<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; Thiền Vipassana Do Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Phương Thuốc Chữa Bệnh Phiền Não Của Chúng Sinh</title>
	<atom:link href="https://thienvipassana.net/kinh-dien-tam-tang/tang-luat/phan-tich-gioi-ty-khuu-i/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://thienvipassana.net</link>
	<description>Tổng Hợp Chia Sẻ Các Bài Pháp Về Thiền Vipassana (Thiền Tứ Niệm Xứ) Theo Phương Pháp Ngài Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Các Tài Liệu Dhamma, Trợ Duyên Ai Đó Hữu Duyên Được Vững Vàng Trên Con Đường Tu Tập Giải Thoát Khổ, Được An Lạc Thực Sự, Hoà Hợp Thực Sự, Hạnh Phúc Thực Sự. #vipassana #dhamma #goenka #thienvipassana #buddha #phatphap #phatgiao #thiền</description>
	<lastBuildDate>Sat, 02 May 2020 02:55:30 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9.4</generator>

<image>
	<url>https://thienvipassana.net/wp-content/uploads/2020/05/cropped-LOGO-PHÁP-BẢO-ORIGINAL-7-32x32.png</url>
	<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; Thiền Vipassana Do Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Phương Thuốc Chữa Bệnh Phiền Não Của Chúng Sinh</title>
	<link>https://thienvipassana.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; MỤC LỤC</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-muc-luc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:00:26 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=57881</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Mục Lục &#8211; Phần duyên khởi &#8211; Giảng về ân đức Phật &#8211; Giảng]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><span style="font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span> </span></strong></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Mục Lục</span></h3>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phần duyên khởi</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về ân đức Phật</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về vị Bà-la-môn Verañja</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về trí</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Trí ghi nhớ về các kiếp sống trước</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Trí về sự sanh tử của chúng sanh</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Trí đoạn tận các lậu hoặc</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự đi đến nương nhờ của vị Bà-la-môn Verañja</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự nhận lời về việc cư trú mùa mưa ở Verañjā</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về sự khan hiếm vật thực ở Verañjā</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về tiếng rống sư tử của Mahāmoggallāna</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự thỉnh cầu về việc quy định điều học của Sāriputta</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự thuyết giảng Giáo Pháp cho vị Bà-la-môn Verañja</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự du hành trong xứ sở của đức Thế Tôn </span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">***</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><b>2. CHƯƠNG </b><b><i>PĀRĀJIKA</i></b></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>ĐIỀU <i>PĀRĀJIKA</i> THỨ NHẤT </strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Tụng phẩm Sudinna</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về sự xuất gia của Sudinna</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự đi đến nhà cha mình của Sudinna</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự cầu xin chủng tử của mẹ cha </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Xúi giục về việc đôi lứa với người vợ cũ của Sudinna</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự trình lên đức Thế Tôn bởi những vị tỳ khưu bạn</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học của đức Thế Tôn</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định căn bản</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>CHUYỆN CON KHỈ CÁI</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự thực hiện việc đôi lứa với khỉ cái của vị tỳ khưu nọ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định lần hai </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>TỤNG PHẨM ĐƯỢC CHE PHỦ</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự thực hiện việc đôi lứa của các tỳ khưu Vajjiputtaka</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định lần ba</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">CHUYỆN DẪN GIẢI</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>ĐIỀU <i>PĀRĀJIKA</i> THỨ NHÌ</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về việc làm liêu cốc của Dhaniya con trai người thợ gốm</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về việc lấy trộm đồ vật của đức vua</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định căn bản</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về việc lấy trộm gói đồ nhuộm của các tỳ khưu nhóm Lục Sư</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định lần hai</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Tiêu đề hướng dẫn</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">CHUYỆN DẪN GIẢI</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>ĐIỀU <i>PĀRĀJIKA</i> THỨ BA</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Đức Thế Tôn giảng (đề mục) tử thi cho các tỳ khưu ở Vesalī</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về việc sai bảo đoạt lấy mạng sống của các tỳ khưu ở Vesalī</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về định của niệm hơi thở ra hơi thở vào</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy địnhcăn bản</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định lần hai</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Tiêu đề hướng dẫn</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">CHUYỆN DẪN GIẢI</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>ĐIỀU <i>PĀRĀJIKA</i> THỨ TƯ </strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự tuyên bố về pháp thượng nhân của các tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về năm kẻ cướp lớn</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định căn bản</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định lần hai</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Các trường hợp đơn giản</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về trường hợp ‘Có ý định nói’</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về các trường hợp liên quan đến vật dụng</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">CHUYỆN DẪN GIẢI</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">***</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><b>3. CHƯƠNG </b><b><i>SAṄGHĀDISESA</i></b></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>1. ĐIỀU HỌC VỀ VIỆC XUẤT RA TINH DỊCH</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về vị Seyyasaka</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định lần đầu</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định lần hai</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">CHUYỆN DẪN GIẢI</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>2. ĐIỀU HỌC VỀ XÚC CHẠM THÂN THỂ</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về vị Udāyi</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">CHUYỆN DẪN GIẢI  </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>3. ĐIỀU HỌC VỀ LỜI NÓI THÔ TỤC</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về vị Udāyi</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">CHUYỆN DẪN GIẢI</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>4. ĐIỀU HỌC VỀ SỰ HẦU HẠ TÌNH DỤC CHO BẢN THÂN </strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về vị Udāyi</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">CHUYỆN DẪN GIẢI</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>5. ĐIỀU HỌC VỀ VIỆC MAI MỐI</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về vị Udāyi </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định căn bản</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự tiến hành việc mai mối cho cuộc tình phút chốc của Udāyi</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định lần hai</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">CHUYỆN DẪN GIẢI</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>6. ĐIỀU HỌC VỀ LÀM CỐC LIÊU</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện làm cốc liêu của các vị tỳ khưu ở thành Āḷavi</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về rồng chúa Maṇikaṇṭha </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về vị tỳ khưu nọ sống ở Hi-mã-lạp-sơn</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về Raṭṭhapāla</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>7. ĐIỀU HỌC VỀ LÀM TRÚ XÁ</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về vị Channa</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>8. ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT VỀ VỊ XẤU XA SÂN HẬN</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Giảng về việc phân bố chỗ trú ngụ của Dabbamallaputta</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>9. ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ VỀ VỊ XẤU XA SÂN HẬN</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>10. ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT VỀ CHIA RẼ HỘI CHÚNG</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự cầu xin năm sự việc của Devadatta </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>11. ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ VỀ CHIA RẼ HỘI CHÚNG</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về vị Devadatta</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>12. ĐIỀU HỌC VỀ SỰ KHÓ DẠY</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện sai trái của Channa</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>13. ĐIỀU HỌC VỀ VỊ LÀM HƯ HỎNG CÁC GIA ĐÌNH</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện sai trái của các vị nhóm Assaji và Punabbasuka</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">***</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><b>4. CHƯƠNG </b><b><i>ANIYATA</i></b></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>1. ĐIỀU HỌC <i>ANIYATA</i> THỨ NHẤT</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về vị Udāyi</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>2. ĐIỀU HỌC <i>ANIYATA</i> THỨ NHÌ</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về vị Udāyi </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">***</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><b>5. CHƯƠNG </b><b><i>NISSAGGIYA</i></b></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><b>5. 1. PHẨM Y</b></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>1. ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT VỀ <i>KAṬHINA</i></strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về các vị Lục Sư</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định căn bản</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện y phụ trội của Ānanda</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định lần hai</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>2. ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ VỀ <i>KAṬHINA</i></strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện du hành trong xứ sở với y nội và thượng y của các tỳ khưu</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định căn bản</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định lần hai</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>3. ĐIỀU HỌC THỨ BA VỀ <i>KAṬHINA</i></strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện y ngoài hạn kỳ của vị tỳ khưu nọ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>4. ĐIỀU HỌC VỀ Y CŨ </strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về người vợ cũ của Udāyi</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>5. ĐIỀU HỌC VỀ NHẬN LÃNH Y</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện Udāyi nhận lãnh y từ tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định căn bản </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về việc không nhận lãnh y trao đổi </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định lần hai </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>6. ĐIỀU HỌC VỀ VIỆC YÊU CẦU NGƯỜI KHÔNG PHẢI LÀ THÂN QUYẾN</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về vị Upananda</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định căn bản <em>vatthu</em> </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện các tỳ khưu lõa thể</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định lần hai</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>7. ĐIỀU HỌC VỀ VƯỢT QUÁ SỐ Y ẤY</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về việc yêu cầu nhiều y</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>8. ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT VỀ (SỐ TIỀN) ĐÃ ĐƯỢC CHUẨN BỊ</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về việc đưa ra sự căn dặn về y của Upananda</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>9. ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ VỀ (SỐ TIỀN) ĐÃ ĐƯỢC CHUẨN BỊ </strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về việc đưa ra sự căn dặn về y của Upananda</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>10. ĐIỀU HỌC VỀ ĐỨC VUA</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về vị Upananda</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><b>5. 2. PHẨM TƠ TẰM</b></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>1. ĐIỀU HỌC VỀ TƠ TẰM</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về các vị Lục Sư</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>2. ĐIỀU HỌC VỀ THUẦN MÀU ĐEN</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về các vị Lục Sư  </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>3. ĐIỀU HỌC VỀ HAI PHẦN</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về các vị Lục Sư</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>4. ĐIỀU HỌC VỀ SÁU NĂM</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về việc bảo làm tấm trải nằm hàng năm </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định căn bản  </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về việc cầu xin sự đồng ý về tấm trải nằm </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định lần hai </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>5. ĐIỀU HỌC VỀ TẤM LÓT NGỒI VÀ TẤM TRẢI NẰM</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện quăng bỏ các tấm trải nằm</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>6. ĐIỀU HỌC VỀ CÁC LÔNG CỪU</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện mang lông cừu </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>7. ĐIỀU HỌC VỀ VIỆC BẢO GIẶT LÔNG CỪU</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về việc bảo giặt lông cừu của các vị nhóm Lục Sư</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>8. ĐIỀU HỌC VỀ VÀNG BẠC</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện thọ lãnh vàng bạc của Upananda</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>9. ĐIỀU HỌC VỀ VIỆC TRAO ĐỔI BẰNG VÀNG BẠC</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện trao đổi bằng vàng bạc của các vị nhóm Lục Sư</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>10. ĐIỀU HỌC VỀ VIỆC MUA BÁN</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về việc tiến hành mua bán của Upananda</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><b>5. 3. PHẨM BÌNH BÁT</b></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>1. ĐIỀU HỌC VỀ BÌNH BÁT</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện tích trữ bình bát của các vị nhóm Lục Sư  </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định căn bản</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện bình bát phụ trội của Ānanda</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định lần hai </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>2. ĐIỀU HỌC VỀ CHƯA ĐỦ NĂM MIẾNG VÁ</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện yêu cầu bình bát của các vị nhóm Lục Sư</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ  </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>3. ĐIỀU HỌC VỀ DƯỢC PHẨM </strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><em>Pilindivacchavatthu</em> &#8211; Chuyện về vị Pilindivaccha </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><em>Sikkhāpadapaññatti</em> &#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><em>Padabhājanīyaṃ</em> &#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>4. ĐIỀU HỌC VỀ VẢI CHOÀNG TẮM MƯA</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện tìm kiếm vải choàng tắm mưa của các vị nhóm Lục Sư</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>5. ĐIỀU HỌC VỀ VIỆC GIẬT LẠI Y</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về việc giật lại y của Upananda </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>6. ĐIỀU HỌC VỀ YÊU CẦU CHỈ SỢI</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện yêu cầu chỉ sợi của các vị nhóm Lục Sư</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>7. ĐIỀU HỌC QUAN TRỌNG VỀ THỢ DỆT</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện đưa ra sự căn dặn về chỉ sợi đối với thợ dệt của Upananda</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>8. ĐIỀU HỌC VỀ Y ĐẶC BIỆT</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về việc vượt quá thời hạn của y đặc biệt</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>9. ĐIỀU HỌC VỀ (CHỖ NGỤ) NGUY HIỂM</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện về việc để lại y ở trong xóm nhà</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>10. ĐIỀU HỌC VỀ ‘ĐÃ ĐƯỢC THUYẾT PHỤC’</strong></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Chuyện các vị nhóm Lục Sư thuyết phục dâng lợi lộc thuộc về hội chúng đến bản thân</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Sự quy định điều học</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; Phân tích từ ngữ</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><b>DỨT BỘ </b><b><i>PĀRĀJIKAPĀḶI</i></b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<blockquote><p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></strong></span></p></blockquote>
<blockquote><p>&nbsp;</p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; LỜI GIỚI THIỆU</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-loi-gioi-thieu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:03:43 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=57915</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Lời Giới Thiệu Tạng Luật (Vinayapiṭaka) thuộc về Tam Tạng (Tipiṭaka) là những lời]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><span style="font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span> </span></strong></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lời Giới Thiệu</span></h3>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tạng Luật (<i>Vinayapiṭaka</i>) thuộc về Tam Tạng (<i>Tipiṭaka</i>) là những lời dạy và quy định của đức Phật về các vấn đề có liên quan đến cuộc sống và sự sinh hoạt của các thành viên cũng như các công việc của hội chúng, trong đó chủ yếu đề cập đến tỳ khưu, một phần dành cho tỳ khưu ni, đồng thời một số vấn đề có thể áp dụng cho hàng tại gia cư sĩ cũng được tìm thấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tạng Luật được chia làm 3 phần chính: <em>Suttavibhaṅga</em>, <em>Khandhaka</em>, và <em>Parivāra</em>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><em>SUTTAVIBHAṄGA</em></strong> (Phân Tích Giới Bổn): trình bày về giới bổn <em>Pātimokkha</em> của tỳ khưu gồm có 227 điều và của tỳ khưu ni gồm có 311 điều. <i>Suttavibhaṅga</i> được chia làm hai:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><em>&#8211; Pārājikapāḷi</em></strong> (Bộ <i>Pārājikapāḷi</i>): Mở đầu là Chương Verañjā giới thiệu việc ngài Sāriputta thỉnh cầu đức Phật quy định giới ở xứ Verañjā. Kế đến là các chương ghi lại các điều học theo thứ tự:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; 4 <em>Pārājika</em> (bất cộng trụ)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; 13 <em>Saṅghādisesa</em> (tăng tàng)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; 2 <em>Aniyata</em> (bất định)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; 30 <em>Nissaggiya Pācittiya</em> (ưng xả đối trị)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><em>&#8211; Pācittiyapāḷi</em></strong> (Bộ <i>Pācittiyapāḷi</i>): Nội dung bộ này gồm có:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; 92 <em>Pācittiya</em> (ưng đối trị)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; 4 <em>Pāṭidesanīya</em> (ưng phát lộ)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; 75 <em>Sekhiyā dhammā</em> (ưng học pháp)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; 7 <em>Adhikaraṇasamathā</em> <em>dhammā</em> (các pháp dàn xếp tranh tụng)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <em>Bhikkhunīvibhaṅga</em> (Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><em>KHANDHAKA</em> </strong>(Hợp Phần): gồm các vấn đề có liên quan đã được sắp xếp thành từng chương. <em>Khandhaka</em> được chia làm hai:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><em>&#8211; Mahāvagga</em></strong> (Đại Phẩm): gồm 10 chương, mở đầu là sự chứng ngộ đạo quả của đức Phật, kế đến là các nhiệm vụ quan trọng của các tỳ khưu như lễ xuất gia, lễ <em>Uposatha</em> (Bố Tát), việc an cư mùa mưa, lễ <em>Pavāraṇā</em> (Tự Tứ), v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><em>&#8211; Cullavagga</em> </strong>(Tiểu Phẩm): gồm 12 chương đề cập đến việc hành xử các tỳ khưu phạm tội, giải quyết các sự tranh tụng, việc chia rẽ hội chúng, và các vấn đề khác liên quan đến đời sống xuất gia. Đặc biệt chương 10 đề cập việc xuất gia của tỳ khưu ni và hai chương cuối 11 và 12 nói về hai lần kết tập Tam Tạng đầu tiên ở Ấn Độ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><em>PARIVĀRA</em> </strong>(Tập Yếu): phân tích về Giới và Luật theo các tiêu đề và được trình bày dưới dạng vấn đáp, có thể được xem như là cuốn cẩm nang hướng dẫn việc hành xử Luật.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">***</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Dựa theo văn bản được ghi lại bằng mẫu tự <em>Pāḷi</em> <em>– Sinhala </em>thuộc ấn bản <em>Buddha Jayanti Tripitaka Series</em> của nước quốc giáo Sri Lanka, Công Trình Ấn Tống Tam Tạng Pāḷi &#8211; Việt trình bày <em>Suttavibhaṅga</em> (Phân Tích Giới Bổn) thành 3 tập:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>&#8211; Phân Tích Giới Tỳ Khưu tập 1:</strong> tức là  bộ <i>Pārājikapāḷi</i> trình bày từ chương mở đầu Verañjā cho đến hết 3o điều <em>nissaggiya</em> <em>pācittiya</em>. Để thuận tiện, các cuốn Tạng được thực hiện bởi Công Trình Ấn Tống Tam Tạng Pāḷi &#8211; Việt sẽ sử dụng từ viết tắt như sau: “TTPV 01” thay cho cụm từ “Tam Tạng Pāḷi &#8211; Việt tập 01,” và cứ thế tiếp tục cho đến tập TTPV 58 căn cứ theo bản Lược Đồ Tam Tạng ở hai trang xviii và xix.  </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>&#8211; Phân Tích Giới Tỳ Khưu tập 2:</strong> (TTPV 02) tức là phần đầu của bộ <i>Pācittiyapāḷi</i> gồm những phần còn lại có liên quan đến tỳ khưu, từ các điều học <i>Pācittiya </i>cho đến phần <em>Adhikaraṇasamathā</em> <em>dhammā</em> (các pháp dàn xếp tranh tụng). Tên gọi <em>Bhikkhuvibhaṅga </em>chung cho cả hai tập này được căn cứ vào dòng chữ kết thúc “<i>bhikkhuvibhaṅgo niṭṭhito</i>.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>&#8211; Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni: </strong>(TTPV 03) trình bày các điều học được quy định dành riêng cho tỳ khưu ni có tên là <em>Bhikkhunīvibhaṅga. </em>Tuy nhiên, để tránh sự trùng lặp cho nên các điều học được quy định chung cho tỳ khưu và tỳ khưu ni đã không được đề cập đến vì đã có trình bày ở <em>Bhikkhuvibhaṅga &#8211; Phân Tích Giới Tỳ Khưu</em>. Muốn biết đầy đủ 311 điều học của tỳ khưu ni cần phải xem <em>Bhikkhunipātimokkha </em>tức là giới bổn <em>Pātimokkha </em>của tỳ khưu ni. Văn bản này cũng đã được chúng tôi thực hiện dưới dạng song ngữ  Pāḷi &#8211; Việt.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ý nghĩa của từ <em>sutta</em> ở nhóm từ <em>suttavibhaṅga</em> có ý nghĩa tương đương như là s<em>ikkhāpada</em> (điều học, học giới, điều giới, &#8230;), nếu xét theo ý nghĩa bao quát có thể gọi là “<em>giới bổn</em>.” Như vậy, <em>suttavibhaṅga</em> nghĩa là sự phân tích các điều học hoặc là sự phân tích về giới bổn; trong khi ở Tạng Kinh, từ <em>sutta</em> được dịch là “<em>kinh</em>” ví dụ như <em>Brahmajālasutta</em> được dịch là <em>Kinh Phạm Võng</em>, v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Về nội dung của Vinayapiṭaka &#8211; Tạng Luật, chương mở đầu Verañjā trình bày về thời điểm quy định điều học cho các tỳ khưu. Trả lời sự thỉnh cầu của ngài Sāriputta (Xá Lợi Phất), đức Phật đã phán rằng: “<em>Này Sāriputta, ngươi hãy chờ đợi! Này Sāriputta, ngươi hãy chờ đợi! Trong trường hợp này, chỉ có Như Lai mới biết thời điểm</em>.” Và ngài đã xác định về thời điểm đó như sau: “<em>Này Sāriputta, chính bởi vì một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện trong hội chúng này &#8230; chính bởi vì hội chúng đạt đến sự đông đảo về số lượng &#8230; chính bởi vì hội chúng đạt đến sự lớn mạnh về việc phát triển &#8230; chính bởi vì hội chúng đạt đến sự dồi dào về lợi lộc nên một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện trong hội chúng này, nên bậc Đạo Sư quy định điều học và công bố giới bổn Pātimokkha cho các đệ tử nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy</em>.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Đến các chương kế tiếp, chúng ta biết được rằng mỗi khi điều học được quy định, trước tiên có sự chỉ trích và chê bai về việc làm hay lời nói nào đó của các vị xuất gia, việc chỉ trích và chê bai lan rộng khiến các tỳ khưu nghe được và cuối cùng đến tai đức Phật. Đối tượng vi phạm trong các câu chuyện này có thể là cá nhân hay nhóm tỳ khưu, không hẳn là phàm nhân mà ngay cả một số vị đã chứng được thiền và thần thông như các vị Devadatta và Sāgata, một vài trường hợp do các bậc đã chứng Thánh quả như ngài Anuruddha về việc nằm chung chỗ ngụ với người nữ, ngài Cūḷapanthaka về việc giáo huấn các tỳ khưu ni khi mặt trời đã lặn, hoặc ngài Veḷaṭṭhasīsa về việc thọ dụng vật thực đã tích trữ. Về các sự chỉ trích và chê bai, đa số phát xuất từ hàng tại gia có thể là các cư sĩ đã quy y, những người theo ngoại đạo, hoặc quần chúng bình thường, kế đến do các vị đã xuất gia, chỉ một vài trường hợp do phi nhân hạng trên hoặc dưới. Thông thường, đức Phật triệu tập các tỳ khưu lại, xác định vấn đề, khiển trách và giáo huấn, rồi mới quy định điều học. Mỗi lần như vậy, đức Phật luôn khẳng định về mười điều lợi ích của việc làm ấy như sau: “<em>Nhằm sự tốt đẹp cho hội chúng, nhằm sự an lạc cho hội chúng, nhằm việc trấn áp những nhân vật ác xấu, nhằm sự lạc trú của các tỳ khưu hiền thiện, nhằm ngăn ngừa các lậu hoặc trong hiện tại, nhằm sự trừ diệt các lậu hoặc trong tương lai, nhằm đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, nhằm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin, nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp, và nhằm sự hỗ trợ Luật</em>.” Có nhiều trường hợp, điều học đã được quy định thêm (<i>anupaññatti</i>), có trường hợp mức độ nghiêm khắc trong việc thực hành càng gia tăng, có trường hợp được giảm nhẹ do nhu cầu cần thiết ví dụ như tỳ khưu bị bệnh có thể thọ thực ở phước xá hơn một lần hoặc vị tỳ khưu có thể hẹn trước rồi đi chung với tỳ khưu ni ở đoạn đường có nguy hiểm hoặc chung chuyến đò lúc sang sông. Sau phần quy định về điều học, có phần phân tích về từ ngữ và về các trường hợp vi phạm hoặc không vi phạm. Phần này cần xem xét kỹ lưỡng mới có thể hiểu được điều học thêm phần chính xác. Ngoài ra, có phần các câu chuyện dẫn giải ở bốn điều học <em>pārājika</em> và năm điều học đầu của <em>saṅghādisesa</em> gồm những sự việc cụ thể giúp cho hiểu rõ hơn về trường hợp vi phạm tội. Khi đọc các câu chuyện này nên liên hệ với phần phân tích ở phía trước để thấy được sự phán quyết của đức Phật. Một điều quan trọng cần lưu ý rằng đối tượng chính của các điều học này là hạng tỳ khưu và tỳ khưu ni đã được tu lên bậc trên bằng hành sự với lời thông báo đến lần thứ tư, đầu tiên là vị Bà-la-môn đã được ngài Sāriputta tế độ do việc bố thí một muỗng thức ăn (<em>Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm</em>, TTPV 04, chương I, 120-121).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Trong việc nghiên cứu Tam Tạng Pāli, các bộ Chú Giải <em>Aṭṭhakathā</em> liên quan cũng cần được xem xét để có thể hiểu đúng những điều đã được kết tập thuộc về Chánh Tạng; ngoài ra còn có các bộ Sớ Giải <em>Ṭīkā</em> phân tích về những điểm cần giải thích thêm hoặc chưa được giải thích trong Chú Giải <em>Aṭṭhakathā</em>, sau đó mới nói đến các bộ sách được soạn thảo theo chuyên đề. Theo tinh thần đó, trong khi nghiên cứu về Tạng Luật, chúng tôi đã tham khảo và hiểu theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa ở bộ Chú Giải <em>Samantapāsādikā</em>. Ngài Buddhaghosa được xem là nhà Chú Giải Sư vĩ đại, vĩ đại vì ngài là người đầu tiên tổng hợp lại các bộ Chú Giải đã có trước, cũng có thể do số lượng tài liệu ngài đã thực hiện là nhiều hơn so với các nhà chú giải khác, cũng có thể vì ngài đã soạn nên bộ sách nổi tiếng <em>Visuddhimagga</em> (Thanh Tịnh Đạo) được xem như đã cô đọng lại những gì tinh hoa của lời Phật dạy. Ngài Buddhaghosa đã hoàn tất phần chú giải về Tạng Luật và Tạng Diệu Pháp. Về Tạng Kinh, ngài đã hoàn tất phần chú giải của Kinh Trường Bộ, Kinh Trung Bộ, Kinh Tương Ưng Bộ, Kinh Tăng Chi Bộ, và một số thuộc về Kinh Tiểu Bộ. Cuộc đời của ngài chỉ được ghi lại ngắn gọn trong nhiều tài liệu, văn bản cổ nhất được biết đến là <em>Mahāvaṃsa</em> (chương 37) là bộ sử ký của xứ Sri Lanka được ghi lại bằng ngôn ngữ <em>Pāli</em>. Ngài Buddhaghosa sanh ở vùng lân cận của Bodh Gayā (nơi đức Phật thành đạo) ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ 5 sau Tây Lịch. Ngài xuất thân dòng dõi Bà-la-môn và thông thạo ba bộ Vệ Đà, lúc còn thanh niên thường đi đó đây để tranh luận, do bị thua ngài Revata nên đã xin xuất gia và trở thành tỳ khưu. Khi thấy được ước nguyện của người học trò về việc soạn thảo các bộ chú giải Tam Tạng, ngài Revata đã gợi ý nên sang đảo Laṅkā (Sri Lanka ngày nay) vì toàn bộ kinh điển và chú giải được ngài Mahinda đem sang truyền giáo ở đó (thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch) vẫn được lưu truyền và phát triển. Tại đảo Laṅkā, trước tiên ngài Buddhaghosa đã soạn bộ <em>Visuddhimagga</em> (Thanh Tịnh Đạo) rồi trình lên các ngài trưởng lão ở Mahāvihāra (Đại Tự) để chứng tỏ khả năng và sau đó đã được phép sử dụng các tài liệu lưu trữ trong tu viện phần nhiều bằng tiếng địa phương (ngôn ngữ Sīhaḷa) để thực hiện việc tổng hợp lại các bộ chú giải và dịch sang ngôn ngữ của xứ Magadha (<i>māgadhānaṃ niruttiyā</i>) nhằm đem lại lợi ích cho tất cả thế gian (ngôn ngữ sử dụng trong <em>Tipiṭaka</em> (Tam Tạng) mới được các nhà học giả phương Tây gọi là ngôn ngữ <em>Pāli</em> vào thời gian sau này). Sau khi thực hiện các công trình trên, ngài Buddhaghosa đã rời đảo Laṅkā để trở về đảnh lễ cội Đại Bồ Đề ở quê hương. Nghe đâu, có các tài liệu khác cho rằng ngài Buddhaghosa qua đời ở Miến Điện, có tài liệu nói ở Cam-pu-chia.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Về phương diện dịch thuật và trình bày văn bản tiếng Việt, có một số điều cần lưu ý như sau: Về phương diện từ ngữ có tính cách chuyên môn như tên các điều học <em>pārājika</em>, <em>saṅghādisesa</em>, tên của lễ <em>Uposatha</em>, <em>Pavāraṇā</em>, v.v&#8230; chúng tôi đã giữ nguyên từ <em>Pāli</em>. Việc làm này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Chúng tôi ngại việc sáng tạo thêm tên gọi mới e rằng có thể làm rối trí những độc giả vốn đã có sự hiểu biết về Luật của Phật Giáo. Hơn nữa, việc biết và nhớ được một số từ có tính cách chuyên môn của ngôn ngữ này sẽ tiện cho công việc trao đổi kiến thức tránh sự nhầm lẫn, nhất là lúc tiếp xúc với các tu sĩ hoặc học giả người ngoại quốc. Chúng tôi cũng tránh việc sử dụng theo thói quen một số từ được ghi lại theo âm của tiếng Hán xét rằng không có lợi ích ví dụ như: ba-la-di (<i>pārājika</i>), tăng-già-bà-thi-sa (<i>saṅghādisesa</i>), đột-kiết-la (<i>dukkaṭa</i>), bố-tát (<i>uposatha</i>), Xá Lợi Phất (<i>Sāriputta</i>), Xa Nặc (<i>Channa</i>), v.v&#8230;; hoặc tránh sự vay mượn tiếng Hán khó hiểu ví dụ như từ Tự Tứ (<i>pavāraṇā</i>), v.v&#8230; Cũng có một số từ được ghi bằng tiếng <em>Pāli</em> do chúng tôi không tìm ra được nghĩa của chúng như trường hợp tên các loại thảo mộc.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Ngoài ra, chúng tôi cũng mạo muội Việt hóa một số từ Hán đã trở nên quá quen thuộc nghĩ rằng khó có sự thay đổi trong tương lai, ví dụ như từ Thế Tôn (<i>Bhagavā</i>), tỳ khưu (<i>bhikkhu</i>), tỳ khưu ni (<i>bhikkhunī</i>), sa di (sāmaṇera), v.v&#8230; Riêng từ tỳ khưu (hay tỷ khưu, tỳ kheo, tỷ kheo) đều được âm từ ngôn ngữ <em>Sanskrit</em> là từ <em>bhikṣu</em> hay <em>Pāli</em> là từ <em>bhikkhu</em>. Về từ tiếng Việt có liên quan đến phái nữ xuất gia như cô ni, ni sư, v.v&#8230; có thể đã được du nhập vào tiếng Việt từ tiếp vĩ ngữ “<em>ni</em>” trong <em>bhikṣuṇī </em>hoặc <em>bhikkhunī.</em></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Thêm vào đó, chúng tôi cũng đã sử dụng dạng chữ nghiêng cho một số câu hoặc đoạn văn nhằm gợi sự chú ý của người đọc về tầm quan trọng của ý nghĩa hoặc về tính chất thực dụng của chúng. Riêng về các câu kệ ngôn, chúng tôi đã ghi nghĩa Việt bằng văn xuôi nhằm diễn tả trọn vẹn ý nghĩa của văn bản gốc.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Về văn phong của lời dịch, chúng tôi chủ trương ghi lại lời tiếng Việt sát theo văn bản gốc và cố gắng không bỏ sót từ nào không dịch. Lời văn tiếng Việt của chúng tôi có chứa đựng những mấu chốt giúp cho những ai có ý thích nghiên cứu <i>Pāḷi </i>thấy ra được cấu trúc của loại ngôn ngữ này. Việc làm này của chúng tôi không hẳn đã được hoàn hảo, dẫu sao cũng là bước khởi đầu nhằm thúc đẩy phong trào nghiên cứu cổ ngữ Phật Học của người Việt Nam. Tuy nhiên, một số sai sót trong quá trình phiên dịch đương nhiên không thể tránh khỏi, chúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về trình độ yếu kém.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhân đây, chúng tôi cũng xin chân thành ghi nhận sự quan tâm chăm sóc trực tiếp hoặc gián tiếp đối với công tác phiên dịch của chúng tôi về phương diện vật thực bồi dưỡng và thuốc men chữa bệnh của các vị hữu ân sau: Cô Phạm Thu Hương (Hồng Kông) và Phật tử Ngô Lý Vạn Ngọc (Việt Nam). Công việc soạn thảo này được thông suốt, không bị gián đoạn, chính là nhờ có sự hỗ trợ cấp thời và quý báu của quý vị. Thành tâm cầu chúc quý vị luôn giữ vững niềm tin và thành tựu được nhiều kết quả trong công việc tu tập giải thoát và hộ trì Tam Bảo.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một điều thiếu sót lớn nếu không đề cập đến sự nhiệt tình giúp đỡ của Phật tử Tung Thiên cùng với hai người bạn là Đông Triều và Hiền đã sắp xếp thời gian để đọc qua bản thảo và đã đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc giúp cho chúng tôi tránh được một số điểm vụng về trong việc sử dụng từ ngữ tiếng Việt. Nhân đây, cũng xin ghi nhận sự cúng dường cuốn Từ Điển Tiếng Việt của Đại Đức Tâm Pháp, nhờ thế đã giúp cho chúng tôi rất nhiều trong việc xác định từ ngữ được thêm phần chuẩn xác. Chúng tôi cũng xin thành tâm tùy hỷ và tán dương công đức của các thí chủ đã nhiệt tâm đóng góp tài chánh giúp cho Công Trình Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi &#8211; Việt được tồn tại và phát triến, mong sao phước báu Pháp thí này luôn dẫn dắt quý vị vào con đường tu tập đúng theo Chánh Pháp, thành tựu Chánh Trí, chứng ngộ Niết Bàn, không còn luân hồi sanh tử nữa.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nhân đây, cũng xin thành kính tri ân công đức của Ven. Wattegama Dhammawasa, Sanghanāyaka ở Australia và cũng là Tu Viện Trưởng tu viện Sri Subodharama Buddhist Centre ở Peradeniya &#8211; Sri Lanka, đã cung cấp trú xứ cho chúng tôi ở Khu Ẩn Lâm Subodha, dưới chân núi Ambuluwawa, Gampola, cách thủ đô Colombo khoảng 150 cây số. Điều kiện yên tĩnh và khí hậu mát mẻ trong lành ở đây đã giúp cho chúng tôi rất nhiều trong việc chú tâm và kiên trì thực hiện bản soạn thảo của các tập Luật. Cũng không quên nhắc đến sự phục vụ và chăm sóc về mọi mặt, nhất là vật thực của ba vị cư sĩ người Sri Lanka là Gunavardhana, Jayampati, Dayānanda ở trú xứ này đã giúp cho chúng tôi có thể tập trung toàn thời gian cho công việc phiên dịch này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Cuối cùng, ngưỡng mong phước báu phát sanh trong công việc soạn thảo tập Kinh này được thành tựu đến thầy tổ, song thân, và tất cả chúng sanh trong tam giới. Nguyện cho hết thảy đều được an vui, sức khỏe, có trí tuệ, và tinh tấn tu tập ngõ hầu thành đạt cứu cánh giải thoát, chấm dứt khổ đau.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">                                                                                                           Kính bút,</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">ngày 15 tháng 01 năm 2009</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tỳ Khưu Indacanda (Trương Đình Dũng)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">  </span></p>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><b>CÁC TỪ CHUYÊN MÔN</b></span></h3>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Một số từ chuyên môn cùng với các từ dịch nghĩa hoặc dịch âm bởi các dịch giả khác đã được trích lục và ghi lại dưới đây:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Pātimokkha</i>: giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa, biệt biệt giải thoát giới.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Pārājika</i>: tội bất cộng trụ, ba-la-di, triệt khai, ba-la-thị-ca, giới khí.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Saṅghādisesa</i>: tội tội tăng tàn, tăng tàng, tăng-già-bà-thi-sa, tăng-già-phạt-thi-sa.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Aniyata</i>: tội bất định.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Nissaggiya pācittiya</i>: tội ưng xả đối trị, ni-tát-kỳ-ba-dật-đề, ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca, giới xả đọa.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Pācittiya</i>: tội ưng đối trị, ba-dật-đề, ba-dật-để-ca, giới đọa.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Pāṭidesanīya</i>: tội ưng phát lộ, ba-la-đề đề-xá-ni, ba-dạ-đề, ba-la-để-đề-xá-ni, giới hối quá.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Sekhiya dhamma</i>: ưng học pháp, chúng-học-pháp, pháp chúng học, giới học.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Adhikaraṇa dhamma</i>: pháp diệt tranh, pháp diệt-tránh, pháp điều giải.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Thullaccaya</i>: trọng tội, tội thâu lan giá.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Dukkaṭa</i>: tội tác ác, đột cát la.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Dubbhāsita</i>: tội ác khẩu.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Parivāsa</i>: phạt biệt trú.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Mānatta</i>: hành tự hối.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Abbhāna</i>: phục vị.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Uposatha</i>: lễ Bố Tát.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; <i>Pavāraṇā</i>: lễ Tự Tứ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">  </span></p>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">CÁC CHỮ VIẾT TẮT</span></strong></span></h3>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">           VinA.               : <em>Vinaya Aṭṭhakathā </em>(<em>Samantapāsādikā</em>)</span><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> &#8211; Chú Giải Tạng Luật (PTS)</span></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">           ND                  : Chú thích của Người Dịch</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">           PTS                 : Nhà Xuất Bản <em>Pali Text Society</em> (Anh Quốc)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">           Sđd.                 : Sách đã dẫn</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">           TTPV                : Tam Tạng Pāḷi &#8211; Việt</span></p>
