm nhấm. Các vị tỳ khưu trở nên ăn mặc bê bối, y phục luộm thuộm. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, vì sao các vị ăn mặc bê bối, y phục luộm thuộm?” &#8211; “Này các đại đức, trường hợp chúng tôi (nghĩ rằng): ‘Sự ấn định về việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y đã được Đức Thế Tôn cho phép’ nên đã để các y trong xóm nhà. Các y ấy đã bị mất, đã bị cháy, đã bị chuột gặm nhấm; do đó, chúng tôi trở nên ăn mặc bê bối, y phục luộm thuộm.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ <i>Uposatha</i> thì hội chúng nên ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y, ngoại trừ làng và vùng ven làng. Và này các tỳ khưu, nên ấn định như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ Uposatha, nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y, ngoại trừ làng và vùng ven làng. Đây là lời đề nghị.</i></span><i style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> </i></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ Uposatha, hội chúng ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y, ngoại trừ làng và vùng ven làng. Đại đức nào đồng ý việc ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y, ngoại trừ làng và vùng ven làng xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ranh giới ấy đã được hội chúng ấn định là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y, ngoại trừ làng và vùng ven làng. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</i></span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trong khi ấn định ranh giới, trước tiên nên ấn định ranh giới đồng cộng trú, sau đó nên ấn định việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y. Này các tỳ khưu, trong khi hủy bỏ ranh giới, trước tiên nên hủy bỏ việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y, sau đó nên hủy bỏ ranh giới đồng cộng trú. Và này các tỳ khưu, việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y nên được hủy bỏ như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y nào đã được hội chúng ấn định, nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng hội chúng nên hủy bỏ việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y ấy. Đây là lời đề nghị.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y nào đã được hội chúng ấn định, hội chúng hủy bỏ việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y ấy. Đại đức nào đồng ý sự hủy bỏ việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y ấy đã được hội chúng hủy bỏ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, ranh giới đồng cộng trú nên được hủy bỏ như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ Uposatha, nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên hủy bỏ ranh giới ấy. Đây là lời đề nghị.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ Uposatha, hội chúng hủy bỏ ranh giới đồng cộng trú chung một lễ Uposatha ấy. Đại đức nào đồng ý việc hủy bỏ của ranh giới đồng cộng trú chung một lễ Uposatha ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> </i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ranh giới đồng cộng trú chung một lễ Uposatha ấy đã được hội chúng hủy bỏ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, khi ranh giới chưa được ấn định chưa được thiết lập, vị (tỳ khưu) sống nương tựa vào ngôi làng hoặc thị trấn nào, trong trường hợp ấy ranh giới làng của ngôi làng ấy hoặc ranh giới thị trấn của thị trấn ấy là (ranh giới) đồng cộng trú chung một lễ<i>Uposatha</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, nếu ở nơi không phải là làng, ở trong rừng, trong trường hợp ấy (khu vực) bảy <i>abbhantara</i>[4] ở xung quanh là (ranh giới) đồng cộng trú chung một lễ<i>Uposatha</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, toàn bộ dòng sông không phải là ranh giới, toàn bộ biển cả không phải là ranh giới, toàn bộ hồ thiên nhiên không phải là ranh giới. Này các tỳ khưu, trong dòng sông, trong biển cả, trong hồ thiên nhiên, (khu vực) do việc ném nước ra xung quanh của người đàn ông (có sức mạnh) trung bình là (ranh giới) đồng cộng trú chung một lễ <i>Uposatha</i>trong trường hợp ấy</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư làm ranh giới (mới) gối lên ranh giới (đã có). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ranh giới của các vị nào đã được ấn định trước, ranh giới ấy của các vị ấy là đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì. Này các tỳ khưu, ranh giới của các vị nào được ấn định sau, ranh giới ấy của các vị ấy là sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Này các tỳ khưu, không nên làm ranh giới (mới) gối lên ranh giới (đã có); vị nào làm gối lên thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư làm ranh giới (mới) trùm lên ranh giới (đã có). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ranh giới của các vị nào đã được ấn định trước, ranh giới ấy của các vị ấy là đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì. Này các tỳ khưu, ranh giới của các vị nào được ấn định sau, ranh giới ấy của các vị ấy là sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Này các tỳ khưu, không nên làm ranh giới (mới) trùm lên ranh giới (đã có); vị nào làm trùm lên thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị ấn định ranh giới được ấn định ranh giới sau khi đã chừa ra khoảng cách giữa các ranh giới.”[5]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Có bao nhiêu lễ<i> Uposatha</i>?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, đây là hai lễ <i>Uposatha</i>: Lễ ngày mười bốn và lễ ngày mười lăm. Này các tỳ khưu, đây là hai lễ <i>Uposatha</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Có bao nhiêu hành sự<i> Uposatha</i>?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, đây là bốn hành sự <i>Uposatha</i>: Hành sự <i>Uposatha</i> sai Pháp theo phe nhóm, hành sự <i>Uposatha</i> sai Pháp có sự hợp nhất, hành sự <i>Uposatha</i> đúng Pháp theo phe nhóm, hành sự <i>Uposatha</i> đúng Pháp có sự hợp nhất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp này tức là hành sự <i>Uposatha</i> sai Pháp theo phe nhóm, này các tỳ khưu, không nên thực hiện hành sự <i>Uposatha</i> có hình thức như thế và hành sự<i>Uposatha</i> có hình thức như thế không được ta cho phép.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp này tức là hành sự <i>Uposatha</i> sai Pháp có sự hợp nhất, này các tỳ khưu, không nên thực hiện hành sự <i>Uposatha</i> có hình thức như thế và hành sự<i>Uposatha</i> có hình thức như thế không được ta cho phép.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp này tức là hành sự <i>Uposatha</i> đúng Pháp theo phe nhóm, này các tỳ khưu, không nên thực hiện hành sự <i>Uposatha</i> có hình thức như thế và hành sự<i>Uposatha</i> có hình thức như thế không được ta cho phép.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp này tức là hành sự <i>Uposatha</i> đúng Pháp có sự hợp nhất, này các tỳ khưu, nên thực hiện hành sự <i>Uposatha</i> có hình thức như thế và hành sự <i>Uposatha</i>có hình thức như thế được ta cho phép. Này các tỳ khưu, do đó ở đây chúng ta sẽ thực hiện hành sự <i>Uposatha</i> có hình thức như thế tức là ‘đúng Pháp có sự hợp nhất.’ Này các tỳ khưu, các ngươi nên học tập theo đúng như thế.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Có bao nhiêu cách đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, đây là năm cách đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>: Sau khi đọc tụng phần mở đầu, nên thông báo phần còn lại bằng cách đã được nghe; đây là cách đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> thứ nhất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi đọc tụng phần mở đầu, sau khi đọc tụng bốn điều <i>pārājika</i>, nên thông báo phần còn lại bằng cách đã được nghe; đây là cách đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> thứ hai.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi đọc tụng phần mở đầu, sau khi đọc tụng bốn điều <i>pārājika</i>, sau khi đọc tụng mười ba điều <i>saṅghādisesa</i>, nên thông báo phần còn lại bằng cách đã được nghe; đây là cách đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> thứ ba.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi đọc tụng phần mở đầu, sau khi đọc tụng bốn điều <i>pārājika</i>, sau khi đọc tụng mười ba điều <i>saṅghādisesa</i>, sau khi đọc tụng hai điều <i>aniyata</i>, nên thông báo phần còn lại bằng cách đã được nghe; đây là cách đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> thứ tư.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Đọc tụng) một cách chi tiết là cách thứ năm. Này các tỳ khưu, đây là năm cách đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cho phép cách đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha </i>một cách tóm tắt” rồi mọi lúc đều đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> một cách tóm tắt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> một cách tóm tắt; vị nào đọc tụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ trong nước Kosala vào ngày <i>Uposatha</i> có sự sợ hãi vì đám lục lâm. Các vị tỳ khưu không thể đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> một cách chi tiết. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> một cách tóm tắt khi có sự nguy hiểm.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> một cách tóm tắt ngay cả khi không có sự nguy hiểm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> một cách tóm tắt khi không có sự nguy hiểm; vị nào đọc tụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> một cách tóm tắt khi có sự nguy hiểm. Đây là mười sự nguy hiểm trong trường hợp ấy: Sự nguy hiểm từ đức vua, sự nguy hiểm vì trộm cướp, sự nguy hiểm vì hỏa hoạn, sự nguy hiểm vì nước ngập, sự nguy hiểm vì loài người, sự nguy hiểm vì phi nhân, sự nguy hiểm vì thú dữ, sự nguy hiểm vì rắn, sự nguy hiểm cho mạng sống, sự nguy hiểm cho Phạm hạnh. Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> một cách tóm tắt trong những (trường hợp) nguy hiểm có hình thức như thế và (đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>) một cách chi tiết khi không có sự nguy hiểm.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư thuyết Pháp ở giữa hội chúng khi không được thỉnh mời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, vị không được thỉnh mời không nên thuyết Pháp ở giữa hội chúng; vị nào thuyết Pháp thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão đích thân thuyết Pháp hoặc thỉnh mời vị khác.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư khi chưa được chỉ định vẫn hỏi Luật ở giữa hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, vị không được chỉ định không nên hỏi Luật ở giữa hội chúng; vị nào hỏi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị được chỉ định hỏi Luật ở giữa hội chúng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Tự mình chỉ định cho chính mình, hoặc người khác chỉ định cho người khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là tự mình chỉ định cho chính mình? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ hỏi vị tên (như vầy) về Luật.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Như vậy là tự mình chỉ định cho chính mình.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là người khác chỉ định cho người khác? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, vị tên (như vầy) sẽ hỏi vị tên (như vầy) về Luật.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Như vậy là người khác chỉ định cho người khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu hiền thiện đã được chỉ định rồi hỏi Luật ở giữa hội chúng. Các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư có sự giận dữ, có sự bực bội, hăm dọa hãm hại. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đã được chỉ định quan sát tập thể và cân nhắc từng cá nhân rồi mới hỏi Luật ở giữa hội chúng.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư trả lời về Luật ở giữa hội chúng dầu không được chỉ định. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, vị không được chỉ định không nên trả lời về Luật ở giữa hội chúng; vị nào trả lời thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đã được chỉ định trả lời về Luật ở giữa hội chúng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Tự mình chỉ định cho chính mình, hoặc người khác chỉ định cho người khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là tự mình chỉ định cho chính mình? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ trả lời khi được vị tên (như vầy) hỏi về Luật.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Như vậy là tự mình chỉ định cho chính mình.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là người khác chỉ định cho người khác? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, vị tên (như vầy) sẽ trả lời khi được vị tên (như vầy) hỏi về Luật.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Như vậy là người khác chỉ định cho người khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu hiền thiện, đã được chỉ định, trả lời Luật ở giữa hội chúng. Các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư có sự giận dữ, có sự bực bội, hăm dọa hãm hại. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đã được chỉ định quan sát tập thể và cân nhắc từng cá nhân rồi mới trả lời về Luật ở giữa hội chúng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư buộc tội vị tỳ khưu chưa được thỉnh ý trước. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên buộc tội vị tỳ khưu chưa được thỉnh ý trước; vị nào buộc tội thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc tội sau khi đã thỉnh ý trước rằng: “Này đại đức, hãy cho phép. Tôi muốn nói với ngài.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu thỉnh ý trước các tỳ khưu nhóm Lục Sư rồi buộc tội. Các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư có sự giận dữ, có sự bực bội, hăm dọa hãm hại. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, mặc dầu đã thỉnh ý rồi, ta cho phép cân nhắc về nhân vật (ấy) rồi mới buộc tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Các vị tỳ khưu hiền thiện (sẽ) thỉnh ý chúng ta trước tiên” liền ngay trước đó (đã) thỉnh ý (để buộc tội) các vị tỳ khưu trong sạch không phạm tội khi không có sự việc, không có nguyên do. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên thỉnh ý (để buộc tội) các vị tỳ khưu trong sạch không phạm tội khi không có sự việc, không có nguyên do; vị nào thỉnh ý thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép cân nhắc về nhân vật (ấy) trước rồi mới thỉnh ý (để buộc tội).”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư thực hiện hành sự sai Pháp ở giữa hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên thực hiện hành sự sai Pháp; vị nào thực hiện thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” Các vị vẫn thực hiện hành sự sai Pháp. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.” &#8211; “Này các tỳ khưu, trong khi hành sự sai Pháp đang được tiến hành, ta cho phép phản đối.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu hiền thiện phản đối trong khi hành sự sai Pháp đang được tiến hành bởi các tỳ khưu nhóm Lục Sư. Các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư có sự giận dữ, có sự bực bội, hăm dọa hãm hại. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép bày tỏ quan điểm.” Các vị bày tỏ quan điểm trong sự hiện diện của chính các vị kia. Các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư có sự giận dữ, có sự bực bội, hăm dọa hãm hại. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép phản đối với bốn năm vị, bày tỏ quan điểm với hai ba vị, còn một vị thì khẳng định rằng: “Tôi không đồng ý việc này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư trong lúc đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> ở giữa hội chúng cố ý không cho nghe được. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, vị đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> không nên cố ý làm cho không nghe được; vị nào làm cho không nghe được thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi là vị đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> của hội chúng có giọng (nói) như loài quạ. Khi ấy, đại đức Udāyi đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Vị đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên làm cho nghe được,’ còn ta có giọng (nói) như loài quạ, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> nỗ lực (nghĩ rằng): ‘Bằng cách nào ta có thể làm cho (các vị) nghe được?’ Đối với vị đang nỗ lực thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, Devadatta đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> ở hội chúng có sự hiện diện của cư sĩ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> ở hội chúng có sự hiện diện của cư sĩ; vị nào đọc tụng thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> ở giữa hội chúng dầu không được mời thỉnh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, vị không được mời thỉnh không nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> ở giữa hội chúng; vị nào đọc tụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép giới bổn <i>Pātimokkha</i> là trách nhiệm của vị trưởng lão.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm về các ngoại đạo</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Theo từ điển <em>Pali-English Dictionary</em> của hội <em>Pali Text Society</em> thì 1 <em>yojana</em> có chiều dài khoảng 7 <em>miles</em>, từ điển của Childers thì 12 <em>miles</em>, còn tài liệu <em>The Buddhist Monastic Code</em> cho biết là 10 <em>miles</em> tức vào khoảng 16 km (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Theo ngài Buddhaghosa, từ chỗ ngài Mahākassapa trú ngụ đến thành Rājagaha là 3 <i>gāvuta</i> (1 <i>gāvuta</i> = 1/4 <i>yojana</i>), như vậy vào khoảng 12 km. Trong thành Rājagaha có 18 trú xá lớn nhưng có cùng chung một ranh giới do ngài Sāriputta kết. Và Veḷuvana là chỗ các vị tỳ khưu ở trong ranh giới ấy tụ hội để thực hiện lễ <i>Uposatha</i>. Con sông được đề cập tên là Sippinī phát xuất từ núi Gijjhakūṭa và có giòng chảy rất mạnh (VinA. v, 1049).