<blockquote><p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p></blockquote>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<blockquote><p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p></blockquote>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG VERAÑJĀ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-1-veranja/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:06:48 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=57924</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 1: Verañjā Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri! ]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> Chương 1: Verañjā</span></strong></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri! </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Verañjā, ở cội cây Nimba của Dạ-xoa Naḷeru,[1]cùng với đại chúng tỳ khưu có số lượng năm trăm vị tỳ khưu. Vị Bà-la-môn Verañja đã nghe được rằng: “Chắn chắn là ngài Sa-môn Gotama, con trai dòng Sakya, từ dòng dõi Sakya đã xuất gia, và hiện ngự tại Verañjā, ở cội cây Nimba của Dạ-xoa Naḷeru, cùng với đại chúng tỳ khưu có số lượng năm trăm vị tỳ khưu. Tiếng tăm tốt đẹp về Ngài Gotama ấy đã được lan rộng ra như vầy: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Tối Thượng Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Với thắng trí của mình, vị ấy chứng ngộ và công bố về thế gian này tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Vị ấy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự. Vị ấy giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ. Tốt thay cho việc diện kiến các vị A-la-hán như thế ấy!”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">2. Sau đó, Bà-la-môn Verañja đã đi đến gặp đức Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện đã ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Verañja đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Thưa Ngài Gotama, tôi đã được nghe điều này: ‘Sa-môn Gotama không cung kính, hoặc không đứng dậy, hoặc không mời chỗ ngồi đến các vị Bà-la-môn già cả, uy tín, lớn tuổi, sống thọ, đã đạt đến giai đoạn cuối của cuộc đời.’ Thưa Ngài Gotama, điều ấy thật đúng như thế! Bởi vì Ngài Gotama không cung kính, hoặc không đứng dậy, hoặc không mời chỗ ngồi đến các vị Bà-la-môn già cả, uy tín, lớn tuổi, sống thọ, đã đạt đến giai đoạn cuối của cuộc đời. Thưa Ngài Gotama, điều ấy thật không thích đáng!”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">3. &#8211; “Này Bà-la-môn, trong thế gian tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, Ta không thấy một ai mà Ta có thể cung kính, hoặc có thể đứng dậy, hoặc có thể mời chỗ ngồi. Này Bà-la-môn, bởi vì nếu Như Lai cung kính, hoặc đứng dậy, hoặc mời chỗ ngồi người nào thì đầu của người ấy sẽ bị vỡ tan.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">4. &#8211; “Ngài Gotama không biết về phẩm chất!” &#8211; “Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không biết về phẩm chất.’ Này Bà-la-môn, các phẩm chất về sắc, các phẩm chất về thinh, các phẩm chất về hương, các phẩm chất về vị, các phẩm chất về xúc, đối với Như Lai các việc ấy đã được dứt bỏ, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không biết về phẩm chất;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.”[2]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">5. &#8211; “Ngài Gotama không biết thưởng thức!” &#8211; “Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không biết thưởng thức.’ Này Bà-la-môn, các sự thưởng thức về sắc, các sự thưởng thức về thinh, các sự thưởng thức về hương, các sự thưởng thức về vị, các sự thưởng thức về xúc, đối với Như Lai các việc ấy đã được dứt bỏ, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không biết thưởng thức;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">6. &#8211; “Ngài Gotama thuyết về không hành động!” &#8211; “Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama thuyết về không hành động.’ Này Bà-la-môn, bởi vì Ta thuyết về không hành động đối với việc làm ác do thân, đối với lời nói ác do miệng, đối với suy nghĩ ác do ý; Ta thuyết về không hành động của các pháp ác và bất thiện có nhiều dạng. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama thuyết về không hành động;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">7. &#8211; “Ngài Gotama thuyết về đoạn diệt!”[3] &#8211; “Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama thuyết về đoạn diệt.’ Này Bà-la-môn, bởi vì Ta thuyết về sự đoạn diệt của luyến ái, của sân hận, của si mê; Ta thuyết về sự đoạn diệt của các pháp ác và bất thiện có nhiều dạng. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama thuyết về đoạn diệt;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">8. &#8211; “Ngài Gotama có sự ghê tởm!” &#8211; “Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama có sự ghê tởm.’ Này Bà-la-môn, bởi vì Ta ghê tởm với việc làm ác do thân, với lời nói ác do miệng, với suy nghĩ ác do ý; Ta ghê tởm đối với sự thành tựu của các pháp ác và bất thiện có nhiều dạng. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama có sự ghê tởm;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">9. &#8211; “Ngài Gotama là người cách ly!” &#8211; “Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người cách ly.’ Này Bà-la-môn, bởi vì Ta thuyết về pháp đưa đến sự cách ly đối với luyến ái, đối với sân, đối với si; Ta thuyết về pháp đưa đến sự cách ly đối với các pháp ác và bất thiện có nhiều dạng. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người cách ly;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">10. &#8211; “Ngài Gotama là người thiêu đốt!” &#8211; “Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thiêu đốt.’ Này Bà-la-môn, Ta thuyết rằng các pháp ác và bất thiện tức là việc làm ác do thân, lời nói ác do miệng, và suy nghĩ ác do ý cần được thiêu đốt. Này Bà-la-môn, người nào có các pháp ác và bất thiện cần được thiêu đốt đã được diệt tận, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai; Ta gọi người ấy là: ‘Người thiêu đốt.’ Này Bà-la-môn, các pháp ác và bất thiện cần được thiêu đốt của Như Lai đã được dứt bỏ, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thiêu đốt;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">11. &#8211; “Ngài Gotama là người thoát khỏi bào thai!” &#8211; “Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thoát khỏi bào thai.’ Này Bà-la-môn, sự sanh vào bào thai trong ngày vị lai của người nào, tức là sự tái sanh và hiện hữu lần nữa đã được dứt bỏ, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai; Ta gọi người ấy là: ‘Người thoát khỏi bào thai.’ Này Bà-la-môn, sự sanh vào bào thai trong ngày vị lai của Như Lai, tức là sự tái sanh và hiện hữu lần nữa đã được dứt bỏ, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thoát khỏi bào thai;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">12. Này Bà-la-môn, cũng giống như con gà mái có được tám, hoặc mười, hoặc mười hai quả trứng. Nếu con gà mái nằm lên trên chúng đúng cách, ủ nóng đều đúng cách, ấp đúng cách, và trong số các con gà con mới nở ấy, con nào dùng vuốt của móng chân hoặc mỏ phá vỡ vỏ trứng và nở ra an toàn trước tiên, thì điều nên nói về con gà con ấy là thế nào, lớn nhất hay nhỏ nhất?” &#8211; “Thưa Ngài Gotama, nên gọi nó là ‘con lớn nhất’ bởi vì nó lớn nhất trong bầy.” &#8211; “Này Bà-la-môn, cũng tương tợ như thế trong số chúng sanh sống trong vô minh (ví như) đang ở trong quả trứng và bị trùm kín lại, Ta là người duy nhất đã phá vỡ vỏ trứng vô minh và chứng đắc quả vị Chánh Đẳng Giác vô thượng ở trên đời. Này Bà-la-môn, chính Ta đây là người đứng đầu và cao cả nhất của thế gian.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">13. Này Bà-la-môn, hơn nữa Ta đã có sự tinh tấn bền vững không bị trì trệ, có niệm được thiết lập không bị xao lãng, có thân được khinh an không còn rạo rực, có tâm được định tĩnh tập trung. Này Bà-la-môn, quả vậy sau khi đã tách ly khỏi các dục và tách ly khỏi các pháp bất thiện, Ta đây đã chứng đạt và trú thiền thứ nhất với hỷ và lạc sanh lên do tách ly (khỏi các triền cái), có tầm, có tứ. Do sự yên lặng của tầm và tứ, Ta đã chứng đạt và trú thiền thứ hai với nội phần an tĩnh, tâm được chuyên nhất, có hỷ và lạc sanh lên do định, không tầm, không tứ. Và do sự không còn tham muốn ở hỷ, với xả Ta đã trú. Có niệm và tỉnh giác, Ta đã chứng nghiệm trạng thái lạc bằng thân, đó là điều mà các bậc Thánh nói rằng: ‘Vị ấy có xả, có niệm, có sự trú vào lạc;’ Ta đã chứng đạt và trú thiền thứ ba. Do sự từ bỏ lạc, do sự từ bỏ khổ (của thân), do sự biến mất của hỷ và ưu ở tâm (đã có) trước đây, Ta đã chứng đạt và trú thiền thứ tư với sự thanh tịnh của xả và niệm, không khổ không lạc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">14. Trong khi tâm được định tĩnh, thuần tịnh, trong sạch, không ô nhiễm, lìa khỏi phiền não, nhu thuận, có thể sử dụng, ổn định, đạt đến trạng thái vững chắc như thế, Ta đây đã hướng dẫn tâm đến trí tuệ ghi nhớ về các kiếp sống trước. Ta nhớ lại nhiều kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh, ba lần sanh, bốn lần sanh, năm lần sanh, mười lần sanh, hai mươi lần sanh, ba mươi lần sanh, bốn mươi lần sanh, năm mươi lần sanh, một trăm lần sanh, một ngàn lần sanh, một trăm ngàn lần sanh, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp: ‘Ở nơi ấy, Ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ chỗ ấy, Ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại chỗ kia. Ở nơi kia, Ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ nơi kia, Ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại nơi này.’ Như thế, Ta nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét đại cương và cá biệt. Này Bà-la-môn, quả vậy vào canh đầu của đêm Ta đã chứng đạt Minh thứ nhất này, vô minh được diệt tận, minh được sanh khởi, bóng tối được diệt tận, ánh sáng được sanh khởi. Như thế ấy là điều (Ta đã thành đạt) trong lúc Ta sống không xao lãng, nỗ lực, quyết tâm. Này Bà-la-môn, chính điều này đã là sự khai mở đầu tiên của Ta, tương tợ như con gà con thoát ra từ vỏ trứng vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">15. Trong khi tâm được định tĩnh, thuần tịnh, trong sạch, không ô nhiễm, lìa khỏi phiền não, nhu thuận, có thể sử dụng, ổn định, đã đạt đến trạng thái vững chắc như thế, Ta đây đã hướng dẫn tâm đến trí về sự sanh tử của chúng sanh. Bằng Thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, Ta đây nhìn thấy các chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, sung sướng, (hay) đau khổ, Ta biết được rằng các chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng (như vầy):</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Quả đúng như vậy, những chúng sanh đang hiện hữu này có hành động xấu xa bằng thân, có hành động xấu xa bằng lời nói, có suy nghĩ xấu xa bằng ý, vu khống các bậc Thánh, theo tà kiến, tán thành các hành động do tà kiến. Những kẻ ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Trái lại, những chúng sanh đang hiện hữu này có hành động tốt đẹp bằng thân, có hành động tốt đẹp bằng lời nói, có suy nghĩ tốt đẹp bằng ý, không vu khống các bậc Thánh, theo chánh kiến, tán thành các hành động do chánh kiến. Những người ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, được sanh vào chốn an vui, cõi trời, loài người.’ </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Như thế, bằng Thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, Ta nhìn thấy các chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, sung sướng, (hay) đau khổ, Ta biết được rằng các chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng. Này Bà-la-môn, quả vậy vào canh giữa của đêm Ta đã chứng đạt Minh thứ hai này, vô minh được diệt tận, minh được sanh khởi, bóng tối được diệt tận, ánh sáng được sanh khởi. Như thế ấy là điều (Ta đã thành đạt) trong lúc Ta sống không xao lãng, nỗ lực, quyết tâm. Này Bà-la-môn, chính điều này đã là sự khai mở thứ hai của Ta, tương tợ như con gà con thoát ra từ vỏ trứng vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">16. Trong khi tâm được định tĩnh, thuần tịnh, trong sạch, không ô nhiễm, lìa khỏi phiền não, nhu thuận, có thể sử dụng, ổn định, đã đạt đến trạng thái vững chắc như thế, Ta đây đã hướng dẫn tâm đến trí tuệ đoạn tận các lậu hoặc. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là Khổ’ đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là nguyên nhân của Khổ’ đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là sự Diệt Khổ’ đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự Diệt Khổ’ đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là các lậu hoặc’ đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’ đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là sự diệt tận các lậu hoặc’ đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc’ đúng theo bản thể thật. Trong khi Ta đây biết được như thế, thấy được như thế, thì tâm cũng đã được giải thoát khỏi dục lậu, tâm cũng đã được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm cũng đã được giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi đã được giải thoát, trí của Ta đây đã khởi lên rằng: ‘Đã được giải thoát.’ Và Ta đã biết rõ rằng: ‘Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì khác cho việc (giải thoát) này nữa.’ Này Bà-la-môn, quả vậy vào canh cuối của đêm Ta đã chứng đạt Minh thứ ba này, vô minh được diệt tận, minh được sanh khởi, bóng tối được diệt tận, ánh sáng được sanh khởi. Như thế ấy là điều (Ta đã thành đạt) trong lúc Ta sống không xao lãng, nỗ lực, quyết tâm. Này Bà-la-môn, chính điều này đã là sự khai mở thứ ba của Ta, tương tợ như con gà con thoát ra từ vỏ trứng vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">17. Khi được nói như thế, Bà-la-môn Verañja đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Ngài Gotama là vị đứng đầu, Ngài Gotama là người cao cả nhất. Bạch Ngài Gotama, thật là tuyệt vời! Bạch Ngài Gotama, thật là tuyệt vời! Bạch Ngài Gotama, cũng giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, hoặc đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): ‘Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng;’ tương tợ như thế, Pháp đã được Ngài Gotama giảng rõ bằng nhiều phương tiện. Tôi đây đi đến nương nhờ Ngài Gotama, Giáo Pháp, và Hội Chúng tỳ khưu. Xin Ngài Gotama chấp nhận tôi là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Xin Ngài Gotama hãy nhận lời tôi về việc cư trú mùa mưa ở Verañjā cùng với hội chúng tỳ khưu.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">18. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn, Bà-la-môn Verañja đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">19. Vào lúc bấy giờ, xứ Verañjā có sự khan hiếm về vật thực, khó kiếm ăn, có dịch bệnh,[4]thẻ vật thực được phân phối, không dễ sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Vào lúc bấy giờ, có những người buôn ngựa từ xứ Uttarāpatha đã đến cư trú mùa mưa ở Verañjā cùng với năm trăm con ngựa. Ở các bãi nhốt ngựa, họ có chuẩn bị từng phần lúa mạch[5] cho các vị tỳ khưu. Vào buổi sáng, các vị tỳ khưu mặc y cầm y bát rồi đi vào trong thành Verañjā để khất thực. Khi không nhận được đồ ăn khất thực, các vị đi đến khất thực ở các bãi nhốt ngựa và mang về tu viện (mỗi vị) một phần lúa mạch. Các vị giã đi giã lại trong cối giã rồi thọ dụng. Đại đức Ānanda nghiền phần lúa mạch ở tảng đá rồi dâng lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn thọ dụng thức ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">20. Quả vậy, đức Thế Tôn đã nghe tiếng cối giã. Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi. Các đấng Như lai hỏi có liên quan đến lợi ích và không (hỏi việc) không có liên quan đến lợi ích. Khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách để cắt đứt vấn đề. Chư Phật Thế Tôn hỏi các vị tỳ khưu bởi hai lý do: “Chúng ta sẽ thuyết Pháp hoặc sẽ quy định điều học cho các đệ tử.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng: &#8211; “Này Ānanda, tiếng cối giã ấy là gì vậy?” Khi ấy, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này Ānanda, tốt lắm! Tốt lắm! Này Ānanda, (điều ấy) đã được khắc phục bởi các ngươi là những người hoàn thiện. Về sau này, con người sẽ chê bai cơm gạo sāli và thịt.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">21. Sau đó, đại đức Mahāmoggallāna đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch Ngài, hiện nay Verañjā có sự khan hiếm về vật thực, khó kiếm ăn, có dịch bệnh, thẻ vật thực được phân phối, không dễ sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Bạch Ngài, bề mặt bên dưới của đại địa cầu này có chất như là mật ong, không cặn bã, và có hương vị y như thế. Bạch Ngài, thật tốt thay nếu con lật ngửa quả địa cầu ra (để rồi) các tỳ khưu sẽ thọ dụng chất bổ dưỡng (ấy).”<sup>[6]</sup></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Moggallāna, còn các chúng sanh sống ở quả địa cầu thì ngươi sẽ giải quyết thế nào?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch Ngài, con sẽ biến hoá một bàn tay trở thành giống như đại địa cầu và sẽ di chuyển chúng sanh sống ở quả địa cầu đến đó, rồi con sẽ lật ngửa quả địa cầu ra bằng cánh tay kia.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Moggallāna, thôi đi. Ngươi chớ thích thú để lật ngửa quả địa cầu ra nữa khiến chúng sanh sẽ phải gánh chịu sự xáo trộn.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch Ngài, thật tốt thay nếu tất cả hội chúng tỳ khưu có thể đi đến Uttarakuru để khất thực.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Moggallāna, thôi đi. Ngươi chớ thích thú đến việc đi đến Uttarakuru để khất thực của toàn bộ hội chúng tỳ khưu nữa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">22. Khi ấy, đại đức Sāriputta trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã khởi lên: “Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã không tồn tại lâu dài? Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã tồn tại lâu dài?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">23. Sau đó vào lúc chiều tối, đại đức Sāriputta khi xuất khỏi thiền tịnh đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Sāriputta đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch Ngài, trường hợp con trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã khởi lên: ‘Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã không tồn tại lâu dài? Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã tồn tại lâu dài?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">24. Bạch Ngài, vậy thì Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã không tồn tại lâu dài? Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã tồn tại lâu dài?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Sāriputta, Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Vipassī, thời đức Thế Tôn Sikhī, và thời đức Thế Tôn Vessabhū đã không tồn tại lâu dài. Này Sāriputta, Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Kakusandha, thời đức Thế Tôn Konāgamana, và thời đức Thế Tôn Kassapa đã tồn tại lâu dài.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">25. &#8211; “Bạch Ngài, vậy do nhân gì, do duyên gì khiến Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Vipassī, thời đức Thế Tôn Sikhī, và thời đức Thế Tôn Vessabhū đã không tồn tại lâu dài?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">26. &#8211; “Này Sāriputta, đức Thế Tôn Vipassī, đức Thế Tôn Sikhī, và đức Thế Tôn Vessabhū đã không ra sức để thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết đến các đệ tử và các vị ấy đã có ít suttaṃ, geyyaṃ, veyyākaraṇaṃ, gāthā, udānaṃ, itivuttakaṃ, jātakaṃ, abbhutadhammaṃ, vedallaṃ.[7] Điều học cho các đệ tử đã không được quy định và giới bổn Pātimokkha đã không được công bố.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">27. Với sự tịch diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các vị ấy đã khiến cho Phạm hạnh ấy biến mất thật nhanh chóng. Này Sāriputta, cũng giống như nhiều bông hoa khác nhau được đặt xuống ở trên tấm ván sàn và không được kết lại với nhau bằng sợi chỉ, cơn gió (sẽ) làm phân tán, làm tung toé, và hủy hoại chúng. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Này Sāriputta, giống như việc (các bông hoa) không được kết lại với nhau bằng sợi chỉ, này Sāriputta tương tợ y như thế với sự tịch diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các vị ấy đã khiến cho Phạm hạnh ấy biến mất thật nhanh chóng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">28. Và chư Phật Thế Tôn ấy (chỉ) ra sức dùng tâm biết được tâm để giáo huấn các đệ tử. Này Sāriputta, trong thời quá khứ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Vessabhū, ở trong khu rừng ghê rợn nọ, dùng tâm biết được tâm rồi giáo huấn và chỉ dạy hội chúng tỳ khưu một ngàn vị rằng: ‘Hãy suy tầm như vầy.[8] Chớ suy tầm như thế.[9] Hãy tác ý như vầy.[10] Chớ tác ý như thế.[11] Hãy từ bỏ điều này.[12] Hãy thành tựu rồi an trú điều này.’[13] Này Sāriputta, khi ấy trong lúc được đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Vessabhū giáo huấn như thế chỉ dạy như thế, các tâm của một ngàn vị tỳ khưu ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Này Sāriputta, vào trường hợp ấy trong khi đã bị kinh sợ đối với khu rừng ghê rợn, người nào chưa dứt bỏ ái dục đi vào khu rừng ấy thì hầu hết các sợi lông sẽ dựng đứng lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">29. Này Sāriputta, đây là nhân đây là duyên khiến Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Vipassī, thời đức Thế Tôn Sikhī, và thời đức Thế Tôn Vessabhū đã không tồn tại lâu dài.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">30. &#8211; “Bạch Ngài, vậy do nhân gì, do duyên gì khiến Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Kakusandha, thời đức Thế Tôn Konāgamana, và thời đức Thế Tôn Kassapa đã tồn tại lâu dài?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">31. &#8211; “Này Sāriputta, đức Thế Tôn Kakusandha, đức Thế Tôn Konāgamana, và đức Thế Tôn Kassapa đã ra sức để thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết đến các đệ tử và các vị ấy đã có nhiều suttaṃ, geyyaṃ, veyyākaraṇaṃ, gāthā, udānaṃ, itivuttakaṃ, jātakaṃ, abbhūtadhammaṃ, vedallaṃ. Điều học cho các Thinh Văn đã được quy định và giới bổn Pātimokkha đã được công bố.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">32. Với sự tịch diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các vị ấy đã duy trì Phạm hạnh ấy lâu dài và trường cửu. Này Sāriputta, cũng giống như nhiều bông hoa khác nhau được đặt xuống ở trên tấm ván sàn và được kết lại với nhau bằng sợi chỉ, cơn gió (sẽ) không làm tản mác, không làm tung toé, và không hủy hoại chúng. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Này Sāriputta, giống như việc (các bông hoa) được kết lại với nhau bằng sợi chỉ; này Sāriputta tương tợ như thế với sự tịch diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các vị ấy đã duy trì Phạm hạnh ấy lâu dài và trường cửu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">33. Này Sāriputta, đây là nhân, đây là duyên khiến Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Kakusandha, thời đức Thế Tôn Konāgamana, và thời đức Thế Tôn Kassapa đã tồn tại lâu dài.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">34. Sau đó, đại đức Sāriputta đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch đức Thế Tôn, nay là thời điểm của việc ấy. Bạch đấng Thiện Thệ, nay là thời điểm của việc ấy, (tức là thời điểm) đức Thế Tôn nên quy định điều học cho các đệ tử, nên công bố giới bổn Pātimokkha; như thế Phạm hạnh này có thể được tiếp tục và tồn tại lâu dài.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">35. &#8211; “Này Sāriputta, ngươi hãy chờ đợi! Này Sāriputta, ngươi hãy chờ đợi! Trong trường hợp ấy, chỉ có Như Lai mới biết thời điểm. Này Sāriputta, cho đến khi nào ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện ở hội chúng thì cho đến khi ấy bậc Đạo Sư chưa quy định điều học cho các đệ tử và chưa công bố giới bổn Pātimokkha. Này Sāriputta, chính bởi vì ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện ở hội chúng nên bậc Đạo Sư quy định điều học cho các đệ tử và công bố giới bổn Pātimokkha nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">36. Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự lớn mạnh về số lượng thì cho đến khi ấy ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện ở hội chúng. Này Sāriputta, chính bởi vì hội chúng đạt đến sự đông đảo về số lượng nên ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện ở hội chúng, nên bậc Đạo Sư quy định điều học cho các đệ tử và công bố giới bổn Pātimokkha nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">37. Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự lớn mạnh về việc phát triển thì cho đến khi ấy ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện ở hội chúng. Này Sāriputta, chính bởi vì hội chúng đạt đến sự lớn mạnh về việc phát triển nên ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện ở hội chúng, nên bậc Đạo Sư quy định điều học cho các đệ tử và công bố giới bổn Pātimokkha nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">38. Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự dồi dào về lợi lộc thì cho đến khi ấy ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện ở hội chúng. Này Sāriputta, chính bởi vì hội chúng đạt đến sự dồi dào về lợi lộc nên ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện ở hội chúng, nên bậc Đạo Sư quy định điều học cho các đệ tử và công bố giới bổnPātimokkha nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">39. Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự lớn mạnh về việc học nhiều thì cho đến khi ấy ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện ở hội chúng. Này Sāriputta, chính bởi vì hội chúng đạt đến sự lớn mạnh về việc học nhiều nên ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện ở hội chúng, nên bậc Đạo Sư quy định điều học cho các đệ tử và công bố giới bổn Pātimokkha nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">40. Này Sāriputta, bởi vì hội chúng tỳ khưu không có ô nhiễm, không có tội lỗi, có ác pháp đã lìa, được trong sạch, đã an trú vào mục đích.[14] Này Sāriputta, bởi vì trong số năm trăm tỳ khưu này, vị tỳ khưu thấp nhất (đã) là vị Nhập Lưu, không còn pháp bị đọa, được bền vững, và hướng đến sự giác ngộ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">41. Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng: &#8211; “Này Ānanda, điều này quả nhiên đã trở thành thông lệ của các đấng Như Lai là khi các vị cư trú mùa mưa do những ai đã thỉnh mời thì các vị không ra đi du hành trong xứ sở khi chưa thông báo cho những người ấy. Này Ānanda, chúng ta sẽ thông báo cho Bà-la-môn Verañja này.” &#8211; “Bạch Ngài, xin vâng.” Đại đức Ānanda đã đáp lời đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">42. Sau đó, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát cùng với đại đức Ānanda là Sa-môn thị giả đi đến tư gia của Bà-la-môn Verañja, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">43. Khi ấy, Bà-la-môn Verañja đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã nói với Bà-la-môn Verañja đang ngồi một bên điều này: &#8211; “Này Bà-la-môn, được ông thỉnh mời chúng tôi đã trú qua mùa mưa. Giờ chúng tôi thông báo ông rằng chúng tôi muốn ra đi du hành trong xứ sở.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">44. &#8211; “Bạch Ngài Gotama, sự thật là các vị đã được tôi thỉnh mời và đã trú qua mùa mưa. Tuy nhiên, việc cúng dường là chưa được dâng cúng. Và điều ấy quả không phải là không có vật bố thí, cũng không phải là không có lòng bố thí. Trong trường hợp này làm sao có thể đạt được điều ấy? Bởi vì cuộc sống tại gia có nhiều phận sự và có nhiều việc cần phải làm. Xin Ngài Gotama nhận lời buổi trai phạn của tôi vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">45. Sau đó, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Bà-la-môn Verañja bằng bài Pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">46. Sau đó, khi trải qua đêm ấy Bà-la-môn Verañja đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm tại tư gia của mình rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn rằng: &#8211; “Bạch Ngài Gotama, đã đến giờ. Thức ăn đã chuẩn bị xong.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">47. Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y cầm y bát đi đến tư gia của Bà-la-môn Verañja, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu. Sau đó, Bà-la-môn Verañja đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời bình bát, Bà-la-môn Verañja đã choàng lên đức Thế Tôn với ba y và đã choàng lên mỗi một vị tỳ khưu với một xấp vải đôi. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Bà-la-môn Verañja bằng bài Pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">48. Sau đó, khi đã ngụ tại Verañjā theo như ý thích, đức Thế Tôn đã đi dọc theo Soreyya, Saṅkassa, Kaṇṇakujja, và đến được bến đò Payāga.[15] Sau khi đến nơi, Ngài đã vượt qua sông Gaṅgā tại bến đò Payāga và đã ngự đến thành Bārāṇasī. Sau đó, khi đã ngụ tại thành Bārāṇasī theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến thành Vesālī. Trong khi tuần tự du hành, Ngài đã ngự đến thành Vesālī. Tại nơi ấy, trong thành Vesālī, đức Thế Tôn ngụ tại Mahāvana, nơi giảng đường Kūṭāgāra.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm Verañjā.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Theo ngài Buddhaghosa, Verañjā là tên của một thành phố, Pucimanda là cây Nimba (Từ điển Pāli-English của Pali Text Society cho biết đó là một loại cây có lá đắng và gỗ cứng), Naḷeru là tên của một Dạ-xoa, và đức Thế Tôn đã đi đến và ngự ở khu vực lân cận của cây ấy (Vin.A. i, 108-109).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Ông Bà-la-môn dùng từ arasarūpo để chỉ trích đức Phật sống không thuận theo tập quán là người trẻ nên cung kính, hoặc đứng dậy, hoặc mời chỗ ngồi đối với các vị già cả, uy tín, v.v&#8230; (VinA. i, 131-132). Còn đức Thế Tôn cũng sử dụng lại từ arasarūpo nhưng giải thích là Ngài sống không còn bị vướng bận bởi sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc, là năm đối tượng thích ý đã được tầm cầu bởi năm giác quan là mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân. Ở các phần kế tiếp, khi chỉ trích đức Phật là “không biết thưởng thức,” “thuyết về không hành động,” “có sự ghê tởm,” “là người từ bỏ,” là người thiêu đốt,” vị Bà-la-môn cũng nhằm mục đích ám chỉ việc đức Phật sống không theo tập quán, nghĩa là không cung kính, hoặc không đứng dậy, hoặc không mời chỗ ngồi đến các vị già cả, uy tín, v.v&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Vị bà-la-môn chỉ trích rằng đức Phật thuyết về đoạn kiến (ucchedavāda) chủ trương sau đời này không có đời khác (VinA. i, 134).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Chú Giải ghi rằng: “Có nhiều xương trắng nằm rải rác vì có quá nhiều người chết đói hoặc là tên của một loại bệnh mốc trắng ở cây lúa” (VinA. i, 174-175).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Theo ngài Buddhaghosa, lúa mạch (pukakaṃ) này đã được tách vỏ trấu và hấp chín. Các người buôn ngựa đem theo lúa mạch để cho ngựa ăn ở những vùng không kiếm ra cỏ và họ đã xén phần ăn sáng của ngựa để dâng đến các vị tỳ khưu (VinA. i, 176). Mỗi phần lúa mạch như vậy là 1 pattha (đơn vị đo thể tích). Pattha là phần vật thực có khả năng nuôi sống một người trong ngày, bằng lượng chứa của một nālī. (VinA. i, 176). Ngài Mahāsamaṇa Chao giải thích ở tác phẩm Vinayamukha thì pattha có thể tích bằng hai bàn tay bụm lại (tập I, 236).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] pappoṭakojaṃ = patṭhavimaṇḍaṃ, dịch chất tiết ra từ trái đất (VinA. i, 182).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Ở tài liệu Saddhammasaṅgaha &#8211; Diệu Pháp Yếu Lược có lời giải thích chi tiết về chín thể loại này như sau: “Thế nào là có chín phần khi nói về Thể (aṅga)? Bởi vì toàn bộ gồm có chín hình thức khác biệt, đó là sutta, geyya, veyyākaraṇa, gāthā, udāna, itivuttaka, jātaka, abbhūtadhamma, vedalla. Trong trường hợp này, Ubhatovibhaṅga, Niddesa, Khandhaka, Parivāra, các bài kinh Maṅgalasutta, Ratanasutta, Nalakasutta, Tuvaṭakasutta trong Suttanipāta &#8211; Kinh Tập, và các lời dạy của đấng Như Lai có tựa đề là Kinh (suttaṃ) thì được xếp vào thể SUTTA. Các bài Kinh có xen các bài kệ vào được biết là thể GEYYA; đặc biệt toàn bộ Thiên Có Kệ (Sagāthāvagga) trong Kinh Tương Ưng Bộ là thể GEYYA. Toàn bộ Tạng Vi Diệu Pháp, các bài kinh không có xen các bài kệ, và các lời dạy khác của đức Phật không thuộc tám loại trên được xếp vào thể VEYYĀKARAṆA. Kinh Pháp Cú, Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, các bài có tên là kinh nhưng chỉ là kệ trong Suttanipāta &#8211; Kinh Tập thì được xếp vào thể GĀTHĀ. Tám mươi hai bài kinh liên quan đến các bài kệ do tuệ giác hoan hỷ được xếp vào thể UDĀNA. Một trăm mười hai bài kinh được giới thiệu bằng: “Vuttaṃ h’ etaṃ Bhagavatā ti” (Đức Thế Tôn thuyết về điều ấy như vầy) thì được xếp vào thể ITIVUTTAKA. Năm trăm năm mươi bài kinh Bổn Sanh bắt đầu bằng Bổn Sanh Apannaka được xếp vào thể JĀTAKA. Tất cả các bài kinh liên quan đến pháp kỳ diệu phi thường và được giới thiệu như sau: “Này các tỳ khưu, có bốn pháp kỳ diệu phi thường ở Ānanda,” được xếp vào thểABBHŪTADHAMMA. Tất cả các bài kinh được hỏi và được liên tục ghi nhận trong sự hiểu biết và hoan hỷ như các bài kinh Cullavedalla, Mahāvedalla, Sammādiṭṭhi, Sakkapañhā, Saṅkhāra-bhājaniya, Mahāpuṇṇama, v.v…được xếp vào thể VEDALLA. Như thế khi đề cập đến Thể thì có chín phần” (Saddhammasaṅgaha &#8211; Diệu Pháp Yếu Lược, Chương I, câu 28).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Suy tầm về ly dục, suy tầm về vô sân, và suy tầm vô hại (VinA. i, 188).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Chớ suy tầm về ngũ dục, chớ suy tầm về sân hận, chớ suy tầm về hãm hại (Sđd.).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[10] Tác ý đến vô thường, tác ý đến khổ não, tác ý đến vô ngã, tác ý đến bất tịnh (Sđd.).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[11] Chớ tác ý đến bốn điều đối nghịch trên là: thường, lạc, ngã, tịnh (Sđd.).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[12] Hãy từ bỏ bất thiện pháp (Sđd.).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[13] Hãy thành tựu và an trú vào thiện pháp (Sđd.).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[14] Đã an trú vào mục đích (sāre patiṭṭhito): được giải thích là: Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, và Tri kiến về sự giải thoát (VinA. i, 195).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[15] Payāga là một thị trấn ở bên bờ sông Gaṅgā, nay là thành phố Allahabad (ND).</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG PĀRĀJIKA: ĐIỀU PĀRĀJIKA THỨ NHẤT</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-2-parajika/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:09:37 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=57933</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 2: Pārājika (Ở đây, bốn điều Pārājika này được đưa ra đọc tụng)]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span> </span></strong></h2>
<h3><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương 2: Pārājika</span></h3>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Ở đây, bốn điều <i>Pārājika</i> này được đưa ra đọc tụng)</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều Pārājika Thứ Nhất </span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">1. Vào lúc bấy giờ, ở không xa thành Vesālī có ngôi làng tên là Kalanda. Ở nơi ấy, có người con trai nhà đại phú tên là Sudinna Kalandaputta. Khi ấy, Sudinna Kalandaputta đã đi đến Vesālī cùng với nhiều người bạn vì công việc cần làm nào đó. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, được vây quanh bởi hội chúng đông đảo, đang ngồi thuyết giảng Giáo Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">2. Sudinna Kalandaputta đã nhìn thấy đức Thế Tôn được vây quanh bởi hội chúng đông đảo đang ngồi thuyết giảng Giáo Pháp. Sau khi nhìn thấy, anh ta đã khởi ý điều này:[16] “Hay là ta cũng nên nghe Pháp?” Khi ấy, Sudinna Kalandaputta đã đi đến gần hội chúng ấy, sau khi đến đã ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Sudinna Kalandaputta đã khởi ý điều này: “Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì việc này không phải là dễ làm đối với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh như vỏ ốc được cạo sạch. Hay là ta nên cạo bỏ râu tóc, khoác lên các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">3. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, hội chúng ấy đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, và ra đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">4. Sau đó, khi hội chúng đã đứng dậy không bao lâu, Sudinna Kalandaputta đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Sudinna Kalandaputta đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch Ngài, theo như con hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì việc này không phải là việc dễ làm đối với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh như vỏ ốc được cạo sạch. Bạch Ngài, con muốn cạo bỏ râu tóc, khoác lên các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà. Xin đức Thế Tôn hãy (làm lễ) xuất gia cho con.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Sudinna, vậy ngươi đã được mẹ và cha cho phép về việc rời nhà xuất gia sống không nhà chưa?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch Ngài, con chưa được mẹ và cha cho phép về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Sudinna, các đức Như Lai không (làm lễ) xuất gia cho người con trai chưa được mẹ và cha cho phép.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch Ngài, bằng cách nào khiến mẹ và cha sẽ cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà thì con đây sẽ làm theo cách ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">5. Sau đó, khi đã hoàn tất công việc cần làm ấy ở Vesālī, Sudinna Kalandaputta đã đi về lại làng Kalanda đến gặp mẹ và cha, sau khi đến đã nói với mẹ và cha điều này: &#8211; “Mẹ và cha à, theo như con hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì việc này không phải là việc dễ làm đối với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh như vỏ ốc được cạo sạch. Con muốn cạo bỏ râu tóc, khoác lên các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà. Hãy cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.” Khi được nói như thế, mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta đã nói với Sudinna Kalandaputta điều này: &#8211; “Này Sudinna thương, con chính là con trai một, yêu dấu, quý mến của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna thương, con không biết bất cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha đành phải xa con một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc con đang còn sống mẹ và cha lại cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà được?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">6. Đến lần thứ nhì, ―(như trên)― Đến lần thứ ba, Sudinna Kalandaputta đã nói với mẹ và cha điều này: &#8211; “Mẹ và cha à, theo như con hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì việc này không phải là việc dễ làm đối với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh như vỏ ốc được cạo sạch. Con muốn cạo bỏ râu tóc, khoác lên các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà. Hãy cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.” Đến lần thứ ba, mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta đã nói với Sudinna Kalandaputta điều này: &#8211; “Này Sudinna thương, con chính là con trai một, yêu dấu, quý mến của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna thương, con không biết bất cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha đành phải xa con một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc con đang còn sống mẹ và cha lại cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà được?