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] <em>avippavāso</em>: (từ phủ định) <em>a + vippavāso</em> (sự xa cách, sự vắng mặt) = sự không xa lìa. Nếu dịch sát từ sẽ lã: ‘Ranh giới ấy là nơi vị tỳ khưu không xa lìa ba y’ như bản dịch tiếng Anh của học giả I. B. Horner sẽ khiến cho ý nghĩa bị lầm lẫn. Mặt khác, nếu nói theo thói quen là ‘<i>sīmā</i> xa lìa tam y, <i>sīmā</i> được phép xa lìa tam y’ cũng không chính xác vì đã bỏ rơi tiếp đầu ngữ phủ định ‘<em>a.</em>’ Muốn giải thích trường hợp này phải trở lại điều học <i>nissaggiya</i> <i>pācittiya</i> thứ 2: ‘&#8230; <em>ce bhikkhu ticīvarena vippavaseyya</em>&#8230;’ và xem ‘<em>vippavāsa</em>’ có ý nghĩa một cách tổng quát là ‘sự phạm tội vì xa lìa ba y.’ Và ‘<em>a + vippavāsa</em>’ sẽ trở thành ‘không có +  sự phạm tội vì xa lìa ba y’ ở trong ranh giới ấy. Cũng cần nói thêm là việc ‘không có phạm tội vì xa lìa ba y’ và việc ‘được phép xa lìa ba y’ có sự khác biệt rõ rệt về ý nghĩa (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Buddhaghosa giải thích 1 <i>abbhantara</i> là 28 <i>hattha</i> (VinA. v, 1052). Từ Điển của Childers giải thích <i>hattha</i> là chiều dài tính từ cùi chỏ của cánh tay đến đầu ngón tay út. Tài liệu <i>Buddhist Monastic Code</i> của Ven. Thanissaro cho biết khoảng cách của 7 <i>abbhantara</i> = 98 m (1 <i>abbhantara</i> = 14 m).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Theo ngài Buddhaghosa, khoảng cách chung quanh được chừa ra giữa các ranh giới là khoảng cách một cánh tay (VinA. v, 1056).</span></p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐẠI PHẨM I &#8211; CHƯƠNG UPOSATHA: TỤNG PHẨM CODANĀVATTHU</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-i-chuong-uposatha-tung-pham-codanavatthu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 00:58:55 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58473</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm I Chương Uposatha Tụng Phẩm Codanāvatthu Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đại Phẩm I</span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương Uposatha</span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tụng Phẩm Codanāvatthu</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến Codanāvatthu. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến Codanāvatthu. Tại nơi ấy, đức Thế Tôn đã trú ngụ ở Codanāvatthu. Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ có nhiều vị tỳ khưu cư ngụ. Ở đó, vị tỳ khưu trưởng lão là ngu dốt thiếu kinh nghiệm. Vị ấy không biết lễ <i>Uposatha</i>, hay là hành sự <i>Uposatha</i>, hay là giới bổn <i>Pātimokkha</i>, hay là việc đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Giới bổn <i>Pātimokkha</i> là trách nhiệm của vị trưởng lão,’ và vị trưởng lão này của chúng ta thì ngu dốt thiếu kinh nghiệm, không biết lễ <i>Uposatha</i>, hay là hành sự <i>Uposatha</i>, hay là giới bổn <i>Pātimokkha</i>, hay là việc đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>, vậy chúng ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép ở nơi đó vị tỳ khưu nào có kinh nghiệm, đủ năng lực thì giới bổn <i>Pātimokkha</i> là trách nhiệm của vị ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, vào ngày lễ <i>Uposatha </i>tại trú xứ nọ có nhiều vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm cư ngụ. Các vị ấy không biết lễ <i>Uposatha</i>, hay là hành sự <i>Uposatha</i>, hay là giới bổn <i>Pātimokkha</i>, hay là việc đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Các vị ấy đã thỉnh mời vị trưởng lão rằng: &#8211; “Thưa ngài, xin trưởng lão hãy đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>.” Vị ấy đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, tôi không làm được.” Các vị đã thỉnh mời vị trưởng lão thứ nhì: &#8211; “Thưa ngài, xin trưởng lão hãy đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>.” Vị ấy cũng đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, tôi không làm được.” Các vị đã thỉnh mời vị trưởng lão thứ ba: &#8211; “Thưa ngài, xin trưởng lão hãy đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>.” Vị ấy cũng đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, tôi không làm được.” Bằng chính phương thức ấy, các vị đã thỉnh mời đến vị mới tu của hội chúng: &#8211; “Xin đại đức hãy đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>.” Vị ấy cũng đã nói như vầy: &#8211; “Thưa các ngài, tôi không làm được.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, trường hợp vào ngày lễ <i>Uposatha </i>tại trú xứ nọ có nhiều vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm cư ngụ. Các vị ấy không biết lễ <i>Uposatha</i>, hay là hành sự <i>Uposatha</i>, hay là giới bổn <i>Pātimokkha</i>, hay là việc đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Các vị ấy thỉnh mời vị trưởng lão rằng: “Thưa ngài, xin trưởng lão hãy đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>.” Vị ấy nói như vầy: “Này các đại đức, tôi không làm được.” Các vị thỉnh mời đến vị trưởng lão thứ nhì: “Thưa ngài, xin trưởng lão hãy đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>.” Vị ấy cũng nói như vầy: “Này các đại đức, tôi không làm được.” Các vị thỉnh mời đến vị trưởng lão thứ ba: “Thưa ngài, xin trưởng lão hãy đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>.” Vị ấy cũng nói như vầy: “Này các đại đức, tôi không làm được.” Bằng chính phương thức ấy, các vị thỉnh mời đến vị mới tu của hội chúng: “Xin đại đức hãy đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>.” Vị ấy cũng nói như vầy: “Thưa các ngài, tôi không làm được.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Này các tỳ khưu, ngay trong hôm ấy một vị tỳ khưu nên được các vị tỳ khưu ấy phái đi đến trú xứ lân cận (bảo rằng): “Này đại đức, hãy đi và học thuộc lòng giới bổn <i>Pātimokkha</i>một cách tóm tắt hoặc chi tiết rồi trở về.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Nên được phái đi bởi vị nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.” &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão ra lệnh cho vị tỳ khưu mới tu.” Được ra lệnh bởi vị trưởng lão, các vị tỳ khưu mới tu vẫn không đi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, khi được ra lệnh bởi vị trưởng lão, vị không bệnh không nên không đi; vị nào không đi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã ngự tại Codanāvatthu theo như ý thích đức Thế Tôn đã trở về lại thành Rājagaha. Vào lúc bấy giờ, dân chúng hỏi các vị tỳ khưu đang đi khất thực rằng: &#8211; “Thưa ngài, là ngày thứ mấy của nửa tháng?” Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này các đạo hữu, chúng tôi không biết.” Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này không biết đến việc tính toán (ngày) của nửa tháng thì những người này còn biết được điều tốt đẹp gì khác nữa đây?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép học cách tính toán (ngày) của nửa tháng.” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Vị nào nên học cách tính toán (ngày) của nửa tháng?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép toàn bộ tất cả đều học cách tính toán (ngày) của nửa tháng.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, dân chúng hỏi các vị tỳ khưu đang đi khất thực rằng: &#8211; “Thưa ngài, có đến bao nhiêu vị tỳ khưu?” Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này các đạo hữu, chúng tôi không biết.” Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này không biết lẫn nhau thì những người này còn biết được điều tốt đẹp gì khác nữa đây?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép đếm số các vị tỳ khưu.” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Khi nào thì nên đếm số các vị tỳ khưu?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> ta cho phép hoặc là đếm số bằng cách gọi tên, hoặc là cho rút thẻ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu không biết: “Hôm nay là ngày lễ<i> Uposatha</i>” nên đi khất thực ở làng xa. Các vị ấy trở lại trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng, trở lại khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa mới đọc tụng xong. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thông báo: ‘Hôm nay là ngày lễ<i> Uposatha</i>.’” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Nên được thông báo bởi vị nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão thông báo vào sáng sớm.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị trưởng lão nọ vào sáng sớm đã không nhớ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thông báo vào lúc thọ thực.” Ngay cả vào lúc thọ thực, vị ấy cũng đã không nhớ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép lúc nào nhớ thì thông báo vào lúc ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ nhà hành lễ <i>Uposatha</i> bị rác rến. Các tỳ khưu vãng lai phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu lại không quét nhà hành lễ <i>Uposatha</i>?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép quét nhà hành lễ <i>Uposatha</i>.” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Vị nào nên quét nhà hành lễ<i> Uposatha</i>?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão ra lệnh cho vị tỳ khưu mới tu.” Được ra lệnh bởi vị trưởng lão, các vị tỳ khưu mới tu vẫn không quét. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, khi được ra lệnh bởi vị trưởng lão, vị không bệnh không nên không quét; vị nào không quét thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, chỗ ngồi không được xếp đặt trong nhà hành lễ <i>Uposatha</i>. Các tỳ khưu ngồi trên nền nhà. Các phần thân thể và các y bị dơ bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép xếp đặt chỗ ngồi trong nhà hành lễ <i>Uposatha</i>.” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Vị nào nên xếp đặt chỗ ngồi trong nhà hành lễ<i>Uposatha</i>?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão ra lệnh cho vị tỳ khưu mới tu.” Được ra lệnh bởi vị trưởng lão, các vị tỳ khưu mới tu vẫn không xếp đặt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, khi được ra lệnh bởi vị trưởng lão, vị không bệnh không nên không xếp đặt; vị nào không xếp đặt thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong nhà hành lễ <i>Uposatha</i> không có đèn. Trong bóng tối, các vị tỳ khưu đạp nhầm cơ thể và luôn cả y nữa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thắp sáng đèn trong nhà hành lễ <i>Uposatha</i>.” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Vị nào nên thắp sáng đèn trong nhà hành lễ<i> Uposatha</i>?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão ra lệnh cho vị tỳ khưu mới tu.” Được ra lệnh bởi vị trưởng lão, các vị tỳ khưu mới tu vẫn không thắp sáng đèn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, khi được ra lệnh bởi vị trưởng lão, vị không bệnh không nên không thắp sáng đèn; vị nào không thắp sáng đèn thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ các tỳ khưu thường trú không cung ứng nước uống, không cung ứng nước rửa. Các tỳ khưu vãng lai phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu thường trú lại không cung ứng nước uống, không cung ứng nước rửa?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép cung ứng nước uống, nước rửa.” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Vị nào nên cung ứng nước uống, nước rửa?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão ra lệnh cho vị tỳ khưu mới tu.” Được ra lệnh bởi vị trưởng lão, các vị tỳ khưu mới tu vẫn không cung ứng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, khi được ra lệnh bởi vị trưởng lão, vị không bệnh không nên không cung ứng; vị nào không cung ứng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu ngu dốt, thiếu kinh nghiệm lên đường đi xa đã không xin phép các vị thầy tế độ và thầy dạy học. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, trường hợp nhiều vị tỳ khưu ngu dốt, thiếu kinh nghiệm lên đường đi xa không xin phép các vị thầy tế độ và thầy dạy học. Này các tỳ khưu, các vị thầy tế độ và thầy dạy học nên hỏi các vị ấy rằng: “Các ngươi sẽ đi đâu? Các ngươi sẽ đi với ai?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, nếu các vị ngu dốt, thiếu kinh nghiệm ấy nêu ra các vị ngu dốt, thiếu kinh nghiệm khác, này các tỳ khưu, các vị thầy tế độ và thầy dạy học không nên cho phép; nếu các vị cho phép thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Và này các tỳ khưu, (nếu) các vị ngu dốt, thiếu kinh nghiệm ấy không được các vị thầy tế độ và thầy dạy học cho phép mà vẫn đi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp nhiều vị tỳ khưu ngu dốt, thiếu kinh nghiệm sống tại trú xứ nọ. Các vị ấy không biết lễ <i>Uposatha</i>, hay là hành sự <i>Uposatha</i>, hay là giới bổn<i>Pātimokkha</i>, hay là việc đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Nơi ấy có vị tỳ khưu khác đi đến là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nọ nên được các vị tỳ khưu ấy tiếp đón nồng hậu, nên được quan tâm, nên được chăm sóc, nên được cung ứng bột tắm, đất sét (để tắm), gỗ chà răng, nước rửa mặt. Nếu các vị không tiếp đón nồng hậu, quan tâm, chăm sóc, cung ứng bột tắm, đất sét (để tắm), gỗ chà răng, nước rửa mặt thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp nhiều vị tỳ khưu ngu dốt, thiếu kinh nghiệm sống tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i>. Các vị ấy không biết lễ <i>Uposatha</i>, hay là hành sự <i>Uposatha</i>, hay là giới bổn <i>Pātimokkha</i>, hay là việc đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy ngay trong hôm ấy nên phái một vị tỳ khưu đi đến trú xứ lân cận (bảo rằng): “Này đại đức, hãy đi và học thuộc lòng giới bổn <i>Pātimokkha </i>một cách tóm tắt hoặc chi tiết rồi trở về.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu không đạt được (như thế) thì nơi nào có các vị biết về lễ <i>Uposatha</i>, hay là hành sự <i>Uposatha</i>, hay là giới bổn <i>Pātimokkha</i>, hay là việc đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>, toàn bộ tất cả các vị tỳ khưu ấy nên đi đến trú xứ ấy; nếu các vị không đi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp nhiều vị tỳ khưu ngu dốt, thiếu kinh nghiệm cư trú mùa mưa tại trú xứ nọ. Các vị ấy không biết lễ <i>Uposatha</i>, hay là hành sự <i>Uposatha</i>, hay là giới bổn <i>Pātimokkha</i>, hay là việc đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy ngay trong hôm ấy nên phái một vị tỳ khưu đi đến trú xứ lân cận (bảo rằng): “Này đại đức, hãy đi và học thuộc lòng giới bổn <i>Pātimokkha</i> một cách tóm tắt hoặc chi tiết rồi trở về.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu không đạt được (như thế) thì nên phái đi một vị tỳ khưu trong thời hạn bảy ngày (bảo rằng): “Này đại đức, hãy đi và học thuộc lòng giới bổn <i>Pātimokkha</i> một cách tóm tắt hoặc chi tiết rồi trở về.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu không đạt được (như thế) thì các tỳ khưu ấy không nên cư trú mùa mưa tại trú xứ ấy. Nếu các vị ấy cư trú thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, hãy tụ hội lại, hội chúng sẽ thực hiện lễ <i>Uposatha</i>.” Khi được nói như thế, có vị tỳ khưu nọ đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, có vị tỳ khưu bị bệnh. Vị ấy không đến.” &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh được trao ra sự trong sạch. Và này các tỳ khưu, nên trao ra như vầy: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy nên đi đến gặp một vị tỳ khưu, nên đắp thượng y một bên vai, nên ngồi chồm hổm, chắp tay lên và nên nói như vầy: “Tôi xin trao ra sự trong sạch. Hãy chuyển đạt sự trong sạch của tôi. Hãy thông báo về sự trong sạch của tôi.” (Nếu) vị ấy thể hiện bằng thân, thể hiện bằng lời nói, thể hiện bằng thân và lời nói, thì sự trong sạch đã được trao ra. (Nếu) vị ấy không thể hiện bằng thân, không thể hiện bằng lời nói, không thể hiện bằng thân và lời nói, thì sự trong sạch đã không được trao ra. Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu không đạt được (như thế) thì nên dùng cái giường hoặc cái ghế khiêng vị tỳ khưu bị bệnh ấy đến giữa hội chúng rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i>. Này các tỳ khưu, nếu các vị tỳ khưu chăm sóc bệnh khởi ý như vầy: “Nếu chúng ta di chuyển vị bị bệnh dời khỏi vị trí thì bệnh sẽ trầm trọng hơn, hoặc sẽ gây tử vong,” này các tỳ khưu, không nên di chuyển vị bị bệnh khỏi vị trí. Hội chúng nên đi đến và thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở nơi ấy. Nhưng không nên thực hiện lễ <i>Uposatha</i> bởi hội chúng theo phe nhóm; vị nào thực hiện thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch từ chính chỗ ấy ra đi (đến nơi khác) thì sự trong sạch nên được trao ra đến vị khác. Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch ngay tại chỗ ấy hoàn tục, từ trần, được biết là vị (xuống lại) sa di, được biết là người đã từ bỏ điều học, được biết là vị phạm tội cực nặng, được biết là vị bị điên, được biết là bị loạn trí, được biết là bị thọ khổ hành hạ, được biết là vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo trong việc không chịu từ bỏ tà kiến ác, được biết là kẻ vô căn, được biết là kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu), được biết là kẻ đã chuyển sang ngoại đạo, được biết là loài thú, được biết là kẻ giết mẹ, được biết là kẻ giết cha, được biết là kẻ giết A-la-hán, được biết là kẻ làm nhơ tỳ khưu ni, được biết là kẻ chia rẽ hội chúng, được biết là kẻ làm chảy máu (đức Phật), được biết là kẻ lưỡng căn thì sự trong sạch nên được trao ra đến vị khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch ở khoảng giữa đường lại ra đi (đến nơi khác) thì sự trong sạch vẫn chưa được chuyển đạt. Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch ở khoảng giữa đường lại hoàn tục, từ trần, ―(như trên)― được biết là kẻ lưỡng căn thì sự trong sạch vẫn chưa được chuyển đạt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch đã đến được hội chúng rồi ra đi (đến nơi khác) thì sự trong sạch đã được chuyển đạt. Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch đã đến được hội chúng rồi hoàn tục, từ trần, ―(như trên)― được biết là kẻ lưỡng căn thì sự trong sạch đã được chuyển đạt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch đã đến được hội chúng rồi ngủ quên nên không thông báo, rồi lơ đễnh nên không thông báo, rồi nhập định nên không thông báo thì sự trong sạch đã được chuyển đạt. Vị chuyển đạt sự trong sạch không bị phạm tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch đã đến được hội chúng rồi cố ý không thông báo thì sự trong sạch đã được chuyển đạt, và vị chuyển đạt sự trong sạch bị phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, hãy tụ hội lại, hội chúng sẽ thực hiện hành sự.” Khi được nói như thế, có vị tỳ khưu nọ đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, có vị tỳ khưu bị bệnh. Vị ấy không đến.” &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh được trao ra sự tùy thuận. Và này các tỳ khưu, nên trao ra như vầy: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy nên đi đến gặp một vị tỳ khưu, nên đắp thượng y một bên vai, nên ngồi chồm hổm, chắp tay lên và nên nói như vầy: “Tôi xin trao ra sự tùy thuận. Hãy chuyển đạt sự tùy thuận của tôi. Hãy thông báo về sự tùy thuận của tôi.” (Nếu) vị ấy thể hiện bằng thân, thể hiện bằng lời nói, thể hiện bằng thân và lời nói, thì sự tùy thuận đã được trao ra. (Nếu) vị ấy không thể hiện bằng thân, không thể hiện bằng lời nói, không thể hiện bằng thân và lời nói, thì sự tùy thuận đã không được trao ra. Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu không đạt được (như thế) thì nên dùng cái giường hoặc cái ghế khiêng vị tỳ khưu bị bệnh ấy đến giữa hội chúng rồi thực hiện hành sự. Này các tỳ khưu, nếu các vị tỳ khưu chăm sóc bệnh khởi ý như vầy: “Nếu chúng ta di chuyển vị bị bệnh dời khỏi chỗ thì bệnh sẽ trầm trọng hơn hoặc sẽ gây tử vong,” này các tỳ khưu, không nên di chuyển vị bị bệnh dời khỏi chỗ. Hội chúng nên đi đến và thực hiện hành sự ở nơi ấy. Nhưng không nên thực hiện hành sự bởi hội chúng theo phe nhóm; vị nào thực hiện thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận từ chính chỗ ấy ra đi (đến nơi khác) thì sự tùy thuận nên được trao ra đến vị khác. Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận ngay tại chỗ ấy hoàn tục, từ trần, được biết là vị (xuống lại) sa di, được biết là người đã từ bỏ điều học, được biết là vị phạm tội cực nặng, được biết là vị bị điên, được biết là bị loạn trí, được biết là bị thọ khổ hành hạ, được biết là vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo trong việc không chịu từ bỏ tà kiến ác, được biết là kẻ vô căn, được biết là kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu), được biết là kẻ đã chuyển sang ngoại đạo, được biết là loài thú, được biết là kẻ giết mẹ, được biết là kẻ giết cha, được biết là kẻ giết A-la-hán, được biết là kẻ làm nhơ tỳ khưu ni, được biết là kẻ chia rẽ hội chúng, được biết là kẻ làm chảy máu (đức Phật), được biết là kẻ lưỡng căn thì sự tùy thuận nên được trao ra đến vị khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận ở khoảng giữa đường lại ra đi (đến nơi khác) thì sự tùy thuận vẫn chưa được chuyển đạt. Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận ở khoảng giữa đường lại hoàn tục, từ trần, ―(như trên)― được biết là kẻ lưỡng căn thì sự tùy thuận vẫn chưa được chuyển đạt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận đã đến được hội chúng rồi ra đi (đến nơi khác) thì sự tùy thuận đã được chuyển đạt. Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận đã đến được hội chúng rồi hoàn tục, từ trần, ―(như trên)― được biết là kẻ lưỡng căn thì sự tùy thuận đã được chuyển đạt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận đã đến được hội chúng rồi ngủ quên nên không thông báo, rồi lơ đễnh nên không thông báo, rồi nhập định nên không thông báo thì sự tùy thuận đã được chuyển đạt. Vị chuyển đạt sự tùy thuận không bị phạm tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận đã đến được hội chúng rồi cố ý không thông báo thì sự tùy thuận đã được chuyển đạt và vị chuyển đạt sự tùy thuận bị phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép vào ngày lễ <i>Uposatha</i> vị trao ra sự trong sạch (đồng thời) trao ra sự tùy thuận (phòng khi) hội chúng có hành sự cần được thực hiện.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, nhằm ngày lễ <i>Uposatha</i> các thân quyến đã nắm giữ lại vị tỳ khưu nọ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, trường hợp vào ngày lễ <i>Uposatha</i> các thân quyến nắm giữ vị tỳ khưu lại. Các thân quyến ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: “Này các ngài, các ngài hãy trả tự do cho vị tỳ khưu này trong chốc lát đến khi nào vị tỳ khưu này thực hiện lễ <i>Uposatha</i> xong.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được (như thế), các thân quyến ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: “Này các ngài, các ngài hãy tránh sang một bên trong chốc lát đến khi nào vị tỳ khưu này trao ra sự trong sạch xong.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được (như thế), các thân quyến ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: “Này các ngài, các ngài hãy dẫn vị tỳ khưu này ra khỏi ranh giới trong chốc lát đến khi nào hội chúng thực hiện lễ <i>Uposatha</i> xong.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được (như thế), vẫn không nên thực hiện lễ <i>Uposatha</i> bởi hội chúng theo phe nhóm; vị nào thực hiện thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vào ngày lễ <i>Uposatha</i> các đức vua nắm giữ vị tỳ khưu lại. ―(như trên)― Các kẻ trộm cướp nắm giữ ―(như trên)― Những kẻ bất lương nắm giữ ―(như trên)― Những kẻ đối nghịch tỳ khưu nắm giữ vị tỳ khưu lại. Những kẻ đối nghịch tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: “Này các ngài, các ngài hãy trả tự do cho vị tỳ khưu này trong chốc lát đến khi nào vị tỳ khưu này thực hiện lễ <i>Uposatha</i> xong.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được (như thế), những kẻ đối nghịch tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: “Này các ngài, các ngài hãy tránh sang một bên trong chốc lát đến khi nào vị tỳ khưu này trao ra sự trong sạch xong.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không thể đạt được (như thế), những kẻ đối nghịch tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: “Này các ngài, các ngài hãy dẫn vị tỳ khưu này ra khỏi ranh giới trong chốc lát đến khi nào hội chúng thực hiện lễ <i>Uposatha</i>xong.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không thể đạt được (như thế), vẫn không nên thực hiện lễ <i>Uposatha</i> bởi hội chúng theo phe nhóm; vị nào thực hiện thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, hãy tụ hội lại, hội chúng có việc cần phải làm.” Khi được nói như thế, có vị tỳ khưu nọ đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, có vị tỳ khưu tên Gagga bị điên. Vị ấy không đến.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, đây là hai trường hợp bị điên. Có vị tỳ khưu điên có khi nhớ đến lễ <i>Uposatha</i> có khi không nhớ, có khi nhớ đến hành sự của hội chúng có khi không nhớ; và có vị hoàn toàn không nhớ. (Có vị) có khi đi đến lễ <i>Uposatha</i> có khi không đi đến, có khi đi đến hành sự của hội chúng có khi không đi đến; và có vị không bao giờ đi đến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị bị điên nào có khi nhớ đến lễ <i>Uposatha</i> có khi không nhớ, có khi nhớ đến hành sự của hội chúng có khi không nhớ, có khi đi đến lễ <i>Uposatha</i> có khi không đi đến, có khi đi đến hành sự của hội chúng có khi không đi đến; này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho sự đồng ý về bệnh điên đến vị bị điên có hình thức như thế. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Gagga này bị điên có khi nhớ đến lễ <i>Uposatha</i> có khi không nhớ, có khi nhớ đến hành sự của hội chúng có khi không nhớ, có khi đi đến lễ <i>Uposatha</i> có khi không đi đến, có khi đi đến hành sự của hội chúng có khi không đi đến. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho sự đồng ý về bệnh điên đến tỳ khưu Gagga là vị bị điên ― vị tỳ khưu Gagga có thể nhớ đến lễ <i>Uposatha</i> hoặc có thể không nhớ, có thể nhớ đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không nhớ, có thể đi đến lễ <i>Uposatha</i> hoặc có thể không đi đến, có thể đi đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không đi đến ― hội chúng dầu có Gagga hay không có Gagga vẫn có thể thực hiện lễ <i>Uposatha</i>, vẫn có thể thực hiện hành sự của hội chúng. Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Gagga này bị điên có khi nhớ đến lễ <i>Uposatha</i> có khi không nhớ, có khi nhớ đến hành sự của hội chúng có khi không nhớ, có khi đi đến lễ <i>Uposatha</i> có khi không đi đến, có khi đi đến hành sự của hội chúng có khi không đi đến. Hội chúng ban cho sự đồng ý về bệnh điên đến tỳ khưu Gagga là vị bị điên ― vị tỳ khưu Gagga có thể nhớ đến lễ <i>Uposatha</i> hoặc có thể không nhớ, có thể nhớ đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không nhớ, có thể đi đến lễ <i>Uposatha</i> hoặc có thể không đi đến, có thể đi đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không đi đến ― hội chúng dầu có Gagga hay không có Gagga sẽ thực hiện lễ <i>Uposatha</i>, sẽ thực hiện hành sự của hội chúng. Đại đức nào đồng ý việc ban cho sự đồng ý về bệnh điên đến tỳ khưu Gagga là vị bị điên ― vị tỳ khưu Gagga có thể nhớ đến lễ <i>Uposatha</i> hoặc có thể không nhớ, có thể nhớ đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không nhớ, có thể đi đến lễ <i>Uposatha</i> hoặc có thể không đi đến, có thể đi đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không đi đến ― hội chúng dầu có Gagga hay không có Gagga sẽ thực hiện lễ <i>Uposatha</i>, sẽ thực hiện hành sự của hội chúng xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự đồng ý về bệnh điên đã được hội chúng ban đến tỳ khưu Gagga là vị bị điên ― vị tỳ khưu Gagga có thể nhớ đến lễ <i>Uposatha</i> hoặc có thể không nhớ, có thể nhớ đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không nhớ, có thể đi đến lễ <i>Uposatha</i> hoặc có thể không đi đến, có thể đi đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không đi đến ― hội chúng dầu có Gagga hay không có Gagga sẽ thực hiện lễ <i>Uposatha</i>, sẽ thực hiện hành sự của hội chúng. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có bốn vị tỳ khưu cư ngụ. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Nên thực hiện lễ <i>Uposatha</i>’ và chúng ta là bốn người, vậy chúng ta nên thực hiện lễ <i>Uposatha</i> như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> đối với bốn vị.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có ba vị tỳ khưu cư ngụ. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã cho phép đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> đối với bốn vị và chúng ta là ba người, vậy chúng ta nên thực hiện lễ <i>Uposatha</i>như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện lễ <i>Uposatha &#8211; </i>bày tỏ sự trong sạch đối với ba vị. Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như vầy: Các vị tỳ khưu ấy cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Xin các đại đức hãy lắng nghe tôi, hôm nay là ngày lễ <i>Uposatha</i> (vào ngày mười lăm). Nếu là thời điểm thích hợp cho các đại đức, chúng ta nên thực hiện lễ <i>Uposatha &#8211; </i>bày tỏ sự trong sạch (với nhau).” Vị tỳ khưu trưởng lão nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với các vị tỳ khưu ấy như vầy: “Này các sư đệ, tôi được trong sạch, các vị hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Này các sư đệ, tôi được trong sạch, các vị hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Này các sư đệ, tôi được trong sạch, các vị hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu mới tu nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với các vị tỳ khưu ấy như vầy: “Bạch các ngài, tôi được trong sạch, các vị hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Bạch các ngài, tôi được trong sạch, các vị hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Bạch các ngài, tôi được trong sạch, các vị hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có hai vị tỳ khưu cư ngụ. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã cho phép đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> đối với bốn vị, (cho phép) thực hiện lễ <i>Uposatha &#8211; </i>bày tỏ sự trong sạch đối với ba vị, và chúng ta là hai người, vậy chúng ta nên thực hiện lễ <i>Uposatha</i> như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện lễ <i>Uposatha &#8211; </i>bày tỏ sự trong sạch đối với hai vị. Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như vầy: Vị tỳ khưu trưởng lão nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với vị tỳ khưu mới tu như vầy: “Này sư đệ, tôi được trong sạch, sư đệ hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Này sư đệ, tôi được trong sạch, sư đệ hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Này sư đệ, tôi được trong sạch, sư đệ hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu mới tu nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với vị tỳ khưu trưởng lão như vầy: “Bạch ngài, tôi được trong sạch, ngài hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Bạch ngài, tôi được trong sạch, ngài hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Bạch ngài, tôi được trong sạch, ngài hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có một vị tỳ khưu cư ngụ. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã cho phép đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha </i>đối với bốn vị, (cho phép) thực hiện lễ <i>Uposatha</i> &#8211; bày tỏ sự trong sạch đối với ba vị, (cho phép) thực hiện lễ <i>Uposatha</i> &#8211; bày tỏ sự trong sạch đối với hai vị và ta chỉ có một mình, vậy ta nên thực hiện lễ <i>Uposatha</i> như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có một vị tỳ khưu cư ngụ. Này các tỳ khưu, chỗ nào các vị tỳ khưu thường quay trở về là ở giảng đường, hoặc ở mái che, hoặc ở gốc cây, vị tỳ khưu ấy nên quét khu vực ấy, nên đem lại nước uống, nước rửa, nên sắp đặt chỗ ngồi, nên thắp sáng đèn, rồi nên ngồi xuống. Nếu có các tỳ khưu khác đi đến thì nên thực hiện lễ <i>Uposatha</i> với các vị ấy; nếu không có ai đi đến thì nên chú nguyện rằng: “Hôm nay là lễ <i>Uposatha</i> của tôi;” nếu không chú nguyện thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp ở nơi có bốn vị tỳ khưu cư ngụ, không nên chuyển đạt sự trong sạch của một vị rồi đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> bởi ba vị; nếu các vị đọc tụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, trường hợp ở nơi có ba vị tỳ khưu cư ngụ, không nên chuyển đạt sự trong sạch của một vị rồi thực hiện lễ <i>Uposatha &#8211; </i>bày tỏ sự trong sạch bởi hai vị; nếu các vị thực hiện thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, trường hợp ở nơi có hai vị tỳ khưu cư ngụ, không nên chuyển đạt sự trong sạch của một vị rồi chú nguyện bởi một vị; nếu chú nguyện thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị phạm tội vào ngày lễ <i>Uposatha</i>. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Vị bị phạm tội không nên tiến hành lễ <i>Uposatha</i>’ và ta thì bị phạm tội, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị phạm tội vào ngày lễ <i>Uposatha</i>. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến gặp một vị tỳ khưu, nên đắp thượng y một bên vai, nên ngồi chồm hổm, nên chắp tay lên, và nên nói như vầy: &#8211; “Bạch đại đức, tôi đã phạm tội tên (như vầy), tôi xin sám hối tội ấy.” Vị kia nên nói rằng: &#8211; “(Đại đức) có thấy (tội ấy) không?” &#8211; “Thưa có, tôi thấy.” &#8211; “(Đại đức) hãy thu thúc trong tương lai.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu có nghi ngờ về sự phạm tội vào ngày lễ <i>Uposatha</i>. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến gặp một vị tỳ khưu, nên đắp thượng y một bên vai, nên ngồi chồm hổm, nên chắp tay lên, và nên nói như vầy: &#8211; “Bạch đại đức, tôi có nghi ngờ về sự phạm (một) tội tên (như vầy), khi nào tôi dứt khỏi hoài nghi khi ấy tôi sẽ sửa chữa tội ấy.” Nói xong thì lễ <i>Uposatha</i> nên được tiến hành, nên lắng nghe giới bổn <i>Pātimokkha</i>, nhưng không nên làm chướng ngại cho lễ <i>Uposatha</i> chỉ vì nguyên nhân ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư sám hối tội (đã phạm) giống nhau. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không được sám hối tội (đã phạm) giống nhau; vị nào sám hối thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư ghi nhận tội (đã phạm) giống nhau. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không được ghi nhận tội (đã phạm) giống nhau; vị nào ghi nhận thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong lúc giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng có vị tỳ khưu nọ nhớ ra tội. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Vị bị phạm tội không nên tiến hành lễ <i>Uposatha</i>’ và ta thì bị phạm tội, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu nhớ ra tội trong lúc giới bổn <i>Pātimokkha</i>đang được đọc tụng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên nói với vị tỳ khưu bên cạnh như vầy: “Bạch đại đức, tôi đã phạm tội tên (như vầy), sau khi đứng dậy khỏi đây tôi sẽ sửa chữa tội ấy.” Nói xong, thì lễ <i>Uposatha</i> nên được tiến hành, nên lắng nghe giới bổn <i>Pātimokkha</i>, nhưng không nên làm chướng ngại cho lễ <i>Uposatha</i> chỉ vì nguyên nhân ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu có nghi ngờ về sự phạm tội trong lúc giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên nói với vị tỳ khưu bên cạnh như vầy: “Bạch đại đức, tôi có nghi ngờ về sự phạm (một) tội tên (như vầy), khi nào tôi dứt khỏi hoài nghi khi ấy tôi sẽ sửa chữa tội ấy.” Nói xong, thì lễ <i>Uposatha</i> nên được tiến hành, nên lắng nghe giới bổn <i>Pātimokkha</i>, nhưng không nên làm chướng ngại cho lễ<i>Uposatha</i> chỉ vì nguyên nhân ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> toàn bộ hội chúng đã phạm tội giống nhau. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sám hối tội (đã phạm) giống nhau, không nên ghi nhận tội (đã phạm) giống nhau’ và toàn bộ hội chúng này đã phạm tội giống nhau, vậy chúng ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> toàn bộ hội chúng đã phạm tội giống nhau. Này các tỳ khưu, ngay trong hôm ấy các vị tỳ khưu ấy nên phái một vị tỳ khưu đi đến trú xứ lân cận (bảo rằng): “Này đại đức, hãy đi và sau khi sửa chữa tội ấy hãy quay trở về, chúng tôi sẽ sửa chữa lại tội ấy trong sự hiện diện của đại đức.