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">7. Khi ấy, Sudinna Kalandaputta (nghĩ rằng): “Mẹ và cha không cho phép ta về việc rời nhà xuất gia sống không nhà!” rồi đã nằm xuống ngay tại chỗ ấy, ở trên nền đất không có trải lót (nói rằng): &#8211; “Đối với tôi, hoặc là sẽ xảy ra cái chết ngay tại nơi đây, hoặc là sự xuất gia.” Sau đó, Sudinna Kalandaputta đã không ăn một bữa, đã không ăn hai bữa, đã không ăn ba bữa, đã không ăn bốn bữa, đã không ăn năm bữa, đã không ăn sáu bữa, đã không ăn bảy bữa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">8. Khi ấy, mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta đã nói với Sudinna Kalandaputta điều này: &#8211; “Này Sudinna thương, con chính là con trai một, yêu dấu, quý mến của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna thương, con không biết bất cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha đành phải xa con một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc con đang còn sống mẹ và cha lại cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà được? Này Sudinna thương, con hãy đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy chơi đùa. Trong khi ăn, trong khi uống, trong khi chơi đùa, trong khi thọ hưởng các dục, trong khi làm các điều phước thiện, con có thể thỏa thích, chớ mẹ và cha không cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.” Khi được nói như vậy, Sudinna Kalandaputta đã im lặng. Đến lần thứ nhì, ―(như trên)― Đến lần thứ ba, mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta đã nói với Sudinna Kalandaputta điều này: &#8211; “Này Sudinna thương, con chính là con trai một, yêu dấu, quý mến của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna thương, con không biết bất cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha đành phải xa con một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc con đang còn sống mẹ và cha lại cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà được? Này Sudinna thương, con hãy đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy chơi đùa. Trong khi ăn, trong khi uống, trong khi chơi đùa, trong khi thọ hưởng các dục, trong khi làm các điều phước thiện, con có thể thỏa thích, chớ mẹ và cha không cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.” Đến lần thứ ba, Sudinna Kalandaputta đã im lặng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">9. Sau đó, những người bạn của Sudinna Kalandaputta đã đi đến gặp Sudinna Kalandaputta, sau khi đến đã nói với Sudinna Kalandaputta điều này: &#8211; “Này Sudinna mến, bạn chính là con trai một, yêu dấu, quý mến của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna mến, bạn không biết bất cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha đành phải xa bạn một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc bạn đang còn sống mẹ và cha lại cho phép bạn về việc rời nhà xuất gia sống không nhà được? Này Sudinna mến, bạn hãy đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy chơi đùa. Trong khi ăn, trong khi uống, trong khi chơi đùa, trong khi thọ hưởng các dục, trong khi làm các điều phước thiện, bạn có thể thỏa thích, chớ mẹ và cha không cho phép bạn về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.” Khi được nói như vậy, Sudinna Kalandaputta đã im lặng. Đến lần thứ nhì, ―(như trên)― Đến lần thứ ba, những người bạn của Sudinna Kalandaputta đã nói với Sudinna Kalandaputta điều này: &#8211; “Này Sudinna thương, bạn chính là ―(như trên)― Đến lần thứ ba, Sudinna Kalandaputta đã im lặng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">10. Khi ấy, những người bạn của Sudinna Kalandaputta đã đi đến gặp mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta, sau khi đến đã nói với mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta điều này: &#8211; “Mẹ và cha à, Sudinna này nằm trên nền đất không có trải lót (nói rằng): ‘Đối với tôi, hoặc là sẽ xảy ra cái chết ngay tại đây, hoặc là sự xuất gia.’ Nếu mẹ và cha không cho phép Sudinna về việc rời nhà xuất gia sống không nhà, anh ta sẽ đi đến cái chết ngay tại chỗ ấy. Vả lại, nếu mẹ và cha cho phép Sudinna về việc rời nhà xuất gia sống không nhà, mẹ và cha sẽ còn nhìn thấy anh ta cho dù đã xuất gia. Nếu Sudinna không thỏa thích trong việc rời nhà xuất gia sống không nhà, thì còn chốn nào khác cho anh ta đây? Anh ta sẽ quay trở về ngay tại chỗ này. Mẹ và cha hãy cho phép Sudinna về việc rời nhà xuất gia sống không nhà đi.” &#8211; “Các con thương, mẹ và cha cho phép Sudinna về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.” Sau đó, những người bạn của Sudinna Kalandaputta đã đi đến gặp Sudinna Kalandaputta, sau khi đến đã nói với Sudinna Kalandaputta điều này: &#8211; “Này Sudinna mến, hãy đứng dậy đi. Bạn đã được mẹ và cha cho phép về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">11. Khi ấy, Sudinna Kalandaputta (nghĩ rằng): “Nghe nói ta đã được mẹ và cha cho phép về việc rời nhà xuất gia sống không nhà” nên mừng rỡ phấn chấn, vừa đứng dậy vừa dùng bàn tay phủi khắp mình mẩy. Sau đó nhiều ngày, Sudinna Kalandaputta đã phục hồi lại sức khoẻ và đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Sudinna Kalandaputta đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch Ngài, con đã được mẹ và cha cho phép về việc rời nhà xuất gia sống không nhà. Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy (làm lễ) xuất gia cho con.” Rồi Sudinna Kalandaputta đã đạt được sự xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn, đã đạt được sự tu lên bậc trên. Khi đã được tu lên bậc trên không bao lâu, đại đức Sudinna đã thọ trì và thực hành các đức hạnh từ khước có hình thức như vầy: là vị ngụ ở rừng, là vị chuyên khất thực, là vị mặc y may bằng vải bị quăng bỏ,[17] là vị đi khất thực theo tuần tự từng nhà. Đại đức sống nương tựa vào ngôi làng nọ thuộc xứ Vajjī.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">12. Vào lúc bấy giờ, xứ Vajjī có sự khan hiếm về vật thực, khó kiếm ăn, có dịch bệnh, thẻ vật thực được phân phối, không dễ sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Khi ấy, đại đức Sudinna đã khởi ý điều này: “Hiện nay, xứ Vajjī có sự khan hiếm về vật thực, khó kiếm ăn, có dịch bệnh, thẻ vật thực được phân phối, không dễ sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Vả lại, nhiều quyến thuộc của ta ở trong thành Vesālī thì giàu sang, có nhiều của cải, nhiều tài sản, có vô số vàng bạc, vô số vật dụng, và dồi dào lúa gạo, hay là ta nên sống nương tựa vào quyến thuộc vậy? Do có liên quan đến ta, quyến thuộc sẽ ban phát các vật thí. Họ sẽ làm các điều phước thiện và các tỳ khưu sẽ nhận được lợi lộc, còn ta sẽ không bị khó nhọc về đồ ăn khất thực.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">13. Sau đó, đại đức Sudinna đã thu xếp chỗ nằm ngồi, cầm y bát, và ra đi về phía thành Vesālī. Theo tuần tự, đại đức đã đến được thành Vesālī. Tại nơi ấy trong thành Vesālī, đại đức Sudinna trú ở Mahāvana. Quyến thuộc của đại đức Sudinna đã nghe được rằng: “Nghe nói Sudinna con trai của Kalanda đã đến thành Vesālī.” Họ đã đem lại biếu cho đại đức Sudinna bữa ăn gồm sáu mươi nồi cơm. Khi ấy, đại đức Sudinna đã phân chia sáu mươi nồi cơm ấy cho các tỳ khưu, rồi vào buổi sáng đã mặc y, cầm y bát, đi vào làng Kalanda để khất thực. Trong khi đi tuần tự từng nhà để khất thực, đại đức đã đi đến nhà của cha mình.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">14. Vào lúc bấy giờ, người nữ tỳ của quyến thuộc của đại đức Sudinna có ý định đổ đi món cháo chua đã để cách đêm. Khi ấy, đại đức Sudinna đã nói với người nữ tỳ của quyến thuộc ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, nếu vật ấy cần phải đổ bỏ thì hãy trút vào đây trong bình bát của tôi.” Khi ấy, trong lúc đang trút món cháo chua đã để cách đêm ấy vào bình bát của đại đức Sudinna, người nữ tỳ của quyến thuộc của đại đức Sudinna đã nhận ra đặc điểm của các cánh tay, của các bàn chân, và của giọng nói (của đại đức Sudinna).[18] Sau đó, người nữ tỳ của quyến thuộc của đại đức Sudinna đã đi đến gặp mẹ của đại đức Sudinna, sau khi đến đã nói với mẹ của đại đức Sudinna điều này: &#8211; “Bẩm bà, bà nên biết là công tử Sudinna đã trở về.” &#8211; “Này nô tỳ, nếu ngươi nói đúng, ta sẽ ban cho ngươi khỏi phận tôi tớ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">15. Vào lúc bấy giờ, đại đức Sudinna (ngồi) tựa vào chân của vách tường nọ rồi thọ thực món cháo chua đã để cách đêm ấy. Và người cha của đại đức Sudinna trong lúc đi công chuyện đã nhìn thấy đại đức Sudinna (ngồi) tựa vào chân của vách tường nọ đang thọ thực món cháo chua đã để cách đêm ấy, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần đại đức Sudinna, sau khi đến đã nói với đại đức Sudinna điều này: &#8211; “Này Sudinna thương, lẽ nào con lại ăn món cháo chua đã để cách đêm? Này Sudinna thương, hay là con nên đi về nhà mình đi?” &#8211; “Này gia chủ, tôi đã đi đến nhà của ông rồi. Từ nơi đó mà có được món cháo chua đã để cách đêm này.” Khi ấy, người cha của đại đức Sudinna đã nắm lấy cánh tay của đại đức Sudinna và nói với đại đức Sudinna điều này: &#8211; “Này Sudinna thương, hãy đi. Chúng ta sẽ đi về nhà.” Sau đó, đại đức Sudinna đã đi đến nhà của cha mình, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, người cha của đại đức Sudinna đã nói với đại đức Sudinna điều này: &#8211; “Này Sudinna thương, con hãy ăn đi.” &#8211; “Này gia chủ, thôi đi. Việc thọ thực ngày hôm nay của tôi đã hoàn tất.” &#8211; “Này Sudinna thương, vậy con hãy nhận lời bữa ăn vào ngày mai.” Đại đức Sudinna đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó, đại đức Sudinna đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">16. Sau đó, khi tàn đêm ấy mẹ của đại đức Sudinna đã cho phủ lên mặt đất bằng phân bò tươi rồi bảo người chất hai đống gồm một vàng, một bạc. Các đống ấy đã lớn đến mức khiến người đứng ở phía bên này không nhìn thấy người đứng ở phía bên kia, và người đứng ở phía bên kia không nhìn thấy người đứng ở phía bên này. Sau khi đã cho che lại các đống ấy bằng những tấm thảm, cho sắp đặt chỗ ngồi ở giữa, và cho che màn xung quanh, mẹ của đại đức Sudinna đã bảo người vợ cũ của đại đức Sudinna rằng: &#8211; “Này con dâu, như thế thì khi trang điểm với đồ trang sức nào mà con đã được con trai Sudinna yêu thương quý mến thì con hãy trang điểm với đồ trang sức ấy.” &#8211; “Thưa mẹ, xin vâng,” người vợ cũ của đại đức Sudinna đã trả lời mẹ của đại đức Sudinna.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">17. Sau đó vào buổi sáng, đại đức Sudinna đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến nhà của cha mình, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, cha của đại đức Sudinna đã đi đến gặp đại đức Sudinna, sau khi đến đã cho mở hai đống ấy ra rồi đã nói với đại đức Sudinna điều này: &#8211; “Này Sudinna thương, phần này là vật hồi môn thuộc người nữ là của mẹ con, phần kia là của cha, phần kia là của ông nội. Này Sudinna thương, con có thể quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường để thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện được mà. Này Sudinna thương, hãy quay về đi con. Hãy quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường, hãy thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện đi.” &#8211; “Cha à, tôi không thể nào, tôi không dám. Tôi đang thỏa thích thực hành Phạm hạnh.” Đến lần thứ nhì, ―(như trên)― Đến lần thứ ba, cha của đại đức Sudinna đã nói với đại đức Sudinna điều này: &#8211; “Này Sudinna thương, phần này là vật hồi môn thuộc người nữ là của mẹ con, phần kia là của cha, phần kia là của ông nội. Này Sudinna thương, con có thể quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường để thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện được mà. Này Sudinna thương, hãy quay về đi con. Hãy quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường, hãy thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện đi.” &#8211; “Này gia chủ, nếu gia chủ không quá căng thẳng thì chúng ta nên bàn về điều ấy.” &#8211; “Này Sudinna thương, hãy nói đi.” &#8211; “Này gia chủ, nếu vậy thì hãy bảo làm những bao tải thật lớn, cho đổ đầy vàng bạc vào, cho đưa lên các xe kéo hàng, rồi nhận chìm ở giữa sông Gaṅgā. Điều ấy có lý do là gì? Này gia chủ, bởi vì từ đó sẽ là nguyên nhân khiến ông có sự sợ hãi, hoặc có sự kinh hoàng, hoặc có lông dựng đứng, hoặc là sự gìn giữ; điều ấy sẽ không có cho ông nữa.” Khi được nói như thế, người cha của đại đức Sudinna đã tỏ ra không hài lòng: &#8211; “Tại sao con trai Sudinna lại nói như thế?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">18. Sau đó, cha của đại đức Sudinna đã bảo người vợ cũ của đại đức Sudinna rằng: &#8211; “Này con dâu, nếu vậy thì con cũng hãy nài nỉ. Có lẽ con trai Sudinna sẽ làm theo lời con.” Khi ấy, người vợ cũ của đại đức Sudinna đã ôm lấy hai bàn chân của đại đức Sudinna và đã nói với đại đức Sudinna điều này: &#8211; “Công tử ơi, các nàng tiên nữ ấy như thế nào khiến chàng thực hành Phạm hạnh vì các nàng ấy vậy?” &#8211; “Này chị gái, tôi thực hành Phạm hạnh không phải vì các nàng tiên nữ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">19. Khi ấy, người vợ cũ của đại đức Sudinna (nghĩ rằng): “Từ nay, công tử Sudinna xưng hô với ta bằng tiếng chị gái,” nên đã ngất đi rồi ngã xuống ngay tại chỗ ấy. Sau đó, đại đức Sudinna đã nói với cha điều này: &#8211; “Này gia chủ, nếu vật thực sẽ được bố thí thì hãy bố thí đi. Ông chớ có quấy rầy chúng ta nữa.” &#8211; “Này Sudinna thương, hãy ăn đi.” Khi ấy, mẹ và cha của đại đức Sudinna đã tự tay làm hài lòng và toại ý đại đức Sudinna với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm. Sau đó, khi đại đức Sudinna đã thọ thực xong bàn tay đã rời bình bát, mẹ của đại đức Sudinna đã nói với đại đức Sudinna điều này: &#8211; “Này Sudinna thương, gia đình này thì giàu sang, có nhiều của cải, nhiều tài sản, có vô số vàng bạc, vô số vật dụng, và dồi dào lúa gạo. Này Sudinna thương, con có thể quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường để thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện được mà. Này Sudinna thương, hãy quay về đi con. Hãy quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường, hãy thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện đi.” &#8211; “Mẹ à, tôi không thể nào, tôi không dám. Tôi đang thỏa thích thực hành Phạm hạnh.” Đến lần thứ nhì, ―(như trên)― Đến lần thứ ba, mẹ của đại đức Sudinna đã nói với đại đức Sudinna điều này: &#8211; “Này Sudinna thương, gia đình này thì giàu sang, có nhiều của cải, nhiều tài sản, có vô số vàng bạc, vô số vật dụng, và dồi dào lúa gạo. Này Sudinna thương, chính vì điều ấy con hãy để lại chủng tử. Chớ để các Licchavi đoạt lấy tài sản không người thừa tự của chúng ta.” &#8211; “Mẹ à, điều này tôi có thể làm được.” &#8211; “Này Sudinna thương, hiện nay con ngụ ở đâu vậy?” &#8211; “Mẹ à, ở Mahāvana.” Sau đó, đại đức Sudinna đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">20. Sau đó, mẹ của đại đức Sudinna đã bảo người vợ cũ của đại đức Sudinna rằng: &#8211; “Này con dâu, nếu vậy thì khi nào đến thời kỳ, kinh nguyệt của con xuất hiện, khi ấy con hãy cho mẹ hay.” &#8211; “Thưa mẹ, xin vâng,” người vợ cũ của đại đức Sudinna đã trả lời mẹ của đại đức Sudinna. Sau đó chẳng bao lâu, người vợ cũ của đại đức Sudinna đã đến thời kỳ, nàng đã có kinh nguyệt. Khi ấy, người vợ cũ của đại đức Sudinna đã nói với mẹ của đại đức Sudinna điều này: &#8211; “Thưa mẹ, con đã đến thời kỳ, kinh nguyệt của con đã xuất hiện.” &#8211; “Này con dâu, như thế thì khi trang điểm với đồ trang sức nào mà con đã được con trai Sudinna yêu thương quý mến thì con hãy trang điểm với đồ trang sức ấy.” &#8211; “Thưa mẹ, xin vâng,” người vợ cũ của đại đức Sudinna đã trả lời mẹ của đại đức Sudinna. Sau đó, mẹ của đại đức Sudinna đã đưa người vợ cũ của đại đức Sudinna đi đến Mahāvana gặp đại đức Sudinna, sau khi đến đã nói với đại đức Sudinna điều này: &#8211; “Này Sudinna thương, gia đình này thì giàu sang, có nhiều của cải, nhiều tài sản, có vô số vàng bạc, vô số vật dụng, và dồi dào lúa gạo. Này Sudinna thương, con có thể quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường để thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện được mà. Này Sudinna thương, hãy quay về đi con. Hãy quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường, hãy thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện đi.” &#8211; “Mẹ à, tôi không thể nào, tôi không dám. Tôi đang thỏa thích thực hành Phạm hạnh.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Đến lần thứ nhì, ―(như trên)― Đến lần thứ ba, mẹ của đại đức Sudinna đã nói với đại đức Sudinna điều này: &#8211; “Này Sudinna thương, gia đình này thì giàu sang, có nhiều của cải, nhiều tài sản, có vô số vàng bạc, vô số vật dụng, và dồi dào lúa gạo. Này Sudinna thương, chính vì điều ấy con hãy để lại chủng tử. Chớ để các Licchavi đoạt lấy tài sản không người thừa tự của chúng ta.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">21. &#8211; “Mẹ à, điều này tôi có thể làm được,” rồi vị ấy đã nắm lấy cánh tay của người vợ cũ đi vào Mahāvana. Trong khi điều học chưa được quy định, vị ấy không nhận thức được điều nguy hại nên đã tiến hành việc đôi lứa với người vợ cũ ba lần. Do việc ấy, nàng ta đã mang thai.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chư Thiên ở địa cầu đã đồn đãi lời rằng: &#8211; “Ngài ơi, hội chúng tỳ khưu quả thật không có sự ô uế, không bị điều tai họa, nay Udinna Kalandaputta đã gây nên sự ô uế, đã gây nên điều tai họa!” Sau khi nghe được tiếng đồn của chư Thiên ở địa cầu, chư Thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương đã đồn đãi lời rằng: ―(như trên)― chư Thiên ở cõi Đạo Lợi ―(như trên)― chư Thiên ở cõi Dạ Ma ―(như trên)― chư Thiên ở cõi Đẩu Suất ―(như trên)― chư Thiên ở cõi Hóa Lạc Thiên ―(như trên)― chư Thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại ―(như trên)― chư Thiên thuộc hàng Phạm Thiên đã đồn đãi lời rằng: &#8211; “Ngài ơi, hội chúng tỳ khưu quả thật không có sự ô uế, không bị điều tai họa, nay Udinna Kalandaputta đã gây nên sự ô uế, đã gây nên điều tai họa!” Vào thời khắc ấy vào giây phút ấy, lời đồn đãi như thế ấy đã đi đến các cõi trời Phạm Thiên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">22. Sau đó, khi bào thai ấy đã được phát triển đầy đủ, người vợ cũ của đại đức Sudinna đã sanh con trai. Khi ấy, những người bạn của đại đức Sudinna đã đặt tên cho đứa bé trai là “Chủng Tử,” đã đặt tên cho người vợ cũ của đại đức Sudinna là “Mẹ của Chủng Tử,” và đã đặt tên cho đại đức Sudinna là “Cha của Chủng Tử.” Thời gian sau, cả hai mẹ con ấy đã rời nhà xuất gia sống không nhà và đã chứng đắc phẩm vị A-la-hán.[19]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">23. Sau đó, đại đức Sudinna đã có sự ăn năn, đã có nỗi ân hận: “Thật là điều không lợi ích đã có cho ta! Thật là điều lợi ích đã không có cho ta! Ta đã đạt được điều xấu! Ta đã không đạt được điều tốt! Bởi vì ta đây đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời!” Do chính sự ăn năn ấy và do nỗi ân hận ấy, vị ấy đã trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân, tâm trở nên lãnh đạm, trì trệ, khổ sở, buồn bã, ăn năn, và có vẻ thờ thẩn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">24. Khi ấy, những vị tỳ khưu bạn của đại đức Sudinna đã nói với đại đức Sudinna điều này: &#8211; “Này đại đức Sudinna, trước đây đại đức có sắc tướng, các căn rạng rỡ, sắc diện an tịnh, màu da trong sáng. Hiện nay, trong lúc này đại đức đây lại trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân, tâm trở nên lãnh đạm, trì trệ, khổ sở, buồn bã, ăn năn, và có vẻ thờ thẩn. Này đại đức Sudinna, không lẽ đại đức không thỏa thích thực hành Phạm hành hay sao?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các đại đức, không phải tôi không thỏa thích thực hành Phạm hạnh mà tôi đã tạo nên ác nghiệp, tôi đã thực hiện việc đôi lứa với người vợ cũ. Này các đại đức, tôi đây đã có sự ăn năn, đã có nỗi ân hận: ‘Thật là điều không lợi ích đã có cho ta! Thật là điều lợi ích đã không có cho ta! Ta đã đạt được điều xấu! Ta đã không đạt được điều tốt! Bởi vì ta đây đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời!’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">25. &#8211; “Này đại đức Sudinna, đại đức có sự ăn năn là phải lẽ, có nỗi ân hận là phải lẽ. Bởi vì đại đức đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">26. Này đại đức, chẳng phải đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn ràng buộc chứ không phải để đưa đến sự ràng buộc, đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn chấp thủ chứ không phải để đưa đến sự chấp thủ hay sao?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">27. Này đại đức, ở đây trong khi đức Thế Tôn thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn tham ái thì đại đức lại nghĩ đến tham ái, thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn ràng buộc thì đại đức lại nghĩ đến sự ràng buộc, thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn chấp thủ thì đại đức lại nghĩ đến sự chấp thủ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">28. Này đại đức, chẳng phải đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn tham ái trong các ái, để đưa đến sự không còn đam mê trong các nỗi đam mê, để kềm chế các sự khao khát, để trừ diệt các sự vướng mắc, để cắt đứt vòng tái sanh, để diệt tận ái, để ly tham, để đưa đến sự tịch diệt, để đưa đến Niết Bàn hay sao?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">29. Này đại đức, chẳng phải đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã đề cập đến sự từ bỏ các dục, đã đề cập đến sự hiểu rõ về các dục tưởng, đã đề cập đến sự kềm chế các nỗi khao khát về dục, đã đề cập đến sự trừ diệt các dục tầm, đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">30. Này đại đức, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này đại đức, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">31. Sau đó, khi đã khiển trách đại đức Sudinna bằng nhiều phương thức, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Sudinna rằng: &#8211; “Này Sudinna, nghe nói ngươi thực hiện việc đôi lứa với người vợ cũ, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">32. &#8211; “Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">33. Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn ràng buộc chứ không phải để đưa đến sự ràng buộc, đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn chấp thủ chứ không phải để đưa đến sự chấp thủ hay sao?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">34. Này kẻ rồ dại, thế mà ở đây trong khi Ta thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn tham ái thì ngươi lại nghĩ đến tham ái, thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn ràng buộc thì ngươi lại nghĩ đến sự ràng buộc, thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn chấp thủ thì ngươi lại nghĩ đến sự chấp thủ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">35. Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn tham ái trong các ái, để đưa đến sự không còn đam mê trong các nỗi đam mê, để kềm chế sự khao khát, để trừ diệt sự vướng mắc, để cắt đứt vòng tái sanh, để diệt tận ái, để ly tham, để đưa đến sự tịch diệt, để đưa đến Niết Bàn hay sao?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">36. Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã đề cập đến sự từ bỏ các dục, đã đề cập đến sự hiểu rõ về các dục tưởng, đã đề cập đến sự kềm chế các nỗi khao khát về dục, đã đề cập đến sự trừ diệt các dục tầm, đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">37. Này kẻ rồ dại, thà ngươi đặt dương vật vào trong miệng của con rắn có nọc độc khủng khiếp còn là điều cao thượng, nhưng đặt dương vật vào trong âm vật của người nữ là không (cao thượng). Này kẻ rồ dại, thà ngươi đặt dương vật vào trong miệng của con hắc xà còn là điều cao thượng, nhưng đặt dương vật vào trong âm vật của người nữ là không (cao thượng). Này kẻ rồ dại, thà ngươi đặt dương vật vào trong hố than được đốt cháy có ngọn lửa sáng rực còn là điều cao thượng, chớ đặt dương vật vào trong âm vật của người nữ là không (cao thượng). Điều ấy có lý do như thế nào? Này kẻ rồ dại, bởi vì do nguyên nhân kia[20] ngươi có thể đi đến cái chết hoặc khổ gần như chết, nhưng không vì nguyên nhân kia, khi tan rã thân xác và chết đi ngươi lại có thể bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Này kẻ rồ dại, quả thật do nguyên nhân này,[21] khi tan rã thân xác và chết đi, ngươi có thể bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">38. Này kẻ rồ dại, thế mà ở đây lại là ngươi, tức là việc ngươi bị vướng vào việc kết hợp của hai người, theo từng cặp, ở nơi kín đáo, là việc làm không tốt đẹp, là việc làm của các dân làng, là việc làm của những người thấp kém, là xấu xa, kết cuộc phải dùng nước tẩy rửa. Này kẻ rồ dại, đối với nhiều pháp bất thiện ngươi là người vi phạm đầu tiên, trước tất cả. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này kẻ rồ dại, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">39. Sau đó, khi đã khiển trách đại đức Sudinna bằng nhiều phương thức, đức Thế Tôn đã chê bai về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, sự khó khăn trong việc ăn uống, sự tầm cầu quá nhiều, sự không biết đủ, sự kết phe nhóm, sự biếng nhác; và bằng nhiều phương thức Ngài đã ngợi khen về sự dễ dàng trong việc cấp dưỡng, sự dễ dàng trong việc ăn uống, sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức nỗ lực. Ngài đã nói Pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các tỳ khưu rồi đã bảo các tỳ khưu rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">40. &#8211; “Này các tỳ khưu, như thế thì Ta sẽ quy định điều học cho các tỳ khưu vì mười điều lợi ích: Nhằm sự tốt đẹp cho hội chúng, nhằm sự an lạc cho hội chúng, nhằm việc trấn áp những nhân vật ác xấu, nhằm sự lạc trú của các tỳ khưu hiền thiện, nhằm ngăn ngừa các lậu hoặc trong hiện tại, nhằm sự trừ diệt các lậu hoặc trong tương lai, nhằm đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, nhằm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin, nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp,[22] và nhằm sự hỗ trợ Luật. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào thực hiện việc đôi lứa là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.</i>”[23]</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định căn bản</b>]</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm về Sudinna</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[16] Dịch sát từ sẽ là: “Sau khi nhìn thấy, điều này đã khởi đến anh ta: &#8230;”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[17] Y <i>paṃsukūla</i>: y được may bằng vải dơ bị người ta quăng bỏ, thông thường là vải quấn tử thi được tìm thấy ở bãi tha ma (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[18] Ngài Buddhaghosa giải thích ở Chú Giải <i>Samantapāsādikā</i> rằng đã tám năm trôi qua nên người nữ tỳ không thể nhận ra đại đức Sudinna mà chỉ nhận biết qua các đặc điểm của tay, chân, và giọng nói. Thêm vào đó còn cho biết vị Sudinna đã xuất gia vào năm thứ mười hai của đức Thế Tôn và thời điểm xảy ra câu chuyện này là năm thứ hai mươi (VinA. i<i>, </i>208).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[19] Theo ngài Buddhaghosa cho biết, hai mẹ con đã xuất gia sau đó khoảng bảy hoặc tám năm (VinA. i<i>,</i>215).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[20] Là việc đặt dương vật vào trong miệng của con rắn có nọc độc khủng khiếp, vào trong miệng của con hắc xà, vào trong hố than được đốt cháy có ngọn lửa sáng rực (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[21] Là việc đặt dương vật vào trong âm vật của người nữ (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[22] Chánh Pháp (<i>saddhamma</i>): Ngài Buddhaghosa giải thích s<i>addhamma</i> gồm có ba phần: <i>Pariyattisaddhamma</i> (Pháp Học) gồm tất cả các lời dạy của đức Phật đã được kết tập thành Tam Tạng,<i>Paṭipattisaddhamma</i> (Pháp Hành) là 13 pháp Đầu-đà, 14 pháp hành, 82 phận sự chính, Giới, Định, và Minh Sát, <i>Adhigamasaddhamma</i> (Pháp Đắc Chứng) là 4 Đạo, 4 Quả, và Niết Bàn (VinA. i<i>, </i>225). Giải thích về 82 phận sự chính <i>Ṭīkā</i> (Sớ Giải) ghi rằng: 66 phận sự của vị hành <i>parivāsa</i> (bắt đầu với điều “Không nên ban phép tu lên bậc trên, &#8230;, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành trong khi vị tỳ khưu trong sạch đi kinh hành ở trên mặt đất”); không ngụ chung với 5 hạng tỳ khưu (vị cũng thực hành<i>parivāsa</i> nhưng thâm niên hơn, vị xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, vị tỳ khưu xứng đáng hành <i>mānatta, </i>vị đang thực hành <i>mānatta, </i>vị xứng đáng sự giải tội) tính là 5 điều thành 71; “không nên tiếp nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, &#8230;, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các vị tỳ khưu trong sạch” tính là 1 điều thành 72; “không nên bôi nhọ vị tỳ khưu trong sạch với sự hư hỏng về giới, v.v&#8230;” tính là 10 điều; tổng cộng là 82 phận sự.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[23] Từ “<i>bất cộng trụ</i>” đã được sử dụng quen thuộc khi đề cập đến tội <i>pārājika</i>. Thật ra, “bất cộng trụ” là từ dịch của <i>asaṃvāso</i> trong câu “<i>ayampi</i> <i>pārājiko hoti asaṃvāso</i>,” chứ không phải của <i>pārājika</i>. <i>Pārājika</i>được xem là tên của tội, còn <i>asaṃvàso</i> có thể xem như là một hình thức xử lý tội <i>pārājika,</i> là không được sống chung và tiến hành các hành sự như là lễ <i>Uposatha</i>, lễ <i>Parāraṇā</i>, v.v&#8230; Ngài Buddhaghosa chỉ ra động từ liên quan là “<i>parājeti = </i>khuất phục, đánh bại, chế ngự, chiến thắng” và giải thích rằng vị “<i>pārājiko” </i>là vị<i> “parājito,</i>” (<i>parājito</i> là quá khứ phân từ thể thụ động của<i> parājeti, </i>có nghĩa là: bị khuất phục, bị đánh bại, bị chế ngự). Như vậy, <i>pārājika</i> có nghĩa là “kẻ thất trận, kẻ bại trận người thua cuộc” và được sử dụng cho tên của một loại tội cực nặng trong giới bổn <i>Pātimokkha</i> của tỳ khưu gồm 4 điều được trình bày trong chương này. Chúng tôi giữ nguyên từ <i>pārājika</i> không dịch.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[24] Nguyên nhân kia đã được giải thích ở phần trước.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[25] Nguyên nhân này là việc đặt dương vật vào trong âm vật của con khỉ cái (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[26] <i>Adhisīla</i>: Tăng thượng giới là giới bổn <i>Pātimokkha</i>. <i>Adhicitta</i>: Tăng thượng tâm là sự tu tập các loại định hợp thế. <i>Adhipaññā</i>: Tăng thượng tuệ là sự tu tập (các tâm) Đạo Siêu Thế (VinA. i, 244-245).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[27] Từ Pāli <i>paṇḍaka</i> là đề cập đến người phái nam. Về phái nữ, các từ được tìm thấy là <i>paṇḍikā, itthipaṇḍikā, itthipaṇḍaka.</i> Từ tiếng Anh tương đương là <i>eunuch</i> được dịch sang tiếng Việt là “hoạn quan, thái giám.” Từ “bị thiến” đã được dùng đến trong một số bản dịch trước đây. Lâu nay, chúng tôi hiểu theo ý nghĩa thông thường đó. Gần đây, chúng tôi tìm thấy từ <i>jātipaṇḍaka</i> mới biết thêm được là có hạng người <i>paṇḍaka</i> bẩm sanh. Dựa theo phần giảng giải của giới <i>pārājika</i> thứ nhất này, chúng tôi có được khái niệm là hạng này không có bộ phận sinh dục, còn việc xác định nam hay nữ là do các đặc tính khác như vóc dáng, bộ ngực, giọng nói, v.v&#8230; Về tâm sinh lý, trong <i>Mahāvagga</i> &#8211; <i>Đại Phẩm</i> thuộc tạng Luật có câu chuyện đề cập đến bản chất ham muốn về nhục dục của hạng người này. Chúng tôi tạm dịch là “vô căn” cho hạng người không có bộ phận sinh dục này cho dù là bẩm sinh hay bị thiến.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[28] <i>Bhikkhupaccatthikā</i> được <i>Ṭīkā</i> (Sớ Giải) giải thích là “các kẻ đối nghịch của tỳ khưu,” còn ngài Buddhaghosa thiên về ý “các tỳ khưu đối nghịch.” Theo văn phạm, hai cách dịch trên đều có khả năng tùy theo cách phân tích hợp từ <i>bhikkhupaccatthikā</i> là <i>tappurisa</i> hay <i>kammadhāraya</i>. Sự chọn lựa của ngài Buddhaghosa có phần hợp lý hơn, xin xem giải thích ở phần kế.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[29] Nếu ở trên dịch hợp từ <i>bhikkhupaccatthikā</i> là “các kẻ đối nghịch của tỳ khưu” thì ở đây phải dịch <i>rājapaccatthikā</i> là “các kẻ đối nghịch của vị vua” xét ra không hợp lý. Chính vì ở đây phải dịch là “các vị vua đối nghịch” nên có thể xác định ý nghĩa cho từ <i>bhikkhupaccatthikā</i> ở trên là “các tỳ khưu đối nghịch.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[30] Lúc này, vị tỳ khưu ni <i>Uppalavaṇṇa</i> đã là vị A-la-hán. Còn người thanh niên ấy khi vừa đi khuất tầm mắt của vị tỳ khưu ni thì quả địa cầu đã nứt tạo ra lỗ hổng hút vào lòng đất như thể quả địa cầu này không thể nâng đỡ nỗi kẻ độc ác ấy. Anh ta lập tức bị đọa vào địa ngục <i>Avīci</i> và ở vào trạng thái bị lửa địa ngục thiêu đốt (VinA. i<i>, </i>273)</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[31] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng vị này đẹp trai (<i>sundara</i>) và là vị Bất Lai nên không còn ưa thích về việc đôi lứa (VinA. i<i>, </i>278).</span></p>
<blockquote><p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></strong></span></p></blockquote>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG PĀRĀJIKA: ĐIỀU PĀRĀJIKA THỨ NHÌ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-2-parajika-dieu-parajika-thu-nhi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:12:37 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=57955</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 2: Pārājika Điều Pārājika Thứ Nhì Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span> </span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương 2: Pārājika</span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 18.6667px;">Điều Pārājika Thứ Nhì</span></span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, ở núi Gijjhakūṭa. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu thân thiết đồng quan điểm đã dựng lên ở sườn núi Isigili những túp lều bằng cỏ rồi vào mùa (an cư) mưa. Đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm cũng đã dựng lên túp lều bằng cỏ và vào mùa (an cư) mưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã sống qua mùa mưa đến hết ba tháng, các vị tỳ khưu ấy đã tháo gỡ các túp lều cỏ, thu xếp cỏ và gỗ lại, rồi ra đi du hành trong xứ sở. Còn đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã cư trú mùa mưa ở chính nơi ấy, mùa lạnh ở nơi ấy, và mùa nóng ở nơi ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, lúc đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã đi vào làng để khất thực, những cô cắt cỏ, những cô mót củi đã tháo gỡ túp lều cỏ, đoạt lấy cỏ và gỗ, rồi (mang) đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đến lần thứ nhì, đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã gom góp cỏ và gỗ rồi dựng lên túp lều cỏ. Đến lần thứ nhì, lúc đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã đi vào làng để khất thực, những cô cắt cỏ, những cô mót củi đã tháo gỡ túp lều cỏ, đoạt lấy cỏ và gỗ, rồi (mang) đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đến lần thứ ba, đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã gom góp cỏ và gỗ rồi dựng lên túp lều cỏ. Đến lần thứ ba, lúc đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã đi vào làng để khất thực, những cô cắt cỏ, những cô mót củi đã tháo gỡ túp lều cỏ, đoạt lấy cỏ và gỗ, rồi (mang) đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã khởi ý điều này: “Quả thật đã đến lần thứ ba, lúc ta đã đi vào làng để khất thực, những cô cắt cỏ, những cô mót củi đã tháo gỡ túp lều cỏ, đoạt lấy cỏ và gỗ, rồi (mang) đi. Vả lại, ta đã khéo học tập nghề làm đồ gốm ở nơi thầy ta, không sai sót, và có tay nghề thiện xảo; hay là ta nên đích thân nhồi trộn đất bùn và tạo nên một túp lều toàn bằng đất sét?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã đích thân nhồi trộn đất bùn và tạo nên một túp lều toàn bằng đất sét, rồi đã thu nhặt cỏ, củi, phân bò khô, và nung chín túp lều ấy. Túp lều ấy đẹp đẽ, đáng nhìn, xinh xắn, có màu đỏ như cánh kiến. Giống như tiếng vang của cái chuông nhỏ, âm thanh của túp lều ấy cũng tương tợ như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn trong lúc từ núi Gijjhakūṭa đi xuống cùng với nhiều vị tỳ khưu đã nhìn thấy túp lều đẹp đẽ, đáng nhìn, xinh xắn, có màu đỏ như cánh kiến ấy, sau khi nhìn thấy đã hỏi các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, cái vật đẹp đẽ, đáng nhìn, xinh xắn, có màu đỏ như cánh kiến kia là vật gì vậy?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho kẻ rồ dại ấy, thật không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này các tỳ khưu, vì sao kẻ rồ dại ấy lại đích thân nhồi trộn đất bùn và tạo nên một túp lều toàn bằng đất sét? Này các tỳ khưu, kẻ rồ dại ấy quả không có sự quan tâm, không có lòng thương xót, không có tâm vô hại đối với các sanh mạng! Này các tỳ khưu, hãy đi và phá vỡ túp lều ấy. Chớ để loài người sau này (theo gương đó) gây nên việc giết hại các sanh mạng. Này các tỳ khưu, không nên thực hiện cốc liêu toàn bằng đất sét; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch ngài, xin vâng.” Các vị tỳ khưu ấy nghe theo đức Thế Tôn đã đi đến túp lều ấy, sau khi đến đã phá vỡ túp lều ấy. Khi ấy, đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này: &#8211; “Này các đại đức, vì sao các vị phá vỡ túp lều của tôi vậy?” &#8211; “Này đại đức, đức Thế Tôn bảo phá vỡ.” &#8211; “Này các đại đức, nếu bậc Pháp Chủ bảo phá vỡ thì các vị hãy phá vỡ đi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã khởi ý rằng: “Quả thật đã đến lần thứ ba, lúc ta đã đi vào làng để khất thực, những cô cắt cỏ, những cô mót củi đã tháo gỡ túp lều cỏ, đoạt lấy cỏ và gỗ, rồi (mang) đi. Ngay cả túp lều toàn bằng đất sét được ta tạo nên cũng đã bị đức Thế Tôn cho phá vỡ. Và có viên quản lý kho gỗ là người đồng đạo với ta; hay là ta nên yêu cầu viên quản lý kho gỗ các cây gỗ rồi tạo nên túp lều bằng gỗ?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã đi đến gặp viên quản lý kho gỗ, sau khi đến đã nói với viên quản lý kho gỗ điều này: &#8211; “Này đạo hữu, quả đã đến lần thứ ba, lúc ta đã đi vào làng để khất thực, những cô cắt cỏ, những cô mót củi đã tháo gỡ túp lều cỏ, đoạt lấy cỏ và gỗ, rồi (mang) đi. Ngay cả túp lều toàn bằng đất sét được ta tạo nên cũng đã bị đức Thế Tôn cho phá vỡ. Này đạo hữu, hãy cho ta các cây gỗ; ta muốn thực hiện túp lều bằng gỗ.” &#8211; “Thưa ngài, các cây gỗ mà tôi có thể dâng ngài thì các loại như thế ấy không có. Thưa ngài, có những cây gỗ thuộc quốc khố là vật liệu tu bổ thành phố được để riêng phòng lúc hữu sự, nếu đức vua bảo cho các thứ ấy thì thưa ngài, ngài hãy bảo người mang đi.” &#8211; “Này đạo hữu, đã được đức vua cho rồi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, viên quản lý kho gỗ (nghĩ rằng): “Các Sa-môn Thích tử này quả thật là những vị thực hành Pháp, là những vị thực hành sự an tịnh, là những vị có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp. Ngay cả đức vua cũng tịnh tín những vị này. Không thể nào (họ) lại nói: ‘Đã được cho!’ về vật chưa được cho,” nên đã nói với đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm điều này: &#8211; “Thưa ngài, ngài hãy cho người mang đi.” Sau đó, đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã cho người cắt xẻ các cây gỗ ấy thành từng miếng, đã cho chuyển đi bằng các xe tải, rồi đã thực hiện túp lều bằng gỗ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, Bà-la-môn Vassakāra là quan đại thần xứ Magadha trong lúc đi thanh tra các công việc trong thành Rājagaha đã đi đến gặp viên quản lý kho gỗ, sau khi đến đã nói với viên quản lý kho gỗ điều này: &#8211; “Này khanh, có những cây gỗ thuộc quốc khố là vật liệu tu bổ thành phố được để riêng phòng lúc hữu sự, những cây gỗ ấy đâu rồi?” &#8211; “Thưa quan lớn, những cây gỗ ấy đã được đức vua cho đến ngài Dhaniya con trai người thợ gốm rồi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, Bà-la-môn Vassakāra quan đại thần xứ Magadha đã trở nên không hoan hỷ (nghĩ rằng): “Vì sao đức vua lại cho Dhaniya con trai người thợ gốm những cây gỗ thuộc quốc khố là vật liệu tu bổ thành phố được để riêng phòng lúc hữu sự?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, Bà-la-môn Vassakāra quan đại thần xứ Magadha đã đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này: &#8211; “Tâu bệ hạ, nghe nói những cây gỗ thuộc quốc khố là vật liệu tu bổ thành phố được để riêng phòng lúc hữu sự đã được bệ hạ cho đến Dhaniya con trai người thợ gốm, có đúng không vậy?” &#8211; “Ai đã nói như thế?” &#8211; “Tâu bệ hạ, viên quản lý kho gỗ.” &#8211; “Này Bà-la-môn, vậy thì khanh hãy cho lệnh gọi viên quản lý kho gỗ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, Bà-la-môn Vassakāra quan đại thần xứ Magadha đã truyền lệnh trói viên quản lý kho gỗ. Đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã nhìn thấy viên quản lý kho gỗ bị trói lại và đang bị dẫn đi, sau khi nhìn thấy đã nói với viên quản lý kho gỗ điều này: &#8211; “Này đạo hữu, vì sao ngươi bị trói và bị dẫn đi vậy?” &#8211; “Thưa ngài, vì sự việc của những cây gỗ ấy.” &#8211; “Này đạo hữu, ngươi cứ đi. Ta cũng đi nữa.” &#8211; “Thưa ngài, ngài nên đi đến trước khi tôi bị giết chết.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm đã đi đến hậu cung của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm điều này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, nghe nói những cây gỗ thuộc quốc khố là vật liệu tu bổ thành phố được để riêng phòng lúc hữu sự đã được trẫm cho đến ngài, có đúng không vậy?” &#8211; “Tâu đại vương, đúng vậy.” &#8211; “Thưa ngài, chúng tôi là những vị vua có nhiều phận sự, có nhiều việc phải làm, ngay cả sau khi đã cho chúng tôi cũng không thể nhớ được. Thưa ngài, giờ xin hãy nhắc lại.” &#8211; “Tâu đại vương, ngài có nhớ khi được phong vương lần thứ nhất ngài đã tuyên bố lời như vầy: ‘Cỏ, gỗ, và nước đã được dâng đến các Sa-môn và Bà-la-môn, hãy để cho các vị sử dụng.’” &#8211; “Thưa ngài, trẫm đã nhớ rồi. Thưa ngài, có những Sa-môn và Bà-la-môn khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy có sự hối hận cho dù sự việc là nhỏ nhặt, và vật đã được trẫm nói có liên quan đến các vị ấy là vật vô chủ ở trong rừng. Thưa ngài, ngài đây suy nghĩ dùng mưu mẹo ấy để lấy vật chưa được cho là các cây gỗ. Làm sao trẫm đây có thể hành hạ, hoặc giam giữ, hoặc trục xuất vị Sa-môn hay vị Bà-la-môn đang cư ngụ trong lãnh thổ được? Thưa ngài, ngài hãy đi. Ngài được tự do nhờ vào hình tướng. Ngài cũng chớ có tái phạm việc như vầy nữa!”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, giới hạnh xấu xa, nói láo. Chính các vị này làm ra vẻ là có sự thực hành Pháp, có thực hành sự an tịnh, có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Các vị này không có Sa-môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh! Sa-môn hạnh của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị này đã bị hư hỏng! Sa-môn hạnh của các vị này đâu rồi? Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa-môn hạnh của các vị này đã không còn! Phạm hạnh của các vị này đã không còn! Các vị này còn đánh lừa ngay cả đức vua, thì còn gì nữa đối với những người khác?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm lại lấy vật chưa được cho là các cây gỗ của đức vua vậy?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm rằng: &#8211; “Này Dhaniya, nghe nói ngươi lấy vật chưa được cho là các cây gỗ của đức vua, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại lấy vật chưa được cho là các cây gỗ của đức vua vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này kẻ rồ dại, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị nọ trước kia là quan đại thần xử án nay đã xuất gia ở nơi các tỳ khưu, đang ngồi cách đức Thế Tôn không xa. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: &#8211; “Này tỳ khưu, với mức bao nhiêu thì đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha (sẽ) hành hạ, hoặc giam giữ, hoặc trục xuất kẻ trộm cắp sau khi bắt được?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, với một pāda, hoặc tương đương với một pāda.” Vào lúc bấy giờ, ở thành Rājagaha năm māsakathì bằng một pāda.[1] Khi ấy, đức Thế Tôn đã khiển trách đại đức Dhaniya con trai người thợ gốm bằng nhiều phương thức về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Vị tỳ khưu nào lấy vật không được cho theo lối trộm cướp; tương tợ như trong vụ đánh cắp, các vị vua sau khi bắt được kẻ trộm thì có thể hành hạ, hoặc có thể giam giữ, hoặc có thể trục xuất (phán rằng): ‘Ngươi là kẻ trộm, ngươi là kẻ ngu, ngươi là kẻ khờ, ngươi là kẻ cướp;’ tương tợ như thế, vị tỳ khưu khi lấy vật không được cho, vị này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.</span></p>