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu không đạt được (như thế) thì hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Toàn bộ hội chúng này đã phạm tội giống nhau, khi nào (hội chúng) nhìn thấy vị tỳ khưu khác trong sạch không phạm tội khi ấy (hội chúng) sẽ sửa chữa tội ấy trong sự hiện diện của vị ấy.” Nói xong, thì lễ <i>Uposatha</i> nên được tiến hành, giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên được đọc tụng, nhưng không nên làm chướng ngại cho lễ <i>Uposatha</i> chỉ vì nguyên nhân ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> toàn bộ hội chúng có nghi ngờ về sự phạm tội giống nhau. Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Toàn bộ hội chúng này có nghi ngờ về sự phạm tội giống nhau, khi nào dứt khỏi hoài nghi khi ấy (hội chúng) sẽ sửa chữa tội ấy.” Nói xong, thì lễ <i>Uposatha</i> nên được tiến hành, giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên được đọc tụng, nhưng không nên làm chướng ngại cho lễ <i>Uposatha</i> chỉ vì nguyên nhân ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ khi đã vào mùa an cư mưa, hội chúng đã phạm tội giống nhau. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên phái một vị tỳ khưu ngay trong hôm ấy đi đến trú xứ lân cận (bảo rằng): “Này đại đức, hãy đi và sau khi sửa chữa tội ấy hãy quay trở về, chúng tôi sẽ sửa chữa lại tội ấy trong sự hiện diện của đại đức.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu không đạt được (như thế) thì nên phái đi một vị tỳ khưu trong thời hạn bảy ngày (bảo rằng): “Này đại đức, hãy đi và sau khi sửa chữa tội ấy hãy quay trở về, chúng tôi sẽ sửa chữa lại tội ấy trong sự hiện diện của đại đức.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ toàn bộ hội chúng đã phạm tội giống nhau. Hội chúng ấy không biết tên và loại của tội ấy. Ở đó, có vị tỳ khưu khác đi đến là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Có vị tỳ khưu nọ đã đi đến gặp vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa đại đức, vị hành động như vầy và như vầy thì vị ấy phạm tội tên gì? Vị ấy đã nói như vầy: &#8211; “Này đại đức, vị hành động như vầy và như vầy thì vị ấy phạm tội tên này. Này đại đức, ngươi đã phạm tội tên này, ngươi hãy sửa chữa tội ấy.” Vị nọ đã nói như vầy: &#8211; “Thưa đại đức, không phải chỉ mình tôi đã phạm tội ấy. Toàn bộ hội chúng này đã phạm tội ấy.” Vị ấy đã nói như vầy: &#8211; “Này đại đức, người khác phạm tội hay không phạm tội thì điều gì sẽ xảy ra cho ngươi? Này đại đức, ngươi hãy tự thoát khỏi tội của bản thân mình đi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, vị tỳ khưu nọ sau khi đã sửa chữa tội ấy theo lời khuyên của vị tỳ khưu ấy rồi đã đi đến gặp các vị tỳ khưu kia, sau khi đến đã nói với các vị tỳ khưu kia điều này: &#8211; “Này các đại đức, nghe nói vị hành động như vầy và như vầy thì vị ấy phạm tội tên này. Này các đại đức, các vị đã phạm tội tên này, các vị hãy sửa chữa tội ấy.” Khi ấy, các vị tỳ khưu kia đã không muốn sửa chữa tội ấy theo lời khuyên của vị tỳ khưu nọ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ toàn bộ hội chúng đã phạm tội giống nhau. Hội chúng ấy không biết tên và loại của tội ấy. Ở đó, có vị tỳ khưu khác đi đến là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Có vị tỳ khưu nọ đã đi đến gặp vị tỳ khưu ấy, sau khi đến nói với vị tỳ khưu ấy như vầy: “Thưa đại đức, vị hành động như vầy và như vầy thì vị ấy phạm tội tên gì?” Vị ấy nói như vầy: “Này đại đức, vị hành động như vầy và như vầy thì vị ấy phạm tội tên này. Này đại đức, ngươi đã phạm tội tên này, ngươi hãy sửa chữa tội ấy.” Vị nọ nói như vầy: “Thưa đại đức, không phải chỉ mình tôi đã phạm tội ấy. Toàn bộ hội chúng này đã phạm tội ấy.” Vị ấy nói như vầy: “Này đại đức, người khác phạm tội hay không phạm tội thì điều gì sẽ xảy ra cho ngươi? Này đại đức, ngươi hãy tự thoát khỏi tội của bản thân mình đi.” Này các tỳ khưu, nếu sau khi sửa chữa tội theo lời khuyên của vị tỳ khưu ấy, vị tỳ khưu nọ đã đi đến gặp các vị tỳ khưu kia, sau khi đến đã nói với các vị tỳ khưu kia như vầy: “Này các đại đức, nghe nói vị hành động như vầy và như vầy thì vị ấy phạm tội tên này. Này các đại đức, các vị đã phạm tội tên này, các vị hãy sửa chữa tội ấy.” Này các tỳ khưu, nếu các vị tỳ khưu kia sửa chữa tội ấy theo lời khuyên của vị tỳ khưu nọ, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu các vị không chịu sửa chữa, vị tỳ khưu nọ không nên khuyên các vị tỳ khưu ấy (vì họ) không có mong muốn.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm Codanāvatthu</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐẠI PHẨM I &#8211; CHƯƠNG UPOSATHA: TỤNG PHẨM THỨ BA</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-i-chuong-ii/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 01:00:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=11593</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm I Chương Uposatha Tụng Phẩm Thứ Ba Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đại Phẩm I</span></h2>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương Uposatha</span></h3>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tụng Phẩm Thứ Ba</span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều vị tỳ khưu thường trú đã tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy đã không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi đã thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đã đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đã đi đến. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên được đọc tụng lại bởi các vị tỳ khưu ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn<i>Pātimokkha</i> nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (7)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pāti-mokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (8)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (9)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn<i>Pātimokkha</i> nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (10)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pāti-mokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (11)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (12)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn <i>Pātimokkha</i>nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (13)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (14)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (15)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt mười lăm trường hợp vô tội</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên được đọc tụng lại bởi các vị tỳ khưu ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm, rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, ―(như trên)― trong khi tập thể chưa đứng lên ―(như trên)― một số thuộc tập thể đã đứng lên ―(như trên)― toàn bộ tập thể đã đứng lên thì có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn ―(như trên)― (có số lượng) tương đương ―(như trên)― (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (4-15)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt mười lăm trường hợp là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có sự nghi ngờ rằng: ‘Lễ <i>Uposatha</i> của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên được đọc tụng lại bởi các vị tỳ khưu ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có sự nghi ngờ rằng: ‘Lễ <i>Uposatha</i> của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có sự nghi ngờ rằng: ‘Lễ <i>Uposatha</i> của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có sự nghi ngờ rằng: ‘Lễ <i>Uposatha</i> của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy ―(như trên)― trong khi tập thể chưa đứng lên ―(như trên)― một số thuộc tập thể đã đứng lên ―(như trên)― toàn bộ tập thể đã đứng lên thì có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn ―(như trên)― (có số lượng) tương đương ―(như trên)― (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (4-15)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt mười lăm trường hợp có sự nghi ngờ</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị có sự ngần ngại rằng: ‘Lễ <i>Uposatha</i> vẫn được phép thực hiện đối với chúng ta, chứ không phải không được phép đối với chúng ta’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i>và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên được đọc tụng lại bởi các vị tỳ khưu ấy. Các vị đọc tụng phạm tội<i>dukkaṭa</i>. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị có sự ngần ngại rằng: ‘Lễ <i>Uposatha</i> vẫn được phép thực hiện đối với chúng ta, chứ không phải không được phép đối với chúng ta’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i>và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị có sự ngần ngại rằng: ‘Lễ <i>Uposatha</i> vẫn được phép thực hiện đối với chúng ta, chứ không phải không được phép đối với chúng ta’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i>và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có sự ngần ngại rằng: ‘Lễ <i>Uposatha</i> vẫn được phép thực hiện đối với chúng ta, chứ không phải không được phép đối với chúng ta’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy ―(như trên)― trong khi tập thể chưa đứng lên ―(như trên)― một số thuộc tập thể đã đứng lên ―(như trên)― toàn bộ tập thể đã đứng lên thì có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn ―(như trên)― (có số lượng) tương đương ―(như trên)― (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội<i>dukkaṭa</i>. (4-15)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt mười lăm trường hợp đã bỏ qua sự ngần ngại</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn <i>Pātimokkha</i>nên được đọc tụng lại bởi các vị tỳ khưu ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Trong khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội<i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ <i>Uposatha</i> và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt mười lăm trường hợp có dự tính chia rẽ</b>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt hai mươi lăm nhóm ba</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Uposatha</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Các vị tỳ khưu thường trú khác đang đi vào trong ranh giới,’ ―(như trên)― Các vị ấy không biết rằng: ‘Các vị tỳ khưu thường trú khác đã đi vào trong ranh giới,’ ―(như trên)― Các vị ấy không nhìn thấy các vị tỳ khưu thường trú khác đang đi vào trong ranh giới, ―(như trên)― Các vị ấy không nhìn thấy các vị tỳ khưu thường trú khác đã đi vào trong ranh giới, ―(như trên)― Các vị ấy không nghe rằng: ‘Các vị tỳ khưu thường trú khác đang đi vào trong ranh giới,’ ―(như trên)― Các vị ấy không nghe rằng: ‘Các vị tỳ khưu thường trú khác đã đi vào trong ranh giới,’ ―(như trên)― Theo phương thức của một trăm bảy mươi lăm nhóm ba về vị thường trú với vị thường trú, về vị vãng lai với vị thường trú, về vị thường trú với vị vãng lai, về vị vãng lai với vị vãng lai, bằng cách thức thêm vào những phần tương tự thì tạo ra được bảy trăm nhóm ba.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp ngày mười bốn là của các tỳ khưu thường trú, ngày mười lăm là của các tỳ khưu vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu (có số lượng) tương đương thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn thì các vị thường trú nên thuận theo các vị vãng lai.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp ngày mười lăm là của các tỳ khưu thường trú, ngày mười bốn là của các tỳ khưu vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu (có số lượng) tương đương thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn thì các vị thường trú nên thuận theo các vị vãng lai.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp ngày đầu tháng là của các tỳ khưu thường trú, ngày mười lăm là của các tỳ khưu vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn và các vị thường trú không mong muốn thì không nên ban cho sự hợp nhất đến các vị vãng lai; các vị vãng lai nên đi ra khỏi ranh giới rồi lễ <i>Uposatha</i> nên được tiến hành. Nếu (có số lượng) tương đương và các vị thường trú không mong muốn ()unwillingly adv.) thì không nên ban cho sự hợp nhất đến các vị vãng lai; các vị vãng lai nên đi ra khỏi ranh giới rồi lễ <i>Uposatha</i>nên được tiến hành. Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn thì các vị thường trú nên ban cho sự hợp nhất đến các vị vãng lai hoặc là nên đi ra khỏi ranh giới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp ngày mười lăm là của các tỳ khưu thường trú, ngày đầu tháng là của các tỳ khưu vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn thì các vị vãng lai nên ban cho sự hợp nhất đến các vị thường trú hoặc là nên đi ra khỏi ranh giới. Nếu (có số lượng) tương đương thì các vị vãng lai nên ban cho sự hợp nhất đến các vị thường trú hoặc là nên đi ra khỏi ranh giới. Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn và các vị vãng lai không mong muốn thì không nên ban cho sự hợp nhất đến các vị thường trú; các vị thường trú nên đi ra khỏi ranh giới rồi lễ <i>Uposatha</i> nên được tiến hành.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu vãng lai nhìn thấy sự biểu hiện của việc cư trú, đặc điểm của việc cư trú, hiện tướng của việc cư trú, dấu hiệu của việc cư trú của các tỳ khưu thường trú (như là) giường ghế nệm gối được sắp xếp cẩn thận, nước uống nước rửa khéo được bố trí, phòng ốc được quét dọn sạch sẽ, sau khi nhìn thấy khởi lên nghi ngờ: ‘Có các tỳ khưu thường trú hay không có?’ Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> chung thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> riêng rẽ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy có dự tính chia rẽ (nói rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi tiến hành lễ<i>Uposatha</i> thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu vãng lai nghe được sự biểu hiện của việc cư trú, đặc điểm của việc cư trú, hiện tướng của việc cư trú, dấu hiệu của việc cư trú của các tỳ khưu thường trú (như là) tiếng bước chân của những vị đang đi kinh hành, tiếng học bài, tiếng đằng hắng, tiếng hắt hơi, sau khi nghe khởi lên nghi ngờ: ‘Có các tỳ khưu thường trú hay không có?’ Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> chung thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> riêng rẽ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy có dự tính chia rẽ (nói rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu thường trú nhìn thấy sự biểu hiện của việc đi đến, đặc điểm của việc đi đến, hiện tướng của việc đi đến, dấu hiệu của việc đi đến của các tỳ khưu vãng lai (như là) bình bát khác lạ, y khác lạ, vật lót ngồi khác lạ, sự vung vãi nước rửa các bàn chân, sau khi nhìn thấy khởi lên nghi ngờ: ‘Có các vị tỳ khưu vãng lai hay không có?’ Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> chung thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ<i>Uposatha</i> riêng rẽ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy có dự tính chia rẽ (nói rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu thường trú nghe được sự biểu hiện của việc đi đến, đặc điểm của việc đi đến, hiện tướng của việc đi đến, dấu hiệu của việc đi đến của các tỳ khưu vãng lai (như là) tiếng bước chân của các vị đang đi đến, tiếng động gây nên bởi các đôi dép, tiếng đằng hắng, tiếng hắt hơi, sau khi nghe khởi lên nghi ngờ: ‘Có các vị tỳ khưu vãng lai hay không có?’ Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i>chung thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> riêng rẽ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy có dự tính chia rẽ (nói rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu vãng lai nhìn thấy các tỳ khưu thường trú thuộc nhóm cộng trú khác. Các vị ấy nhận lầm là thuộc cùng nhóm cộng trú, sau khi nhận lầm là thuộc cùng nhóm cộng trú rồi không hỏi, sau khi không hỏi rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i>chung thì vô tội. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi vẫn không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) lại tiến hành lễ <i>Uposatha</i> chung thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi vẫn không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> riêng rẽ thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu vãng lai nhìn thấy các tỳ khưu thường trú thuộc cùng nhóm cộng trú. Các vị ấy nhận lầm thuộc nhóm cộng trú khác, sau khi nhận lầm thuộc nhóm cộng trú khác rồi không hỏi, sau khi không hỏi lại tiến hành lễ <i>Uposatha</i> chung thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi rồi thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) lại tiến hành lễ <i>Uposatha</i> riêng rẽ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi rồi thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> chung thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu thường trú nhìn thấy các tỳ khưu vãng lai thuộc nhóm cộng trú khác. Các vị ấy nhận lầm thuộc cùng nhóm cộng trú, sau khi nhận lầm thuộc cùng nhóm cộng trú rồi không hỏi, sau khi không hỏi rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> chung thì vô tội. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi vẫn không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) lại tiến hành lễ <i>Uposatha</i> chung thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi vẫn không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> riêng rẽ thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu thường trú nhìn thấy các tỳ khưu vãng lai thuộc cùng nhóm cộng trú. Các vị ấy nhận lầm thuộc nhóm cộng trú khác, sau khi nhận lầm thuộc nhóm cộng trú khác rồi không hỏi, sau khi không hỏi lại tiến hành lễ <i>Uposatha</i> chung thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi rồi thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) lại tiến hành lễ <i>Uposatha</i> riêng rẽ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi rồi thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ <i>Uposatha</i> chung thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu và các tỳ khưu ở nơi ấy thuộc cùng nhóm cộng trú, nếu biết rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu có thể đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu ―(như trên)― chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu và các tỳ khưu ở nơi ấy thuộc cùng nhóm cộng trú, nếu biết rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> vị tỳ khưu từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu ―(như trên)― nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu ―(như trên)― chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu và các tỳ khưu ở nơi ấy thuộc cùng nhóm cộng trú, nếu biết rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Uposatha</i> vị tỳ khưu từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu ―(như trên)― nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu ―(như trên)― chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu và các tỳ khưu ở nơi ấy thuộc cùng nhóm cộng trú, nếu biết rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> đến hội chúng đã ngồi xuống có vị tỳ khưu ni; vị nào đọc tụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> đến hội chúng đã ngồi xuống có cô ni tu tập sự ―(như trên)― có vị sa di ―(như trên)― có vị sa di ni ―(như trên)― có người đã từ bỏ điều học ―(như trên)― có vị đã phạm tội cực nặng; vị nào đọc tụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> đến hội chúng đã ngồi xuống có vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội; vị nào đọc tụng thì nên được hành xử theo pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> đến hội chúng đã ngồi xuống có vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi ―(như trên)― đến hội chúng đã ngồi xuống có vị bị án treo trong việc không chịu từ bỏ tà kiến ác; vị nào đọc tụng thì nên được hành xử theo pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> đến hội chúng đã ngồi xuống có kẻ vô căn; vị nào đọc tụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> đến hội chúng đã ngồi xuống có kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu) ―(như trên)― có kẻ đã đi theo ngoại đạo ―(như trên)― có loài thú ―(như trên)― có kẻ giết mẹ ―(như trên)― có kẻ giết cha ―(như trên)― có kẻ giết A-la-hán ―(như trên)― có kẻ làm nhơ tỳ khưu ni ―(như trên)― có kẻ chia rẽ hội chúng ―(như trên)― có kẻ làm chảy máu (đức Phật) ―(như trên)― có kẻ lưỡng căn; vị nào đọc tụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, không nên tiến hành lễ <i>Uposatha</i> với việc trao ra sự trong sạch của vị hành <i>parivāsa</i>, trừ trường hợp tập thể không bị cách ly.[6]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, không nên tiến hành lễ <i>Uposatha</i> không nhằm ngày <i>Uposatha</i> trừ phi vào lúc hợp nhất hội chúng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt chương</b> <b><i>Uposatha</i></b> <b>là chương thứ nhì</b>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tụng phẩm thứ ba</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong chương này có tám mươi sáu sự việc.</b></span></p>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tóm lược chương này</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Những người ngoại đạo, và đức vua Bimbisāra, (cho phép) tụ hội, (ngồi) im lặng, (giảng) Giáo Pháp, nơi thanh vắng, giới bổn Pātimokkha, (đọc tụng) hàng ngày, rồi một lần</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tùy theo tập thể, của các vị hợp nhất, có sự hợp nhất, và ở Maddakucchi, ranh giới lớn, dòng sông, ở dãy phòng, tại hai chỗ, và các (ranh giới) nhỏ</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Các vị mới tu, và ở Rājagaha nữa, ranh giới với sự không xa lìa, điều làm trước trong việc ấn định ranh giới, và điều làm sau trong việc hủy bỏ ranh giới</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ranh giới làng là không ấn định, ở sông, ở biển, ở ao hồ, việc ném ra bụm nước, các vị làm gối lên, và tương tự như thế ấy các vị làm trùm lên</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bao nhiêu cách hành sự? Việc đọc tụng, các kẻ lục lâm, và lúc không có, Pháp, Luật, các vị hăm dọa, lại thêm sự hăm dọa vì Luật</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Việc kết tội, khi đã thỉnh ý, việc phản đối (hành sự) sai Pháp, bốn năm vị, các vị khác bày tỏ (quan điểm), nếu cố ý (không cho nghe), trong sự nỗ lực</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Có sự hiện diện của cư sĩ, các vị chưa được mời thỉnh, ở Codanā, vị không biết, nhiều vị không biết, ngay trong hôm ấy, và các vị không đi</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>(Là ngày) thứ mấy? Có bao nhiêu? (Khất thực) ở vùng xa, và đã không nhớ để thông báo, có rác rến, chỗ ngồi, đèn, (đi) phương xa, vị khác là vị nghe nhiều</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ngay hôm ấy, lễ Uposatha của mùa (an cư) mưa, trong sạch và hành sự, các thân quyến, vị Gagga, (lễ Uposatha của) bốn, ba, hai, một vị, sự phạm tội, tội đồng phạm, đã nhớ ra</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Toàn bộ hội chúng có sự nghi ngờ, các vị không biết, vị nghe nhiều, (có số lượng) nhiều hơn, tương đương, ít hơn, tập thể, và khi chưa đứng lên</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Một số đã đứng lên, tất cả (đã đứng lên), các vị biết, và có sự nghi ngờ, có sự ngần ngại rằng: ‘vẫn là được phép,” trong khi biết, trong khi nhìn thấy, và các vị nghe được</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Về vị vãng lai với vị thường trú, thêm nữa là ngày mười bốn và mười lăm, ngày đầu tháng, ngày mười lăm, hiện tướng và việc đồng cộng trú, ở cả hai (trường hợp)</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị thực hành parivāsa, không nhằm ngày Uposatha, trừ phi vào lúc hợp nhất hội chúng. Những điều tóm tắt được chia chẻ này là đầu mối làm rõ các sự việc</i>.”</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Nghĩa là tập thể này không phải là các vị đang chịu hành phạt <em>parivāsa.</em> Chúng tôi chọn nghĩa như trên dựa vào lời giải thích của nhóm từ “<em>vuṭṭhitāya parisāya </em>= với tập thể đã bị cách ly” là “với việc ban cho sự thỏa thuận từ các vị (tỳ khưu) đang chịu hành phạt <i>parivāsa</i>” được tìm thấy ở bộ <em>Bhikkhunīvibhaṅga</em> &#8211; <em>Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni</em>. Từ <em>avuṭṭhitāya</em> còn có nghĩa là “chưa đứng lên, chưa được thoát tội.”</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐẠI PHẨM I: CHƯƠNG VÀO MÙA MƯA &#8211; MÙA AN CƯ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-i-chuong-vao-mua-mua-mua-an-cu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 01:03:27 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=11595</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm I Chương vào mùa mưa Mùa an cư Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đại Phẩm I</span></strong></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Chương vào mùa mưa</span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Mùa an cư</span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, việc cư trú mùa mưa chưa được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong trường hợp này, các vị tỳ khưu ấy đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Các vị đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt nhiều chúng sanh nhỏ nhoi. Ngay cả các ngoại đạo này có giáo lý được thuyết tồi tệ vẫn bám víu và sống cố định trong mùa cư trú mưa. Ngay cả những con chim này sau khi làm tổ trên các ngọn cây cũng bám víu và sống cố định trong mùa cư trú mưa. Còn các Sa-môn Thích tử này lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Các vị đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt nhiều chúng sanh nhỏ nhoi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vào mùa (an cư) mưa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Khi nào thì nên vào mùa (an cư) mưa?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vào mùa (an cư) mưa trong mùa mưa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Có bao nhiêu thời điểm vào mùa (an cư) mưa?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, đây là hai thời điểm vào mùa (an cư) mưa: thời điểm trước và thời điểm sau. Thời điểm trước thì nên vào nhằm ngày kế của (ngày trăng tròn) tháng <i>Āsāḷha</i>, thời điểm sau thì nên vào khi (ngày trăng tròn) tháng <i>Āsāḷha</i> đã trôi qua một tháng.[1] Này các tỳ khưu, đây là hai thời điểm vào mùa (an cư) mưa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sau khi đã vào mùa (an cư) mưa vẫn đi du hành trong mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dân chúng lại phàn nàn, phê phán, chê bai giống y như thế: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Các vị đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt nhiều chúng sanh nhỏ nhoi. Ngay cả các ngoại đạo này có giáo lý được thuyết tồi tệ vẫn bám víu và sống cố định trong mùa cư trú mưa, ngay cả những con chim này sau khi làm tổ trên các ngọn cây cũng bám víu và sống cố định trong mùa cư trú mưa; còn các Sa-môn Thích tử này lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Các vị đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt nhiều chúng sanh nhỏ nhoi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư sau khi đã vào mùa (an cư) mưa vẫn đi du hành trong mùa (an cư) mưa?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, sau khi đã vào mùa (an cư) mưa, không nên không cư trú ba tháng thuộc thời điểm trước hoặc ba tháng thuộc thời điểm sau, và không nên ra đi du hành; vị nào ra đi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư không chịu vào mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên không vào mùa (an cư) mưa; vị nào không vào thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư có ý định không vào mùa (an cư) mưa nên cố tình bỏ đi khỏi chỗ trú ngụ vào ngày (đầu tiên) của thời điểm vào mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, vào ngày (đầu tiên) của thời điểm vào mùa (an cư) mưa vị có ý định không vào mùa (an cư) mưa không nên cố tình bỏ đi khỏi chỗ trú ngụ; vị nào bỏ đi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha có ý định dời lại mùa (an cư) mưa nên đã phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: &#8211; “Nếu các ngài đại đức có thể vào mùa (an cư) mưa nhằm vào ngày rằm sắp đến?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thuận theo các vị vua.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến thành Sāvatthi. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi đó ở Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, ở trong xứ Kosala, trú xá được cho xây dựng dành cho hội chúng bởi nam cư sĩ Udena.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị ấy đã phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: &#8211; “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này đạo hữu, đức Thế Tôn đã quy định rằng: “Sau khi đã vào mùa (an cư) mưa, không nên không an cư ba tháng thuộc thời điểm trước hoặc ba tháng thuộc thời điểm sau, và không nên ra đi du hành.” Nam cư sĩ Udena hãy chờ đợi trong khi các tỳ khưu sống mùa (an cư) mưa, khi đã sống qua mùa (an cư) mưa rồi (các vị) sẽ đi đến. Nếu vị ấy có việc cấp bách cần làm thì hãy cho thiết lập trú xá trong sự hiện diện của các tỳ khưu thường trú ở ngay tại nơi ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nam cư sĩ Udena phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các ngài đại đức khi đã được tôi phái người đi (thỉnh mời) lại không đi đến? Chính tôi là người thí chủ, là người phục vụ, và là người hộ độ hội chúng mà.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được nam cư sĩ Udena phàn nàn, phê phán, chê bai.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép đi khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của bảy hạng người là tỳ khưu, tỳ khưu ni, cô ni tu tập sự, sa di, sa di ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Này các tỳ khưu, ta cho phép đi khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của bảy hạng người này, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp trú xá được cho xây dựng dành cho hội chúng bởi vị nam cư sĩ. Nếu vị ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp nhà một mái được cho xây &#8230; tòa nhà dài được cho xây &#8230; khu nhà lớn được cho xây &#8230; hang động được cho xây &#8230; phòng ở được cho xây &#8230; cổng ra vào được cho xây &#8230; nhà phục vụ được cho xây &#8230; nhà đốt lửa được cho xây &#8230; nhà làm thành được phép được cho xây &#8230; nhà vệ sinh được cho xây &#8230; đường kinh hành được cho xây &#8230; gian nhà ở đường kinh hành được cho xây &#8230; giếng nước được cho xây &#8230; gian nhà ở giếng nước được cho xây &#8230; phòng tắm hơi được cho xây &#8230; gian nhà ở phòng tắm hơi được cho xây &#8230; hồ trữ nước được cho xây &#8230; mái che được cho xây &#8230; tu viện được cho xây &#8230; khuôn viên của tu viện được cho xây dựng dành cho hội chúng bởi vị nam cư sĩ. Nếu vị ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp trú xá được cho xây, nhà một mái được cho xây, tòa nhà dài được cho xây, khu nhà lớn được cho xây, hang động được cho xây, phòng ở được cho xây, cổng ra vào được cho xây, nhà phục vụ được cho xây, nhà đốt lửa được cho xây, nhà làm thành được phép được cho xây, nhà vệ sinh được cho xây, đường kinh hành được cho xây, gian nhà ở đường kinh hành được cho xây, giếng nước được cho xây, gian nhà ở giếng nước được cho xây, phòng tắm hơi được cho xây, gian nhà ở phòng tắm hơi được cho xây, hồ trữ nước được cho xây, mái che được cho xây, tu viện được cho xây, khuôn viên của tu viện được cho xây dựng dành cho nhiều vị tỳ khưu ―(như trên)― dành cho một vị tỳ khưu bởi vị nam cư sĩ. Nếu vị ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp trú xá được cho xây, nhà một mái được cho xây, tòa nhà dài được cho xây, khu nhà lớn được cho xây, hang động được cho xây, phòng ở được cho xây, cổng ra vào được cho xây, nhà phục vụ được cho xây, nhà đốt lửa được cho xây, nhà làm thành được phép được cho xây, đường kinh hành được cho xây, gian nhà ở đường kinh hành được cho xây, giếng nước được cho xây, gian nhà ở giếng nước được cho xây, hồ trữ nước được cho xây, mái che được cho xây, tu viện được cho xây, khuôn viên của tu viện được cho xây dựng dành cho hội chúng tỳ khưu ni &#8230; dành cho nhiều vị tỳ khưu ni &#8230; dành cho một vị tỳ khưu ni &#8230; dành cho nhiều cô ni tu tập sự &#8230; dành cho một cô ni tu tập sự &#8230; dành cho nhiều vị sa di &#8230; dành cho một vị sa di &#8230; dành cho nhiều vị sa di ni &#8230; dành cho một vị sa di ni bởi vị nam cư sĩ. Nếu vị ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp căn nhà được cho xây &#8230; phòng ngủ được cho xây &#8230; kho chứa đồ được cho xây &#8230; tháp ngắm được cho xây &#8230; tòa nhà bốn góc được cho xây &#8230; cửa hiệu được cho xây &#8230; gian hàng được cho xây &#8230; tòa nhà dài được cho xây &#8230; khu nhà lớn được cho xây &#8230; hang động được cho xây &#8230; phòng ở được cho xây &#8230; cổng ra vào được cho xây &#8230; nhà phục vụ được cho xây &#8230; nhà đốt lửa được cho xây &#8230; nhà bếp được cho xây &#8230; nhà vệ sinh được cho xây &#8230; đường kinh hành được cho xây &#8230; gian nhà ở đường kinh hành được cho xây &#8230; giếng nước được cho xây &#8230; gian nhà ở giếng nước được cho xây &#8230; phòng tắm hơi được cho xây &#8230; gian nhà ở phòng tắm hơi được cho xây &#8230; hồ trữ nước được cho xây &#8230; mái che được cho xây &#8230; khu vườn được cho xây &#8230; khuôn viên của khu vườn được cho xây dựng vì nhu cầu của bản thân bởi vị nam cư sĩ &#8230; hoặc có đám cưới của con trai &#8230; hoặc có đám cưới của con gái &#8230; hoặc vị ấy bị bệnh &#8230; hoặc vị ấy đọc lại bài kinh nổi tiếng. Nếu vị ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Các vị sẽ học bài kinh này trước khi bài kinh này bị quên lãng.” Hoặc vị ấy có công việc gì khác cần phải làm. Nếu vị ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp trú xá được cho xây dựng dành cho hội chúng bởi vị nữ cư sĩ. Nếu người nữ ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp nhà một mái được cho xây, tòa nhà dài được cho xây, khu nhà lớn được cho xây, hang động được cho xây, phòng ở được cho xây, cổng ra vào được cho xây, nhà phục vụ được cho xây, nhà đốt lửa được cho xây, nhà làm thành được phép được cho xây, nhà vệ sinh được cho xây, đường kinh hành được cho xây, gian nhà ở đường kinh hành được cho xây, giếng nước được cho xây, gian nhà ở giếng nước được cho xây, phòng tắm hơi được cho xây, gian nhà ở phòng tắm hơi được cho xây, hồ trữ nước được cho xây, mái che được cho xây, tu viện được cho xây, khuôn viên của tu viện được cho xây dựng dành cho hội chúng bởi vị nữ cư sĩ. Nếu người nữ ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp căn nhà được cho xây, phòng ngủ được cho xây, kho chứa đồ được cho xây, tháp ngắm được cho xây, tòa nhà bốn góc được cho xây, cửa hiệu được cho xây, gian hàng được cho xây, tòa nhà dài được cho xây, khu nhà lớn được cho xây, hang động được cho xây, phòng ở được cho xây, cổng ra vào được cho xây, nhà phục vụ được cho xây, nhà đốt lửa được cho xây, nhà bếp được cho xây, nhà vệ sinh được cho xây, đường kinh hành được cho xây, gian nhà ở đường kinh hành được cho xây, giếng nước được cho xây, gian nhà ở giếng nước được cho xây, phòng tắm hơi được cho xây, gian nhà ở phòng tắm hơi được cho xây, hồ trữ nước được cho xây, mái che được cho xây, khu vườn được cho xây, khuôn viên của khu vườn được cho xây dựng dành cho nhiều vị tỳ khưu &#8230; dành cho một vị tỳ khưu &#8230; dành cho hội chúng tỳ khưu ni &#8230; dành cho nhiều vị tỳ khưu ni &#8230; dành cho một vị tỳ khưu ni &#8230; dành cho nhiều cô ni tu tập sự &#8230; dành cho một cô ni tu tập sự &#8230; dành cho nhiều vị sa di &#8230; dành cho một vị sa di &#8230; dành cho nhiều vị sa di ni &#8230; dành cho một vị sa di ni &#8230; vì nhu cầu của bản thân bởi vị nữ cư sĩ. Hoặc có đám cưới của con trai. Hoặc có đám cưới của con gái. Hoặc vị ấy bị bệnh. Hoặc vị ấy đọc lại bài kinh nổi tiếng. Nếu người nữ ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Các vị sẽ học bài kinh này trước khi bài kinh này bị quên lãng.” Hoặc người nữ ấy có công việc gì khác cần phải làm. Nếu người nữ ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp trú xá được cho xây, nhà một mái được cho xây, tòa nhà dài được cho xây, khu nhà lớn được cho xây, hang động được cho xây, phòng ở được cho xây, cổng ra vào được cho xây, nhà phục vụ được cho xây, nhà đốt lửa được cho xây, nhà làm thành được phép được cho xây, đường kinh hành được cho xây, gian nhà ở đường kinh hành được cho xây, giếng nước được cho xây, gian nhà ở giếng nước được cho xây, hồ trữ nước được cho xây, mái che được cho xây, tu viện được cho xây, khuôn viên của tu viện được cho xây dựng dành cho hội chúng bởi vị tỳ khưu &#8230; dành cho hội chúng bởi vị tỳ khưu ni &#8230; dành cho hội chúng bởi cô ni tu tập sự &#8230; dành cho hội chúng bởi vị sa di &#8230; dành cho hội chúng bởi vị sa di ni &#8230; dành cho nhiều vị tỳ khưu &#8230; dành cho một vị tỳ khưu &#8230; dành cho hội chúng tỳ khưu ni &#8230; dành cho nhiều vị tỳ khưu ni &#8230; dành cho một vị tỳ khưu ni &#8230; dành cho nhiều cô ni tu tập sự &#8230; dành cho một cô ni tu tập sự &#8230; dành cho nhiều vị sa di &#8230; dành cho một vị sa di &#8230; dành cho nhiều vị sa di ni &#8230; dành cho một vị sa di ni &#8230; vì nhu cầu của bản thân bởi vị sa di ni. Nếu cô ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Vị ấy đã phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của năm hạng người là tỳ khưu, tỳ khưu ni, cô ni tu tập sự, sa di, sa di ni, ta cho phép đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt. Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của năm hạng người này, ta cho phép đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người nuôi bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi han, hoặc ta sẽ phục vụ.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp có sự bực bội sanh khởi đến vị tỳ khưu. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Có sự bực bội đã sanh khởi đến tôi. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ làm dịu đi sự bực bội, hoặc ta sẽ nhờ người làm dịu đi, hoặc ta sẽ tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp có nỗi ân hận sanh khởi đến vị tỳ khưu. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Có nỗi ân hận đã sanh khởi đến tôi. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ làm cho tan biến nỗi nghi hoặc, hoặc ta sẽ nhờ người làm cho tan biến, hoặc ta sẽ tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp có tà kiến sanh khởi đến vị tỳ khưu. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Có tà kiến đã sanh khởi đến tôi. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ phân giải tà kiến, hoặc ta sẽ nhờ người phân giải, hoặc ta sẽ tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm tội nặng và là xứng đáng hành phạt <i>parivāsa</i>. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi đã phạm tội nặng, xứng đáng hành phạt <i>parivāsa</i>. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc ban cho hành phạt <i>parivāsa</i>, hoặc ta sẽ đọc tuyên ngôn, hoặc ta sẽ là người làm cho đủ nhóm.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc ban cho sự (thực hành) trở lại từ đầu, hoặc ta sẽ đọc tuyên ngôn, hoặc ta sẽ là người làm cho đủ nhóm.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là xứng đáng hành phạt <i>mānatta</i>. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi xứng đáng hành phạt <i>mānatta</i>. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc ban cho hành phạt <i>mānatta</i>, hoặc ta sẽ đọc tuyên ngôn, hoặc ta sẽ là người làm cho đủ nhóm.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là xứng đáng sự giải tội. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi xứng đáng sự giải tội. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc giải tội, hoặc ta sẽ đọc tuyên ngôn, hoặc ta sẽ là người làm cho đủ nhóm.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp hội chúng có ý định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đến vị tỳ khưu. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Hội chúng có ý định tiến hành hành sự đến tôi. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự hoặc đổi sang (hành phạt) nhẹ hơn?” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là khi hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đã được tiến hành đến vị ấy. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Hội chúng đã tiến hành hành sự đến tôi. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Làm thế nào để vị ấy có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự ấy?” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu ni bị bệnh. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người nuôi bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi han, hoặc ta sẽ phục vụ.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp có sự bực bội sanh khởi đến vị tỳ khưu ni. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Có sự bực bội đã sanh khởi đến tôi. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ làm dịu đi sự bực bội, hoặc ta sẽ nhờ người làm dịu đi, hoặc ta sẽ tiến hành việc giảng Pháp cho vị ni ấy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp có nỗi ân hận sanh khởi đến vị tỳ khưu ni. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Có nỗi ân hận đã sanh khởi đến tôi. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ làm cho tan biến nỗi nghi hoặc, hoặc ta sẽ nhờ người làm cho tan biến, hoặc ta sẽ tiến hành việc giảng Pháp cho vị ni ấy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp có tà kiến sanh khởi đến vị tỳ khưu ni. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Có tà kiến đã sanh khởi đến tôi. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ phân giải tà kiến, hoặc ta sẽ nhờ người phân giải, hoặc ta sẽ tiến hành việc giảng Pháp cho vị ni ấy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu ni phạm tội nặng, xứng đáng hành phạt <i>mānatta</i>. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi đã phạm tội nặng, xứng đáng hành phạt <i>mānatta</i>. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc ban cho hành phạt<i> mānatta</i>.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu ni là xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc ban cho sự (thực hành) trở lại từ đầu.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu ni là xứng đáng sự giải tội. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi xứng đáng sự giải tội. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc giải tội.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp hội chúng có ý định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đến vị tỳ khưu ni. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Hội chúng có ý định tiến hành hành sự đến tôi. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự hoặc đổi sang (hành phạt) nhẹ hơn?” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là khi hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đã được tiến hành đến vị ni ấy. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Hội chúng đã tiến hành hành sự đến tôi. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Làm thế nào để vị ấy có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự ấy?” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị ni tu tập sự bị bệnh. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người nuôi bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi han, hoặc ta sẽ phục vụ.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp có sự bực bội sanh khởi đến vị ni tu tập sự. ―(như trên)― có nỗi ân hận sanh khởi đến vị ni tu tập sự. ―(như trên)― có tà kiến sanh khởi đến vị ni tu tập sự. ―(như trên)― các điều học của vị ni tu tập sự bị gián đoạn. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Các điều học của tôi bị gián đoạn. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc thọ trì các điều học.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị ni tu tập sự có ý muốn được tu lên bậc trên. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi có ý muốn được tu lên bậc trên. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc tu lên bậc trên, hoặc ta sẽ đọc tuyên ngôn, hoặc ta sẽ là người làm cho đủ nhóm.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị sa di bị bệnh. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người nuôi bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi han, hoặc ta sẽ phục vụ.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp có sự bực bội sanh khởi đến vị sa di. &#8230; có nỗi ân hận sanh khởi đến vị sa di. &#8230; có tà kiến sanh khởi đến vị sa di. &#8230; vị sa di có ý muốn hỏi về mùa (an cư) mưa. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi có ý muốn hỏi về mùa (an cư) mưa. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ hỏi hoặc ta sẽ chỉ dạy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị sa di có ý muốn được tu lên bậc trên. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi có ý muốn được tu lên bậc trên. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc tu lên bậc trên, hoặc ta sẽ đọc tuyên ngôn, hoặc ta sẽ là người làm cho đủ nhóm.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị sa di ni bị bệnh. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người nuôi bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi han, hoặc ta sẽ phục vụ.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp có sự bực bội sanh khởi đến vị sa di ni. ―(như trên)― có nỗi ân hận sanh khởi đến vị sa di ni. ―(như trên)― có tà kiến sanh khởi đến vị sa di ni. ―(như trên)― vị sa di ni có ý muốn hỏi về mùa (an cư) mưa. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi có ý muốn hỏi về mùa (an cư) mưa. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ hỏi hoặc ta sẽ chỉ dạy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị sa di ni có ý muốn thọ trì điều học. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi có ý muốn thọ trì điều học. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc thọ trì các điều học.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, người mẹ của vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Bà ấy đã nhờ sứ giả đi đến gặp người con trai (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Con trai của tôi hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của người con trai.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của bảy hạng người thì nên đi khi được thỉnh mời, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của năm hạng người thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt,” và đây là mẹ của ta lại bị bệnh. Bà ta không phải là nữ cư sĩ, vậy ta nên thực hành như thế nào?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của bảy hạng người là tỳ khưu, tỳ khưu ni, cô ni tu tập sự, sa di, sa di ni, mẹ, và cha thì được đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt. Này các tỳ khưu, ta cho phép với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của bảy hạng người này thì được đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp người mẹ của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu bà ấy nhờ sứ giả đi đến gặp người con trai (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Con trai của tôi hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của người con trai.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người nuôi bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi han, hoặc ta sẽ phục vụ.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp người cha của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu ông ấy nhờ sứ giả đi đến gặp người con trai (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Con trai của tôi hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của đứa con trai.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người nuôi bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi han, hoặc ta sẽ phục vụ.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp người anh (em) trai của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu người ấy nhờ sứ giả đi đến gặp người con trai (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Anh (em) trai của tôi hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của người anh (em) trai.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi nếu được thỉnh mời, không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp người chị (em) gái của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu cô ấy nhờ sứ giả đi đến gặp vị tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Anh (em) trai của tôi hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của người anh (em) trai.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi nếu được thỉnh mời, không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp thân quyến của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu người ấy nhờ sứ giả đi đến gặp vị tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi nếu được thỉnh mời, không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp người phụ giúp công việc cho vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu người ấy nhờ sứ giả đi đến gặp vị tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi nếu được thỉnh mời, không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trú xá lớn của hội chúng bị sụp đổ. Có nam cư sĩ nọ đã cho xẻ một số gỗ ở trong rừng. Người ấy đã phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Nếu các đại đức có thể cho chuyển đi số gỗ ấy thì tôi sẽ dâng số gỗ ấy đến các đại đức.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép đi với công việc cần phải làm của hội chúng. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm về việc cư trú mùa mưa</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ ở trong xứ Kosala, các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị khuấy nhiễu bởi các thú dữ. Chúng đã vồ lấy, chúng đã giết hại. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị khuấy nhiễu bởi các thú dữ. Chúng vồ lấy, chúng giết hại. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị khuấy nhiễu bởi các loài rắn. Chúng cắn, chúng giết hại. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị khuấy nhiễu bởi những kẻ trộm cướp. Chúng cướp đoạt, chúng đánh đập. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị khuấy nhiễu bởi các yêu tinh. Chúng nhập vào (thân), đoạt lấy thần trí. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp ngôi làng mà các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị lửa đốt cháy. Các vị tỳ khưu bị khó nhọc bởi đồ ăn khất thực. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ trú ngụ mà các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị lửa đốt cháy. Các vị tỳ khưu bị khó nhọc về chỗ trú ngụ. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp ngôi làng mà các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị nước ngập. Các vị tỳ khưu bị khó nhọc bởi đồ ăn khất thực. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ trú ngụ mà các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị nước ngập. Các vị tỳ khưu bị khó nhọc về chỗ trú ngụ. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, ngôi làng mà các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa ở tại trú xứ nọ đã di chuyển vì bọn trộm cướp. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép đi đến ngôi làng.”[2] Ngôi làng đã bị tách ra làm hai. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép đi đến nhóm đông hơn.” Nhóm đông hơn không có đức tin, không lòng mộ đạo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép đi đến nhóm có đức tin, có lòng mộ đạo.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ trong xứ Kosala các vị tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa đã không nhận được sự đầy đủ theo nhu cầu về thức ăn thô thiển hoặc thượng hạng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa không nhận được sự đầy đủ theo nhu cầu về thức ăn thô thiển hoặc thượng hạng. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nhận được sự đầy đủ theo nhu cầu về thức ăn thô thiển hoặc thượng hạng, (nhưng) không nhận được các thức ăn thích hợp. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nhận được sự đầy đủ theo nhu cầu về thức ăn thô thiển hoặc thượng hạng, nhận được các thức ăn thích hợp, (nhưng) không nhận được các dược phẩm thích hợp. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nhận được sự đầy đủ theo nhu cầu về thức ăn thô thiển hoặc thượng hạng, nhận được các thức ăn thích hợp, nhận được các dược phẩm thích hợp, (nhưng) không nhận được người phục vụ phù hợp. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp người phụ nữ thỉnh mời vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đến, tôi cho ngài vàng khối, hoặc tôi cho ngài vàng ròng, hoặc tôi cho ngài ruộng, hoặc tôi cho ngài vườn, hoặc tôi cho ngài bò đực, hoặc tôi cho ngài bò cái, hoặc tôi cho ngài tôi trai, hoặc tôi cho ngài tớ gái, hoặc tôi cho ngài con gái ruột để làm vợ, hoặc tôi trở thành vợ của ngài, hoặc tôi đưa đến cho ngài người vợ khác.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Đức Thế Tôn đã nói là tâm thay đổi nhanh chóng. (Việc này) cũng có thể là nguy hiểm cho Phạm hạnh của ta” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp cô gái điếm thỉnh mời ―(như trên)― cô gái lỡ thời thỉnh mời ―(như trên)― kẻ vô căn thỉnh mời ―(như trên)― các thân quyến thỉnh mời ―(như trên)― các vị vua thỉnh mời ―(như trên)― những kẻ trộm cướp thỉnh mời ―(như trên)― những kẻ vô lại thỉnh mời vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa rằng: “Thưa ngài, hãy đến, chúng tôi cho ngài vàng khối, hoặc chúng tôi cho ngài vàng ròng, hoặc chúng tôi cho ngài ruộng, hoặc chúng tôi cho ngài vườn, hoặc chúng tôi cho ngài bò đực, hoặc chúng tôi cho ngài bò cái, hoặc chúng tôi cho ngài tôi trai, hoặc chúng tôi cho ngài tớ gái, hoặc chúng tôi cho ngài con gái ruột để làm vợ, hoặc chúng tôi đưa đến cho ngài người vợ khác.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Đức Thế Tôn đã nói là tâm thay đổi nhanh chóng. (Việc này) cũng có thể là nguy hiểm cho Phạm hạnh của ta” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nhìn thấy của cải chôn giấu không có chủ. Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Đức Thế Tôn đã nói là tâm thay đổi nhanh chóng. (Việc này) cũng có thể là nguy hiểm cho Phạm hạnh của ta” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nhìn thấy nhiều vị tỳ khưu đang ra sức chia rẽ hội chúng. Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng. Hội chúng chớ có bị chia rẽ trong khi ta còn hiện diện” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ra sức chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng. Hội chúng chớ có bị chia rẽ trong khi ta còn hiện diện” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ra sức chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ấy là những người bạn của ta. Ta sẽ nói với họ rằng: ‘Này các đại đức, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các đại đức chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ra sức chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ấy không phải là những người bạn của ta. Tuy nhiên những người bạn của những người ấy là những người bạn của ta. Vậy ta sẽ nói với những người bạn của ta. Khi họ đã được nói, họ sẽ nói với những người ấy rằng: ‘Này các đại đức, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các đại đức chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu đã chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ấy là những người bạn của ta. Ta sẽ nói với họ rằng: ‘Này các đại đức, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các đại đức chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu đã chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ấy không phải là những người bạn của ta, tuy nhiên những người bạn của những người ấy là những người bạn của ta. Vậy ta sẽ nói với những người bạn của ta. Khi họ đã được nói, họ sẽ nói với những người ấy rằng: ‘Này các đại đức, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các đại đức chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ni ra sức chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ni ấy là những người bạn của ta, ta sẽ nói với các cô ấy rằng: ‘Này các chị gái, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các chị gái chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ni ra sức chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ni ấy không phải là những người bạn của ta, tuy nhiên các cô bạn của những cô ấy là những người bạn của ta. Vậy ta sẽ nói với các cô bạn của ta. Khi họ đã được nói, họ sẽ nói với những cô ấy rằng: ‘Này các chị gái, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các chị gái chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ni đã chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ni ấy là những người bạn của ta, ta sẽ nói với các cô ấy rằng: ‘Này các chị gái, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các chị gái chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ni đã chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ni ấy không phải là những người bạn của ta, tuy nhiên các cô bạn của những cô ấy là những người bạn của ta. Vậy ta sẽ nói với các cô bạn của ta. Khi họ đã được nói, họ sẽ nói với những cô ấy rằng: ‘Này các chị gái, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các chị gái chớ có vui mừng với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định vào mùa (an cư) mưa ở khu rào gia súc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vào mùa (an cư) mưa ở khu rào gia súc.” Khu rào gia súc di chuyển. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép di chuyển theo khu rào gia súc.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, khi việc vào mùa (an cư) mưa đang đến gần, có vị tỳ khưu nọ có ý định đi theo đoàn xe tải. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vào mùa (an cư) mưa ở trong xe tải.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, khi việc vào mùa (an cư) mưa đang đến gần, có vị tỳ khưu nọ có ý định đi theo chiếc thuyền. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vào mùa (an cư) mưa ở trong chiếc thuyền.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa ở trong bọng cây. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như là các yêu tinh.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở trong bọng cây; vị nào vào thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa ở trên chạc ba của cây. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như là các người săn thú.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở trên chạc ba của cây; vị nào vào thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa ở ngoài trời. Trong khi trời mưa, các vị chạy đến gốc cây, đến hốc cây <i>nimba</i>. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở ngoài trời; vị nào vào thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa không có chỗ trú ngụ nên bị khó nhọc bởi vì sự lạnh, bởi vì sự nóng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, vị không có chỗ trú ngụ không nên vào mùa (an cư) mưa; vị nào vào thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa ở nhà quàng tử thi. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như là những người thiêu xác chết.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở nhà quàng tử thi; vị nào vào thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa ở chiếc lọng che. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như là những người chăn bò.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở chiếc lọng che; vị nào vào thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa ở trong vại đất nung. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở trong vại đất nung; vị nào vào thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, hội chúng ở thành Sāvatthi thực hiện điều thỏa thuận là: “Không được cho xuất gia trong mùa (an cư) mưa.” Người cháu trai của bà Visākhā mẹ của Migāra đã đi đến gặp các vị tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này đạo hữu, hội chúng thực hiện điều thỏa thuận là: ‘Không được cho xuất gia trong mùa (an cư) mưa.’ Này đạo hữu, hãy chờ đến khi các vị tỳ khưu trải qua mùa (an cư) mưa; khi đã trải qua mùa (an cư) mưa các vị sẽ cho xuất gia.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã trải qua mùa (an cư) mưa, các vị tỳ khưu ấy đã nói với người cháu trai của bà Visākhā mẹ của Migāra điều này: &#8211; “Này đạo hữu, giờ đây hãy đi đến và hãy xuất gia.” Người ấy đã nói như vầy: &#8211; “Thưa các ngài, nếu tôi đã được xuất gia thì tôi còn có thể vui thích. Thưa các ngài, giờ đây tôi sẽ không xuất gia.” Bà Visākhā mẹ của Migāra phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các ngài đại đức lại thực hiện điều thỏa thuận có hình thức như vầy: ‘Không được cho xuất gia trong mùa (an cư) mưa,’ có khi nào mà Giáo Pháp lại không được thực hành?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được bà Visākhā mẹ của Migāra phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên thực hiện điều thỏa thuận có hình thức như vầy: ‘Không được cho xuất gia trong mùa (an cư) mưa.’ Vị nào thực hiện thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala đã được đại đức Upananda con trai dòng Sakya nhận lời cho thời điểm trước.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vào khoảng giữa đường vị ấy đã nhìn thấy hai trú xứ có nhiều y. Vị ấy đã khởi ý điều này: “Hay là ta nên sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ này, như thế có nhiều y sẽ được phát sanh đến ta?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị ấy đã sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ ấy. Đức vua Pasenadi xứ Kosala phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao ngài đại đức Upananda con trai dòng Sakya sau khi nhận lời chỗ cư trú mùa mưa của chúng tôi lại nuốt lời? Không phải rằng đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã khiển trách việc nói láo và khen ngợi việc tránh xa sự nói láo hay sao?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được đức vua Pasenadi xứ Kosala phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Upananda con trai dòng Sakya sau khi nhận lời chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala lại nuốt lời? Không phải rằng đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã khiển trách việc nói láo và khen ngợi việc tránh xa sự nói láo hay sao?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Upananda con trai dòng Sakya rằng: &#8211; “Này Upananda, nghe nói ngươi sau khi nhận lời chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala lại nuốt lời, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi sau khi nhận lời chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala lại nuốt lời? Này kẻ rồ dại, không phải ta bằng nhiều phương thức đã khiển trách việc nói láo và khen ngợi việc tránh xa sự nói láo hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vào khoảng giữa đường vị ấy nhìn thấy hai trú xứ có nhiều y. Vị ấy khởi ý như vầy: “Hay là ta nên sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ này, như thế có nhiều y sẽ được phát sanh đến ta?” Vị ấy sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội <i>dukkaṭa</i> ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng.[3] Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội <i>dukkaṭa</i> ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội <i>dukkaṭa</i> ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội <i>dukkaṭa</i> ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội <i>dukkaṭa</i> ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy vượt quá (thời hạn) bảy ngày ấy ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội <i>dukkaṭa</i> ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc trở về trong (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, thời điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Bảy ngày trước lễ <i>Pavāraṇā</i>, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có thể trở lại chỗ cư trú ấy hoặc không có thể trở lại.,[4] này các tỳ khưu, thời điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ <i>Uposatha</i>, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội <i>dukkaṭa</i> ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ <i>Uposatha</i>, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. ―(như trên)― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. ―(như trên)― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. ―(như trên)― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy vượt quá (thời hạn) bảy ngày ấy ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội<i>dukkaṭa</i> ở sự nhận lời. ―(như trên)― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc trở về trong (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, thời điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ <i>Uposatha</i>, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Bảy ngày trước ngày lễ <i>Pavāraṇā</i>, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có thể trở lại chỗ cư trú ấy hoặc không có thể trở lại, này các tỳ khưu, thời điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội <i>dukkaṭa</i> ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội <i>dukkaṭa</i> ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội <i>dukkaṭa</i> ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội <i>dukkaṭa</i> ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy vượt quá (thời hạn) bảy ngày ấy ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội <i>dukkaṭa</i> ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc trở về trong (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ <i>Uposatha</i> ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Bảy ngày trước ngày trăng tròn tháng <i>Kattika</i> là ngày lễ hội <i>Cātumāsinī</i>,[5] vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có thể trở lại chỗ cư trú ấy hoặc không có thể trở lại, này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ <i>Uposatha</i>, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội <i>dukkaṭa</i> ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ <i>Uposatha</i>, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. ―(như trên)― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. ―(như trên)― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. ―(như trên)― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy vượt quá (thời hạn) bảy ngày ấy ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội <i>dukkaṭa</i> ở sự nhận lời. ―(như trên)― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc trở về trong (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ <i>Uposatha</i>, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Bảy ngày trước ngày trăng tròn tháng <i>Kattika</i> là ngày lễ hội <i>Cātumāsinī</i>, vị ấy ra đi do công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có thể trở lại chỗ cư trú ấy hoặc không có thể trở lại, này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt chương Vào Mùa Mưa là chương thứ ba</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong chương này có năm mươi hai sự việc</b>.</span></p>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tóm lược chương này </span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>(Cho phép) vào mùa (an cư mưa), và luôn cả khi nào? bao nhiêu (thời điểm)? và trong mùa (an cư) mưa, các vị không muốn và cố tình (bỏ đi), (muốn) dời lại, người nam cư sĩ</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị bị bệnh, mẹ và cha, anh (em) trai, và thân quyến, người làm công việc cho các tỳ khưu, trú xá, các thú dữ, và các loại rắn nữa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Những kẻ trộm cướp, luôn cả các yêu tinh, với cả hai đều bị cháy, vì nước ngập, (ngôi làng) đã đi chuyển, nhóm đông hơn, và các thí chủ</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>(Thức ăn) thô thiển hoặc hảo hạng, dược phẩm thích hợp, với người phục vụ, phụ nữ, gái điếm, cô gái lỡ thời, kẻ vô căn, cùng thân quyến</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Đức vua, các kẻ cướp, bọn bất lương, của cải chôn giấu, và sự các chia rẽ với tám trường hợp, bãi nhốt thú, và đoàn xe tải, chiếc thuyền, ở bọng cây, và ở chạc ba cây</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Sự cư trú mùa mưa ở ngoài trời, và với vị không chỗ trú ngụ, các nhà quàng tử thi, ở chiếc lọng che, và các vị vào mùa (an cư) mưa ở vại đất nung</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Điều thỏa thuận, sau khi nhận lời, và các lễ Uposatha ở bên ngoài, các thời điểm trước và các thời điểm sau nên kết hợp theo cách thức như thế</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị ra đi không vì công việc cần thiết, và có công việc cần thiết là tương tự như thế ấy, sau khi sống hai ba ngày, và bởi công việc trong bảy ngày</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Và bảy ngày sắp đến, vị có thể trở lại, hoặc không có thể. Về các khoảng giữa ở phần tóm lược các sự việc, thì nên xem xét đường lối của mạch văn</i>.”</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">  </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Tính theo âm lịch của Việt Nam nếu không có tháng nhuần thì thời điểm trước là ngày 16 tháng 6, thời điểm sau là ngày 16 tháng 7 (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Nếu ngôi làng di chuyển không xa thì vẫn nên cư trú tại chính trú xá ấy và đi đến chỗ ở mới của ngôi làng để khất thực, nếu xa thì có thể đi theo trường hợp bảy ngày, nếu không thể làm vậy thì có thể  trú ngụ cùng dân làng tại chỗ ở mới (VinA. v, 1070).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Tức là ngày mười sáu tháng sáu theo âm lịch của Việt Nam nếu không có tháng nhuần. Việc tính âm lịch theo nửa tháng trăng hiện đang được sử dụng ở một số quốc gia (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] “&#8230; <em>na vā āgaccheyya</em>” là ‘không có thể trở lại’ không nên hiểu ‘có thể không trở lại’ (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Tức là rằm tháng mười âm lịch (ND).</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐẠI PHẨM I &#8211; CHƯƠNG PAVĀRAṆĀ: TỤNG PHẨM THỨ NHÌ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/dai-pham-i-chuong-pavara%e1%b9%87a-tung-pham-thu-nhat-thu-2-thu-3/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 01:06:11 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ĐẠI PHẨM I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=11597</guid>