<h4><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự quy định căn bản</b></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã đi đến chỗ nhuộm y và lấy trộm gói đồ nhuộm mang về tu viện chia nhau. Các tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, các vị thật là đại phước! Có nhiều y đã được phát sanh đến các vị.” &#8211; “Này các đại đức, do đâu mà chúng tôi có phước? Hôm nay, chúng tôi đã đi đến chỗ nhuộm y và lấy trộm gói đồ nhuộm.” &#8211; “Này các đại đức, không phải điều học đã được đức Thế Tôn quy định hay sao? Này các đại đức, tại sao các người lại lấy trộm gói đồ nhuộm?” &#8211; “Này các đại đức, đúng vậy. Điều học đã được đức Thế Tôn quy định và điều ấy là ở trong làng, không phải ở trong rừng.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các đại đức, điều ấy không phải là như thế hay sao? Này các đại đức, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này các đại đức, vì sao các đại đức lại lấy trộm gói đồ nhuộm?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Này các đại đức, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các đại đức, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã khiển trách các tỳ khưu nhóm Lục Sư bằng nhiều phương thức, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu nhóm Lục Sư rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi đã đi đến chỗ nhuộm y và lấy trộm gói đồ nhuộm, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này những kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại đi đến chỗ nhuộm y và lấy trộm gói đồ nhuộm? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Vị tỳ khưu nào lấy vật không được cho từ làng hoặc từ rừng theo lối trộm cướp; tương tợ như trong vụ đánh cắp, các vị vua sau khi bắt được kẻ trộm thì có thể hành hạ, hoặc có thể giam giữ, hoặc có thể trục xuất (phán rằng): ‘Ngươi là kẻ trộm, ngươi là kẻ ngu, ngươi là kẻ khờ, ngươi là kẻ cướp;’ tương tợ như thế, vị tỳ khưu trong khi lấy vật không được cho, vị này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định lần hai</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b>: ‘Vị đi khất thực’ là tỳ khưu. ―(như trên)― vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Làng</b> nghĩa là một túp lều cũng là làng. Hai túp lều cũng là làng. Ba túp lều cũng là làng. Bốn túp lều cũng là làng. Làng có người. Làng không có người. Làng được rào lại. Làng không được rào lại. Nơi các bầy bò chăn thả dừng lại tạm nghỉ cũng được gọi là làng. Thậm chí đoàn xe tải của thương buôn dừng lại trên bốn tháng cũng được gọi là làng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vùng ven làng </b>nghĩa là (tính đến) chỗ rơi xuống của cục đất được ném đi bởi người nam (có sức mạnh) hạng trung đứng ở bục cổng của ngôi làng được rào lại, (hoặc tính đến) chỗ rơi xuống của cục đất được ném đi bởi người nam (có sức mạnh) hạng trung đứng ở vùng biên của các ngôi nhà thuộc ngôi làng không được rào lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Rừng</b> nghĩa là trừ đi làng và vùng ven làng, phần còn lại gọi là rừng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vật không được cho</b> nghĩa là vật nào chưa được cho, chưa được trao, chưa được dứt bỏ, được bảo vệ, được canh giữ, có sở hữu chủ, được quản lý bởi người khác; vật ấy là vật không được cho.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Theo lối trộm cướp</b>: có tâm trộm cướp, có tâm lấy trộm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Lấy</b>: vị lấy đi, vị mang đi, vị lấy trộm, vị làm thay đổi tư thế, vị làm di chuyển khỏi vị trí, vị vượt qua sự quy định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có hình thức như thế</b> nghĩa là một pāda, hoặc tương đương một pāda, hoặc hơn một pāda.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Các vị vua</b> nghĩa là các vị vua (cai trị) toàn trái đất, các vị vua của một xứ, các vị vua của một vùng, các vị trưởng bộ tộc, các quan xử án, các quan đại thần, hoặc các vị nào điều khiển việc gia hình, các vị này gọi là các vị vua.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Kẻ trộm</b> nghĩa là kẻ nào lấy đi theo lối trộm cướp vật không được cho trị giá năm māsakahoặc hơn năm māsaka, kẻ ấy gọi là kẻ trộm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc có thể hành hạ</b>: Họ có thể hành hạ bằng tay, hoặc bằng chân, hoặc bằng roi, hoặc bằng gậy, hoặc bằng dùi cui, hoặc bằng cách làm cho tàn phế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc có thể giam giữ</b>: Họ có thể giam giữ theo cách trói bằng dây thừng, hoặc theo cách trói bằng xiềng xích, hoặc theo cách trói bằng cùm, hoặc bằng cách giam trong nhà ngục, hoặc bằng cách giữ trong thành phố, hoặc bằng cách giữ trong làng, hoặc bằng cách giữ trong thị trấn, hoặc họ có thể thực hiện việc cho người canh gác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc có thể trục xuất</b>: Họ có thể trục xuất ra khỏi làng, hoặc ra khỏi thị trấn, hoặc ra khỏi thành phố, hoặc ra khỏi khu vực, hoặc ra khỏi xứ sở.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ngươi là kẻ trộm, ngươi là kẻ ngu, ngươi là kẻ khờ, ngươi là kẻ cướp</b>: Điều này là sự quở trách.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có hình thức như thế</b> nghĩa là một pāda, hoặc tương đương một pāda, hoặc hơn một pāda.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong khi lấy</b>: trong khi lấy đi, trong khi mang đi, trong khi lấy trộm, trong khi làm thay đổi tư thế, trong khi làm cho rời khỏi vị trí, trong khi vượt qua sự quy định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị này cũng</b>: được đề cập liên quan đến vị trước đây</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Là vị phạm tội </b><b>pārājika</b>: cũng giống như chiếc lá vàng đã lìa khỏi cành không thể xanh trở lại, tương tợ như thế vị tỳ khưu lấy đi theo lối trộm cướp vật không được cho có giá trị mộtpāda, hoặc tương đương một pāda, hoặc hơn một pāda thì không phải là Sa-môn, không phải là Thích tử; vì thế, được gọi là ‘vị phạm tội pārājika.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Không được cộng trú</b>: Sự cộng trú nghĩa là có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau, điều ấy gọi là sự cộng trú. Vị ấy không có được điều ấy, vì thế được gọi là ‘không được cộng trú.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<h4><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tiêu đề hướng dẫn</b></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vật ở trong đất, vật ở trên mặt đất, vật ở trên không trung, vật ở khoảng không, vật ở trong nước, vật ở trên chiếc thuyền, vật ở trong xe, vật là gói hàng, vật ở trong vườn, vật ở trong trú xá, vật ở trong ruộng, vật ở trong khu đất, vật ở trong làng, vật ở trong rừng, nước, tăm xỉa răng, cây rừng, vật được mang đi, vật được ký gởi, trạm thuế, sinh mạng, loài không chân, loài hai chân, loài bốn chân, loài nhiều chân, người theo dõi, người bảo vệ vật ký gởi, lấy trộm theo kế hoạch, hành động theo sự quy định, hành động theo dấu hiệu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vật ở trong đất </b>nghĩa là vật được đặt xuống, được chôn, được phủ kín ở trong lòng đất. Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong đất: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai, hoặc tìm kiếm cái thuổng hay cái giỏ, hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; chặt cây hoặc dây leo mọc ở nơi ấy thì phạm tội dukkaṭa;[2] đào đất, hoặc xắn ra, hoặc lấy lên thì phạm tộidukkaṭa; sờ vào cái hũ thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. Sau khi đưa vật đựng của mình vào (trong hũ)[3] rồi khởi tâm trộm cắp vật có giá trị năm māsaka hoặc hơn năm māsaka, sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; bỏ vào trong vật đựng của mình hoặc tách ra một nắm tay thì phạm tội pārājika. Vị khởi tâm trộm cắp vật làm theo dạng sợi: hoặc là dây thắt lưng, hoặc là dây chuyền cổ, hoặc là dây chuyền ở hông, hoặc là tấm vải choàng, hoặc là khăn xếp đội đầu, sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; nắm vào chóp (của một vật nào) rồi nâng lên thì phạm tội thullaccaya; chà xát rồi bỏ xuống thì phạm tộithullaccaya; đưa ra khỏi miệng hũ cho dù khoảng cách chỉ mảnh như sợi tóc thì phạm tộipārājika. Vị khởi tâm trộm cắp bơ lỏng, hay dầu ăn, hay mật ong, hay nước mía rồi uống trong một lần trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì phạm tội pārājika. Ngay tại chỗ đó, đập bể, hoặc đổ bỏ, hoặc đốt đi, hoặc làm cho không còn sử dụng được nữa thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vật ở trên đất</b> nghĩa là vật được đặt xuống ở trên mặt đất. Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trên mặt đất: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vật ở trên không</b> nghĩa là vật di chuyển ở trên không, hoặc là chim công, hoặc là chim đa đa, hoặc là gà gô, hoặc là chim cun cút, hoặc là tấm vải choàng, hoặc là khăn xếp đội đầu, hoặc là bạc, hoặc là vàng đang bị bể ra và rơi xuống. Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trên không: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; làm gián đoạn sự di chuyển thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vật ở khoảng không</b> nghĩa là vật được đặt ở khoảng không (cách khoảng với mặt đất) hoặc là ở trên giường, hoặc là ở trên ghế, hoặc là ở sào máng y, hoặc là ở dây treo y, hoặc là ở chốt đinh đóng ở tường, hoặc là ở cái móc ngà voi, hoặc là được treo trên cây, thậm chí chỉ ở trên vật kê bình bát. Vị khởi tâm trộm cắp vật ở khoảng không: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vật ở trong nước</b> nghĩa là vật được đặt ở trong nước. Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong nước: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; lặn xuống hoặc nổi lên thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. Vị khởi tâm trộm cắp hoặc là đóa sen xanh, hoặc là đóa sen hồng, hoặc là đóa sen trắng, hoặc là ngó sen mọc ở nơi ấy, hoặc là cá, hoặc là rùa trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tộidukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thuyền</b> nghĩa là vượt qua (hồ, sông, biển, v.v&#8230;) bằng vật ấy. <b>Vật ở trên chiếc thuyền</b>nghĩa là vật được đặt ở trên thuyền. Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trên chiếc thuyền: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. Vị khởi tâm trộm cắp chiếc thuyền: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; tháo dây buộc thì phạm tội dukkaṭa; sau khi tháo dây buộc, sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển lên, hoặc xuống, hoặc ngang, cho dù khoảng cách chỉ mảnh như sợi tóc thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Xe</b> nghĩa là xe có mui, xe kéo hai bánh, xe tải hàng, xe ngựa kéo. <b>Vật ở trong xe</b> nghĩa là vật được đặt ở trong xe. Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong xe: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. Vị khởi tâm trộm cắp chiếc xe: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Gói hàng</b> nghĩa là gói hàng ở trên đầu, gói hàng ở vai, gói hàng ở hông, vật được đeo. Vị khởi tâm trộm cắp gói hàng ở trên đầu rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; đưa xuống vai thì phạm tội pārājika. Vị khởi tâm trộm cắp rồi sờ vào gói hàng ở trên vai thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; đưa xuống hông thì phạm tội pārājika. Vị khởi tâm trộm cắp gói hàng ở hông rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; cầm bằng tay thì phạm tội pārājika. Vị khởi tâm trộm cắp gói hàng ở tay rồi đặt xuống mặt đất thì phạm tội pārājika. Vị khởi tâm trộm cắp rồi nhấc lên khỏi mặt đất thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vườn</b> nghĩa là vườn hoa, vườn trái cây. <b>Vật ở trong vườn</b> nghĩa là vật được đặt ở bốn nơi trong vườn: vật ở trong đất, vật ở trên mặt đất, vật ở trên không trung, vật ở khoảng không. Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong vườn: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. Vị khởi tâm trộm cắp vật mọc ở nơi ấy hoặc là rễ cây, hoặc là vỏ cây, hoặc là lá cây, hoặc là bông hoa, hoặc là trái cây trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. Vị kiện cáo về khu vườn thì phạm tội dukkaṭa; làm cho người chủ khởi lên sự nghi hoặc (về sở hữu chủ) thì phạm tộithullaccaya; người chủ buông bỏ trách nhiệm: “(Khu vườn) sẽ không còn là của tôi nữa!” thì phạm tội pārājika. Trong khi thực thi công lý, (nếu) thắng người chủ thì phạm tội pārājika. Trong khi thực thi công lý, (nếu) thua thì phạm tội thullaccaya.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vật ở trong trú xá</b> nghĩa là vật được đặt ở bốn nơi trong trú xá: vật ở trong đất, vật ở trên mặt đất, vật ở trên không trung, vật ở khoảng không. Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong trú xá: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. Vị kiện cáo về trú xá thì phạm tội dukkaṭa; làm cho người chủ khởi lên sự nghi hoặc (về sở hữu chủ) thì phạm tội thullaccaya; người chủ buông bỏ trách nhiệm: “(Trú xá) sẽ không còn là của tôi nữa!” thì phạm tội pārājika. Trong khi thực thi công lý, (nếu) thắng người chủ thì phạm tội pārājika. Trong khi thực thi công lý, (nếu) thua thì phạm tội thullaccaya.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ruộng</b> nghĩa là nơi sản xuất thóc lúa hoặc rau xanh. <b>Vật ở trong ruộng</b> nghĩa là vật được đặt ở bốn nơi trong ruộng: vật ở trong đất, vật ở trên mặt đất, vật ở trên không trung, vật ở khoảng không. Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong ruộng: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. Vị khởi tâm trộm cắp thóc lúa hoặc là rau xanh trồng ở nơi ấy trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. Vị kiện cáo về mảnh ruộng thì phạm tội dukkaṭa; làm cho người chủ khởi lên sự nghi hoặc (về sở hữu chủ) thì phạm tội thullaccaya; người chủ buông bỏ trách nhiệm: “(Thửa Ruộng) sẽ không còn là của tôi nữa!” thì phạm tội pārājika. Trong khi thực thi công lý, (nếu) thắng người chủ thì phạm tội pārājika. Trong khi thực thi công lý, (nếu) thua thì phạm tộithullaccaya. Vị di chuyển cọc ranh, hoặc dây ngăn, hoặc hàng rào, hoặc ranh giới thì phạm tộidukkaṭa; khi phần việc cuối cùng chưa hoàn tất thì phạm tội thullaccaya; khi phần việc cuối cùng ấy đã hoàn tất thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khu đất</b> nghĩa là khu đất vườn, khu đất trú xá. <b>Vật ở trong khu đất</b> nghĩa là vật được đặt ở bốn nơi trong khu đất: vật ở trong đất, vật ở trên mặt đất, vật ở trên không trung, vật ở khoảng không. Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong khu đất: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. Vị kiện cáo về khu đất thì phạm tội dukkaṭa; làm cho người chủ khởi lên sự nghi hoặc (về sở hữu chủ) thì phạm tội thullaccaya; người chủ buông bỏ trách nhiệm: “(Khu đất) sẽ không còn là của tôi nữa!” thì phạm tội pārājika. Trong khi thực thi công lý, (nếu) thắng người chủ thì phạm tội pārājika. Trong khi thực thi công lý, (nếu) thua thì phạm tội thullaccaya. Vị di chuyển cọc ranh, hoặc dây ngăn, hoặc hàng rào, hoặc tường thành thì phạm tội dukkaṭa; khi phần việc cuối cùng chưa hoàn tất thì phạm tội thullaccaya; khi phần việc cuối cùng ấy đã hoàn tất thì phạm tộipārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vật ở trong làng</b> nghĩa là vật được đặt ở bốn nơi trong làng: vật ở trong đất, vật ở trên mặt đất, vật ở trên không trung, vật ở khoảng không. Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong làng: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Rừng </b>nghĩa là nơi nào có được sự quản lý của con người, nơi ấy tức là rừng. <b>Vật ở trong rừng</b> nghĩa là vật được đặt ở bốn nơi trong rừng: vật ở trong đất, vật ở trên mặt đất, vật ở trên không trung, vật ở khoảng không. Vị khởi tâm trộm cắp vật ở trong rừng: “Ta sẽ lấy trộm,” rồi kiếm thêm người thứ hai hoặc đi (một mình) thì phạm tội dukkaṭa; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. Vị khởi tâm trộm cắp hoặc là cây gỗ, hoặc là dây leo, hoặc là cỏ mọc ở nơi ấy trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nước</b> nghĩa là nước đã được đưa vào trong chậu, hoặc ở trong là hồ chứa, hoặc ở trong đập ngăn. Vị khởi tâm trộm cắp rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tộithullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. Sau khi đưa vật đựng của mình vào, vị khởi tâm trộm cắp số nước trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tộidukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm cho (nước) vào hẳn trong vật đựng của mình thì phạm tội pārājika. Vị phá vỡ tường thành thì phạm tội dukkaṭa; sau khi phá vỡ tường thành rồi làm cho thoát ra lượng nước trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì phạm tội pārājika; làm cho thoát ra lượng nước trị giá hơn một māsaka hoặc kém nămmāsaka thì phạm tội thullaccaya; làm cho thoát ra lượng nước trị giá một māsaka hoặc kém một māsaka thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tăm xỉa răng</b> nghĩa là đã được cắt hoặc chưa được cắt. Vị khởi tâm trộm cắp vật trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Cây rừng</b> nghĩa là cây gỗ có sự hữu dụng được con người quản lý. Vị khởi tâm trộm cắp rồi (dùng dao) chặt thì phạm tội dukkaṭa theo mỗi nhát dao; khi nhát dao cuối cùng chưa hoàn tất thì phạm tội thullaccaya; khi nhát dao cuối cùng đã hoàn tất thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vật được mang đi</b> nghĩa là vật được mang đi thuộc về người khác. Vị khởi tâm trộm cắp rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. (Nghĩ rằng): “Ta sẽ dẫn đi người khuân vác cùng với vật” rồi làm di chuyển bước chân thứ nhất thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển bước chân thứ nhì thì phạm tội pārājika. (Nghĩ rằng): “Ta sẽ nhặt lấy vật bị rơi” rồi làm cho (vật) rơi xuống thì phạm tội dukkaṭa.Vị khởi tâm trộm cắp vật bị rơi xuống trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vật ký gởi</b> nghĩa là vật được ủy thác. Khi được nói rằng: “Cho tôi vật (đã ký gởi)” vị trả lời: “Tôi không có giữ” thì phạm tội dukkaṭa; làm cho người chủ khởi lên sự nghi hoặc (về việc ký gởi) thì phạm tội thullaccaya; người chủ buông bỏ vấn đề: “Người này sẽ không trao cho ta!” thì phạm tội pārājika. Trong khi thực thi công lý, (nếu) thắng người chủ thì phạm tội pārājika. Trong khi thực thi công lý, (nếu) thua thì phạm tội thullaccaya.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trạm thuế</b> nghĩa là ở khe núi, hoặc ở bến đò, hoặc ở cổng làng đức vua đã quy định rằng: “Hãy thâu thuế đối với người đi vào nơi này.” Sau khi đi vào nơi đó, vị khởi tâm trộm cắp vật có thuế phải đóng trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tộidukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; vượt qua khỏi trạm thuế bước thứ nhất thì phạm tội thullaccaya; vượt qua bước thứ nhì thì phạm tội pārājika. Vị đứng ở giữa trạm thuế và ném ra khỏi trạm thuế thì phạm tội pārājika. Vị tránh né việc đóng thuế thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sinh mạng</b> nghĩa là sinh mạng con người được đề cập đến. Vị khởi tâm trộm cắp rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. (Nghĩ rằng): “Ta sẽ dẫn đi từng bước” rồi làm di chuyển bước chân thứ nhất thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển bước chân thứ nhì thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Loài không chân</b> nghĩa là loài rắn, loài cá. Vị khởi tâm trộm cắp (loài không chân) trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Loài hai chân</b> nghĩa là loài người, loài có cánh.[4] Vị khởi tâm trộm cắp (loài hai chân) rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. (Nghĩ rằng): “Ta sẽ dẫn đi từng bước” rồi làm di chuyển bước chân thứ nhất thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển bước chân thứ nhì thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Loài bốn chân</b> nghĩa là loài voi, loài ngựa, loài lạc đà, loài bò, loài lừa, loài gia súc. Vị khởi tâm trộm cắp (loài bốn chân) rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. (Nghĩ rằng): “Ta sẽ dẫn đi từng bước” rồi làm di chuyển bước chân thứ nhất thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển bước chân thứ nhì thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển bước chân thứ ba thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển bước chân thứ tư thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Loài nhiều chân</b> nghĩa là loài bò cạp, loài rết (trăm chân), loài sâu róm. Vị khởi tâm trộm cắp (loài nhiều chân) trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tộidukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika. (Nghĩ rằng): “Ta sẽ dẫn đi từng bước” rồi làm di chuyển bước chân thứ nhất thì phạm tộithullaccaya; làm di chuyển cứ mỗi bước chân thì phạm tội thullaccaya; làm di chuyển bước chân cuối cùng thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người theo dõi</b> nghĩa là sau khi theo dõi vật dụng rồi nói rằng: “Hãy lấy trộm vật dụng tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Vị kia lấy trộm vật dụng ấy thì cả hai phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người bảo vệ vật ký gởi</b> nghĩa là gìn giữ vật đã được mang đến. Vị khởi tâm trộm cắp (vật ký gởi) trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka rồi sờ vào thì phạm tội dukkaṭa; làm lay động thì phạm tội thullaccaya; làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Lấy trộm theo kế hoạch</b> nghĩa là sau khi nhiều vị bàn thảo rồi một vị lấy trộm đồ vật thì tất cả đều phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành động theo sự quy định</b> nghĩa là lập nên sự quy định rằng: “Hãy lấy trộm vật ấy vào giờ quy định ấy, hoặc là trước bữa ăn, hoặc là sau bữa ăn, hoặc là ban đêm, hoặc là ban ngày” thì phạm tội dukkaṭa; (vị kia) lấy trộm đồ vật ấy vào giờ quy định ấy thì cả hai phạm tội pārājika; (vị kia) lấy trộm đồ vật ấy trước hay sau giờ quy định ấy thì vị khởi xướng vô tội, còn vị lấy trộm phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành động theo dấu hiệu</b> nghĩa là lập nên dấu hiệu rằng: “Hoặc là tôi sẽ nháy mắt, hoặc là tôi sẽ nhướng mày, hoặc là tôi sẽ ngẩng đầu lên, ngươi hãy lấy trộm vật ấy theo dấu hiệu ấy” thì phạm tội dukkaṭa; (vị kia) lấy trộm vật ấy theo dấu hiệu ấy thì cả hai phạm tội pārājika; (vị kia) lấy trộm vật dụng ấy trước hay sau dấu hiệu ấy thì vị khởi xướng vô tội, còn vị lấy trộm phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Vị kia nhận biết vật ấy rồi lấy trộm vật ấy thì cả hai phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Vị kia nhận biết vật ấy rồi lấy trộm vật khác thì vị khởi xướng vô tội, còn vị lấy trộm phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Vị kia nhận biết vật khác rồi lấy trộm vật ấy thì cả hai phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Vị kia nhận biết vật khác rồi lấy trộm vật khác thì vị khởi xướng vô tội, còn vị lấy trộm phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu (A)[5] chỉ thị vị tỳ khưu (B) rằng: “Hãy bảo vị tên (C) rằng: Vị tên (C) hãy nói với vị tên (D) rằng: ‘Vị tên (D) hãy lấy trộm vật tên như vầy’” thì vị ấy (A) phạm tội dukkaṭa. Vị (nào) nói cho vị khác thì phạm tội dukkaṭa. Vị lấy trộm (D) đồng ý thì vị khởi xướng (A) phạm tội thullaccaya; vị ấy (D) lấy trộm vật ấy thì tất cả đều phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu (A) chỉ thị vị tỳ khưu (B) rằng: “Hãy bảo vị tên (C) rằng: Vị tên (C) hãy nói với vị tên (D) rằng: ‘Vị tên (D) hãy lấy trộm vật tên như vầy’” thì vị ấy (A) phạm tội dukkaṭa. Vị ấy (B) chỉ thị vị khác (D) thì vị ấy (B) phạm tội dukkaṭa. Vị lấy trộm (D) đồng ý thì vị ấy (D) phạm tội dukkaṭa; vị ấy (D) lấy trộm vật ấy thì vị khởi xướng (A) vô tội, vị truyền chỉ thị (B) và vị lấy trộm (D) phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Vị kia đi rồi quay trở lại (nói rằng): “Tôi không thể lấy trộm vật ấy.” Vị ấy lại chỉ thị thêm: “Khi nào ngươi có thể thì khi ấy ngươi hãy lấy trộm vật ấy” thì phạm tội dukkaṭa. Vị kia lấy trộm vật ấy thì cả hai phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận nhưng không nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có lấy trộm.” Vị kia lấy trộm vật ấy thì cả hai phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận rồi nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có lấy trộm.” Vị kia (đáp lại rằng): “Tôi đã được ngài chỉ thị” rồi lấy trộm vật ấy thì vị khởi xướng vô tội, còn vị lấy trộm phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy lấy trộm vật tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận rồi nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có lấy trộm.” Vị kia (đáp lại rằng): “Tốt thôi” rồi ngưng lại thì cả hai vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị lấy vật không được cho phạm tội pārājika do năm yếu tố: là vật thuộc về người khác; biết vật thuộc về người khác; là vật dụng quan trọng trị giá năm māsaka hoặc hơn nămmāsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội thullaccaya, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị lấy vật không được cho phạm tội thullaccaya do năm yếu tố: là vật thuộc về người khác; biết vật thuộc về người khác; là vật dụng tầm thường trị giá hơn một māsaka hoặc kém năm māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội dukkaṭa, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội thullaccaya.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị lấy vật không được cho phạm tội dukkaṭa do năm yếu tố: là vật thuộc về người khác; biết vật thuộc về người khác; là vật dụng tầm thường trị giá một māsaka hoặc kém mộtmāsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội dukkaṭa, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị lấy vật không được cho phạm tội pārājika do sáu yếu tố: biết vật không thuộc về mình; lấy không phải do sự thân thiết; không phải (mượn) trong thời hạn; là vật dụng quan trọng trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội thullaccaya, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị lấy vật không được cho phạm tội thullaccaya do sáu yếu tố: biết vật không thuộc về mình; lấy không phải do sự thân thiết; không phải (mượn) trong thời hạn; là vật dụng tầm thường trị giá hơn một māsaka hoặc kém năm māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội dukkaṭa, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội thullaccaya.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị lấy vật không được cho phạm tội dukkaṭa do sáu yếu tố: biết vật không thuộc về mình; lấy không phải do sự thân thiết; không phải (mượn) trong thời hạn; là vật dụng tầm thường trị giá một māsaka hoặc kém một māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tộidukkaṭa, làm lay động thì phạm tội dukkaṭa, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị lấy vật không được cho phạm tội dukkaṭa do năm yếu tố: là vật không thuộc về người khác; nghĩ là vật thuộc về người khác; là vật dụng quan trọng trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội dukkaṭa, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị lấy vật không được cho phạm tội dukkaṭa do năm yếu tố: là vật không thuộc về người khác; nghĩ là vật thuộc về người khác; là vật dụng tầm thường trị giá hơn một māsaka hoặc kém năm māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội dukkaṭa, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị lấy vật không được cho phạm tội dukkaṭa do năm yếu tố: là vật không thuộc về người khác; nghĩ là vật thuộc về người khác; là vật dụng tầm thường trị giá một māsaka hoặc kém một māsaka; và tâm trộm cắp có hiện diện; sờ vào thì phạm tội dukkaṭa, làm lay động thì phạm tội dukkaṭa, làm dời khỏi vị trí thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tưởng là của mình, khi lấy do sự thân thiết, (mượn) trong thời hạn, thuộc về người chết, thuộc về loài thú, nghĩ là vật bị quăng bỏ, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm thứ nhất về việc trộm cắp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 18.6667px;"><b>Chuyện Dẫn Giải Tóm Lược</b></span></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm chuyện được thuật lại bởi những người thợ nhuộm, và bốn chuyện về những tấm vải choàng, năm chuyện về ban đêm, năm và sáu chuyện nữa liên quan đến việc mang vác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm chuyện được thuật lại về lối nói, hai chuyện khác về gió, ở (thi thể) chưa hoại, việc rút thăm cỏ kusa, với chuyện nhà tắm thứ mười.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm chuyện được thuật lại về vật thú ăn thừa lại, và cũng năm chuyện liên quan đến việc vô căn cứ, lúc khó khăn vật thực, cơm, thịt, và bánh nướng, bánh ngọt, và thịt ngọt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vật dụng, túi xách, tấm nệm, sào máng y, vị đã không đi ra, và vật nên được ăn do thân thiết, hai chuyện khác về lầm tưởng của mình.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Chúng tôi không lấy trộm’ có bảy chuyện, và họ đã lấy trộm cũng bảy chuyện, họ đã lấy trộm của hội chúng bảy chuyện, hai chuyện khác về bông hoa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và nhân danh người khác nói có ba chuyện, đem qua ba viên ngọc ma-ni, các con heo rừng, nai, và cá, và vị đã di chuyển luôn cả chiếc xe.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chim tha đi hai chuyện, hai chuyện về khúc gỗ, vải quăng bỏ, hai chuyện về nước, theo lần lượt, sự phân công, chuyện khác về việc ấy đã chưa làm cho đủ số.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bốn chuyện về nắm tay ở trong thành Sāvatthī, phần còn thừa hai chuyện, hai chuyện về cỏ, (trái cây) thuộc hội chúng, họ đã chia phần có bảy chuyện, và bảy chuyện nữa về không có chủ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Gỗ, nước, và đất sét, hai chuyện về cỏ, họ đã trộm vật thuộc hội chúng có bảy chuyện, và cũng không nên di chuyển vật có chủ nhân, có thể mang đi vật có chủ trong một thời hạn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở Campā, và luôn cả Vương Xá, và vị Ajjuka ở thành Vesālī, chuyện Bārāṇasī, và ở Kosambī, và vị Daḷhika ở thành Sāgalā.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã đi đến chỗ nhuộm y và lấy trộm gói đồ nhuộm. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định; phải chăng chúng ta đã phạm tội pārājika?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến chỗ nhuộm y nhìn thấy tấm vải quý giá nên đã khởi lên tâm trộm cắp. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tộipārājika?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vô tội trong việc sanh khởi tâm.” (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến chỗ nhuộm y nhìn thấy tấm vải quý giá nên khởi tâm trộm cắp rồi đã sờ vào. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến chỗ nhuộm y nhìn thấy tấm vải quý giá nên khởi tâm trộm cắp rồi đã làm lay động. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đến chỗ nhuộm y nhìn thấy tấm vải quý giá nên khởi tâm trộm cắp rồi đã làm dời khỏi vị trí. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu đi khất thực nọ sau khi nhìn thấy tấm vải choàng quý giá đã khởi lên tâm trộm cắp. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp rồi đã sờ vào. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp rồi đã làm lay động. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp rồi đã làm dời khỏi vị trí. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (6-9)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi nhìn thấy đồ vật vào ban ngày rồi đã làm dấu hiệu (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy trộm vào ban đêm.” Vị ấy nhận ra vật ấy rồi đã lấy trộm vật ấy. ―(như trên)― nhận ra vật ấy rồi đã lấy trộm vật khác. ―(như trên)― nhận ra vật khác rồi đã lấy trộm vật ấy. ―(như trên)― nhận ra vật khác rồi đã lấy trộm vật khác. ―(như trên)― Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (10-13)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi nhìn thấy đồ vật vào ban ngày rồi đã làm dấu hiệu (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy trộm vào ban đêm.” Vị ấy nhận ra vật ấy rồi đã lấy trộm (nhầm) đồ vật của chính mình. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (14)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ, trong lúc mang đồ vật của người khác, khởi tâm trộm cắp gói đồ ở trên đầu rồi đã sờ vào. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp rồi đã làm lay động. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp rồi đã đưa xuống vai. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp rồi đã sờ vào gói đồ ở trên vai. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp rồi đã làm lay động. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp rồi đã đưa xuống hông. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp gói đồ ở hông rồi đã sờ vào. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp rồi đã làm lay động. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp rồi đã cầm lấy bằng tay. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp gói đồ ở tay rồi đã đặt xuống đất ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp rồi đã nhấc lên khỏi mặt đất. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (15-25)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã căng y ở ngoài trời rồi đi vào trong trú xá. Có vị tỳ khưu khác (nghĩ rằng): “Chớ để y này bị hư hỏng” nên đã đem cất đi. Vị kia đi ra rồi đã hỏi vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Này đại đức, y của tôi đã bị ai lấy trộm?” Vị ấy đã nói như vầy: &#8211; “Đã bị tôi lấy trộm.” Vị kia đã giữ vị ấy lại (nói rằng): &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con (đáp lại) thuận theo câu nói.” &#8211; “Này tỳ khưu, vô tội trong việc (đáp lại) thuận theo câu nói.” (26)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã để y ở trên ghế. ―(như trên)― đã để tấm lót ngồi ở trên ghế ―(như trên)― đã để bình bát ở dưới ghế rồi đi vào trong trú xá. Có vị tỳ khưu khác (nghĩ rằng): “Chớ để bình bát này bị hư hỏng” nên đã đem cất đi. Vị kia đi ra rồi đã hỏi vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Này đại đức, bình bát của tôi đã bị ai lấy trộm?” Vị ấy đã nói như vầy: &#8211; “Đã bị tôi lấy trộm.” Vị kia đã giữ vị ấy lại (nói rằng): &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vô tội trong việc (đáp lại) thuận theo câu nói.” (27-29)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ đã căng y ở hàng rào rồi đi vào trong trú xá. Có vị tỳ khưu ni khác (nghĩ rằng): “Chớ để y này bị hư hỏng,” nên đã đem cất đi. Vị ni kia đi ra rồi đã hỏi vị tỳ khưu ni ấy rằng: &#8211; “Này ni sư, y của tôi đã bị ai lấy trộm?” Vị ni ấy đã nói như vầy: &#8211; “Đã bị tôi lấy trộm.” Vị ni kia đã giữ vị ni ấy lại (nói rằng): &#8211; “Cô không còn là nữ Sa-môn nữa.” Vị ni ấy đã có nỗi nghi hoặc. Sau đó, vị tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, vô tội trong việc (đáp lại) thuận theo câu nói.” (30)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi nhìn thấy tấm vải choàng bị cuốn đi bởi cơn gió xoáy (nghĩ rằng): “Ta sẽ cho lại những người chủ,” rồi đã nhặt lấy. Những người chủ đã quở trách vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con không có tâm trộm cắp.” &#8211; “Này tỳ khưu, vị không có tâm trộm cắp thì vô tội.” (31)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khởi tâm trộm cắp cái khăn xếp đội đầu bị cuốn đi bởi cơn gió xoáy (nghĩ rằng): “(Phải hành động) trước khi những người chủ nhìn thấy,” rồi đã nhặt lấy. Những người chủ đã quở trách vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (32)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi vào nơi nghĩa địa đã nhặt lấy vải paṃsukūlaở thi thể chưa hoại. Và có ngạ quỷ trú trong thi thể ấy. Khi ấy, ngạ quỷ ấy đã nói với vị tỳ khưu điều này: &#8211; “Thưa ngài, xin chớ lấy đi tấm vải choàng của tôi.” Vị tỳ khưu ấy không chú ý đến nên đã nhặt lấy. Khi ấy, thi thể ấy đã đứng dậy và đi sát phía sau vị tỳ khưu ấy. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đi vào trú xá và đóng cửa lại. Khi ấy, thi thể ấy đã té xuống ngay tại chỗ ấy.[6] Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên lấy vải paṃsukūla ở thi thể chưa hoại; vị nào lấy thì phạm tội dukkaṭa.” (33)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc phân chia các y của hội chúng khởi tâm trộm cắp nên đã tráo thăm và đã lấy được y. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (34)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, ở trong nhà tắm hơi đại đức Ānanda (lầm) tưởng y nội của vị tỳ khưu khác là của mình nên đã mặc vào. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã nói với đại đức Ānanda điều này: &#8211; “Này đại đức Ānanda, sao đại đức lại mặc y nội của tôi?” “Này đại đức, tôi tưởng là của tôi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị (lầm) tưởng là của mình thì vô tội.” (35)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu trong lúc từ núi Gijjhakūṭa đi xuống đã nhìn thấy phần thịt ăn còn thừa của sư tử nên đã cho nấu chín rồi thọ dụng. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, (trong trường hợp) phần thịt ăn còn thừa của sư tử thì vô tội.” (36)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu trong lúc từ núi Gijjhakūṭā đi xuống đã nhìn thấy phần thịt ăn còn thừa của loài cọp ―(như trên)― đã nhìn thấy phần thịt ăn còn thừa của loài beo ―(như trên)― đã nhìn thấy phần thịt ăn còn thừa của loài linh cẩu ―(như trên)― đã nhìn thấy phần thịt ăn còn thừa của chó sói nên đã cho nấu chín rồi thọ dụng. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, (trong trường hợp) vật thuộc về loài thú thì vô tội.” (37-40)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong khi cơm của hội chúng được phân chia (đã nói rằng): “Hãy trao cho tôi phần của vị khác” rồi đã lấy phần của vị không có hiện hữu. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tộipācittiya trong việc cố tình nói dối.”[7] (41)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong khi vật thực cứng của hội chúng được phân chia ―(như trên)― trong khi bánh nướng của hội chúng được phân chia ―(như trên)― trong khi mía cây của hội chúng được phân chia ―(như trên)― trong khi dưa của hội chúng được phân chia ―(như trên)― (nói rằng): “Hãy trao cho tôi phần của vị khác” rồi đã lấy phần của vị không có hiện hữu. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tộipārājika mà phạm tội pācittiya trong việc cố tình nói dối.”1 (42-45)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực có vị tỳ khưu nọ sau khi đi vào cửa hàng bán cơm đã khởi tâm trộm cắp và đã lấy trộm phần cơm đầy bát. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (46)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực có vị tỳ khưu nọ sau khi đi vào cửa hàng bán thịt đã khởi tâm trộm cắp và đã lấy trộm phần thịt đầy bát. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (47)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực có vị tỳ khưu nọ sau khi đi vào cửa hàng bán bánh nướng đã khởi tâm trộm cắp và đã lấy trộm phần bánh nướng đầy bát. ―(như trên)― đã khởi tâm trộm cắp và đã lấy trộm phần bánh ngọt đầy bát. ―(như trên)― đã khởi tâm trộm cắp và đã lấy trộm phần thịt ngọt đầy bát. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (48-50)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi nhìn thấy vật dụng vào ban ngày rồi đã làm dấu hiệu (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy trộm vào ban đêm.” Vị ấy nhận ra vật ấy rồi đã lấy trộm vật ấy. ―(như trên)― Vị ấy nhận ra vật ấy rồi đã lấy trộm vật khác. ―(như trên)― Vị ấy nhận ra vật khác rồi đã lấy trộm vật ấy. ―(như trên)― Vị ấy nhận ra vật khác rồi đã lấy trộm vật khác. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (51-54)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi nhìn thấy vật dụng vào ban ngày rồi đã làm dấu hiệu (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy trộm vào ban đêm.” Vị ấy nhận ra vật ấy rồi đã lấy trộm vật dụng của chính mình. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (55)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi nhìn thấy túi xách ở trên ghế (nghĩ rằng): “Trong khi lấy từ chỗ này thì ta sẽ phạm tội pārājika” nên đã di chuyển luôn cả cái ghế rồi mới đoạt lấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (56)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định trộm cắp và đã lấy trộm nệm của hội chúng. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (57)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định trộm cắp và đã lấy trộm y ở sào máng y. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (58)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi lấy trộm y ở trong trú xá (nghĩ rằng): “Khi đi ra khỏi đây thì ta sẽ phạm tội pārājika,” rồi đã không đi ra khỏi trú xá. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, kẻ rồ dại ấy dầu có đi ra hay không đi ra cũng đã phạm tội pārājika.” (59)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ khưu là bạn bè, một vị đã đi vào làng để khất thực. Còn vị thứ nhì, trong khi vật thực cứng của hội chúng được phân phát, đã nhận phần của người bạn và đã thọ dụng do sự thân thiết với vị ấy. Vị kia biết được đã quở trách vị ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì? &#8211; “Bạch Thế Tôn, con lấy do sự thân thiết.” &#8211; “Này tỳ khưu, trường hợp lấy do sự thân thiết thì vô tội.”[8] (60)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu thực hiện việc may y. Khi vật thực cứng của hội chúng được phân chia, các phần chia của tất cả các vị đã được mang đến và để ở bên cạnh. Có vị tỳ khưu nọ (lầm) tưởng phần chia của vị tỳ khưu khác là của mình nên đã thọ dụng. Vị kia biết được đã quở trách vị ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị (lầm) tưởng là của mình thì vô tội.” (61)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu thực hiện việc may y. Khi vật thực cứng của hội chúng đang được phân chia, phần chia của vị tỳ khưu nọ được mang lại bằng bình bát của vị tỳ khưu khác và được để gần đó. Vị tỳ khưu chủ nhân của bình bát (lầm) tưởng là của mình nên đã thọ dụng. Vị kia biết được đã quở trách vị ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị (lầm) tưởng là của mình thì vô tội.” (62)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có các kẻ trộm xoài đã hái xoài rồi mang theo gói (xoài) ra đi. Những người chủ đã đuổi theo các kẻ trộm ấy. Khi nhìn thấy những người chủ, các kẻ trộm đã đánh rơi gói (xoài) rồi tẩu thoát. Các vị tỳ khưu tưởng là vật quăng bỏ nên đã bảo nhặt lấy rồi đã thọ dụng. Những người chủ đã quở trách các vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Các người không phải là Sa-môn.” Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, (khi ấy) các ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, chúng con (lầm) tưởng là vật quăng bỏ.” &#8211; “Này các tỳ khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.” (63)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có các kẻ trộm trái táo hồng ―(như trên)― các kẻ trộm trái bánh mì ―(như trên)― các kẻ trộm trái mít ―(như trên)― các kẻ trộm trái chà là ―(như trên)― các kẻ trộm mía ―(như trên)― các kẻ trộm dưa sau khi gom các quả dưa lại rồi đã mang theo gói (dưa) và bỏ đi. Những người chủ đã đuổi theo các kẻ trộm ấy. Khi nhìn thấy những người chủ, các kẻ trộm đã đánh rơi gói (dưa) rồi tẩu thoát. Các vị tỳ khưu tưởng rằng gói (dưa) ấy là vật quăng bỏ nên đã cho người nhặt lấy rồi đã thọ dụng. Những người chủ đã quở trách các vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Các người không phải là Sa-môn.” Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.” (64-69)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có các kẻ trộm xoài đã hái xoài rồi mang theo gói (xoài) và bỏ đi. Những người chủ đã đuổi theo các kẻ trộm ấy. Khi nhìn thấy những người chủ, các kẻ trộm đã đánh rơi gói (xoài) rồi tẩu thoát. Các vị tỳ khưu khởi tâm trộm cắp: “(Phải hành động) trước khi những người chủ nhìn thấy” rồi đã thọ dụng. Những người chủ đã quở trách các vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Các người không phải là Sa-môn.” Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.” (70)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có các kẻ trộm trái táo hồng ―(như trên)― các kẻ trộm trái bánh mì ―(như trên)― các kẻ trộm trái mít ―(như trên)― các kẻ trộm trái chà là ―(như trên)― các kẻ trộm mía ―(như trên)― các kẻ trộm dưa sau khi gom các quả dưa lại rồi đã mang theo gói (dưa) và bỏ đi. Những người chủ đã đuổi theo các kẻ trộm ấy. Khi nhìn thấy những người chủ, các kẻ trộm đã đánh rơi gói (dưa) rồi tẩu thoát. Các vị tỳ khưu khởi tâm trộm cắp: “(Phải hành động) trước khi những người chủ nhìn thấy” rồi đã thọ dụng. Những người chủ đã quở trách các vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Các người không phải là Sa-môn.” Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.” (71-76)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khởi tâm trộm cắp và đã lấy trộm xoài của hội chúng ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp và đã lấy trộm trái táo hồng của hội chúng &#8230; trái bánh mì của hội chúng &#8230; trái mít của hội chúng &#8230; trái chà là của hội chúng &#8230; mía của hội chúng &#8230; dưa của hội chúng. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (77-83)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến vườn hoa, khởi tâm trộm cắp và đã lấy trộm bông hoa đã được hái trị giá năm māsaka. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (84)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến vườn hoa đã hái các bông hoa, rồi khởi tâm trộm cắp, đã lấy trộm (hoa) trị giá năm māsaka. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (85)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đi đến ngôi làng nhỏ đã nói với vị tỳ khưu khác điều này: &#8211; “Này đại đức, nhân danh đại đức tôi sẽ nói với gia đình hộ độ của đại đức.” Vị ấy sau khi đi đến đã bảo đem lại một tấm vải choàng và đã sử dụng cho bản thân. Vị kia biết được đã quở trách vị ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên nói rằng: ‘Nhân danh đại đức tôi sẽ nói;’ vị nào nói thì phạm tội dukkaṭa.” (86)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi đến ngôi làng nhỏ. Có vị tỳ khưu nọ đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: &#8211; “Này đại đức, nhân danh tôi đại đức hãy nói với gia đình hộ độ của tôi.” Vị ấy sau khi đi đến đã bảo đem lại hai tấm vải choàng rồi đã sử dụng cho bản thân một tấm và đã trao cho vị tỳ khưu kia một tấm. Vị kia biết được đã quở trách vị ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên nói rằng: ‘Nhân danh tôi đại đức hãy nói;’ vị nào nói thì phạm tội dukkaṭa.” (87)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đi đến ngôi làng nhỏ đã nói với vị tỳ khưu khác điều này: &#8211; “Này đại đức, nhân danh đại đức tôi sẽ nói với gia đình hộ độ của đại đức.” Vị kia cũng đã nói như vầy: &#8211; “Nhân danh tôi đại đức hãy nói với gia đình hộ độ của tôi.” Vị ấy sau khi đi đến đã bảo đem lại một āḷhakaṃ bơ lỏng, một tulaṃ mật đường, và một doṇaṃ[9] gạo rồi đã thọ dụng bởi chính bản thân. Vị kia biết được đã quở trách vị ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên nói rằng: ‘Nhân danh đại đức tôi sẽ nói,’ và không nên nói rằng: ‘Nhân danh tôi đại đức hãy nói;’ vị nào nói thì phạm tội dukkaṭa.” (88)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ mang theo viên ngọc ma-ni quý giá cùng đi đường xa với vị tỳ khưu nọ. Sau đó, khi nhìn thấy trạm thuế người đàn ông ấy đã lén bỏ viên ngọc ma-ni vào trong túi xách của vị tỳ khưu ấy và sau khi qua khỏi trạm thuế đã lấy lại. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con không biết.” &#8211; “Này tỳ khưu, vị không biết thì vô tội.” (89)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ mang viên ngọc ma-ni quý giá cùng đi đường xa với vị tỳ khưu nọ. Sau đó, khi nhìn thấy trạm thuế người đàn ông ấy giả vờ bị bệnh rồi đã trao gói đồ của mình cho vị tỳ khưu ấy. Sau đó, khi đã qua khỏi trạm thuế người đàn ông ấy đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: &#8211; “Thưa ngài, xin hãy trao gói đồ cho tôi. Tôi không có bệnh.” &#8211; “Này đạo hữu, tại sao ngươi đã làm như thế?” Khi ấy, người đàn ông ấy đã kể lại sự việc ấy cho vị tỳ khưu ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không biết thì vô tội.” (90)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi đường xa cùng với đoàn xe. Có người đàn ông nọ đã dùng vật chất mua chuộc vị tỳ khưu ấy, đến khi nhìn thấy trạm thuế đã trao cho vị tỳ khưu ấy viên ngọc ma-ni quý giá (nói rằng): &#8211; “Thưa ngài, hãy đem viên ngọc ma-ni này qua khỏi trạm thuế.” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã đem viên ngọc ma-ni ấy qua khỏi trạm thuế. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (91)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ vì lòng thương xót con heo rừng bị mắc bẫy nên đã gỡ ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con vì lòng thương xót.” &#8211; “Này tỳ khưu, vị vì lòng thương xót thì vô tội.”(92)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khởi tâm trộm cắp con heo rừng bị mắc bẫy: “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn thấy” rồi đã gỡ ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (93)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ vì lòng thương xót con nai bị mắc bẫy nên đã gỡ ra. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp con nai bị mắc bẫy: “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn thấy” rồi đã gỡ ra ―(như trên)― vì lòng thương xót những con cá bị vướng vào rọ nên đã gỡ ra. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp những con cá bị vướng vào rọ: “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn thấy” rồi đã gỡ ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (94-97)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi nhìn thấy gói đồ ở trong chiếc xe (nghĩ rằng): “Trong khi lấy từ chỗ này thì ta sẽ phạm tội pārājika” nên đã đi vượt lên trên, xoay vần (gói đồ), rồi mới đoạt lấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (98)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nhặt lấy miếng thịt bị chim ưng tha đi (nghĩ rằng): “Ta sẽ cho lại những người chủ.” Những người chủ đã quở trách vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có tâm trộm cắp thì vô tội.” (99)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có tâm trộm cắp miếng thịt bị chim ưng tha đi: “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn thấy” rồi đã nhặt lấy. Những người chủ đã quở trách vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (100)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, dân chúng buộc (các khúc gỗ) lại thành bè rồi thả xuôi dòng sông Aciravatī. Khi dây buộc bị đứt, các khúc gỗ đã bị phân tán trôi đi. Các vị tỳ khưu tưởng là vật quăng bỏ nên đã vớt lên. Những người chủ đã quở trách các vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Các người không phải là Sa-môn.” Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.” (101)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, dân chúng buộc (các khúc gỗ) lại thành bè rồi thả xuôi dòng sông Aciravatī. Khi dây buộc bị đứt, các khúc gỗ đã bị phân tán trôi đi. Các vị tỳ khưu khởi tâm trộm cắp: “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn thấy” rồi đã vớt lên. Những người chủ đã quở trách các vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Các người không phải là Sa-môn.” Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.” (102)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người chăn bò nọ đã treo tấm vải choàng trên cây rồi đi đại tiện. Có vị tỳ khưu nọ tưởng là vật quăng bỏ nên đã nhặt lấy. Khi ấy, người chăn bò ấy đã quở trách vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.” (103)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong lúc vị tỳ khưu nọ đang lội qua sông, có tấm vải choàng bị truột khỏi tay của những người thợ nhuộm (trôi đến) vướng vào bàn chân (của vị ấy). Vị tỳ khưu ấy đã nhặt lên (nghĩ rằng): “Ta sẽ cho lại những người chủ.” Những người chủ đã quở trách vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có tâm trộm cắp thì vô tội.” (104)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong lúc vị tỳ khưu nọ đang lội qua sông, có tấm vải choàng bị truột khỏi tay của những người thợ nhuộm (trôi đến) vướng vào bàn chân (của vị ấy). Vị tỳ khưu ấy khởi tâm trộm cắp: “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn thấy” rồi đã nhặt lấy. Những người chủ đã quở trách vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (105)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ nhìn thấy hũ bơ lỏng nên đã thọ dụng mỗi lần một chút ít. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.”[10] (106)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đã cùng nhau phân công rồi ra đi (nghĩ rằng): “Chúng ta sẽ lấy trộm đồ vật.” Một vị đã lấy trộm đồ vật. Các vị ấy đã nói như vầy: &#8211; “Chúng ta không phạm tội pārājika. Vị nào lấy trộm, vị ấy phạm tội pārājika.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.” (107)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu sau khi đã cùng nhau phân công rồi đã lấy trộm đồ vật và chia phần. Trong khi được phân chia bởi các vị ấy, phần chia cho mỗi một vị không đủ năm māsaka. Các vị ấy đã nói như vầy: &#8211; “Chúng ta không phạm tội pārājika.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.” (108)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, ở thành Sāvatthī trong lúc có sự khó khăn về vật thực, có vị tỳ khưu nọ khởi tâm trộm cắp rồi đã lấy trộm một nắm gạo của người chủ tiệm. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (109)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, ở thành Sāvatthī trong lúc có sự khó khăn về vật thực, có vị tỳ khưu nọ khởi tâm trộm cắp rồi đã lấy trộm một nắm đậu ―(như trên)― một nắm đậu tây ―(như trên)― một nắm hạt mè của người chủ tiệm. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (110-112)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong rừng Andha ở thành Sāvatthī, các kẻ trộm đã giết con bò cái rồi ăn thịt, sau khi thu xếp lại phần còn thừa rồi đã ra đi. Các vị tỳ khưu tưởng là vật quăng bỏ nên đã cho người nhặt lấy rồi thọ dụng. Các kẻ trộm đã quở trách các vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Các người không phải là Sa-môn.” Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.” (113)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trong khu rừng Andha ở thành Sāvatthī, các kẻ trộm sau khi giết con heo rừng, đã ăn thịt, sau khi thu xếp lại phần còn thừa, rồi đã đi. Các vị tỳ khưu tưởng là vật quăng bỏ nên đã cho người nhặt lấy rồi thọ dụng. Các kẻ trộm đã quở trách các vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Các người không phải là Sa-môn.” Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.” (114)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến cánh đồng cỏ khởi tâm trộm cắp rồi đã lấy trộm cỏ được cắt sẵn trị giá năm māsaka. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (115)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến cánh đồng cỏ đã cắt cỏ, rồi khởi tâm trộm cắp và đã lấy trộm (c ỏ) trị giá năm māsaka. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (116)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vãng lai đã bảo chia phần xoài của hội chúng rồi thọ dụng. Các tỳ khưu thường trú đã quở trách các vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Các người không phải là Sa-môn.” Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, (khi ấy) các ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, chúng con có nhu cầu về thọ thực.” &#8211; “Này các tỳ khưu, (trường hợp) có nhu cầu về thọ thực thì vô tội.” (117)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vãng lai đã bảo chia phần trái táo hồng của hội chúng ―(như trên)― trái bánh mì của hội chúng ―(như trên)― trái mít của hội chúng ―(như trên)― trái chà-là của hội chúng ―(như trên)― mía của hội chúng ―(như trên)― dưa của hội chúng rồi thọ dụng. Các tỳ khưu thường trú đã quở trách các vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Các người không phải là Sa-môn.” Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, (trường hợp) có nhu cầu về thọ thực thì vô tội.” (118-123)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, những người canh giữ vườn xoài dâng trái xoài đến các tỳ khưu. Các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Các người chủ bảo họ canh giữ các vật này chớ không bảo dâng các vật này” nên ngần ngại rồi không thọ nhận. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, trong việc bố thí của người giữ vườn thì không phạm tội.” (124)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, những người canh giữ vườn táo hồng ―(như trên)― những người canh giữ vườn cây bánh mì ―(như trên)― những người canh giữ vườn mít ―(như trên)― những người canh giữ vườn cây chà-là ―(như trên)― những người canh giữ vườn mía ―(như trên)― những người canh giữ vườn dưa dâng những quả dưa đến các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Các người chủ bảo họ canh giữ các vật này chớ không bảo dâng các vật này” nên ngần ngại rồi không thọ nhận. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vô tội trong việc bố thí của người giữ vườn.” (125-130)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ lấy cây gỗ của hội chúng trong một thời hạn để chống đỡ bức tường của trú xá thuộc về bản thân. Các tỳ khưu đã quở trách vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì? &#8211; “Bạch Thế Tôn, con (lấy) có tính cách tạm thời. &#8211; “Này tỳ khưu, (trường hợp) có tính cách tạm thời thì vô tội.” (131)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khởi tâm trộm cắp và đã lấy trộm nước của hội chúng. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp và đã lấy trộm đất sét của hội chúng. ―(như trên)― khởi tâm trộm cắp và đã lấy trộm cỏ muñjakita của hội chúng. ―(như trên)― Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (132-134)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khởi tâm trộm cắp và đã đốt cháy cỏ muñjakita của hội chúng. ―(như trên)― Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (135)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khởi tâm trộm cắp và đã lấy trộm giường của hội chúng. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (136)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khởi tâm trộm cắp và đã lấy trộm ghế của hội chúng ―(như trên)― nệm của hội chúng ―(như trên)― gối của hội chúng ―(như trên)― cánh cửa sổ của hội chúng ―(như trên)― cánh cửa lá sách của hội chúng ―(như trên)― đà gỗ của hội chúng. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (137-142)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sử dụng sàng tọa là vật dụng trong trú xá của nam cư sĩ nọ tại địa điểm khác. Khi ấy, nam cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các ngài lại sử dụng đồ đạc của địa điểm này tại địa điểm khác? Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, không nên sử dụng đồ đạc của địa điểm này tại địa điểm khác; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa.” (143)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ngần ngại di chuyển (thảm lót) đến nhà hành lễ Uposatha và phòng hội họp nên ngồi xuống ở nền nhà. Các thân mình và y phục đều bị dơ bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, Ta cho phép lấy đi trong một thời hạn.” (144)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, ở xứ Campā vị tỳ khưu ni học trò của tỳ khưu ni Thullanandā đã đi đến gia đình hộ độ tỳ khưu ni Thullanandā (nói rằng): “Ni sư muốn uống cháo gồm ba thứ;” sau khi bảo nấu, đã mang đi, rồi đã thọ dụng bởi chính bản thân. Vị ni Thullanandā biết được đã quở trách vị ni ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là nữ Sa-môn.” Vị ni ấy đã có nỗi nghi hoặc. Sau đó, vị tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, vị ni ấy không phạm tội pārājika mà phạm tội pācittiya về việc cố tình nói dối.” (145)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, ở thành Rājagaha vị tỳ khưu ni học trò của tỳ khưu ni Thullanandā đã đi đến gia đình hộ độ tỳ khưu ni Thullanandā (nói rằng): “Ni sư muốn ăn mật viên;” sau khi bảo nấu, đã mang đi, rồi đã thọ dụng bởi chính bản thân. Vị ni Thullanandā biết được đã quở trách vị ni ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là nữ Sa-môn.” Vị ni ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị ni ấy không phạm tội pārājika mà phạm tội pācittiya về việc cố tình nói dối.” (146)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, ở thành Vesālī người gia chủ hộ độ đại đức Ajjuka có hai đứa trẻ trai: (một) là con trai và (đứa kia) là cháu trai. Khi ấy, người gia chủ ấy đã nói với đại đức Ajjuka điều này: &#8211; “Thưa ngài, trong hai đứa trẻ trai này, đứa nào có đức tin và mộ đạo thì ngài nên thông báo cơ hội này cho đứa ấy.” Vào lúc bấy giờ, đứa cháu trai của người gia chủ ấy thì có đức tin và mộ đạo. Khi ấy, đại đức Ajjuka đã thông báo cơ hội ấy cho đứa trẻ trai ấy. Với của cải ấy, người ấy đã bảo quản được tài sản và còn thể hiện việc bố thí nữa. Sau đó, người con trai của vị gia chủ ấy đã nói với đại đức Ānanda điều này: &#8211; “Thưa ngài Ānanda, ai thật sự là người thừa tự của người cha, là con trai hay là cháu trai?” &#8211; “Này đạo hữu, người con trai chính là người thừa tự của người cha.” &#8211; “Thưa ngài, đại đức Ajjuka này đã bảo rằng của cải của chúng tôi là thuộc về người anh (em) họ của chúng tôi” &#8211; “Này đạo hữu, đại đức Ajjuka không phải là Sa-môn.” Sau đó, đại đức Ajjuka đã nói với đại đức Ānanda điều này: &#8211; “Này đại đức Ānanda, hãy cho tôi cuộc phân xử.” Vào lúc bấy giờ, đại đức Upāli là thuộc về phe của đại đức Ajjuka. Khi ấy, đại đức Upāli đã nói với đại đức Ānanda điều này: &#8211; “Này đại đức Ānanda, vị (tỳ khưu) được sở hữu chủ nói rằng: ‘Hãy thông báo cơ hội này cho người tên như vầy’ rồi đã thông báo cho người ấy (điều đã được dặn dò) thì vị (tỳ khưu) ấy phạm tội gì?” &#8211; “Thưa ngài, vị ấy không phạm bất cứ tội gì cho dù là tội dukkaṭa đi nữa.” &#8211; “Này đại đức, đại đức Ajjuka này được sở hữu chủ nói rằng: ‘Hãy thông báo cơ hội này cho người tên như vầy’ rồi đã thông báo cho người ấy (điều đã được dặn dò). Này đại đức, đại đức Ajjuka không phạm tội.” (147)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, ở thành Bārāṇasī gia đình hộ độ đại đức Pilindivaccha bị bọn đạo tặc cướp bóc và hai đứa trẻ trai đã bị bắt đi. Khi ấy, đại đức Pilindivaccha bằng thần thông đã đưa hai đứa trẻ ấy về lại và để ở tòa nhà. Dân chúng sau khi nhìn thấy hai đứa trẻ ấy (biết rằng): ‘Đây là năng lực thần thông của ngài Pilindivaccha!’ rồi đã đặt trọn niềm tin nơi đại đức Pilindivaccha. Các vị tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao đại đức Pilindivaccha lại đưa về những đứa trẻ đã bị bọn đạo tặc bắt đi?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, trong lãnh vực về thần thông vị có thần thông thì vô tội.” (146)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ khưu là bạn bè, Paṇḍaka và Kapila. Một vị cư trú ở ngôi làng nhỏ, vị kia cư trú ở thành Kosambī. Khi ấy, trong lúc vị tỳ khưu ấy từ ngôi làng nhỏ đi đến thành Kosambī, ở giữa đường trong lúc lội qua con sông, có xâu thịt mỡ bị truột khỏi tay đám thợ săn heo rừng (trôi đến) vướng vào bàn chân (vị ấy). Vị tỳ khưu ấy (nghĩ rằng): “Ta sẽ trao lại cho các người chủ” rồi đã nhặt lấy. Các người chủ đã quở trách vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Ngươi không phải là Sa-môn.” Có cô chăn bò nọ sau khi nhìn thấy vị ấy đi ngang qua đã nói điều này: &#8211; “Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy thực hiện việc đôi lứa.” Vị ấy (nghĩ rằng): “Tự trong bản chất, ta không phải là Sa-môn nữa rồi!” nên đã thực hiện việc đôi lứa với cô ấy, sau đó đã đi đến thành Kosambī và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị ấy không phạm tội pārājika trong việc trộm cắp, mà phạm tội pārājika trong chuyện gắn bó vào việc đôi lứa.” (149)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, ở thành Sāgalā vị tỳ khưu đệ tử của đại đức Daḷhika bị bực bội bởi sự không thỏa thích nên đã lấy trộm khăn xếp đội đầu của người chủ tiệm rồi đã nói với đại đức Daḷhika điều này: &#8211; “Thưa ngài, tôi không phải là Sa-môn, tôi sẽ hoàn tục.” &#8211; “Này đại đức, ngươi đã làm điều gì?” Vị ấy đã kể lại sự việc ấy. Sau khi bảo đem lại (vật ấy) vị Daḷhika đã cho định giá. Trong khi được định giá, vật ấy có giá trị không đến năm māsaka. ―(như trên)― “Này đại đức, không phạm tội pārājika.” Rồi vị ấy đã thuyết Pháp. Vị tỳ khưu ấy đã trở nên hoan hỷ. (150)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều </b><b>pārājika</b><b> thứ nhì</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Theo ngài Buddhaghosa, đơn vị tiền tệ thời ấy là kahāpaṇa và 1 kahāpaṇa = 4 pāda = 20 māsaka(VinA. ii, 297). Ven. Thumana, ở bản dịch sang tiếng Anh của bộ Luật Pārājikapāḷi do Department for the Promotion and Propagation of the Sāsanā xuất bản ở Miến Điện, lấy đơn vị tiền tệ làm sự so sánh nên cho rằng: “Nếu lấy trộm ¼ kyat sẽ phạm tội pārājika” (1 US dollar # 1000 kyat vào năm 2002). Hơn nữa, baht đơn vị tiền tệ ở Thái Lan chính là từ pāda của Pāli (1 US dollar # 45 baht vào năm 2002). Tài liệu Luật Xuất Gia Tóm Tắt của HT. Hộ Tông cũng cho rằng 1 pāda tương đương 6 cắt bạc VN năm 1966. Nếu so sánh theo cách này thì chỉ cần trộm 1 vật có giá trị rất nhỏ cũng đã phạm tội pārājika. Tài liệu Vinayamukha của Ngài Mahāsamaṇa Chao (Thái Lan) có giới thiệu một cách tính như sau: “Theo Sớ Giải (Ṭīkā), 1 māsaka trị giá bằng số vàng có trọng lượng tương đương trọng lượng của 4 hạt gạo.” Như vậy 1 pāda sẽ có giá trị vàng có trọng lượng tương đương trọng lượng của 4 x 5 = 20 hạt gạo, nghe đâu có người đã ước lượng vào khoảng 5 phân vàng. Mặt khác, theo câu chuyện duyên khởi của điều nissaggiya thứ 18, thì 1 pāda lúc bấy giờ chỉ mua được một miếng thịt nhỏ vừa miệng ăn của một đứa bé. Thêm vào đó, các câu chuyện dẫn giải cũng có thể giúp cho người đọc có thêm được khái niệm về trị giá của 5 māsaka vào thời bấy giờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Lẽ ra phải là tội pācittiya (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Vì không thể đưa hũ lên khỏi hố chôn được (VinA. ii, 316).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Loài có cánh (pakkhajātā) có ba loại:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">cánh bằng lông (lomapakkhā) như chim công, gà gô,</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">cánh bằng da (cammapakkhā) như loài dơi,</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">cánh bằng xương (aṭṭhipakkhā) như loài ong (VinA. ii, 363).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] A, B, C, D được thêm vào cho dễ hiểu dựa theo Chú Giải (VinA. ii, 368-370).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Do sự luyến ái với tấm vải choàng nên người có tấm vải choàng ấy đã bị tái sanh làm peta ở nơi thi thể ấy. Peta có khả năng làm thi thể ấy đứng dậy. Sau khi cửa bị đóng lại, peta ấy biết đã bị mất tấm vải choàng nên đã từ bỏ thi thể ấy rồi theo nghiệp đi tái sanh lần nữa; do đó, thi thể ấy bị té ngã xuống đất (VinA. ii, 374).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Là tội pācittiya thứ nhất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Này các tỷ-kheo, ta cho phép lấy do sự thân thiết (đồ vật) của người hội đủ năm điều: là vị quen biết, là vị thân thiết, vị ấy đã nói trước, vị ấy còn sống, và vị lấy biết được rằng: ‘Nếu được ta lấy thì vị ấy sẽ hoan hỷ’ (Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm, TTPV tập 5, chương VIII, trang 211).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Theo ngài Mahāsamaṇa Chao giải thích ở bộ sách Vinayamukha thì āḷhakaṃ và doṇam là đơn vị đo thể tích: Một āḷhakaṃ ước lượng khoảng tám bụm tay, và bốn āḷhaka là một doṇam. Còn tulaṃ là đơn vị đo trọng lượng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[10] Trường hợp này chúng ta có thể thắc mắc rằng: “Nếu tổng số bơ lỏng vị ấy đã thọ dụng trị giá bằng năm māsaka hoặc hơn năm māsaka thì vị ấy có phạm tội pārājika hay không?” (Yếu tố ‘có tâm trộm cắp’ được hiểu ngầm). Đương nhiên là vị ấy phạm tội pārājika. Tuy nhiên, trường hợp của vị này có chút khác biệt. Chúng tôi hiểu như sau về lời giải thích của ngài Buddhaghosa: Vị ấy thọ dụng mỗi lần một chút ít như thế trị giá bằng một māsaka hoặc kém một māsaka nên chỉ phạm tội dukkaṭa cho mỗi lần thọ dụng. Sau khi thọ dụng lần thứ nhất, vị ấy sám hối, quyết tâm rằng: “Ta sẽ không làm như thế nữa.” Vì đã trong sạch trở lại, nên vào ngày kế khi vị ấy thọ dụng thêm một chút ít thì lại phạm tội dukkaṭa nữa. Vị ấy lại sám hối tội. Tiến trình phạm tội và sám hối được tiếp diễn. Chính vì lý do đó, số lượng bơ lỏng vị ấy đã thọ dụng không được tính gộp lại mà chỉ tính riêng cho mỗi lần thọ dụng. Nếu vị ấy không sám hối tội, thì sẽ tùy theo tổng số lượng bơ lỏng vị ấy đã thọ dụng mà định tội (VinA. ii, 385).</span></p>
<p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG PĀRĀJIKA &#8211; CHUYỆN CON KHỈ CÁI</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-2-parajika-chuyen-con-khi-cai/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:15:16 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=57964</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương Pārājika Chuyện Con Khỉ Cái Vào lúc bấy giờ, tại Mahāvana ở Vesālī,]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><span style="font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span> </span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương Pārājika </span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chuyện Con Khỉ Cái</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tại Mahāvana ở Vesālī, có vị tỳ khưu nọ dùng thức ăn dụ dỗ con khỉ cái rồi thực hiện việc đôi lứa với nó. Khi ấy vào buổi sáng, vị tỳ khưu ấy đã mặc y, cầm y bát, rồi đi vào thành Vesālī để khất thực.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu trong lúc đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã đi đến trú xá của vị tỳ khưu ấy. Con khỉ cái ấy đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy từ đàng xa đang đi lại, sau khi thấy đã đi đến gần các vị tỳ khưu ấy, sau khi đến gần đã lúc lắc hông ở phía trước các vị tỳ khưu ấy, đã lúc lắc đuôi, đã đưa hông ra, và đã làm dấu hiệu. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Không còn nghi ngờ gì nữa, vị tỳ khưu ấy thực hiện việc đôi lứa với con khỉ cái này!” rồi đã nấp vào ở một bên. Sau đó, vị tỳ khưu ấy sau khi đi khất thực ở trong thành Vesālī đã mang đồ ăn khất thực quay trở về.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, con khỉ cái ấy đã đi đến gần vị tỳ khưu ấy. Rồi vị tỳ khưu ấy, sau khi thọ dụng đồ khất thực ấy một phần, đã cho con khỉ cái ấy một phần. Sau đó, khi đã ăn xong con khỉ cái ấy đã đưa hông ra cho vị tỳ khưu ấy. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy thực hiện việc đôi lứa với con khỉ cái ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rồi các vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: &#8211; “Này đại đức, chẳng phải điều học đã được đức Thế Tôn quy định hay sao? Này đại đức, tại sao đại đức lại thực hiện việc đôi lứa với con khỉ cái?” &#8211; “Này các đại đức, đúng vậy. Điều học đã được đức Thế Tôn quy định và điều ấy là với người nữ chứ không phải với thú cái.” &#8211; “Này đại đức, chẳng phải điều ấy là đúng như thế hay sao? Này đại đức, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này đại đức, tại sao đại đức sau khi xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời? Này đại đức, chẳng phải đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, ―(như trên)― đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này đại đức, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này đại đức, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.” Sau đó, khi đã khiển trách vị tỳ khưu ấy bằng nhiều phương thức, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi vị tỳ khưu ấy rằng:“Này tỳ khưu, nghe nói ngươi đã thực hiện việc đôi lứa với con khỉ cái, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi sau khi xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời? Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, ―(như trên)― đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này kẻ rồ dại, thà ngươi đặt dương vật vào trong miệng của con rắn có nọc độc khủng khiếp còn là điều cao thượng, nhưng đặt dương vật vào trong âm vật của con khỉ cái là không (cao thượng). Này kẻ rồ dại, thà ngươi đặt dương vật vào trong miệng của con hắc xà còn là điều cao thượng, nhưng đặt dương vật vào trong âm vật của con khỉ cái là không (cao thượng). Này kẻ rồ dại, thà ngươi đặt dương vật vào trong hố than được đốt cháy có ngọn lửa sáng rực còn là điều cao thượng, chớ đặt dương vật vào trong âm vật của con khỉ cái là không (cao thượng). Điều ấy có lý do như thế nào? Này kẻ rồ dại, bởi vì do nguyên nhân kia[24] ngươi có thể đi đến cái chết hoặc khổ gần như chết, nhưng không vì nguyên nhân kia, khi tan rã thân xác và chết đi, ngươi lại có thể bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Này kẻ rồ dại, quả thật do nguyên nhân này,[25] khi tan rã thân xác và chết đi, ngươi có thể bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này kẻ rồ dại, thế mà ở đây lại là ngươi, tức là việc ngươi bị vướng vào việc kết hợp của hai người, theo từng cặp, ở nơi kín đáo, là việc làm không tốt đẹp, là việc làm của các dân làng, là việc làm của những người thấp kém, là xấu xa, kết cuộc phải dùng nước tẩy rửa. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này đại đức, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã khiển trách vị tỳ khưu ấy bằng nhiều phương thức, đức Thế Tôn đã chê bai về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, sự khó khăn trong việc ăn uống, sự tầm cầu quá nhiều, sự không biết đủ, sự kết phe nhóm, sự biếng nhác; và bằng nhiều phương thức Ngài đã ngợi khen về sự dễ dàng trong việc cấp dưỡng, sự dễ dàng trong việc ăn uống, sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức nỗ lực. Ngài đã nói Pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các tỳ khưu rồi đã bảo các tỳ khưu rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Này các tỳ khưu, như thế thì Ta sẽ quy định điều học cho các tỳ khưu vì mười điều lợi ích: Nhằm sự tốt đẹp cho hội chúng, nhằm sự an lạc cho hội chúng, nhằm việc trấn áp những nhân vật ác xấu, nhằm sự lạc trú của các tỳ khưu hiền thiện, nhằm ngăn ngừa các lậu hoặc trong hiện tại, nhằm sự trừ diệt các lậu hoặc trong tương lai, nhằm đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, nhằm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin, nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp, và nhằm sự hỗ trợ Luật. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Vị tỳ khưu nào thực hiện việc đôi lứa ngay cả với loài thú cái là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định lần hai</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt chuyện con khỉ cái</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[16] Dịch sát từ sẽ là: “Sau khi nhìn thấy, điều này đã khởi đến anh ta: &#8230;”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[17] Y paṃsukūla: y được may bằng vải dơ bị người ta quăng bỏ, thông thường là vải quấn tử thi được tìm thấy ở bãi tha ma (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[18] Ngài Buddhaghosa giải thích ở Chú Giải Samantapāsādikā rằng đã tám năm trôi qua nên người nữ tỳ không thể nhận ra đại đức Sudinna mà chỉ nhận biết qua các đặc điểm của tay, chân, và giọng nói. Thêm vào đó còn cho biết vị Sudinna đã xuất gia vào năm thứ mười hai của đức Thế Tôn và thời điểm xảy ra câu chuyện này là năm thứ hai mươi (VinA. i, 208).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[19] Theo ngài Buddhaghosa cho biết, hai mẹ con đã xuất gia sau đó khoảng bảy hoặc tám năm (VinA. i,215).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[20] Là việc đặt dương vật vào trong miệng của con rắn có nọc độc khủng khiếp, vào trong miệng của con hắc xà, vào trong hố than được đốt cháy có ngọn lửa sáng rực (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[21] Là việc đặt dương vật vào trong âm vật của người nữ (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[22] Chánh Pháp (saddhamma): Ngài Buddhaghosa giải thích saddhamma gồm có ba phần: Pariyattisaddhamma (Pháp Học) gồm tất cả các lời dạy của đức Phật đã được kết tập thành Tam Tạng,Paṭipattisaddhamma (Pháp Hành) là 13 pháp Đầu-đà, 14 pháp hành, 82 phận sự chính, Giới, Định, và Minh Sát, Adhigamasaddhamma (Pháp Đắc Chứng) là 4 Đạo, 4 Quả, và Niết Bàn (VinA. i, 225). Giải thích về 82 phận sự chính Ṭīkā (Sớ Giải) ghi rằng: 66 phận sự của vị hành parivāsa (bắt đầu với điều “Không nên ban phép tu lên bậc trên, &#8230;, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành trong khi vị tỳ khưu trong sạch đi kinh hành ở trên mặt đất”); không ngụ chung với 5 hạng tỳ khưu (vị cũng thực hànhparivāsa nhưng thâm niên hơn, vị xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, vị tỳ khưu xứng đáng hành mānatta, vị đang thực hành mānatta, vị xứng đáng sự giải tội) tính là 5 điều thành 71; “không nên tiếp nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, &#8230;, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các vị tỳ khưu trong sạch” tính là 1 điều thành 72; “không nên bôi nhọ vị tỳ khưu trong sạch với sự hư hỏng về giới, v.v&#8230;” tính là 10 điều; tổng cộng là 82 phận sự.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[23] Từ “bất cộng trụ” đã được sử dụng quen thuộc khi đề cập đến tội pārājika. Thật ra, “bất cộng trụ” là từ dịch của asaṃvāso trong câu “ayampi pārājiko hoti asaṃvāso,” chứ không phải của pārājika. Pārājikađược xem là tên của tội, còn asaṃvàso có thể xem như là một hình thức xử lý tội pārājika, là không được sống chung và tiến hành các hành sự như là lễ Uposatha, lễ Parāraṇā, v.v&#8230; Ngài Buddhaghosa chỉ ra động từ liên quan là “parājeti = khuất phục, đánh bại, chế ngự, chiến thắng” và giải thích rằng vị “pārājiko” là vị “parājito,” (parājito là quá khứ phân từ thể thụ động của parājeti, có nghĩa là: bị khuất phục, bị đánh bại, bị chế ngự). Như vậy, pārājika có nghĩa là “kẻ thất trận, kẻ bại trận người thua cuộc” và được sử dụng cho tên của một loại tội cực nặng trong giới bổn Pātimokkha của tỳ khưu gồm 4 điều được trình bày trong chương này. Chúng tôi giữ nguyên từ pārājika không dịch.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[24] Nguyên nhân kia đã được giải thích ở phần trước.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[25] Nguyên nhân này là việc đặt dương vật vào trong âm vật của con khỉ cái (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[26] Adhisīla: Tăng thượng giới là giới bổn Pātimokkha. Adhicitta: Tăng thượng tâm là sự tu tập các loại định hợp thế. Adhipaññā: Tăng thượng tuệ là sự tu tập (các tâm) Đạo Siêu Thế (VinA. i, 244-245).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[27] Từ Pāli paṇḍaka là đề cập đến người phái nam. Về phái nữ, các từ được tìm thấy là paṇḍikā, itthipaṇḍikā, itthipaṇḍaka. Từ tiếng Anh tương đương là eunuch được dịch sang tiếng Việt là “hoạn quan, thái giám.” Từ “bị thiến” đã được dùng đến trong một số bản dịch trước đây. Lâu nay, chúng tôi hiểu theo ý nghĩa thông thường đó. Gần đây, chúng tôi tìm thấy từ jātipaṇḍaka mới biết thêm được là có hạng người paṇḍaka bẩm sanh. Dựa theo phần giảng giải của giới pārājika thứ nhất này, chúng tôi có được khái niệm là hạng này không có bộ phận sinh dục, còn việc xác định nam hay nữ là do các đặc tính khác như vóc dáng, bộ ngực, giọng nói, v.v&#8230; Về tâm sinh lý, trong Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm thuộc tạng Luật có câu chuyện đề cập đến bản chất ham muốn về nhục dục của hạng người này. Chúng tôi tạm dịch là “vô căn” cho hạng người không có bộ phận sinh dục này cho dù là bẩm sinh hay bị thiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[28] Bhikkhupaccatthikā được Ṭīkā (Sớ Giải) giải thích là “các kẻ đối nghịch của tỳ khưu,” còn ngài Buddhaghosa thiên về ý “các tỳ khưu đối nghịch.” Theo văn phạm, hai cách dịch trên đều có khả năng tùy theo cách phân tích hợp từ bhikkhupaccatthikā là tappurisa hay kammadhāraya. Sự chọn lựa của ngài Buddhaghosa có phần hợp lý hơn, xin xem giải thích ở phần kế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[29] Nếu ở trên dịch hợp từ bhikkhupaccatthikā là “các kẻ đối nghịch của tỳ khưu” thì ở đây phải dịch rājapaccatthikā là “các kẻ đối nghịch của vị vua” xét ra không hợp lý. Chính vì ở đây phải dịch là “các vị vua đối nghịch” nên có thể xác định ý nghĩa cho từ bhikkhupaccatthikā ở trên là “các tỳ khưu đối nghịch.