					<description><![CDATA[Đại Phẩm I Chương Pavāraṇā Tụng phẩm thứ nhì  Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><span style="font-size: 18pt;">Đại Phẩm I</span> </span></strong></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương Pavāraṇā</span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tụng phẩm thứ nhì </span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều vị tỳ khưu thường trú đã tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy đã không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi đã thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đã đi đến. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu thì có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên thỉnh cầu lại. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên thỉnh cầu lại. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. (5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên thỉnh cầu lại. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. (7)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. (8)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, trong khi tập thể chưa đứng lên, (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. (9)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên thỉnh cầu lại. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. (10)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. (11)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, một số thuộc tập thể đã đứng lên, (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. (12)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên thỉnh cầu lại. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. (13)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. (14)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, toàn bộ tập thể đã đứng lên, (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. (15)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt mười lăm trường hợp vô tội.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên thỉnh cầu lại. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm, rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn &#8230; tương đương &#8230; ít hơn đi đến. ―(như trên)― trong khi tập thể chưa đứng lên, &#8230; nhiều hơn &#8230; tương đương &#8230; ít hơn ―(như trên)― một số thuộc tập thể đã đứng lên, &#8230; nhiều hơn &#8230; tương đương &#8230; ít hơn ―(như trên)― toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn &#8230; tương đương &#8230; ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (4-15)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt mười lăm trường hợp là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có sự nghi ngờ rằng: “Lễ <i>Pavāraṇā</i> của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên thỉnh cầu lại. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có sự nghi ngờ rằng: “Lễ <i>Pavāraṇā</i> của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có sự nghi ngờ rằng: “Lễ <i>Pavāraṇā</i> của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có sự nghi ngờ rằng: “Lễ <i>Pavāraṇā</i> của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, ―(như trên)― nhiều hơn &#8230; tương đương &#8230; ít hơn ―(như trên)― trong khi tập thể chưa đứng lên, &#8230; nhiều hơn &#8230; tương đương &#8230; ít hơn ―(như trên)― một số thuộc tập thể đã đứng lên, &#8230; nhiều hơn &#8230; tương đương &#8230; ít hơn ―(như trên)― toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn &#8230; tương đương &#8230; ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (4-15)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt mười lăm trường hợp có sự nghi ngờ.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị có sự ngần ngại rằng: “Lễ <i>Pavāraṇā</i> vẫn được phép thực hiện đối với chúng ta, chứ không phải không được phép đối với chúng ta” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên thỉnh cầu lại. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị có sự ngần ngại rằng: “Lễ <i>Pavāraṇā</i> vẫn được phép thực hiện đối với chúng ta, chứ không phải không được phép đối với chúng ta” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị có sự ngần ngại rằng: “Lễ <i>Pavāraṇā</i> vẫn được phép thực hiện đối với chúng ta, chứ không phải không được phép đối với chúng ta” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có sự ngần ngại rằng: “Lễ <i>Pavāraṇā</i> vẫn được phép thực hiện đối với chúng ta, chứ không phải không được phép đối với chúng ta” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, ―(như trên)― nhiều hơn &#8230; tương đương &#8230; ít hơn ―(như trên)― trong khi tập thể chưa đứng lên, &#8230; nhiều hơn &#8230; tương đương &#8230; ít hơn ―(như trên)― một số thuộc tập thể đã đứng lên, &#8230; nhiều hơn &#8230; tương đương &#8230; ít hơn ―(như trên)― toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn &#8230; tương đương &#8230; ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. (4-15)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt mười lăm trường hợp có sự ngần ngại.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên thỉnh cầu lại. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội<i>thullaccaya</i>. (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội<i>thullaccaya</i>. (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên thỉnh cầu lại. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội<i>thullaccaya</i>. (5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên thỉnh cầu lại. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. (7)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. (8)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. (9)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên thỉnh cầu lại. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. (10)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. (11)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. (12)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên thỉnh cầu lại. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. (13)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. (14)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi thực hiện lễ <i>Pavāraṇā</i>. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. (15)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt mười lăm trường hợp có dự tính chia rẽ</b>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt hai mươi lăm nhóm ba</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: “Các vị tỳ khưu thường trú khác đang đi vào trong ranh giới,” ―(như trên)― Các vị ấy không biết rằng: “Các vị tỳ khưu thường trú khác đã đi vào trong ranh giới,” ―(như trên)― Các vị ấy không nhìn thấy các vị tỳ khưu thường trú khác đang đi vào trong ranh giới, ―(như trên)― Các vị ấy không nhìn thấy các vị tỳ khưu thường trú khác đã đi vào trong ranh giới, ―(như trên)― Các vị ấy không nghe rằng: “Các vị tỳ khưu thường trú khác đang đi vào trong ranh giới,” ―(như trên)― Các vị ấy không nghe rằng: “Các vị tỳ khưu thường trú khác đã đi vào trong ranh giới,” ―(như trên)― Theo phương thức của một trăm bảy mươi lăm nhóm ba về vị thường trú với vị thường trú, về vị vãng lai với vị thường trú, về vị thường trú với vị vãng lai, về vị vãng lai với vị vãng lai, bằng cách thức thêm vào những phần tương tự thì tạo ra được bảy trăm nhóm ba.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp ngày mười bốn là của các tỳ khưu thường trú, ngày mười lăm là của các tỳ khưu vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu (có số lượng) tương đương thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn thì các vị thường trú nên thuận theo các vị vãng lai.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp ngày mười lăm là của các tỳ khưu thường trú, ngày mười bốn là của các tỳ khưu vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu (có số lượng) tương đương thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn thì các vị thường trú nên thuận theo các vị vãng lai.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp ngày đầu tháng là của các tỳ khưu thường trú, ngày mười lăm là của các tỳ khưu vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn và các vị thường trú không mong muốn thì không nên ban cho sự hợp nhất đến các vị vãng lai; các vị vãng lai nên đi ra khỏi ranh giới rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i>. Nếu (có số lượng) tương đương và các vị thường trú không mong muốn thì không nên ban cho sự hợp nhất đến các vị vãng lai; các vị vãng lai nên đi ra khỏi ranh giới rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i>. Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn thì các vị thường trú nên ban cho sự hợp nhất đến các vị vãng lai hoặc là nên đi ra khỏi ranh giới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp ngày mười lăm là của các tỳ khưu thường trú, ngày đầu tháng là của các tỳ khưu vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn thì các vị vãng lai nên ban cho sự hợp nhất đến các vị thường trú hoặc là nên đi ra khỏi ranh giới. Nếu (có số lượng) tương đương thì các vị vãng lai nên ban cho sự hợp nhất đến các vị thường trú hoặc là nên đi ra khỏi ranh giới. Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn và các vị vãng lai không mong muốn thì không nên ban cho sự hợp nhất đến các vị thường trú; các vị thường trú nên đi ra khỏi ranh giới rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu vãng lai nhìn thấy sự biểu hiện của việc cư trú, đặc điểm của việc cư trú, hiện tướng của việc cư trú, dấu hiệu của việc cư trú của các vị tỳ khưu thường trú (như là) giường ghế nệm gối được sắp xếp cẩn thận, nước uống nước rửa khéo được bố trí, phòng ốc được quét dọn sạch sẽ, sau khi nhìn thấy khởi lên nghi ngờ: “Có các tỳ khưu thường trú hay không có?” Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)― Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> chung thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> riêng rẽ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy có dự tính chia rẽ (nói rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu vãng lai nghe được sự biểu hiện của việc cư trú, đặc điểm của việc cư trú, hiện tướng của việc cư trú, dấu hiệu của việc cư trú của các vị tỳ khưu thường trú (như là) tiếng bước chân của những vị đang đi kinh hành, tiếng học bài, tiếng đằng hắng, tiếng hắt hơi, sau khi nghe khởi lên nghi ngờ: “Có các tỳ khưu thường trú hay không có?” Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)― Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> thì vô tội. ―(như trên)― Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> chung thì vô tội. ―(như trên)― Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> riêng rẽ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)― Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy có dự tính chia rẽ (nói rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu thường trú nhìn thấy sự biểu hiện của việc đi đến, đặc điểm của việc đi đến, hiện tướng của việc đi đến, dấu hiệu của việc đi đến của các tỳ khưu vãng lai (như là) bình bát khác lạ, y khác lạ, vật lót ngồi khác lạ, sự vung vãi nước rửa các bàn chân, sau khi nhìn thấy khởi lên nghi ngờ: “Có các vị tỳ khưu vãng lai hay không có?” Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)― Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> thì vô tội. ―(như trên)― Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> chung thì vô tội. ―(như trên)― Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> riêng rẽ thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)― Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy có dự tính chia rẽ (nói rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu thường trú nghe được sự biểu hiện của việc đi đến, đặc điểm của việc đi đến, hiện tướng của việc đi đến, dấu hiệu của việc đi đến của các tỳ khưu vãng lai (như là) tiếng bước chân của các vị đang đi đến, tiếng động gây nên bởi các đôi dép, tiếng đằng hắng, tiếng hắt hơi, sau khi nghe khởi lên nghi ngờ: “Có các vị tỳ khưu vãng lai hay không có?” Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)― Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> thì vô tội. ―(như trên)― Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> chung thì vô tội. ―(như trên)― Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> riêng rẽ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)― Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy có dự tính chia rẽ (nói rằng): “Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?” rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu vãng lai nhìn thấy các tỳ khưu thường trú thuộc nhóm cộng trú khác. Các vị ấy nhận lầm là thuộc cùng nhóm cộng trú, sau khi nhận lầm là thuộc cùng nhóm cộng trú rồi không hỏi, sau khi không hỏi rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i>chung thì vô tội. ―(như trên)― Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi vẫn không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) lại tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> chung thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)― Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi vẫn không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> riêng rẽ thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu vãng lai nhìn thấy các tỳ khưu thường trú thuộc cùng nhóm cộng trú. Các vị ấy nhận lầm thuộc nhóm cộng trú khác, sau khi nhận lầm thuộc nhóm cộng trú khác lại không hỏi, sau khi không hỏi lại tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> chung thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)― Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi rồi thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) lại tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> riêng rẽ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)― Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi rồi thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> chung thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu thường trú nhìn thấy các tỳ khưu vãng lai thuộc nhóm cộng trú khác. Các vị ấy nhận lầm thuộc cùng nhóm cộng trú, sau khi nhận lầm là thuộc cùng nhóm cộng trú rồi không hỏi, sau khi không hỏi rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> chung thì vô tội. ―(như trên)― Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi vẫn không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) lại tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> chung thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)― Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi vẫn không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> riêng rẽ thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu thường trú nhìn thấy các tỳ khưu vãng lai thuộc cùng nhóm cộng trú. Các vị ấy nhận lầm thuộc nhóm cộng trú khác, sau khi nhận lầm thuộc nhóm cộng trú khác rồi không hỏi, sau khi không hỏi lại tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> chung thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)― Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi rồi thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) lại tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> riêng rẽ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)― Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi rồi thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> chung thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu và các tỳ khưu ở nơi ấy thuộc cùng nhóm cộng trú, nếu biết rằng: “Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu có thể đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu ―(như trên)― chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu và các tỳ khưu ở nơi ấy thuộc cùng nhóm cộng trú, nếu biết rằng: “Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> vị tỳ khưu từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu ―(như trên)― nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu ―(như trên)― chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu và các tỳ khưu ở nơi ấy thuộc cùng nhóm cộng trú, nếu biết rằng: “Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào ngày lễ <i>Pavāraṇā</i> vị tỳ khưu từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu ―(như trên)― nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu ―(như trên)― chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu và các tỳ khưu ở nơi ấy thuộc cùng nhóm cộng trú, nếu biết rằng: “Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, không nên thỉnh cầu với hội chúng đã ngồi xuống có vị tỳ khưu ni; vị nào thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, không nên thỉnh cầu với hội chúng đã ngồi xuống có cô ni tu tập sự ―(như trên)― có vị sa di ―(như trên)― có vị sa di ni ―(như trên)― có người đã từ bỏ điều học ―(như trên)― có vị đã phạm tội cực nặng; vị nào thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nên thỉnh cầu với hội chúng đã ngồi xuống có vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội; vị nào thỉnh cầu thì nên được hành xử theo pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nên thỉnh cầu với hội chúng đã ngồi xuống có vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi ―(như trên)― có vị bị án treo trong việc không chịu từ bỏ tà kiến ác; vị nào thỉnh cầu thì nên được hành xử theo pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, không nên thỉnh cầu với hội chúng đã ngồi xuống có kẻ vô căn; vị nào thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nên thỉnh cầu với hội chúng đã ngồi xuống có kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu) ―(như trên)― có kẻ đã đi theo ngoại đạo ―(như trên)― có loài thú ―(như trên)― có kẻ giết mẹ ―(như trên)― có kẻ giết cha ―(như trên)― có kẻ giết A-la-hán ―(như trên)― có kẻ làm nhơ tỳ khưu ni ―(như trên)― có kẻ chia rẽ hội chúng ―(như trên)― có kẻ làm chảy máu (đức Phật) ―(như trên)― có kẻ lưỡng căn; vị nào thỉnh cầu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, lễ <i>Pavāraṇā</i> không nên tiến hành với việc trao ra sự trong sạch của vị hành <i>parivāsa</i>, trừ trường hợp tập thể không bị cách ly.[2]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, không nên tiến hành lễ <i>Pavāraṇā</i> không nhằm ngày <i>Pavāraṇā</i> trừ phi vào lúc hợp nhất hội chúng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm thứ nhì.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong chương này có bốn mươi sáu sự việc</b>.</span></p>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tóm lược chương này</span></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>(Các vị) đã sống qua mùa (an cư) mưa ở xứ Kosala đã đi diện kiến bậc Đạo Sư, sự sống chung như loài thú một cách không thoải mái, về sự hài hòa với nhau</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Trong khi đang cầu thỉnh (ngồi yên) ở chỗ ngồi, và có hai (ngày lễ), hành sự, vị bị bệnh, các thân quyến, rồi đức vua, bọn cướp, lũ bất lương, các kẻ đối nghịch tỳ khưu cũng giống y như thế</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Năm, bốn, ba, hai, một vị, bị phạm tội, có sự nghi ngờ, vị đã nhớ lại, tất cả hội chúng có sự nghi ngờ, nhiều hơn, tương đương, và ít hơn</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Các vị thường trú, ngày mười bốn, đặc điểm, các vị đồng cộng trú, cả hai, nên đi đến, không với vị ni ngồi, về việc bày tỏ sự tùy thuận, lễ</i> <i>Pavāraṇā</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vì đám lục lâm, (đêm) đã tàn, đám mây đen, các điều nguy hiểm, và sự thỉnh cầu, các vị không để cho thỉnh ý, trước chúng ta, đã không bị đình chỉ, và của vị tỳ khưu</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Và do điều gì? và thế nào? do đã thấy, do đã nghe, do sự nghi ngờ, vị (nguyên cáo) kết tội, và vị bị kết tội, tội thullaccaya, sự việc, (gây ra) sự xung đột, lễ Pavāraṇā, và sự đồng thuận, không có quyền hành, (hội chúng) nên tiến hành lễ Pavāraṇā</i>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Nghĩa là tập thể này không phải là các vị đang chịu hành phạt <em>parivāsa.</em> Chúng tôi chọn nghĩa như trên dựa vào lời giải thích của nhóm từ “<em>vuṭṭhitāya parisāya </em>= với tập thể đã bị cách ly” là “với việc ban cho sự thỏa thuận từ các vị (tỳ khưu) đang chịu hành phạt <i>parivāsa</i>” được tìm thấy ở bộ <em>Bhikkhunīvibhaṅga</em> &#8211; <em>Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni</em>. Từ <em>avuṭṭhitāya</em> còn có nghĩa là “chưa đứng lên, chưa được thoát tội.&#8221;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