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[30] Lúc này, vị tỳ khưu ni Uppalavaṇṇa đã là vị A-la-hán. Còn người thanh niên ấy khi vừa đi khuất tầm mắt của vị tỳ khưu ni thì quả địa cầu đã nứt tạo ra lỗ hổng hút vào lòng đất như thể quả địa cầu này không thể nâng đỡ nỗi kẻ độc ác ấy. Anh ta lập tức bị đọa vào địa ngục Avīci và ở vào trạng thái bị lửa địa ngục thiêu đốt (VinA. i, 273)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[31] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng vị này đẹp trai (sundara) và là vị Bất Lai nên không còn ưa thích về việc đôi lứa (VinA. i, 278).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG PĀRĀJIKA: TỤNG PHẨM ĐƯỢC CHE PHỦ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-2-parajika-tung-pham-duoc-che-phu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:20:05 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=57967</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương Pārājika Tụng phẩm được che phủ Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> Chương Pārājika</span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> Tụng phẩm được che phủ</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu nhóm Vajjiputtaka trú xứ Vesālī đã thọ thực theo ý thích, ngủ theo ý thích, tắm theo ý thích. Sau khi đã thọ thực theo ý thích, sau khi đã ngủ theo ý thích, sau khi đã tắm theo ý thích, sau khi đã tác ý không chơn chánh, các vị ấy đã thực hiện việc đôi lứa khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thời gian sau đó, các vị ấy bị tác động bởi sự bất hạnh của quyến thuộc, bởi sự bất hạnh về tài sản, bởi sự bất hạnh về bệnh hoạn nên đã đi đến gặp đại đức Ānanda và nói như vầy: &#8211; “Thưa ngài Ānanda, chúng tôi không phải là những người chê bai đức Phật, không phải là những người chê bai Giáo Pháp, không phải là những người chê bai Hội Chúng. Thưa ngài Ānanda, chúng tôi là những người chê bai chính mình, là những người không chê bai kẻ khác. Chính chúng tôi không có may mắn, chúng tôi có phước báu ít ỏi, chúng tôi đây sau khi xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời. Thưa ngài Ānanda, nếu như giờ đây chúng tôi có thể đạt được sự xuất gia trong sự chứng minh của đức Phật, có thể đạt được sự tu lên bậc trên, thì giờ đây chúng tôi cũng có thể là những người hành Minh Sát, có thể sống gắn bó với sự tu tập về các thiện pháp tức là các pháp có liên quan đến sự giác ngộ vào đầu đêm và cuối đêm. Thưa ngài Ānanda, lành thay xin ngài hãy trình sự việc này lên đức Thế Tôn.” &#8211; “Này các đại đức, được rồi.” Nghe theo các vị nhóm Vajjiputtaka trú xứ Vesālī, đại đức Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Ānanda, việc Như Lai có thể hủy bỏ điều học pārājika đã được quy định cho các đệ tử vì lý do của các vị Vajjī hoặc của những người con trai của các vị Vajjī là điều không có cơ sở và không hợp lý.” Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược mà thực hiện việc đôi lứa thì vị ấy không được tu lên bậc trên trong tương lai. Và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sau khi lìa bỏ sự học tập và sau khi tuyên bố sự yếu nhược rồi thực hiện việc đôi lứa thì vị ấy có thể được tu lên bậc trên trong tương lai. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Vị tỳ khưu nào thọ trì sự học tập và lối sống của các tỳ khưu, khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược, mà thực hiện việc đôi lứa ngay cả với loài thú cái là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định lần ba</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào có mối quan hệ như vầy, có giai cấp như vầy, có tên như vầy, có họ như vầy, có giới hạnh như vầy, có trú xứ như vầy, có nơi đi lại như vầy, là vị trưởng lão (trên 10 năm tỳ khưu), hoặc là vị mới tu (dưới 5 năm), hoặc là vị trung niên (trên 5 năm); vị ấy được gọi là ‘vị nào.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b>: ‘Vị đi khất thực’ là tỳ khưu. ‘Vị chấp nhận việc đi khất thực’ là tỳ khưu. ‘Vị mặc y đã được cắt rời’ là tỳ khưu. Là tỳ khưu do sự thừa nhận. Là tỳ khưu do tự mình xác nhận. Là tỳ khưu khi được (đức Phật) nói rằng: ‘Này tỳ khưu, hãy đi đến.’ ‘Vị đã tu lên bậc trên bằng Tam Quy’ là tỳ khưu. ‘Vị hiền thiện’ là tỳ khưu. ‘Vị có thực chất’ là tỳ khưu. ‘Vị Thánh hữu học’ là tỳ khưu. ‘Vị Thánh vô học’ là tỳ khưu. ‘Vị đã được tu lên bậc trên với hội chúng hợp nhất bằng hành sự có lời thông báo đến lần thứ tư, không sai sót, đáng được duy trì’ là tỳ khưu. Ở đây, vị tỳ khưu đã được tu lên bậc trên với hội chúng hợp nhất, bằng hành sự có lời thông báo đến lần thứ tư, không sai sót, đáng được duy trì, vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự học tập</b>: Có ba sự học tập: sự học tập về tăng thượng giới, sự học tập về tăng thượng tâm, sự học tập về tăng thượng tuệ.[26] Ở đây, ‘sự học tập’ được đề cập trong ý nghĩa này là sự học tập về tăng thượng giới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Lối sống: </b>nghĩa là điều học nào đã được đức Thế Tôn quy định, điều học ấy gọi là lối sống. Vì thế, vị học tập theo lối sống ấy được gọi là ‘thọ trì lối sống.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược</b>: Này các tỳ khưu, có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ. Này các tỳ khưu, có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, thế nào là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ? Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ, mong mỏi thân phận cư sĩ, mong mỏi thân phận người phụ việc chùa, mong mỏi thân phận sa di, mong mỏi thân phận ngoại đạo, mong mỏi thân phận đệ tử ngoại đạo, mong mỏi thân phận không phải là Sa-môn, mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ đức Phật?’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ ―(như trên)― mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ Giáo Pháp?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ Hội Chúng?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ sự học tập?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ Luật?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ giới bổn Pātimokkha?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ việc đọc tụng?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ thầy tế độ?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ thầy dạy học?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ đệ tử?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ học trò?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ vị có chung thầy tế độ?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ vị có chung thầy dạy học?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ vị đồng Phạm hạnh?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành gia chủ?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành nam cư sĩ?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành người phụ việc chùa?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành sa di?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành ngoại đạo?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành đệ tử ngoại đạo?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành không phải là Sa-môn?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành không phải là Thích tử?’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ ―(như trên)― mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Nếu như tôi có thể lìa bỏ đức Phật?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Nếu như tôi có thể không phải là Thích tử?’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Giờ tôi nên lìa bỏ đức Phật?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Giờ tôi nên không phải là Thích tử?’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Vậy tôi hãy nên lìa bỏ đức Phật?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Vậy tôi hãy nên không phải là Thích tử?’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Ước gì tôi có thể lìa bỏ đức Phật?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Ước gì tôi có thể không phải là Thích tử?’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ ―(như trên)― mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ mẹ.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ cha.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ anh (em) trai.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ chị (em) gái.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ con trai.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ con gái.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ vợ.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ quyến thuộc.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ bạn bè.’―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ làng quê.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ phố phường.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ ruộng.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ vườn.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ tiền vàng.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ vàng khối.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ nghề nghiệp.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi hồi tưởng lại sự cười, nói, đùa giỡn trước đây.’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ ―(như trên)― mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có mẹ. Người ấy có thể nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có cha. Người ấy có thể nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có anh (em) trai. Người ấy có thể nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có chị (em) gái. Người ấy có thể nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có con trai. Nó có thể nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có con gái. Nó có thể nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có vợ. Cô ấy có thể nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có quyến thuộc. Họ có thể nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có bạn bè. Họ có thể nuôi tôi.’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ ―(như trên)― mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có mẹ. Người ấy sẽ nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có cha. Người ấy sẽ nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có anh (em) trai. Người ấy sẽ nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có chị (em) gái. Người ấy sẽ nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có con trai. Người ấy sẽ nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có con gái. Người ấy sẽ nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có vợ. Người ấy sẽ nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có quyến thuộc. Các người ấy sẽ nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có bạn bè. Các người ấy sẽ nuôi tôi.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có làng quê. Tôi sẽ sống nhờ nó.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có phố phường. Tôi sẽ sống nhờ nó.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có ruộng. Tôi sẽ sống nhờ nó.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có vườn. Tôi sẽ sống nhờ nó.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có tiền vàng. Tôi sẽ sống nhờ nó.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có vàng khối. Tôi sẽ sống nhờ nó.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có nghề nghiệp. Tôi sẽ sống nhờ nó.’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ ―(như trên)― mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Việc khó làm!’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Không phải việc dễ làm!’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Việc khó thực hành!’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Không phải việc dễ thực hành!’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi không nỗ lực!’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi không chịu đựng nổi!’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi không sung sướng!’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi không thỏa thích!’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, thế nào là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ? Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ ―(như trên)― mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ đức Phật.’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ ―(như trên)― mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ Giáo Pháp.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ Hội Chúng.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ sự học tập.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ Luật.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ giới bổn Pātimokkha.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ việc đọc tụng.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ thầy tế độ.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ thầy dạy học.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ đệ tử.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ học trò.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ vị có chung thầy tế độ.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ vị có chung thầy dạy học.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ vị đồng Phạm hạnh.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi là gia chủ.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi là cư sĩ.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi là người phụ việc chùa.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi là sa di.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi là ngoại đạo.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi là đệ tử ngoại đạo.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi không phải là Sa-môn.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi không phải là Thích tử.’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ ―(như trên)― mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi đã chán đức Phật.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi đã chán vị đồng Phạm hạnh.’ Này các tỳ khưu, như thế là ―(như trên)― và sự học tập được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi còn liên quan gì với đức Phật?’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi còn liên quan gì với vị đồng Phạm hạnh?’ Này các tỳ khưu, như thế là ―(như trên)― và sự học tập được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi không cần đến đức Phật.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi không cần đến vị đồng Phạm hạnh.’ Này các tỳ khưu, như thế là ―(như trên)― và sự học tập được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi đã hoàn toàn lìa khỏi đức Phật.’ ―(như trên)― nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi đã hoàn toàn lìa khỏi vị đồng Phạm hạnh.’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc là, còn có những điều khác ám chỉ đức Phật, hoặc ám chỉ Giáo Pháp, hoặc ám chỉ Hội Chúng, hoặc ám chỉ sự học tập, hoặc ám chỉ Luật, hoặc ám chỉ giới bổn Pātimokkha, hoặc ám chỉ việc đọc tụng, hoặc ám chỉ thầy tế độ, hoặc ám chỉ thầy dạy học, hoặc ám chỉ người đệ tử, hoặc ám chỉ người học trò, hoặc ám chỉ vị có chung thầy tế độ, hoặc ám chỉ vị có chung thầy dạy học, hoặc ám chỉ vị đồng Phạm hạnh, hoặc ám chỉ gia chủ, hoặc ám chỉ nam cư sĩ, hoặc ám chỉ người phụ việc chùa, hoặc ám chỉ sa di, hoặc ám chỉ ngoại đạo, hoặc ám chỉ đệ tử ngoại đạo, hoặc ám chỉ việc không phải là Sa-môn, hoặc ám chỉ việc không phải là Thích tử, và vị nói ra, tuyên bố với những hình thức ấy, với những biểu hiện ấy, với những dấu hiệu ấy. Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, thế nào là sự học tập chưa được lìa bỏ? Này các tỳ khưu, ở đây sự học tập được lìa bỏ với những hình thức, với những biểu hiện, với những dấu hiệu mà vị bị điên lìa bỏ sự học tập với những hình thức ấy, với những biểu hiện ấy, với những dấu hiệu ấy thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của vị bị điên thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị có tâm bị rối loạn lìa bỏ sự học tập thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của vị có tâm bị rối loạn thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị bị thọ khổ hành hạ lìa bỏ sự học tập thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của vị bị thọ khổ hành hạ thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của Thiên nhân thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của loài thú thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo ngôn ngữ quý phái trong sự chứng minh của người bình dân và nếu người ấy không hiểu thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo ngôn ngữ bình dân trong sự chứng minh của người quý phái và nếu người ấy không hiểu thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo ngôn ngữ quý phái trong sự chứng minh của người quý phái nhưng nếu người ấy không hiểu thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo ngôn ngữ bình dân trong sự chứng minh của người bình dân nhưng nếu người ấy không hiểu thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo lối đùa cợt thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học do bị lỡ lời thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị ấy nói ra nhưng có ý định không cho nghe thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị ấy có ý định cho nghe nhưng nói ra không nghe được thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị ấy nói với kẻ không hiểu biết thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị ấy không nói ra cho nghe đến người hiểu biết thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Hoặc vị ấy không nói ra đầy đủ thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Này các tỳ khưu, như thế là sự học tập chưa được lìa bỏ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Việc đôi lứa</b> nghĩa là việc nào là việc kết hợp của hai người, theo từng cặp, ở nơi kín đáo, là việc làm không tốt đẹp, là việc làm của các dân làng, là việc làm của những người thấp kém, là xấu xa, kết cuộc phải dùng nước tẩy rửa; việc ấy gọi là việc đôi lứa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thực hiện</b> nghĩa là vị nào đưa vật biểu tượng vào vật biểu tượng, đưa dương vật vào âm vật cho dầu chỉ (đưa vào) khoảng cách bằng hạt mè, vị ấy được gọi là thực hiện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ngay cả với loài thú cái</b>: Sau khi thực hiện việc đôi lứa với giống cái của loài thú thì không còn là Sa-môn, không còn là Thích tử nữa, chứ không phải chỉ với người nữ; vì thế được gọi là ‘ngay cả với loài thú cái.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Là vị phạm tội </b><b>pārājika</b>: cũng giống như người đàn ông bị chặt đứt đầu không thể sống bám víu vào thân thể ấy, tương tợ như thế vị tỳ khưu sau khi thực hiện việc đôi lứa thì không còn là Sa-môn, không còn là Thích tử; vì thế được gọi ‘là vị phạm tội pārājika.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Không được cộng trú</b>: cộng trú nghĩa là có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau, điều ấy gọi là cộng trú. Vị ấy không có được điều ấy, vì thế được gọi là ‘không được cộng trú.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nữ tánh có ba loại: người nữ, phi nhân nữ, thú cái. Lưỡng căn có ba loại: người lưỡng căn, phi nhân lưỡng căn, thú lưỡng căn. Vô căn[27] có ba loại: người vô căn, phi nhân vô căn, thú vô căn. Nam tánh có ba loại: người nam, phi nhân nam, thú đực.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị thực hiện việc đôi lứa với người nữ theo ba đường: ở đường đại tiện, ở đường tiểu tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika. Vị thực hiện việc đôi lứa với phi nhân nữ ―(như trên)― với thú cái theo ba đường: ở đường đại tiện, ở đường tiểu tiện, ở miệng thì phạm tộipārājika. Vị thực hiện việc đôi lứa với người lưỡng căn ―(như trên)― với phi nhân lưỡng căn ―(như trên)― với thú lưỡng căn theo ba đường: ở đường đại tiện, ở đường tiểu tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị thực hiện việc đôi lứa với người vô căn theo hai đường: ở đường đại tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika. Vị thực hiện việc đôi lứa với phi nhân vô căn ―(như trên)― với thú vô căn ―(như trên)― với người nam ―(như trên)― với phi nhân nam ―(như trên)― với thú đực theo hai đường: ở đường đại tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường đại tiện của người nữ thì phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường tiểu tiện ―(như trên)― vào miệng của người nữ thì phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường đại tiện ―(như trên)― vào đường tiểu tiện ―(như trên)― vào miệng của phi nhân nữ ―(như trên)― của thú cái ―(như trên)― của người lưỡng căn ―(như trên)― của phi nhân lưỡng căn ―(như trên)― của thú lưỡng căn thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường đại tiện ―(như trên)― vào miệng của người vô căn thì phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường đại tiện ―(như trên)― vào miệng của phi nhân vô căn ―(như trên)― của thú vô căn ―(như trên)― của người nam ―(như trên)― của phi nhân nam ―(như trên)― của thú đực ―(như trên)― thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch[28] đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện (của cô ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện (của cô ấy). Nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, (nhưng) ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện (của cô ấy). Nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, không ưng thuận khi được đẩy vào, (nhưng) ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện (của cô ấy). Nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, không ưng thuận khi được đẩy vào, không ưng thuận khi dừng lại, (nhưng) ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện (của cô ấy). Nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, không ưng thuận khi được đẩy vào, không ưng thuận khi dừng lại, không ưng thuận việc rút ra thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường tiểu tiện ―(như trên)― với miệng (của cô ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ đang tỉnh táo ―(như trên)― đang ngủ ―(như trên)― đang say sưa ―(như trên)― bị điên ―(như trên)― đang đờ đẫn ―(như trên)― đã chết chưa bị (thú) ăn ―(như trên)― đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ―(như trên)― Nếu vị ấy ưng thuận ―(như trên)― thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện ―(như trên)― với đường tiểu tiện ―(như trên)― với miệng (của cô ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem phi nhân nữ ―(như trên)― thú cái ―(như trên)― người lưỡng căn ―(như trên)― phi nhân lưỡng căn ―(như trên)― thú lưỡng căn lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện ―(như trên)― với đường tiểu tiện ―(như trên)― với miệng (của đối tượng). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem thú lưỡng căn đang tỉnh táo ―(như trên)― đang ngủ ―(như trên)― đang say sưa ―(như trên)― bị điên ―(như trên)― đang đờ đẫn ―(như trên)― đã chết chưa bị (thú) ăn ―(như trên)― đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ―(như trên)― Nếu vị ấy ưng thuận ―(như trên)― thì phạm tội pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem thú lưỡng căn đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện ―(như trên)― với đường tiểu tiện ―(như trên)― với miệng (của đối tượng). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem người vô căn ―(như trên)― phi nhân vô căn ―(như trên)― thú vô căn lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện ―(như trên)― với miệng (của đối tượng). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem thú vô căn đang tỉnh táo ―(như trên)― đang ngủ ―(như trên)― đang say sưa ―(như trên)― bị điên ―(như trên)― đang đờ đẫn ―(như trên)― đã chết chưa bị (thú) ăn ―(như trên)― đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần Nếu vị ấy ưng thuận ―(như trên)― thì phạm tội pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem thú vô căn đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện ―(như trên)― với miệng (của đối tượng). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem người nam ―(như trên)― phi nhân nam ―(như trên)― thú đực lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện ―(như trên)― với miệng (của đối tượng). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem thú nam đang tỉnh táo ―(như trên)― đang ngủ ―(như trên)― đang say sưa ―(như trên)― bị điên ―(như trên)― đang đờ đẫn ―(như trên)― đã chết chưa bị (thú) ăn ―(như trên)― đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ―(như trên)― Nếu vị ấy ưng thuận ―(như trên)― thì phạm tội pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem thú nam đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện ―(như trên)― với miệng (của đối tượng). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện ―(như trên)― với đường tiểu tiện ―(như trên)― với miệng (của cô ấy), của cô ấy được che phủ và của vị ấy không được che phủ ―(như trên)― của cô ấy không được che phủ và của vị ấy được che phủ ―(như trên)― của cô ấy được che phủ và của vị ấy được che phủ ―(như trên)― của cô ấy không được che phủ và của vị ấy không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ đang tỉnh táo &#8230; đang ngủ &#8230; đang say sưa &#8230; bị điên &#8230; đang đờ đẫn &#8230; đã chết chưa bị (thú) ăn &#8230; đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần &#8230; Nếu vị ấy ưng thuận ―(như trên)― thì phạm tội pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ ―(như trên)― phi nhân nữ ―(như trên)― thú cái đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện ―(như trên)― với đường tiểu tiện ―(như trên)― với miệng (của đối tượng), của đối tượng được che phủ và của vị ấy không được che phủ &#8230; của đối tượng không được che phủ và của vị ấy được che phủ &#8230; của đối tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ &#8230; của đối tượng không được che phủ và của vị ấy không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem người lưỡng căn ―(như trên)― phi nhân lưỡng căn ―(như trên)― thú lưỡng căn lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện ―(như trên)― với đường tiểu tiện ―(như trên)― với miệng (của đối tượng), của đối tượng được che phủ và của vị ấy không được che phủ &#8230; của đối tượng không được che phủ và của vị ấy được che phủ &#8230; của đối tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ &#8230; của đối tượng không được che phủ và của vị ấy không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tộipārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem thú lưỡng căn đang tỉnh táo ―(như trên)― đang ngủ ―(như trên)― đang say sưa ―(như trên)― bị điên ―(như trên)― đang đờ đẫn ―(như trên)― đã chết chưa bị (thú) ăn ―(như trên)― đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ―(như trên)― thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem thú lưỡng căn đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện &#8230; với đường tiểu tiện &#8230; với miệng (của đối tượng), của đối tượng được che phủ và của vị ấy không được che phủ &#8230; của đối tượng không được che phủ và của vị ấy được che phủ &#8230; của đối tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ &#8230; của đối tượng không được che phủ và của vị ấy không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem người vô căn &#8230; phi nhân vô căn &#8230; thú vô căn &#8230; người nam &#8230; phi nhân nam &#8230; thú đực lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện &#8230; với miệng (của đối tượng), của đối tượng được che phủ và của vị ấy không được che phủ &#8230; của đối tượng không được che phủ và của vị ấy được che phủ &#8230; của đối tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ &#8230; của đối tượng không được che phủ và của vị ấy không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem người vô căn ―(như trên)― thú đực đang tỉnh táo ―(như trên)― đang ngủ ―(như trên)― đang say sưa ―(như trên)― bị điên ―(như trên)― đang đờ đẫn ―(như trên)― đã chết chưa bị (thú) ăn ―(như trên)― đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ―(như trên)― Nếu vị ấy ưng thuận ―(như trên)― thì phạm tội pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem thú đực đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện ―(như trên)― với miệng (của đối tượng), của đối tượng được che phủ và của vị ấy không được che phủ &#8230; của đối tượng không được che phủ và của vị ấy được che phủ &#8230; của đối tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ &#8230; của đối tượng không được che phủ và của vị ấy không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ rồi kết hợp đường đại tiện ―(như trên)― đường tiểu tiện ―(như trên)― miệng (của cô ấy) với dương vật (vị ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ đang tỉnh táo &#8230; đang ngủ &#8230; đang say sưa &#8230; bị điên &#8230; đang đờ đẫn &#8230; đã chết chưa bị (thú) ăn &#8230; đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần &#8230; Nếu vị ấy ưng thuận ―(như trên)― thì phạm tội pārājika ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần rồi kết hợp đường đại tiện &#8230; đường tiểu tiện &#8230; miệng (của cô ấy) với dương vật (vị ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần phi nhân nữ &#8230; thú cái &#8230; người lưỡng căn &#8230; phi nhân lưỡng căn &#8230; thú lưỡng căn &#8230; người vô căn &#8230; phi nhân vô căn &#8230; thú vô căn &#8230; người nam &#8230; phi nhân nam &#8230; thú đực rồi kết hợp đường đại tiện ―(như trên)― miệng (của đối tượng) với dương vật (vị ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần thú đực đang tỉnh táo ―(như trên)― đang ngủ ―(như trên)― đang say sưa ―(như trên)― bị điên ―(như trên)― đang đờ đẫn ―(như trên)― đã chết chưa bị (thú) ăn ―(như trên)― đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ―(như trên)― Nếu vị ấy ưng thuận ―(như trên)― thì phạm tội pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần thú đực đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần rồi kết hợp đường đại tiện ―(như trên)― miệng (của đối tượng) với dương vật (vị ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ rồi kết hợp đường đại tiện &#8230; đường tiểu tiện &#8230; miệng (của cô ấy) với dương vật (vị ấy), của vị ấy được che phủ và của cô ấy không được che phủ &#8230; của vị ấy không được che phủ và của cô ấy được che phủ &#8230; của vị ấy được che phủ và của cô ấy được che phủ &#8230; của vị ấy không được che phủ và của cô ấy không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ đang tỉnh táo &#8230; đang ngủ &#8230; đang say sưa &#8230; bị điên &#8230; đang đờ đẫn &#8230; đã chết chưa bị (thú) ăn &#8230; đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần &#8230; Nếu vị ấy ưng thuận ―(như trên)― thì phạm tội pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần rồi kết hợp đường đại tiện &#8230; đường tiểu tiện &#8230; miệng (của cô ấy) với dương vật (vị ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần phi nhân nữ &#8230; thú cái &#8230; người lưỡng căn &#8230; phi nhân lưỡng căn &#8230; thú lưỡng căn rồi kết hợp đường đại tiện &#8230; đường tiểu tiện &#8230; miệng (của đối tượng) &#8230; lại gần người vô căn &#8230; phi nhân vô căn &#8230; thú vô căn &#8230; người nam &#8230; phi nhân nam &#8230; thú đực rồi kết hợp đường đại tiện &#8230; miệng (của đối tượng) với dương vật (vị ấy), của vị ấy được che phủ và của đối tượng không được che phủ &#8230; của vị ấy không được che phủ và của đối tượng được che phủ &#8230; của vị ấy được che phủ và của đối tượng được che phủ &#8230; của vị ấy không được che phủ và của đối tượng không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần thú đực đang tỉnh táo &#8230; đang ngủ &#8230; đang say sưa &#8230;bị điên &#8230; đang đờ đẫn &#8230; đã chết chưa bị (thú) ăn &#8230; đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần &#8230; Nếu vị ấy ưng thuận ―(như trên)― thì phạm tội pārājika. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần rồi kết hợp đường đại tiện &#8230; miệng (của đối tượng) với dương vật (vị ấy), của vị ấy được che phủ và của đối tượng không được che phủ &#8230; của vị ấy không được che phủ và của đối tượng được che phủ &#8230; của vị ấy được che phủ và của đối tượng được che phủ &#8230; của vị ấy không được che phủ và của đối tượng không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. ―(như trên)― không ưng thuận thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị vua đối nghịch[29] &#8230; Các kẻ trộm cướp đối nghịch &#8230; Các kẻ vô lại đối nghịch &#8230; Các kẻ thảo khấu đối nghịch &#8230; thì phạm tội &#8230; thì vô tội (nên phân tích tương tợ như ở các phần liên quan đến ‘các tỳ khưu đối nghịch’).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Phần ‘Được Che Phủ’ đã được giảng xong</b>].</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đưa vào đường khiếu theo đường khiếu thì phạm tội pārājika. Đưa vào nơi không phải là đường khiếu theo đường khiếu thì phạm tội pārājika. Đưa vào đường khiếu không theo đường khiếu thì phạm tội pārājika. Đưa vào nơi không phải là đường khiếu không theo đường khiếu thì phạm tội thullaccaya.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu vi phạm giới với vị tỳ khưu đang ngủ. Vị kia thức giấc lại ưng thuận; cả hai nên bị trục xuất. Vị kia thức giấc không ưng thuận, kẻ làm bậy nên bị trục xuất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu vi phạm giới với vị sa di đang ngủ. Vị sa di thức giấc lại ưng thuận; cả hai nên bị trục xuất. Vị sa di thức giấc không ưng thuận, kẻ làm bậy nên bị trục xuất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị sa di vi phạm giới với vị tỳ khưu đang ngủ. Vị tỳ khưu thức giấc lại ưng thuận; cả hai nên bị trục xuất. Vị tỳ khưu thức giấc không ưng thuận, kẻ làm bậy nên bị trục xuất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị sa di vi phạm giới với vị sa di đang ngủ. Vị kia thức giấc lại ưng thuận; cả hai nên bị trục xuất. Vị kia thức giấc không ưng thuận, kẻ làm bậy nên bị trục xuất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị không biết, vị không ưng thuận, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm “Được Che Phủ.”</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[16] Dịch sát từ sẽ là: “Sau khi nhìn thấy, điều này đã khởi đến anh ta: &#8230;”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[17] Y paṃsukūla: y được may bằng vải dơ bị người ta quăng bỏ, thông thường là vải quấn tử thi được tìm thấy ở bãi tha ma (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[18] Ngài Buddhaghosa giải thích ở Chú Giải Samantapāsādikā rằng đã tám năm trôi qua nên người nữ tỳ không thể nhận ra đại đức Sudinna mà chỉ nhận biết qua các đặc điểm của tay, chân, và giọng nói. Thêm vào đó còn cho biết vị Sudinna đã xuất gia vào năm thứ mười hai của đức Thế Tôn và thời điểm xảy ra câu chuyện này là năm thứ hai mươi (VinA. i, 208).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[19] Theo ngài Buddhaghosa cho biết, hai mẹ con đã xuất gia sau đó khoảng bảy hoặc tám năm (VinA. i,215).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[20] Là việc đặt dương vật vào trong miệng của con rắn có nọc độc khủng khiếp, vào trong miệng của con hắc xà, vào trong hố than được đốt cháy có ngọn lửa sáng rực (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[21] Là việc đặt dương vật vào trong âm vật của người nữ (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[22] Chánh Pháp (saddhamma): Ngài Buddhaghosa giải thích saddhamma gồm có ba phần: Pariyattisaddhamma (Pháp Học) gồm tất cả các lời dạy của đức Phật đã được kết tập thành Tam Tạng,Paṭipattisaddhamma (Pháp Hành) là 13 pháp Đầu-đà, 14 pháp hành, 82 phận sự chính, Giới, Định, và Minh Sát, Adhigamasaddhamma (Pháp Đắc Chứng) là 4 Đạo, 4 Quả, và Niết Bàn (VinA. i, 225). Giải thích về 82 phận sự chính Ṭīkā (Sớ Giải) ghi rằng: 66 phận sự của vị hành parivāsa (bắt đầu với điều “Không nên ban phép tu lên bậc trên, &#8230;, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành trong khi vị tỳ khưu trong sạch đi kinh hành ở trên mặt đất”); không ngụ chung với 5 hạng tỳ khưu (vị cũng thực hànhparivāsa nhưng thâm niên hơn, vị xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, vị tỳ khưu xứng đáng hành mānatta, vị đang thực hành mānatta, vị xứng đáng sự giải tội) tính là 5 điều thành 71; “không nên tiếp nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, &#8230;, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các vị tỳ khưu trong sạch” tính là 1 điều thành 72; “không nên bôi nhọ vị tỳ khưu trong sạch với sự hư hỏng về giới, v.v&#8230;” tính là 10 điều; tổng cộng là 82 phận sự.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[23] Từ “bất cộng trụ” đã được sử dụng quen thuộc khi đề cập đến tội pārājika. Thật ra, “bất cộng trụ” là từ dịch của asaṃvāso trong câu “ayampi pārājiko hoti asaṃvāso,” chứ không phải của pārājika. Pārājikađược xem là tên của tội, còn asaṃvàso có thể xem như là một hình thức xử lý tội pārājika, là không được sống chung và tiến hành các hành sự như là lễ Uposatha, lễ Parāraṇā, v.v&#8230; Ngài Buddhaghosa chỉ ra động từ liên quan là “parājeti = khuất phục, đánh bại, chế ngự, chiến thắng” và giải thích rằng vị “pārājiko” là vị “parājito,” (parājito là quá khứ phân từ thể thụ động của parājeti, có nghĩa là: bị khuất phục, bị đánh bại, bị chế ngự). Như vậy, pārājika có nghĩa là “kẻ thất trận, kẻ bại trận người thua cuộc” và được sử dụng cho tên của một loại tội cực nặng trong giới bổn Pātimokkha của tỳ khưu gồm 4 điều được trình bày trong chương này. Chúng tôi giữ nguyên từ pārājika không dịch.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[24] Nguyên nhân kia đã được giải thích ở phần trước.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[25] Nguyên nhân này là việc đặt dương vật vào trong âm vật của con khỉ cái (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[26] Adhisīla: Tăng thượng giới là giới bổn Pātimokkha. Adhicitta: Tăng thượng tâm là sự tu tập các loại định hợp thế. Adhipaññā: Tăng thượng tuệ là sự tu tập (các tâm) Đạo Siêu Thế (VinA. i, 244-245).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[27] Từ Pāli paṇḍaka là đề cập đến người phái nam. Về phái nữ, các từ được tìm thấy là paṇḍikā, itthipaṇḍikā, itthipaṇḍaka. Từ tiếng Anh tương đương là eunuch được dịch sang tiếng Việt là “hoạn quan, thái giám.” Từ “bị thiến” đã được dùng đến trong một số bản dịch trước đây. Lâu nay, chúng tôi hiểu theo ý nghĩa thông thường đó. Gần đây, chúng tôi tìm thấy từ jātipaṇḍaka mới biết thêm được là có hạng người paṇḍaka bẩm sanh. Dựa theo phần giảng giải của giới pārājika thứ nhất này, chúng tôi có được khái niệm là hạng này không có bộ phận sinh dục, còn việc xác định nam hay nữ là do các đặc tính khác như vóc dáng, bộ ngực, giọng nói, v.v&#8230; Về tâm sinh lý, trong Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm thuộc tạng Luật có câu chuyện đề cập đến bản chất ham muốn về nhục dục của hạng người này. Chúng tôi tạm dịch là “vô căn” cho hạng người không có bộ phận sinh dục này cho dù là bẩm sinh hay bị thiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[28] Bhikkhupaccatthikā được Ṭīkā (Sớ Giải) giải thích là “các kẻ đối nghịch của tỳ khưu,” còn ngài Buddhaghosa thiên về ý “các tỳ khưu đối nghịch.” Theo văn phạm, hai cách dịch trên đều có khả năng tùy theo cách phân tích hợp từ bhikkhupaccatthikā là tappurisa hay kammadhāraya. Sự chọn lựa của ngài Buddhaghosa có phần hợp lý hơn, xin xem giải thích ở phần kế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[29] Nếu ở trên dịch hợp từ bhikkhupaccatthikā là “các kẻ đối nghịch của tỳ khưu” thì ở đây phải dịch rājapaccatthikā là “các kẻ đối nghịch của vị vua” xét ra không hợp lý. Chính vì ở đây phải dịch là “các vị vua đối nghịch” nên có thể xác định ý nghĩa cho từ bhikkhupaccatthikā ở trên là “các tỳ khưu đối nghịch.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[30] Lúc này, vị tỳ khưu ni Uppalavaṇṇa đã là vị A-la-hán. Còn người thanh niên ấy khi vừa đi khuất tầm mắt của vị tỳ khưu ni thì quả địa cầu đã nứt tạo ra lỗ hổng hút vào lòng đất như thể quả địa cầu này không thể nâng đỡ nỗi kẻ độc ác ấy. Anh ta lập tức bị đọa vào địa ngục Avīci và ở vào trạng thái bị lửa địa ngục thiêu đốt (VinA. i, 273)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[31] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng vị này đẹp trai (sundara) và là vị Bất Lai nên không còn ưa thích về việc đôi lứa (VinA. i, 278).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG PĀRĀJIKA &#8211; CHUYỆN DẪN GIẢI, KỆ NGÔN TÓM LƯỢC</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-2-parajika-chuyen-dan-giai-ke-ngon-tom-luoc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:25:35 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=57978</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương Pārājika Chuyện dẫn giải, kệ ngôn tóm lược Con khỉ cái, và các]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I </span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương Pārājika </span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chuyện dẫn giải, kệ ngôn tóm lược</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Con khỉ cái, và các vị Vajjī, có (hình tướng) gia chủ, lõa thể, và ngoại đạo, đứa bé gái, vị ni Uppalavaṇṇā, hai trường hợp chuyển tánh kỳ lạ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ, con gái, chị (em) gái, người vợ, lưng dẻo, dương vật dài, hai trường hợp vết loét, tranh vẽ, và tượng gỗ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với năm chuyện Sundara, năm ở bãi tha ma, khúc xương, rồng cái, Dạ-xoa nữ, ma nữ, người vô căn, liệt cảm giác, khi đụng,</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chuyện vị A-la-hán ngủ ở Bhaddiya, bốn chuyện Sāvatthī, Vesāli ba chuyện, vòng hoa, vị ngủ mơ, ở Bhārukaccha,</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Supabbā, Saddhā, vị tỳ khưu ni, vị ni tu tập sự, vị sa di ni, gái điếm, người vô căn, nữ gia chủ, lẫn nhau, vị lớn tuổi xuất gia, con nai.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện điều đôi lứa với con khỉ cái. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định; phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu Vajjiputtaka cư trú ở Vesālī đã thực hiện việc đôi lứa khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định; phải chăng chúng ta đã phạm tội pārājika?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.” (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Như thế này thì ta sẽ không phạm tội” rồi đã thực hiện việc đôi lứa với hình tướng gia chủ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Như thế này thì ta sẽ không phạm tội,” sau khi trở nên trần truồng rồi đã thực hiện việc đôi lứa. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Như thế này thì ta sẽ không phạm tội,” sau khi mặc vải sợi cỏ ―(như trên)― sau khi mặc vỏ cây ―(như trên)― sau khi mặc gỗ lát mỏng ―(như trên)― sau khi mặc tấm mền bằng tóc ―(như trên)― sau khi mặc cánh chim cú ―(như trên)― sau khi mặc da sơn dương rồi đã thực hiện việc đôi lứa. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (5-11)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi khất thực. Khi thấy một đứa bé gái nằm trên ghế, vị ấy đã khởi dục vọng rồi đưa ngón tay cái vào âm vật (của đứa bé gái). Đứa bé gái đã chết. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Ngươi phạm tội saṅghādisesa.” (12)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người thanh niên Bā-la-môn nọ đem lòng say đắm tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā. Khi ấy, lúc tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā đã đi vào làng để khất thực, thanh niên Bā-la-môn ấy đã đi vào liêu cốc nấp kín rồi chờ đợi. Khi đi khất thực trở về sau bữa ăn, tỳ khưu ni Uppala-vaṇṇā đã rửa chân rồi đi vào liêu cốc và ngồi xuống ở trên giường. Khi ấy, người thanh niên Bā-la-môn ấy đã nhấc bổng tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā lên và làm điều tồi bại. Tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, vị ni không ưng thuận thì vô tội.”[30] (13)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tướng trạng người nữ đã xuất hiện ở vị tỳ khưu nọ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, Ta cho phép chuyển sang (sinh hoạt) với các tỳ khưu ni (và vẫn giữ nguyên) thầy tế độ ấy, sự tu lên bậc trên ấy, các năm (thâm niên) ấy. Những tội nào của các tỳ khưu có liên quan đến các tỳ khưu ni, các tội ấy được làm cho hết tội trong sự chứng minh của các tỳ khưu ni. Những tội nào của các tỳ khưu không có liên quan đến các tỳ khưu ni thì được vô tội với các tội ấy.” (14)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, tướng trạng người nam đã xuất hiện ở vị tỳ khưu ni nọ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, Ta cho phép chuyển sang (sinh hoạt) với các tỳ khưu (và vẫn giữ nguyên) thầy tế độ ấy, sự tu lên bậc trên ấy, các năm (thâm niên) ấy. Những tội nào của các tỳ khưu ni có liên quan đến các tỳ khưu, các tội ấy được làm cho hết tội trong sự chứng minh của các tỳ khưu. Những tội nào của các tỳ khưu ni không có liên quan đến các tỳ khưu thì được vô tội với các tội ấy.” (15)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Như thế này thì ta sẽ không phạm tội” rồi đã thực hiện việc đôi lứa với người mẹ. ―(như trên)― rồi đã thực hiện việc đôi lứa với con gái. ―(như trên)― rồi đã thực hiện việc đôi lứa với chị (em) gái. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tộipārājika.” (16-18)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc đôi lứa với người vợ cũ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (19)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ là người có lưng dẻo. Vị ấy bị bực bội bởi sự không thỏa thích nên đã dùng miệng ngậm lấy dương vật của mình. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (20)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ là người có dương vật dài. Vị ấy bị bực bội bởi sự không thỏa thích nên đã đưa dương vật của mình vào đường đại tiện của mình. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (21)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nhìn thấy thây người chết. Và trên thi thể ấy, có vết loét ở bên cạnh bộ phận sinh dục. Vị ấy (nghĩ rằng): “Như thế này thì ta sẽ không phạm tội” rồi đã đưa dương vật vào bộ phận sinh dục rồi rút ra bằng chỗ vết loét. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (22)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nhìn thấy thây người chết. Và trên thi thể ấy, có vết loét ở bên cạnh bộ phận sinh dục. Vị ấy (nghĩ rằng): “Như thế này thì ta sẽ không phạm tội” rồi đã đưa dương vật vào vết loét rồi rút ra từ bộ phận sinh dục. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (23)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục nên đã dùng dương vật (của mình) sờ vào vật biểu tượng ở tranh vẽ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (24)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục nên đã dùng dương vật (của mình) sờ vào chỗ kín ở tượng gỗ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (25)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu tên Sundara đã được xuất gia ở thành Rājagaha và (đang) đi trên đường. Có người nữ nọ [sau khi nhìn thấy vị ấy đã nói điều này]: &#8211; “Thưa ngài, xin chờ chốc lát, tôi sẽ đảnh lễ.” Trong khi đảnh lễ, người nữ ấy đã vén y nội lên rồi dùng miệng ngậm lấy dương vật (vị ấy). Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, có phải ngươi đã ưng thuận?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con đã không ưng thuận.” &#8211; “Này tỳ khưu, vị không ưng thuận thì vô tội.”[31] (26)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người nữ nọ sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu đã nói điều này: &#8211; “Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy thực hiện việc đôi lứa.” &#8211; “Này chị gái, thôi đi. Việc ấy không được phép.” &#8211; “Thưa ngài, hãy đến. Tôi sẽ ra sức, ngài đừng ra sức; như thế ngài sẽ không phạm tội.” Vị tỳ khưu ấy đã làm như thế. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (27)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người nữ nọ sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu đã nói điều này: &#8211; “Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy thực hiện việc đôi lứa.” &#8211; “Này chị gái, thôi đi. Việc ấy không được phép.” &#8211; “Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy ra sức, tôi sẽ không ra sức; như thế ngài sẽ không phạm tội.” Vị tỳ khưu ấy đã làm như thế. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (28)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người nữ nọ sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu đã nói điều này: &#8211; “Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy thực hiện việc đôi lứa.” &#8211; “Này chị gái, thôi đi. Việc ấy không được phép.” &#8211; “Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở bên trong rồi cho xuất tinh ra ở bên ngoài. ―(như trên)― “Ngài hãy cọ xát ở bên ngoài rồi cho xuất tinh ra ở bên trong; như thế ngài sẽ không phạm tội.” Vị tỳ khưu ấy đã làm như thế. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (29-30)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến bãi tha ma đã nhìn thấy thi thể chưa bị (thú) ăn và đã thực hiện việc đôi lứa ở thi thể ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (31)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến bãi tha ma đã nhìn thấy thi thể chưa bị (thú) ăn nhiều phần và đã thực hiện việc đôi lứa ở thi thể ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (32)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến bãi tha ma đã nhìn thấy thi thể đã bị (thú) ăn nhiều phần và đã thực hiện việc đôi lứa ở thi thể ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (33)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến bãi tha ma đã nhìn thấy cái đầu bị đứt lìa rồi đã đưa dương vật vào vào cái miệng đã được banh ra và có va chạm. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (34)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến bãi tha ma đã nhìn thấy cái đầu bị đứt lìa rồi đã đưa dương vật vào cái miệng đã được banh ra và không va chạm. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (35)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đem lòng say đắm người nữ nọ. Nàng ấy đã từ trần và bị quăng bỏ ở mộ địa. Các khúc xương đã bị phân tán rải rác. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã đi vào bãi tha ma rồi thâu nhặt các khúc xương lại và đã đặt dương vật vào chỗ kín. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (36)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc đôi lứa với rồng cái. ―(như trên)― đã thực hiện việc đôi lứa với Dạ-xoa nữ. ―(như trên)― đã thực hiện việc đôi lứa với ma nữ. ―(như trên)― đã thực hiện việc đôi lứa với người vô căn. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (37-40)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị liệt cảm giác. Vị ấy (nghĩ rằng): “Ta đây không cảm giác được lạc hay khổ, như thế ta sẽ không phạm tội” rồi đã thực hiện việc đôi lứa. ―(như trên)― Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, kẻ rồ dại ấy đã phạm tội pārājika dầu đã cảm giác hay đã không cảm giác.” (41)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Ta sẽ thực hiện việc đôi lứa với người nữ” nhưng chỉ mới chạm vào vị ấy đã hối hận. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội saṅghādisesa.” (42)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ nằm nghỉ ngơi vào ban ngày trong khu rừng Jātiyā ở thành Bhaddiya. Các phần cơ thể của vị ấy đã bị cương lên bởi gió. Có người nữ nọ nhìn thấy rồi đã ngồi lên trên dương vật (vị ấy), đến khi đạt được mục đích đã bỏ đi. Các vị tỳ khưu nhìn thấy (vị ấy) bị nhầy nhụa nên đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, dương vật trở nên thích ứng do năm lý do: do ái dục, do phân, do nước tiểu, do gió, do bị cắn bởi sâu bọ. Này các tỳ khưu, đây là năm lý do làm cho dương vật trở nên thích ứng. Này các tỳ khưu, dương vật của vị tỳ khưu ấy trở nên thích ứng do ái dục là điều không có cơ sở và không hợp lý. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy là vị A-la-hán. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không phạm tội.” (43)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ nằm nghỉ ngơi vào ban ngày trong khu rừng Andha ở thành Sāvatthī. Có cô chăn bò nọ nhìn thấy rồi đã ngồi lên trên dương vật (vị ấy). Vị tỳ khưu ấy đã ưng thuận việc đưa vào, đã ưng thuận khi được đẩy vào, đã ưng thuận khi dừng lại, đã ưng thuận việc rút ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (44)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ nằm nghỉ ngơi vào ban ngày trong khu rừng Andha ở thành Sāvatthī. Có cô chăn dê nọ nhìn thấy ―(như trên)― Có cô đi mót củi nọ nhìn thấy ―(như trên)― Có cô đi nhặt phân bò nọ nhìn thấy rồi đã ngồi lên trên dương vật (vị ấy). Vị tỳ khưu ấy đã ưng thuận việc đưa vào, đã ưng thuận khi được đẩy vào, đã ưng thuận khi dừng lại, đã ưng thuận việc rút ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (45-47)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ nằm nghỉ ngơi vào ban ngày ở Mahāvana trong thành Vesālī. Có người nữ nọ nhìn thấy rồi đã ngồi lên dương vật (vị ấy), sau khi đạt được mục đích đã đứng cạnh bên rồi cười. Vị tỳ khưu ấy thức giấc đã nói với người nữ ấy điều này: &#8211; “Có phải việc làm này là của cô?” &#8211; “Thưa vâng, là việc làm của tôi.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi có ưng thuận không?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con không biết.” &#8211; “Này tỳ khưu, vị không biết thì vô tội.” (48)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khi nghỉ ngơi vào ban ngày ở Mahāvana trong thành Vesālī đã nằm xuống tựa vào thân cây. Có người nữ nọ nhìn thấy rồi đã ngồi lên trên dương vật (vị ấy). Vị tỳ khưu ấy đã lập tức đứng dậy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, có phải ngươi đã ưng thuận? &#8211; “Bạch Thế Tôn, con đã không ưng thuận. &#8211; “Này tỳ khưu, vị không ưng thuận thì vô tội.” (49)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khi nghỉ ngơi vào ban ngày ở Mahāvana trong thành Vesālī đã nằm xuống tựa vào thân cây. Có người nữ nọ nhìn thấy rồi đã ngồi lên trên dương vật (vị ấy). Vị tỳ khưu ấy đã nhổm dậy khiến cô ấy lăn tròn. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, có phải ngươi đã ưng thuận? &#8211; “Bạch Thế Tôn, con đã không ưng thuận. &#8211; “Này tỳ khưu, vị không ưng thuận thì vô tội.” (50)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khi nghỉ ngơi vào ban ngày tại giảng đường Kūṭāgāra ở Mahāvana trong thành Vesālī đã mở cửa lớn rồi nằm xuống. Các phần thân thể của vị ấy đã bị cương lên bởi gió. Vào lúc bấy giờ, có nhiều người nữ mang theo vật thơm và tràng hoa đã đi đến tu viện ngắm nhìn các trú xá. Khi ấy, những người nữ ấy đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy nên đã ngồi lên trên dương vật (vị ấy), đến khi đạt được mục đích đã nói rằng: “Đây quả thật là người như bò mộng,” sau khi để lại vật thơm và tràng hoa rồi đã bỏ đi. Các vị tỳ khưu nhìn thấy (vị ấy) bị nhầy nhụa nên đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, dương vật trở nên thích ứng do năm lý do: do ái dục, do phân, do nước tiểu, do gió, do bị cắn bởi sâu bọ. Này các tỳ khưu, đây là năm lý do làm cho dương vật trở nên thích ứng. Này các tỳ khưu, dương vật của vị tỳ khưu ấy trở nên thích ứng do ái dục là điều không có cơ sở và không hợp lý. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy là vị A-la-hán. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không có phạm tội. Này các tỳ khưu, đối với vị nghỉ ngơi vào ban ngày, Ta cho phép nghỉ ngơi sau khi đã đóng cửa lớn lại.” (51)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ người thành phố Bhārukaccha trong lúc đang ngủ (mơ thấy) đã thực hiện việc đôi lứa với người vợ cũ (nên nghĩ rằng): “Ta không còn là Sa-môn nữa, ta sẽ hoàn tục.” Trong lúc đi đến thành phố Bhārukaccha, giữa đường đã nhìn thấy đại đức Upāli và đã kể lại sự việc ấy. Đại đức Upāli đã nói như vầy: &#8211; “Này đại đức, với vị đang ngủ mơ thì không phạm tội.” (52)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, nữ cư sĩ tên Supabbā ở trong thành Rājagaha là người có đức tin mù quáng. Cô ấy có tri kiến như vầy: “Người nữ nào dâng cúng việc đôi lứa thì người nữ ấy dâng cúng vật thí tối thượng.” Sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu, cô ấy đã nói điều này: &#8211; “Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy thực hiện việc đôi lứa. &#8211; “Này chị gái, thôi đi. Việc ấy không được phép. &#8211; “Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở giữa hai bắp vế; như thế ngài sẽ không phạm tội. Vị tỳ khưu ấy đã làm như thế. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội saṅghādisesa.” (53)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, nữ cư sĩ tên Supabbā ở trong thành Rājagaha là người có đức tin mù quáng. Cô ấy có quan điểm như vầy: “Người nữ nào dâng cúng việc đôi lứa thì người nữ ấy dâng cúng vật thí tối thượng.” Sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu, cô ấy đã nói điều này: &#8211; “Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy thực hiện việc đôi lứa.” &#8211; “Này chị gái, thôi đi. Việc ấy không được phép.” &#8211; “Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở lỗ rún; &#8230; Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở bụng; &#8230; Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở nách; &#8230; Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở cổ; &#8230; Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở lỗ tai; &#8230; Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở bím tóc; &#8230; Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở giữa hai ngón tay; &#8230; Thưa ngài, hãy đến. Tôi sẽ dùng tay ra sức và làm (ngài) xuất tinh; như thế ngài sẽ không phạm tội.” Vị tỳ khưu ấy đã làm như thế. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội saṅghādisesa.” (54-61)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, nữ cư sĩ tên Saddhā ở trong thành Sāvatthī là người có đức tin mù quáng. Cô ấy có quan điểm như vầy: “Người nữ nào dâng cúng việc đôi lứa thì người nữ ấy dâng cúng vật thí tối thượng.” Sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu, cô ấy đã nói điều này: &#8211; “Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy thực hiện việc đôi lứa.” &#8211; “Này chị gái, thôi đi. Việc ấy không được phép. &#8211; “Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở giữa hai bắp vế; ―(như trên)― Thưa ngài, hãy đến. Tôi sẽ đến gần và dùng tay làm (ngài) xuất tinh; như thế ngài sẽ không phạm tội.” Vị tỳ khưu ấy đã làm như thế. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội saṅghādisesa.” (62-70)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vương tử Licchavi ở thành Vesālī đã bắt giữ vị tỳ khưu rồi buộc phải phạm giới với vị tỳ khưu ni. Cả hai đã ưng thuận. &#8211; “Cả hai nên bị trục xuất.” ―(như trên)― Cả hai đã không ưng thuận. &#8211; “Cả hai đều vô tội.” (71)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vương tử Licchavi ở thành Vesālī đã bắt giữ vị tỳ khưu rồi buộc phải phạm giới với cô ni tu tập sự. ―(như trên)― rồi buộc phải phạm giới với vị sa di ni. Cả hai đã ưng thuận. &#8211; “Cả hai nên bị trục xuất.” ―(như trên)― Cả hai đã không ưng thuận. &#8211; “Cả hai đều vô tội.” (72-73)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vương tử Licchavi ở thành Vesālī đã bắt giữ vị tỳ khưu rồi buộc phải phạm giới với gái điếm. ―(như trên)― rồi buộc phải phạm giới với người vô căn. ―(như trên)― rồi buộc phải phạm giới với nữ gia chủ. Vị tỳ khưu đã ưng thuận. &#8211; “Vị tỳ khưu nên bị trục xuất.” ―(như trên)― Vị tỳ khưu đã không ưng thuận. &#8211; “Vị tỳ khưu vô tội.” (74-76)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vương tử Licchavi ở thành Vesālī đã bắt giữ vị tỳ khưu rồi buộc phải phạm giới lẫn nhau. Cả hai đã ưng thuận. &#8211; “Cả hai nên bị trục xuất.” ―(như trên)― Cả hai đã không ưng thuận. &#8211; “Cả hai đều vô tội.” (77)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ xuất gia lúc tuổi đã lớn. Vị ấy đã đi gặp người vợ cũ. Cô ấy đã níu giữ lại (nói rằng): &#8211; “Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy hoàn tục.” Vị tỳ khưu ấy trong lúc bước lui đã té ngửa ra. Cô ấy đã giở (y) lên rồi ngồi lên trên dương vật (vị ấy). Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không ưng thuận thì vô tội.” (78)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ ngụ ở trong rừng. Có con nai tơ đã đi đến chỗ tiểu tiện của vị ấy. Trong lúc đang uống nước tiểu, nó đã dùng miệng ngậm lấy dương vật (vị ấy). Vị tỳ khưu ấy đã ưng thuận. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (79)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều </b><b>pārājika</b><b> thứ nhất.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[16] Dịch sát từ sẽ là: “Sau khi nhìn thấy, điều này đã khởi đến anh ta: &#8230;”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[17] Y paṃsukūla: y được may bằng vải dơ bị người ta quăng bỏ, thông thường là vải quấn tử thi được tìm thấy ở bãi tha ma (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[18] Ngài Buddhaghosa giải thích ở Chú Giải Samantapāsādikā rằng đã tám năm trôi qua nên người nữ tỳ không thể nhận ra đại đức Sudinna mà chỉ nhận biết qua các đặc điểm của tay, chân, và giọng nói. Thêm vào đó còn cho biết vị Sudinna đã xuất gia vào năm thứ mười hai của đức Thế Tôn và thời điểm xảy ra câu chuyện này là năm thứ hai mươi (VinA. i, 208).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[19] Theo ngài Buddhaghosa cho biết, hai mẹ con đã xuất gia sau đó khoảng bảy hoặc tám năm (VinA. i,215).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[20] Là việc đặt dương vật vào trong miệng của con rắn có nọc độc khủng khiếp, vào trong miệng của con hắc xà, vào trong hố than được đốt cháy có ngọn lửa sáng rực (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[21] Là việc đặt dương vật vào trong âm vật của người nữ (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[22] Chánh Pháp (saddhamma): Ngài Buddhaghosa giải thích saddhamma gồm có ba phần: Pariyattisaddhamma (Pháp Học) gồm tất cả các lời dạy của đức Phật đã được kết tập thành Tam Tạng,Paṭipattisaddhamma (Pháp Hành) là 13 pháp Đầu-đà, 14 pháp hành, 82 phận sự chính, Giới, Định, và Minh Sát, Adhigamasaddhamma (Pháp Đắc Chứng) là 4 Đạo, 4 Quả, và Niết Bàn (VinA. i, 225). Giải thích về 82 phận sự chính Ṭīkā (Sớ Giải) ghi rằng: 66 phận sự của vị hành parivāsa (bắt đầu với điều “Không nên ban phép tu lên bậc trên, &#8230;, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành trong khi vị tỳ khưu trong sạch đi kinh hành ở trên mặt đất”); không ngụ chung với 5 hạng tỳ khưu (vị cũng thực hànhparivāsa nhưng thâm niên hơn, vị xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, vị tỳ khưu xứng đáng hành mānatta, vị đang thực hành mānatta, vị xứng đáng sự giải tội) tính là 5 điều thành 71; “không nên tiếp nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, &#8230;, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các vị tỳ khưu trong sạch” tính là 1 điều thành 72; “không nên bôi nhọ vị tỳ khưu trong sạch với sự hư hỏng về giới, v.v&#8230;” tính là 10 điều; tổng cộng là 82 phận sự.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[23] Từ “bất cộng trụ” đã được sử dụng quen thuộc khi đề cập đến tội pārājika. Thật ra, “bất cộng trụ” là từ dịch của asaṃvāso trong câu “ayampi pārājiko hoti asaṃvāso,” chứ không phải của pārājika. Pārājikađược xem là tên của tội, còn asaṃvàso có thể xem như là một hình thức xử lý tội pārājika, là không được sống chung và tiến hành các hành sự như là lễ Uposatha, lễ Parāraṇā, v.v&#8230; Ngài Buddhaghosa chỉ ra động từ liên quan là “parājeti = khuất phục, đánh bại, chế ngự, chiến thắng” và giải thích rằng vị “pārājiko” là vị “parājito,” (parājito là quá khứ phân từ thể thụ động của parājeti, có nghĩa là: bị khuất phục, bị đánh bại, bị chế ngự). Như vậy, pārājika có nghĩa là “kẻ thất trận, kẻ bại trận người thua cuộc” và được sử dụng cho tên của một loại tội cực nặng trong giới bổn Pātimokkha của tỳ khưu gồm 4 điều được trình bày trong chương này. Chúng tôi giữ nguyên từ pārājika không dịch.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[24] Nguyên nhân kia đã được giải thích ở phần trước.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[25] Nguyên nhân này là việc đặt dương vật vào trong âm vật của con khỉ cái (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[26] Adhisīla: Tăng thượng giới là giới bổn Pātimokkha. Adhicitta: Tăng thượng tâm là sự tu tập các loại định hợp thế. Adhipaññā: Tăng thượng tuệ là sự tu tập (các tâm) Đạo Siêu Thế (VinA. i, 244-245).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[27] Từ Pāli paṇḍaka là đề cập đến người phái nam. Về phái nữ, các từ được tìm thấy là paṇḍikā, itthipaṇḍikā, itthipaṇḍaka. Từ tiếng Anh tương đương là eunuch được dịch sang tiếng Việt là “hoạn quan, thái giám.” Từ “bị thiến” đã được dùng đến trong một số bản dịch trước đây. Lâu nay, chúng tôi hiểu theo ý nghĩa thông thường đó. Gần đây, chúng tôi tìm thấy từ jātipaṇḍaka mới biết thêm được là có hạng người paṇḍaka bẩm sanh. Dựa theo phần giảng giải của giới pārājika thứ nhất này, chúng tôi có được khái niệm là hạng này không có bộ phận sinh dục, còn việc xác định nam hay nữ là do các đặc tính khác như vóc dáng, bộ ngực, giọng nói, v.v&#8230; Về tâm sinh lý, trong Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm thuộc tạng Luật có câu chuyện đề cập đến bản chất ham muốn về nhục dục của hạng người này. Chúng tôi tạm dịch là “vô căn” cho hạng người không có bộ phận sinh dục này cho dù là bẩm sinh hay bị thiến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[28] Bhikkhupaccatthikā được Ṭīkā (Sớ Giải) giải thích là “các kẻ đối nghịch của tỳ khưu,” còn ngài Buddhaghosa thiên về ý “các tỳ khưu đối nghịch.” Theo văn phạm, hai cách dịch trên đều có khả năng tùy theo cách phân tích hợp từ bhikkhupaccatthikā là tappurisa hay kammadhāraya. Sự chọn lựa của ngài Buddhaghosa có phần hợp lý hơn, xin xem giải thích ở phần kế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[29] Nếu ở trên dịch hợp từ bhikkhupaccatthikā là “các kẻ đối nghịch của tỳ khưu” thì ở đây phải dịch rājapaccatthikā là “các kẻ đối nghịch của vị vua” xét ra không hợp lý. Chính vì ở đây phải dịch là “các vị vua đối nghịch” nên có thể xác định ý nghĩa cho từ bhikkhupaccatthikā ở trên là “các tỳ khưu đối nghịch.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[30] Lúc này, vị tỳ khưu ni Uppalavaṇṇa đã là vị A-la-hán. Còn người thanh niên ấy khi vừa đi khuất tầm mắt của vị tỳ khưu ni thì quả địa cầu đã nứt tạo ra lỗ hổng hút vào lòng đất như thể quả địa cầu này không thể nâng đỡ nỗi kẻ độc ác ấy. Anh ta lập tức bị đọa vào địa ngục Avīci và ở vào trạng thái bị lửa địa ngục thiêu đốt (VinA. i, 273)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[31] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng vị này đẹp trai (sundara) và là vị Bất Lai nên không còn ưa thích về việc đôi lứa (VinA. i, 278).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG PĀRĀJIKA &#8211; ĐIỀU PĀRĀJIKA THỨ BA</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-2-parajika-dieu-parajika-thu-ba/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:30:22 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58000</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương Pārājika Điều Pārājika Thứ Ba Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> Chương Pārājika</span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Điều Pārājika Thứ Ba</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự ở thành Vesālī, Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn thuyết giảng về (đề mục) tử thi, ngợi khen về (đề mục) tử thi, ngợi khen sự tu tập về (đề mục) tử thi, ngợi khen sự chứng đạt về (đề mục) tử thi thế nầy thế khác cho các tỳ khưu bằng nhiều phương thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, Ta muốn thiền tịnh trong nửa tháng. Không ai đến gặp Ta ngoại trừ một vị mang lại vật thực.” &#8211; “Bạch ngài, xin vâng.” Các vị tỳ khưu ấy đã trả lời đức Thế Tôn. Và quả thật không có vị nào đi đến gặp đức Thế Tôn ngoại trừ một vị mang lại vật thực.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Quả thật, đức Thế Tôn thuyết giảng về (đề mục) tử thi, ngợi khen về (đề mục) tử thi, ngợi khen sự tu tập về (đề mục) tử thi, ngợi khen sự chứng đạt về (đề mục) tử thi thế nầy thế khác bằng nhiều phương thức,” rồi các vị ấy sống chuyên chú gắn bó vào việc tu tập về (đề mục) tử thi với nhiều động cơ khác nhau.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị ấy bị khổ sở, xấu hổ, và nhờm gớm với cơ thể của mình. Cũng giống như người nữ hoặc người nam còn trẻ, ở tuổi thanh niên, ưa thích trang điểm, vừa mới gội đầu bị khổ sở, xấu hổ, và nhờm gớm với xác rắn, hoặc xác chó, hoặc thây người chết máng vào cổ; tương tợ như thế, các vị tỳ khưu ấy trong khi bị khổ sở, xấu hổ, và nhờm gớm với cơ thể của mình, (một số) tự mình đoạt lấy mạng sống của chính mình, (một số) đoạt lấy mạng sống lẫn nhau, (một số) đi đến gặp Sa-môn giả mạo Migalaṇḍika rồi nói như vầy: &#8211; “Này đạo hữu, tốt thay ngươi hãy đoạt mạng sống của chúng tôi, y và bình bát này sẽ thuộc về ngươi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, Sa-môn giả mạo Migalaṇḍika được trả công bằng các y và bình bát đã đoạt lấy mạng sống nhiều vị tỳ khưu rồi cầm cây gươm đẫm máu đi đến dòng sông Vaggumudā. Khi ấy, trong lúc chùi rửa cây gươm đẫm máu Sa-môn giả mạo Migalaṇḍika đã có sự ăn năn, đã có nỗi ân hận: “Thật là điều không lợi ích đã có cho ta! Thật là điều lợi ích đã không có cho ta! Ta đã đạt được điều xấu! Ta đã không đạt được điều tốt! Quả thật ta đã gây ra nhiều điều bất thiện là việc ta đã đoạt lấy mạng sống của các vị tỳ khưu có giới hạnh có thiện pháp!”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, có vị Thiên nhân nọ là tùy tùng của Ma Vương đã đi đến ở trên mặt nước (nhưng mặt nước sông) vẫn không bị làm chao động và đã nói với Sa-môn giả mạo Migalaṇḍika điều này: &#8211; “Này kẻ thiện nhân, tốt lắm, tốt lắm! Này kẻ thiện nhân, điều lợi ích đã có cho ngươi! Này kẻ thiện nhân, ngươi đã đạt được điều tốt! Này kẻ thiện nhân, ngươi đã tạo nhiều phước báu là việc ngươi đã giải thoát cho những kẻ chưa được giải thoát!”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, Sa-môn giả mạo Migalaṇḍika (nghĩ rằng): “Họ nói điều lợi ích đã có cho ta! Họ nói ta đã đạt được điều tốt! Họ nói ta đã tạo nhiều phước báu! Họ nói ta giải thoát cho những kẻ chưa được giải thoát!” rồi cầm cây gươm bén đi đến từng trú xá một, từng phòng một nói như vầy: &#8211; “Vị nào chưa giải thoát? Ta giải thoát cho vị nào đây?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tại nơi ấy, các tỳ khưu nào chưa lìa tham ái, các vị ấy vào thời điểm ấy trở nên sợ hãi, thân run rẩy, lông dựng đứng. Còn các tỳ khưu nào đã lìa tham ái, các vị ấy vào lúc ấy là không sợ hãi, thân không run rẩy, lông không dựng đứng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rồi Sa-môn giả mạo Migalaṇḍika trong một ngày đã đoạt mạng một vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt mạng hai vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt mạng ba vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt mạng bốn vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt mạng năm vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt mạng mười vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt mạng hai mươi vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt mạng ba mươi vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt mạng bốn mươi vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt mạng năm mươi vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt mạng sáu mươi vị tỳ khưu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi trải qua nửa tháng ấy, đức Thế Tôn đã xuất khỏi thiền tịnh và bảo đại đức Ānanda rằng: &#8211; “Này Ānanda, có phải hội chúng tỳ khưu dường như bị ít đi?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch ngài, sở dĩ như thế là vì đức Thế Tôn thuyết giảng về (đề mục) tử thi, ngợi khen về (đề mục) tử thi, ngợi khen sự tu tập về (đề mục) tử thi, ngợi khen sự chứng đạt về (đề mục) tử thi thế nầy thế khác cho các tỳ khưu bằng nhiều phương thức. Và bạch ngài, các vị tỳ khưu ấy (nghĩ rằng): ‘Quả thật, đức Thế Tôn thuyết giảng về (đề mục) tử thi, ngợi khen về (đề mục) tử thi, ngợi khen sự tu tập về (đề mục) tử thi, ngợi khen sự chứng đạt về (đề mục) tử thi thế nầy thế khác bằng nhiều phương thức,’ rồi các vị ấy sống chuyên chú gắn bó vào việc tu tập về (đề mục) tử thi do nhiều động cơ khác nhau. Các vị ấy bị khổ sở, xấu hổ, và nhờm gớm với cơ thể của mình. Cũng giống như người nữ hoặc người nam còn trẻ, ở tuổi thanh niên, ưa thích trang điểm, vừa mới gội đầu bị khổ sở, xấu hổ, và nhờm gớm với xác rắn, hoặc xác chó, hoặc thây người chết máng vào cổ; tương tợ như thế, các tỳ khưu ấy trong khi bị khổ sở, xấu hổ, và nhờm gớm với cơ thể của mình (một số) tự mình đoạt lấy mạng sống của chính mình, (một số) đoạt mạng lẫn nhau, (một số) đi đến gặp Sa-môn giả mạo Migalaṇḍika rồi nói như vầy: ‘Này đạo hữu, tốt thay ngươi hãy đoạt mạng sống của chúng tôi, y và bình bát này sẽ thuộc về ngươi.’ Bạch ngài, rồi Sa-môn giả mạo Migalaṇḍika được trả công bằng các y và bình bát trong một ngày đã đoạt mạng một vị tỳ khưu, ―(như trên)― trong một ngày đã đoạt mạng sáu mươi vị tỳ khưu. Bạch ngài, lành thay xin đức Thế Tôn hãy chỉ dạy phương pháp khác theo đó hội chúng tỳ khưu này có thể đạt được trí giải thoát.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Ānanda, vậy thì có bao nhiêu tỳ khưu sống gần thành Vesālī, ngươi hãy triệu tập tất cả các vị ấy ở phòng hội họp.” &#8211; “Bạch ngài, xin vâng.” Đại đức Ānanda đã đáp lời đức Thế Tôn. Rồi có bao nhiêu tỳ khưu sống gần thành Vesālī, đại đức Ānanda đã triệu tập tất cả các vị ấy ở phòng hội họp rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, hội chúng tỳ khưu đã được triệu tập. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy suy tính bây giờ là thời điểm của việc gì.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn đã đi đến phòng hội họp, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, định của niệm hơi thở ra hơi thở vào này được tu tập, được làm cho tăng trưởng, là thanh tịnh, cao quý, thuần khiết, có lạc là sự an trú, làm biến mất ngay lập tức và làm tịnh lặng các pháp ác và bất thiện đã sanh hoặc chưa sanh khởi. Này các tỳ khưu, cũng giống như cơn mưa lớn sái mùa vào tháng cuối của mùa nóng làm biến mất ngay lập tức và làm lắng xuống các bụi bặm đã bốc lên; này các tỳ khưu, tương tợ như thế định của niệm hơi thở ra hơi thở vào này được tu tập, được làm cho tăng trưởng, là thanh tịnh, cao quý, thuần khiết, có lạc là sự an trú, làm biến mất ngay lập tức và làm tịnh lặng các pháp ác và bất thiện đã sanh hoặc chưa sanh khởi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, thế nào là định của niệm hơi thở ra hơi thở vào này được tu tập? Thế nào là được làm cho tăng trưởng, là thanh tịnh, cao quý, thuần khiết, có lạc là sự an trú, làm biến mất ngay lập tức và làm tịnh lặng các pháp ác và bất thiện đã sanh hoặc chưa sanh khởi?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm, vị ấy thở ra; có niệm, vị ấy thở vào:[1]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết: “Tôi thở ra dài;” hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: “Tôi thở vào dài,” hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: “Tôi thở ra ngắn;” hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: “Tôi thở vào ngắn.”[2] “Nhận biết rõ toàn bộ hơi thở, tôi sẽ thở ra”[3] vị ấy thực tập, “Nhận biết rõ toàn bộ hơi thở, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Làm cho an tịnh các thành phần của hơi thở, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Làm cho an tịnh các thành phần của hơi thở, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Nhận biết rõ hỷ, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Nhận biết rõ hỷ, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Nhận biết rõ lạc, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Nhận biết rõ lạc, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Nhận biết rõ các thành phần của tâm, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Nhận biết rõ các thành phần của tâm, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Làm cho an tịnh các thành phần của tâm, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Làm cho an tịnh các thành phần của tâm, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Nhận biết rõ tâm, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Nhận biết rõ tâm, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Tâm được hân hoan, ―(như trên)― “Tâm được định tĩnh, ―(như trên)― “Tâm được giải thoát, ―(như trên)― “ Quán xét về vô thường, ―(như trên)― “Quán xét về ly tham, ―(như trên)― “Quán xét về đoạn diệt, ―(như trên)― “Quán xét về dứt bỏ, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Quán xét về dứt bỏ, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, định của niệm hơi thở ra hơi thở vào này được tu tập như thế, được làm cho tăng trưởng như thế, được thanh tịnh, cao quý, thuần khiết, có lạc là sự an trú, làm biến mất ngay lập tức và làm tịnh lặng các pháp ác và bất thiện đã sanh hoặc chưa sanh khởi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu (một số) tự mình đoạt lấy mạng sống của chính mình, (một số) đoạt lấy mạng sống lẫn nhau, (một số) đi đến gặp Sa-môn giả mạo Migalaṇḍika nói như vầy: ‘Này đạo hữu, tốt thay ngươi hãy đoạt mạng sống của chúng tôi, y và bình bát này sẽ thuộc về ngươi,’ có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho những tỳ khưu ấy, thật không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ấy lại tự mình đoạt lấy mạng sống của chính mình, lại đoạt lấy mạng sống lẫn nhau, lại đi đến gặp Sa-môn giả mạo Migalaṇḍika nói như vầy: ‘Này đạo hữu, tốt thay ngươi hãy đoạt mạng sống của chúng tôi, y và bình bát này sẽ thuộc về ngươi’ vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Vị tỳ khưu nào cố ý đoạt lấy mạng sống con người hoặc tìm cách đem lại vũ khí cho người ấy; vị này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.</span></p>
<h4><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự quy định căn bản</b></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người nam cư sĩ nọ bị bệnh. Vợ của người ấy thì đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư đem lòng say đắm người đàn bà ấy. Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã bàn bạc rằng: &#8211; “Này các đại đức, nếu người nam cư sĩ ấy còn sống thì chúng ta sẽ không đạt được người đàn bà ấy. Này các đại đức, vậy chúng ta hãy ca ngợi lợi ích của sự chết đến người nam cư sĩ ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã đi đến gặp người nam cư sĩ ấy, sau khi đến đã nói với người nam cư sĩ ấy điều này: &#8211; “Này cư sĩ, quả thật ngươi có điều tốt đã làm, có điều thiện đã làm, sự sợ hãi lúc lâm chung đã được khắc phục, có điều ác không làm, điều tàn bạo không làm, điều tội lỗi không làm. Ngươi đã làm điều tốt đẹp, ngươi đã không làm điều ác, vậy thì còn gì cho ngươi với mạng sống tội lỗi xấu xa này, sự chết đối với ngươi còn tốt hơn sự sống vậy. Khi chết đi từ chỗ này, khi tan rã thân xác và chết đi, ngươi sẽ được sanh về cảnh giới tốt đẹp là cõi trời, loài người. Ở đó, được cung phụng, được sở hữu năm loại dục lạc thiên đường, ngươi sẽ mãn nguyện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, người nam cư sĩ ấy (nghĩ rằng): “Các ngài đại đức đã nói sự thật bởi vì ta là người có điều tốt đã làm, có điều thiện đã làm, sự sợ hãi lúc lâm chung đã được khắc phục, có điều ác không làm, điều tàn bạo không làm, điều tội lỗi không làm. Ta đã làm điều tốt đẹp, ta đã không làm điều ác, vậy thì còn gì cho ta với mạng sống tội lỗi xấu xa này, sự chết đối với ta còn tốt hơn sự sống vậy. Từ chỗ này, khi tuổi thọ đã hết, khi tan rã thân xác và chết đi, ta sẽ được tái sanh về cảnh giới tốt đẹp là cõi trời, loài người. Ở đó, được cung phụng và được sở hữu năm loại dục lạc thiên đường, ta sẽ mãn nguyện.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Và vị ấy đã ăn các thức ăn không hợp, đã nhai các vật nhai không hợp, đã nếm các thức nếm không hợp, đã uống các thức uống không hợp. Khi vị ấy đã ăn các thức ăn không hợp, đã nhai các vật nhai không hợp, đã nếm các thức nếm không hợp, và đã uống các thức uống không hợp, bệnh nặng đã phát khởi. Chính vì cơn bệnh ấy, vị ấy đã từ trần.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vợ của vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, giới hạnh xấu xa, nói láo. Chính các vị này làm ra vẻ là có sự thực hành Pháp, có thực hành sự an tịnh, có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Các vị này không có Sa-môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh! Sa-môn hạnh của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị này đã bị hư hỏng! Sa-môn hạnh của các vị này đâu rồi? Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa-môn hạnh của các vị này đã không còn! Phạm hạnh của các vị này đã không còn! Các vị này đã ca ngợi lợi ích của sự chết đến chồng của tôi. Chồng của tôi đã bị giết chết bởi các vị này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Những người khác cũng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, giới hạnh xấu xa, nói láo. Chính các vị này làm ra vẻ là có sự thực hành Pháp, có thực hành sự an tịnh, có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Các vị này không có Sa-môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh! Sa-môn hạnh của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị này đã bị hư hỏng! Sa-môn hạnh của các vị này đâu rồi? Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa-môn hạnh của các vị này đã không còn! Phạm hạnh của các vị này đã không còn! Các vị này đã ca ngợi lợi ích của sự chết đến người nam cư sĩ. Người nam cư sĩ đã bị giết chết bởi các vị này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại ca ngợi lợi ích của sự chết đến người nam cư sĩ?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu nhóm Lục Sư rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi đã ca ngợi lợi ích của sự chết đến người nam cư sĩ, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này những kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại ca ngợi lợi ích của sự chết đến người nam cư sĩ vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Vị tỳ khưu nào cố ý đoạt lấy mạng sống con người, hoặc tìm cách đem lại vũ khí cho người ấy, hoặc ca ngợi lợi ích của sự chết, hoặc xúi giục đưa đến sự chết: &#8211; ‘Này người ơi, còn gì cho ngươi với mạng sống tội lỗi xấu xa này, sự chết đối với ngươi còn tốt hơn sự sống!’ Vị có tâm ý và có tâm tư như thế rồi bằng nhiều phương thức ca ngợi lợi ích của sự chết hoặc xúi giục đưa đến sự chết, vị này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”</span></p>
<h4><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự quy định lần hai</b></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Cố ý</b>: là sự vi phạm trong khi biết, trong khi có ý định, sau khi đã suy nghĩ, sau khi đã khẳng định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Con người</b> nghĩa là vật gì ở khoảng giữa thời gian từ lúc tâm đầu tiên được sanh lên (tức là) thức đầu tiên hiện hữu trong bụng mẹ cho đến lúc chết; vật ấy gọi là con người.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đoạt lấy mạng sống</b>: cắt đứt mạng quyền, làm hủy hoại, làm tổn hại sự tiếp nối.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc tìm cách đem lại vũ khí cho người ấy</b>: là thanh gươm, là cây giáo, là mũi tên, là cọc nhọn, là dùi cui, là tảng đá, là cây kiếm, là thuốc độc, hoặc là dây thừng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc ca ngợi lợi ích của sự chết</b>: làm cho thấy được sự nguy hiểm trong sự sống và nói khen ngợi về sự chết.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc xúi giục đưa đến sự chết</b>: (Nói rằng): “Hãy mang lại cây kiếm, hoặc hãy nhai thuốc độc, hoặc hãy dùng dây thừng treo lên rồi chết đi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Này người ơi</b>: Đây là lối nói xưng hô “Này người ơi!”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Còn gì cho ngươi với mạng sống tội lỗi xấu xa này, </b>Cuộc sống nghĩa là tội lỗi. So với cuộc sống của những người giàu, cuộc sống của những người nghèo là tội lỗi. So với cuộc sống của những người có tài sản, cuộc sống của những người không có tài sản là tội lỗi. So với cuộc sống của chư Thiên, cuộc sống của loài người là tội lỗi. <b>Mạng sống xấu xa</b> nghĩa là đối với người bị cụt tay, đối với người bị cụt chân, đối với người bị cụt tay và chân, đối với người bị đứt tai, đối với người bị đứt mũi, đối với người bị đứt tai và mũi (nói rằng): “Còn gì với sự tội lỗi này, với mạng sống xấu xa này, sự chết đối với ngươi còn tốt hơn sự sống!”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có tâm ý như thế</b>: Ý nào tâm nấy, tâm nào ý nấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có tâm tư</b>: có sự suy tưởng về sự chết, có sự suy tư về sự chết, có sự suy nghĩ về sự chết</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bằng nhiều phương thức</b>: bằng nhiều cách khác nhau.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ca ngợi lợi ích của sự chết</b>: làm cho thấy được sự bất hạnh trong mạng sống và nói lời khen ngợi về sự chết: “Khi chết đi từ chỗ này, khi tan rã thân xác, ngươi sẽ được tái sanh về cảnh giới tốt đẹp là cõi trời, loài người. Ở đó, được cung phụng và được sở hữu năm loại dục lạc thiên đường, ngươi sẽ mãn nguyện.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc xúi giục đưa đến sự chết</b>: (Nói rằng): “Hãy mang lại cây kiếm, hoặc hãy nhai thuốc độc, hoặc hãy dùng dây thừng treo lên rồi chết đi, hoặc nhảy vào khe nứt, vào hố sâu, hoặc xuống vực thẳm.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị này cũng</b>: được đề cập liên quan đến các vị trước đây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Là vị phạm tội </b><b>pārājika</b>: cũng giống như tảng đá lớn bị bể làm hai không thể gắn liền lại được, tương tợ như thế vị tỳ khưu cố ý đoạt lấy mạng sống con người thì không phải là Sa-môn, không phải là Thích tử; vì thế được gọi là ‘vị phạm tội pārājika.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Không được cộng trú</b>: cộng trú nghĩa là có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau, điều ấy gọi là cộng trú. Vị ấy không có được điều ấy, vì thế được gọi là ‘không được cộng trú.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<h4><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tiêu đề hướng dẫn</b></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tự mình, bằng cách khẳng định, bằng người đưa tin, bằng người đưa tin theo lối dây chuyền, bằng người đưa tin không theo lối dây chuyền, bằng người đưa tin đã đi rồi quay trở lại, hiện diện nghĩ là không hiện diện, không hiện diện nghĩ là hiện diện, hiện diện nghĩ là hiện diện, không hiện diện nghĩ là không hiện diện, ca ngợi bằng thân, ca ngợi bằng lời nói, ca ngợi bằng thân và bằng lời nói, ca ngợi bằng người đưa tin, ca ngợi bằng chữ khắc, cái hố đào, sự trợ giúp, việc để bên cạnh, dược phẩm, sự đem lại cảnh sắc, sự đem lại cảnh thinh, sự đem lại cảnh khí, sự đem lại cảnh vị, sự đem lại cảnh xúc, sự đem lại cảnh pháp, sự chỉ bảo, sự dạy dỗ, hành động theo sự quy định, hành động theo dấu hiệu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tự mình</b>: vị đích thân giết bằng (cách sử dụng) thân thể (tay, chân, nắm đấm, đầu gối, v.v&#8230;), hoặc bằng vật dính liền với thân thể (gươm, dao, v.v&#8230;), hoặc bằng vật được phóng ra (ví dụ mũi tên).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bằng cách khẳng định</b>: sau khi khẳng định rồi ra lệnh rằng: “Ngươi hãy đâm như vầy, hãy đánh như vầy, hãy giết như vầy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Vị kia nhận biết người ấy rồi đoạt lấy mạng sống của người ấy thì cả hai phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Vị kia nhận biết người ấy rồi đoạt lấy mạng sống của người khác thì vị khởi xướng vô tội, còn vị giết người phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Vị kia nhận biết người khác rồi đoạt lấy mạng sống của người ấy thì cả hai phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Vị kia nhận biết người khác rồi đoạt lấy mạng sống của người khác thì vị khởi xướng vô tội, còn vị giết người phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu (A)[4] chỉ thị vị tỳ khưu (B) rằng: “Hãy bảo vị tên (C) rằng: Vị tên (C) hãy nói với vị tên (D) rằng: ‘Vị tên (D) hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy’” thì vị ấy (A) phạm tội dukkaṭa. Vị (nào) nói cho vị khác thì vị (nói) ấy phạm tội dukkaṭa. Vị giết người (D) đồng ý thì vị khởi xướng (A) phạm tội thullaccaya; vị ấy (D) đoạt lấy mạng sống của người ấy thì tất cả đều phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu (A) chỉ thị vị tỳ khưu (B) rằng: “Hãy bảo vị tên (C) rằng: Vị tên (C) hãy nói với vị tên (D) rằng: ‘Vị tên (D) hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy’” thì vị ấy (A) phạm tội dukkaṭa. Vị ấy (B) chỉ thị vị khác (D) thì vị ấy (B) phạm tội dukkaṭa. Vị giết người (D) đồng ý thì vị ấy (D) phạm tội dukkaṭa; vị ấy (D) đoạt lấy mạng sống của người ấy thì vị khởi xướng (A) vô tội, vị truyền chỉ thị (B) và vị giết người (D) phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Vị kia đi rồi quay trở lại (nói rằng): “Tôi không thể đoạt lấy mạng sống người ấy.” Vị ấy lại chỉ thị thêm: “Khi nào ngươi có thể thì khi ấy ngươi hãy đoạt lấy mạng sống người ấy” thì phạm tội dukkaṭa. Vị kia đoạt lấy mạng sống người ấy thì cả hai phạm tộipārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận nhưng không nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có giết.” Vị kia đoạt lấy mạng sống người ấy thì cả hai phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận rồi nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có giết.” Vị kia (đáp lại rằng): “Tôi đã được ngài chỉ thị” rồi đoạt lấy mạng sống người ấy thì vị khởi xướng vô tội, còn vị giết người phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận rồi nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có giết.” Vị kia (đáp lại rằng): “Tốt thôi” rồi ngưng lại thì cả hai vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hiện diện, nghĩ là không hiện diện</b> rồi xác định rằng: “Người tên như vầy nên bị giết” thì phạm tội dukkaṭa. Không hiện diện, nghĩ là hiện diện rồi xác định rằng: “Người tên như vầy nên bị giết” thì phạm tội dukkaṭa. Hiện diện, nghĩ là hiện diện rồi xác định rằng: “Người tên như vầy nên bị giết” thì phạm tội dukkaṭa. Không hiện diện, nghĩ là không hiện diện rồi xác định rằng: “Người tên như vầy nên bị giết” thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ca ngợi bằng thân</b> nghĩa là làm cử chỉ bằng thân rằng: “Người nào chết như vầy, người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội dukkaṭa. (Vị kia nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách khen ngợi ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ca ngợi bằng lời nói</b> nghĩa là nói ra bằng lời nói rằng: “Người nào chết như vầy, người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội dukkaṭa. (Vị kia nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách khen ngợi ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ca ngợi bằng thân và bằng lời nói</b> nghĩa là làm cử chỉ bằng thân và nói ra bằng lời nói rằng: “Người nào chết như vầy, người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội dukkaṭa. (Vị kia nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách khen ngợi ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ca ngợi bằng người đưa tin</b> nghĩa là nói ra lời chỉ dẫn cho người đưa tin: “Người nào chết như vầy, người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi nghe lời chỉ dẫn của người đưa tin, (vị kia nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách khen ngợi ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ca ngợi bằng chữ khắc</b> nghĩa là khắc chữ: “Người nào chết như vầy, người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội dukkaṭa với mỗi mẫu tự. (Vị kia) sau khi nhìn thấy chữ khắc (nghĩ rằng): “Ta sẽ chết” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Cái hố đào</b> nghĩa là đào cái hố dành cho người (nghĩ rằng): “Sau khi rơi xuống sẽ chết” thì phạm tội dukkaṭa. Khi đã bị rơi xuống, cảm thọ khổ sanh khởi (cho vị kia) thì phạm tộithullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika. Đào cái hố không có chỉ định (nghĩ rằng): “Bất cứ ai rơi xuống sẽ chết” thì phạm tội dukkaṭa. (Nếu) con người rơi vào đó thì phạm tội dukkaṭa. Khi đã bị rơi xuống, cảm thọ khổ sanh khởi (cho vị kia) thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika. (Nếu) Dạ-xoa, ngạ quỷ, hoặc thú có dạng người rơi vào đó thì phạm tội dukkaṭa. Khi đã bị rơi xuống, cảm thọ khổ sanh khởi (cho kẻ ấy) thì phạm tội dukkaṭa; (kẻ ấy) chết đi thì phạm tội thullaccaya. (Nếu) con thú rơi vào đó thì phạm tộidukkaṭa. Khi đã bị rơi xuống, cảm thọ khổ sanh khởi (cho con thú) thì phạm tội dukkaṭa; (con thú) chết đi thì phạm tội pācittiya.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự trợ giúp</b> nghĩa là trong sự trợ giúp vị đặt vũ khí, hoặc thoa thuốc độc, hoặc làm cho yếu đi, hoặc đem để ở chỗ khe nứt hay ở hố sâu hoặc nơi vực thẳm (nghĩ rằng): “Với việc này, sau khi rơi xuống sẽ chết” thì phạm tội dukkaṭa. Do vũ khí, hoặc do thuốc độc, hoặc do bị rơi xuống khiến cảm thọ khổ sanh khởi (cho vị kia) thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Việc để bên cạnh</b> nghĩa là đem lại gần bên hoặc là thanh gươm, hay là cây giáo, hoặc là mũi tên, hay là cọc nhọn, hoặc là dùi cui, hay là tảng đá, hoặc là cây kiếm, hay là thuốc độc, hoặc là dây thừng (nghĩ rằng): “(Người ấy) sẽ chết bằng vật này” thì phạm tội dukkaṭa. (Vị kia nghĩ rằng): “Ta sẽ chết bằng vật ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dược phẩm</b> nghĩa là cho bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật, hoặc đường mía (nghĩ rằng): “Sau khi nếm vật này sẽ bị chết” thì phạm tội dukkaṭa. Khi đang nếm vật ấy, cảm thọ khổ sanh khởi (cho vị kia) thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự đem lại cảnh sắc</b> nghĩa là đem lại cảnh sắc trái ý, dễ sợ, khủng khiếp (nghĩ rằng): “Sau khi nhìn thấy cảnh sắc này (người ấy) sẽ bị hoảng hốt và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi nhìn thấy cảnh sắc ấy, (vị kia) bị hoảng hốt thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika. (Vị) đem lại cảnh sắc hợp ý, dễ thương, đáng yêu (nghĩ rằng): “Sau khi nhìn thấy cảnh sắc này (người ấy) sẽ bị thất vọng vì không đạt được và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi nhìn thấy cảnh sắc ấy, (vị kia) bị thất vọng vì không đạt được thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự đem lại cảnh thinh</b> nghĩa là đem lại cảnh thinh trái ý, dễ sợ, khủng khiếp (nghĩ rằng): “Sau khi nghe được âm thanh này (người ấy) sẽ bị hoảng hốt và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi nghe được âm thanh ấy, (vị kia) bị hoảng hốt thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika. (Vị) đem lại cảnh thinh hợp ý, dễ thương, đáng yêu (nghĩ rằng): “Sau khi nghe được âm thanh này (người ấy) sẽ bị thất vọng vì không đạt được và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi nghe được âm thanh ấy, (vị kia) bị thất vọng vì không đạt được thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự đem lại cảnh khí</b> nghĩa là đem lại cảnh khí trái ý, ghê tởm, khó chịu (nghĩ rằng): “Sau khi ngửi mùi này, do sự ghê tởm và do sự chán ghét (người ấy) sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi ngửi mùi ấy, do sự ghê tởm và do sự chán ghét (vị kia) có cảm thọ khổ sanh khởi thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika. (Vị) đem lại cảnh khí hợp ý (nghĩ rằng): “Sau khi ngửi mùi này (người ấy) sẽ bị thất vọng vì không đạt được và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi ngửi mùi ấy, (vị kia) bị thất vọng vì không đạt được thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự đem lại cảnh vị</b> nghĩa là đem lại cảnh vị trái ý, ghê tởm, khó chịu (nghĩ rằng): “Sau khi nếm vị này, do sự ghê tởm và do sự chán ghét (người ấy) sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi nếm vị ấy, do sự ghê tởm và do sự chán ghét (vị kia) có cảm thọ khổ sanh khởi thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika. (Vị) đem lại cảnh vị hợp ý (nghĩ rằng): “Sau khi nếm vị này (người ấy) sẽ bị thất vọng vì không đạt được và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi nếm vị ấy, (vị kia) bị thất vọng vì không đạt được thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự đem lại cảnh xúc</b> nghĩa là đem lại cảnh xúc trái ý, gây đau đớn, thô cứng (nghĩ rằng): “Đụng chạm vào vật này (người ấy) sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa. Khi (vị kia) đụng chạm vật ấy, cảm thọ khổ sanh khởi thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika. (Vị) đem lại cảnh xúc hợp ý, gây khoái lạc, mềm mại (nghĩ rằng): “Đụng chạm vào vật này (người ấy) sẽ bị thất vọng vì không đạt được và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa. Khi đụng chạm vật ấy, (vị kia) bị thất vọng vì không đạt được thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự đem lại cảnh pháp</b> nghĩa là thuyết bài giảng về địa ngục của người đi địa ngục (nghĩ rằng): “Sau khi nghe điều này (người ấy) sẽ bị hoảng hốt và sẽ chết đi” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi nghe được điều ấy, (vị kia) bị hoảng hốt thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika. (Vị) thuyết bài giảng về cõi trời của nghiệp lành (nghĩ rằng): “Sau khi nghe điều này (người ấy) sẽ bị tác động rồi chết đi” thì phạm tội dukkaṭa. Sau khi nghe được điều ấy, (vị kia) bị tác động (nghĩ rằng): “Ta sẽ chết” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tộithullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự chỉ bảo</b> nghĩa là khi được hỏi, vị nói rằng: “Nên chết như vầy, người nào chết như vầy người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội dukkaṭa. (Vị kia nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách chỉ bảo ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự dạy dỗ</b> nghĩa là khi không được hỏi, vị nói rằng: “Nên chết như vầy, người nào chết như vầy người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội dukkaṭa. (Vị kia nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách dạy dỗ ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì phạm tội thullaccaya; (vị kia) chết đi thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành động theo sự quy định</b> nghĩa là lập nên sự quy định rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người ấy vào giờ hẹn ấy, hoặc là trước bữa ăn, hoặc là sau bữa ăn, hoặc là ban đêm, hoặc là ban ngày” thì phạm tội dukkaṭa; (nếu vị kia) đoạt lấy mạng sống người ấy vào giờ hẹn ấy thì cả hai phạm tội pārājika; (nếu vị kia) đoạt lấy mạng sống người ấy trước hay sau giờ hẹn ấy thì vị khởi xướng vô tội, còn vị giết người phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hành động theo dấu hiệu</b> nghĩa là lập nên dấu hiệu rằng: “Tôi sẽ nháy mắt, hoặc là tôi sẽ nhướng mày, hoặc là tôi sẽ ngẩng đầu lên, ngươi hãy đoạt lấy mạng sống người ấy theo dấu hiệu ấy” thì phạm tội dukkaṭa; (nếu vị kia) đoạt lấy mạng sống người ấy theo dấu hiệu ấy thì cả hai phạm tội pārājika; (nếu vị kia) đoạt lấy mạng sống người ấy trước hay sau dấu hiệu ấy thì vị khởi xướng vô tội, còn vị giết người phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị không cố ý, vị không biết, vị không có ý muốn gây tử vong, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm thứ nhất về tội </b><b>pārājika</b><b> vì giết người.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> CHUYỆN DẪN GIẢI &#8211; KỆ NGÔN TÓM LƯỢC</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Việc ca ngợi, vị đang ngồi xuống, cái chày và cối giã, chuyện các vị già xuất gia, mắc nghẹn thịt, thuốc độc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba chuyện làm nền đất, ba chuyện khác về gạch, lưỡi rìu, và luôn cả khung gỗ, giàn giáo, leo xuống, vị bị té.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hơ nóng, mũi, xoa bóp, việc tắm, và thoa dầu, trong khi nâng dậy, và xô ngã, chết bởi vì cơm, nước.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có thai với nhân tình, và người có hai vợ, giết chết hai mẹ con, cả hai không bị chết, chà xát, đốt nóng, không sanh, còn sanh sản.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thọt lét, sự trả thù, Dạ-xoa, quỷ dữ tợn, và vị phái người đi, tưởng vị ấy rồi giết, giảng về cõi trời và địa ngục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba chuyện về cây cối ở Āḷavi, ba chuyện khác về lửa, chớ làm cho khổ sở, không theo cách của ngài, (cho uống) sữa còn bơ, và giấm mặn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu vì lòng trắc ẩn đã ca ngợi lợi ích của sự chết đến vị ấy. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng chúng ta đã phạm tội pārājika?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu đi khất thực nọ trong lúc ngồi xuống đã đè lên đứa bé trai được phủ bởi tấm màn ở trên chiếc ghế và gây ra tử vong. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, khi chưa xem xét không nên ngồi xuống ở chỗ ngồi; vị nào ngồi xuống thì phạm tội dukkaṭa.” (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ, trong lúc sắp đặt chỗ ngồi ở nhà ăn nơi xóm nhà, khi cái chày được đưa lên thì đã cầm lấy một cái chày. Cái chày thứ hai đã rơi xuống và chạm mạnh vào đỉnh đầu của đứa bé trai nọ. Đứa bé đã chết đi. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con không cố ý.” &#8211; “Này tỳ khưu, không cố ý thì vô tội.” (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong khi sắp đặt chỗ ngồi ở nhà ăn nơi xóm nhà đã bước lên vật dụng là cối giã khiến (chúng) quay tròn rồi chạm mạnh vào đứa bé trai nọ và gây ra tử vong. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không cố ý thì vô tội.” (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có hai cha con cùng xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Khi thời giờ được thông báo, đứa con trai đã nói với người cha điều này: &#8211; “Thưa cha, hãy đi. Hội chúng chờ đợi cha,” rồi đã nắm lấy ở lưng và đẩy tới. Người cha đã té xuống và chết đi. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con không có ý muốn gây tử vong.” &#8211; “Này tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có hai cha con cùng xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Khi thời giờ được thông báo, đứa con trai đã nói với người cha điều này: &#8211; “Thưa cha, hãy đi. Hội chúng chờ đợi cha,” rồi đã nắm lấy ở lưng và đẩy tới có ý muốn gây tử vong. Người cha đã té xuống và chết đi. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có hai cha con cùng xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Khi thời giờ được thông báo, đứa con trai đã nói với người cha điều này: &#8211; “Thưa cha, hãy đi. Hội chúng chờ đợi cha,” rồi đã nắm lấy ở lưng và đẩy tới có ý muốn gây tử vong. Người cha đã té xuống và không bị chết. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.”(7)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đang ăn đã bị mắc nghẹn miếng thịt ở cổ họng. Có vị tỳ khưu khác đã vỗ vào cổ của vị tỳ khưu ấy. Cục thịt đã rơi ra có dính máu. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (8)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đang ăn đã bị mắc nghẹn miếng thịt ở cổ họng. Có vị tỳ khưu khác có ý muốn gây tử vong đã vỗ vào cổ của vị tỳ khưu ấy. Cục thịt đã rơi ra có dính máu. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (9)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đang ăn đã bị mắc nghẹn miếng thịt ở cổ họng. Có vị tỳ khưu khác có ý muốn gây tử vong đã vỗ vào cổ của vị tỳ khưu ấy. Cục thịt đã rơi ra có dính máu. Vị tỳ khưu ấy đã không bị chết. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (10)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu đi khất thực nọ sau khi nhận được vật thực có thuốc độc đã mang trở về và dâng các tỳ khưu nếm thử trước. Các tỳ khưu ấy đã chết đi. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con không biết (có độc).” &#8211; “Này tỳ khưu, vị không biết thì vô tội.” (11)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý muốn thử nghiệm đã trao thuốc độc cho vị tỳ khưu khác. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con có ý muốn thử nghiệm.” &#8211; “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (12)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở thành Āḷavi thực hiện nền đất của trú xá. Có vị tỳ khưu nọ ở bên dưới đã đưa đá lên. Viên đá được vị tỳ khưu ở phía trên nắm lấy vụng về đã chạm mạnh vào đỉnh đầu của vị tỳ khưu ở bên dưới. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không cố ý thì vô tội.” (13)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở thành Āḷavi thực hiện nền đất của trú xá. Có vị tỳ khưu nọ ở bên dưới đã đưa đá lên. Vị tỳ khưu ở phía trên có ý muốn gây tử vong nên đã thả viên đá ở đỉnh đầu của vị tỳ khưu ở bên dưới. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (14)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)― Vị tỳ khưu ấy đã không bị chết. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (15)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở thành Āḷavi xây dựng bức tường của trú xá. Có vị tỳ khưu nọ ở bên dưới đã đưa gạch lên. Viên gạch được vị tỳ khưu ở phía trên nắm lấy vụng về đã chạm mạnh vào đỉnh đầu của vị tỳ khưu ở bên dưới. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không cố ý thì vô tội.” (16)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở thành Āḷavi xây dựng bức tường của trú xá. Có vị tỳ khưu nọ ở bên dưới đã đưa gạch lên. Vị tỳ khưu ở phía trên có ý muốn gây tử vong nên đã thả viên gạch ở đỉnh đầu của vị tỳ khưu ở bên dưới. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Vị tỳ khưu ấy đã không bị chết. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tộithullaccaya.” (17-18)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở thành Āḷavi xây dựng công trình mới. Có vị tỳ khưu nọ ở bên dưới đã đưa lưỡi rìu lên. Lưỡi rìu được vị tỳ khưu ở phía trên nắm lấy vụng về đã chạm mạnh vào đỉnh đầu của vị tỳ khưu ở bên dưới. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không cố ý thì vô tội.” (19)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở thành Āḷavi xây dựng công trình mới. Có vị tỳ khưu nọ ở bên dưới đã đưa lưỡi rìu lên. Vị tỳ khưu ở phía trên có ý muốn gây tử vong nên đã thả lưỡi rìu ở đỉnh đầu của vị tỳ khưu ở bên dưới. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Vị tỳ khưu ấy đã không bị chết. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tộithullaccaya.” (20-21)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở thành Āḷavi xây dựng công trình mới. Có vị tỳ khưu nọ ở bên dưới đã đưa khung gỗ lên. Vị tỳ khưu ở phía trên nắm lấy vụng về khiến khung gỗ chạm mạnh vào đỉnh đầu của vị tỳ khưu ở bên dưới. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không cố ý thì vô tội.” (22)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở thành Āḷavi xây dựng công trình mới. Có vị tỳ khưu nọ ở bên dưới đã đưa khung gỗ lên. Khung gỗ được vị tỳ khưu ở phía trên nắm lấy vụng về đã chạm mạnh vào đỉnh đầu của vị tỳ khưu ở bên dưới. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Vị tỳ khưu ấy đã không bị chết. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tộithullaccaya.” (23-24)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở thành Āḷavi trong khi xây dựng công trình mới buộc lại cái giàn giáo. Có vị tỳ khưu nọ đã nói với vị tỳ khưu khác điều này: &#8211; “Này đại đức, hãy đứng ở chỗ này rồi buộc lại.” Vị ấy đã đứng ở chỗ ấy, trong khi buộc lại đã bị té xuống và chết đi. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con không có ý muốn gây tử vong.” “Này tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (25)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở thành Āḷavi trong khi xây dựng công trình mới buộc lại cái giàn giáo. Có vị tỳ khưu nọ có ý muốn gây tử vong đã nói với vị tỳ khưu khác điều này: &#8211; “Này đại đức, hãy đứng ở chỗ này rồi buộc lại.” Vị ấy đã đứng ở chỗ ấy, trong khi buộc lại đã bị té xuống và chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―đứng ở chỗ ấy] đã bị té xuống và không bị chết. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (26-27)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ lợp xong trú xá và leo xuống. Có vị tỳ khưu khác đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: &#8211; “Này đại đức, hãy leo xuống từ chỗ này.” Vị ấy trong khi leo xuống bằng chỗ ấy đã bị té xuống và chết đi. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (28)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ lợp xong trú xá và leo xuống. Có vị tỳ khưu khác có ý muốn gây tử vong đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: &#8211; “Này đại đức, hãy leo xuống từ chỗ này.” Vị ấy trong khi leo xuống bằng chỗ ấy đã bị té xuống và chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] đã bị té xuống và không bị chết. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tộithullaccaya.” (29-30)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bực bội bởi sự không thỏa thích nên đã leo lên đỉnh núi Gijjhakūṭa và trong khi lao xuống vách núi đã chạm người đan giỏ nọ và đã gây ra tử vong. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên lao mình xuống; vị nào lao xuống thì phạm tội dukkaṭa.” (31)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sau khi leo lên núi Gijjhakūṭa đã ném đá để đùa giỡn. Viên đá đã chạm vào người chăn bò nọ và gây ra tử vong. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên ném đá để đùa giỡn; vị nào ném thì phạm tội dukkaṭa.” (32)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã hơ nóng vị ấy. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (33)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu có ý muốn gây tử vong đã hơ nóng vị ấy. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Vị tỳ khưu ấy đã không bị chết. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (34-35)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh nóng đầu. Các tỳ khưu đã cho vị ấy thuốc ở mũi. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (36)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh nóng đầu. Các tỳ khưu có ý muốn gây tử vong đã cho vị ấy thuốc ở mũi. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Vị tỳ khưu ấy đã không bị chết. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (37-38)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã xoa bóp vị ấy. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (39)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu có ý muốn gây tử vong đã xoa bóp vị ấy. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Vị tỳ khưu ấy đã không bị chết. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (40-41)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã tắm cho vị ấy. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (42)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu có ý muốn gây tử vong đã tắm cho vị ấy. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Vị tỳ khưu ấy đã không bị chết. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (43-44)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã thoa dầu cho vị ấy. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (45)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu có ý muốn gây tử vong đã thoa dầu cho vị ấy. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Vị tỳ khưu ấy đã không bị chết. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (46-47)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã đỡ vị ấy đứng dậy. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (48)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu có ý muốn gây tử vong đã đỡ vị ấy đứng dậy. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Vị tỳ khưu ấy đã không bị chết. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (49-50)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã làm vị ấy ngã xuống. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (51)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu có ý muốn gây tử vong đã làm vị ấy ngã xuống. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Vị tỳ khưu ấy đã không bị chết. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (52-53)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã cho vị ấy thức ăn. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (54)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu có ý muốn gây tử vong đã cho vị ấy thức ăn. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Vị tỳ khưu ấy đã không bị chết. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (55-56)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã cho vị ấy thức uống. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (57)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu có ý muốn gây tử vong đã cho vị ấy thức uống. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Vị tỳ khưu ấy đã không bị chết. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (58-59)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ có chồng đi vắng đã mang thai với tình nhân. Cô ấy đã nói với vị tỳ khưu thường lui tới với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, ngài hãy tìm thuốc làm sẩy thai đi.” “Này chị gái, tốt thôi!” rồi đã cho cô ấy thuốc làm sẩy thai. Đứa bé trai đã chết đi. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (60)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ có hai vợ, một cô không sanh sản một cô còn sanh sản. Người đàn bà không sanh sản đã nói với vị tỳ khưu thường lui tới với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, nếu cô ấy sanh con thì sẽ trở thành chủ nhân của toàn bộ tài sản. Thưa ngài, ngài hãy tìm thuốc làm sẩy thai đi.” “Này chị gái, tốt thôi!” rồi đã cho cô ấy thuốc làm sẩy thai. Đứa bé trai đã chết đi. Người mẹ đã không bị chết. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (61)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ có hai vợ, một cô không sanh sản một cô còn sanh sản. Người đàn bà không sanh sản đã nói với vị tỳ khưu thường lui tới với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, nếu cô ấy sanh con thì sẽ trở thành chủ nhân của toàn bộ tài sản. Thưa ngài, ngài hãy tìm thuốc làm sẩy thai đi.” “Này chị gái, tốt thôi!” rồi đã cho cô ấy thuốc làm sẩy thai. Người mẹ đã chết đi. Đứa bé trai đã không bị chết. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (62)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ có hai vợ, một cô không sanh sản một cô còn sanh sản. Người đàn bà không sanh sản đã nói với vị tỳ khưu thường lui tới với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, nếu cô ấy sanh con thì sẽ trở thành chủ nhân của toàn bộ tài sản. Thưa ngài, ngài hãy tìm thuốc làm sẩy thai đi.” “Này chị gái, tốt thôi!” rồi đã cho cô ấy thuốc làm sẩy thai. Cả hai đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Cả hai đã không bị chết. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (63-64)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà có thai nọ đã nói với vị tỳ khưu thường lui tới với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, ngài hãy tìm thuốc làm sẩy thai đi.” “Này chị gái, như thế thì hãy tự chà xát.” Cô ấy đã chà xát và đã làm sẩy thai. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (65)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà có thai nọ đã nói với vị tỳ khưu thường lui tới với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, ngài hãy tìm thuốc làm sẩy thai đi.” “Này chị gái, như thế thì hãy đốt nóng.” Cô ấy đã đốt nóng và đã làm sẩy thai. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (66)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà không sanh sản nọ đã nói với vị tỳ khưu thường lui tới với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, ngài hãy tìm thuốc làm cho tôi có thể sanh sản.” “Này chị gái, tốt thôi!” rồi đã cho cô ấy thuốc. Cô ấy đã chết đi. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (67)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà còn sanh sản nọ đã nói với vị tỳ khưu thường lui tới với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, ngài hãy tìm thuốc làm cho tôi không còn sanh sản.” “Này chị gái, tốt thôi!” rồi đã cho cô ấy thuốc. Cô ấy đã chết đi. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (68)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã làm cho vị tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư cười bằng cách dùng ngón tay thọt lét. Vị tỳ khưu ấy trong khi rối loạn không thở ra được nên đã chết đi. Các vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, không phạm tội pārājika.” (69)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư (nghĩ rằng): “Chúng ta sẽ gây chuyện” rồi chạm mạnh vào vị tỳ khưu nhóm Lục Sư khiến vị ấy chết đi. Các vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, không phạm tội pārājika.” (70)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ là thầy chữa bệnh tà ma đã đoạt lấy mạng sống của loài Dạ-xoa. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, không phạm tộipārājika mà phạm tội thullaccaya.” (71)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã phái vị tỳ khưu khác đến trú xá có Dạ-xoa dữ tợn. Các Dạ-xoa đã đoạt lấy mạng sống vị ấy. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (72)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý muốn gây tử vong đã phái vị tỳ khưu khác đến trú xá có Dạ-xoa dữ tợn. Các Dạ-xoa đã đoạt mạng vị ấy. ―(như trên)―[đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Các Dạ-xoa đã không đoạt mạng vị ấy. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (73-74)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã phái vị tỳ khưu khác đến khu rừng có thú dữ. Các thú dữ đã đoạt lấy mạng sống vị ấy. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (75)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý muốn gây tử vong đã phái vị tỳ khưu khác đến khu rừng có thú dữ. Các thú dữ đã đoạt mạng vị ấy. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Các thú dữ đã không đoạt mạng vị ấy. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (76-77)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã phái vị tỳ khưu khác đến khu rừng có cướp. Các kẻ cướp đã đoạt mạng vị ấy. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (78)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý muốn gây tử vong đã phái vị tỳ khưu khác đến khu rừng có cướp. Các kẻ cướp đã đoạt mạng vị ấy. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Các kẻ cướp đã không đoạt mạng vị ấy. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (79-80)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ nhận ra người ấy rồi đã đoạt mạng người ấy, nhận ra người ấy rồi đã đoạt mạng người khác, nhận ra người khác rồi đã đoạt mạng người ấy, nhận ra người khác rồi đã đoạt mạng người khác. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (81-84)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị phi nhân chiếm giữ. Có vị tỳ khưu khác đã đánh vào vị tỳ khưu ấy. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (85)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị phi nhân chiếm giữ. Có vị tỳ khưu khác có ý muốn gây tử vong đã đánh vào vị tỳ khưu ấy. Vị tỳ khưu ấy đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tộipārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Vị tỳ khưu ấy đã không bị chết. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (86-87)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ thuyết về cõi trời của nghiệp lành. Người ấy bị tác động nên đã chết đi. Vị (tỳ khưu) ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (88)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý muốn gây tử vong thuyết về cõi trời của nghiệp lành. Người ấy bị tác động nên đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Người ấy bị tác động đã không bị chết. Vị (tỳ khưu) ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (89-90)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ thuyết về địa ngục của kẻ đi địa ngục. Người ấy bị hoảng hốt và đã chết. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (91)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý muốn gây tử vong thuyết về địa ngục của kẻ đi địa ngục. Người ấy bị hoảng hốt và đã chết. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Người ấy bị hoảnghốt và đã không bị chết. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (92-93)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở Āḷavi chặt cây trong khi làm công trình mới. Có vị tỳ khưu nọ đã nói với vị tỳ khưu khác điều này: &#8211; “Này đại đức, hãy đứng ở chỗ này rồi chặt.” Trong khi vị ấy đứng ở chỗ ấy đang chặt thì cây đã ngã xuống và giết chết. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (94)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở Āḷavi chặt cây trong khi làm công trình mới. Có vị tỳ khưu nọ có ý muốn gây tử vong đã nói với vị tỳ khưu khác điều này: &#8211; “Này đại đức, hãy đứng ở chỗ này rồi chặt.” Trong khi vị ấy đứng ở chỗ ấy đang chặt thì cái cây đã ngã xuống và giết chết. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] cây đã ngã xuống và không giết chết. Vị kia đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (95-96)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã nổi lửa đốt rừng. Dân chúng bị đốt cháy đã chết đi. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị không có ý muốn gây tử vong thì vô tội.” (97)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư có ý muốn gây tử vong đã nổi lửa đốt rừng. Dân chúng bị đốt cháy đã chết đi. ―(như trên)― [đã phạm tội pārājika.” Vào lúc bấy giờ, ―(như trên)―] Dân chúng bị đốt cháy đã không bị chết. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, (các ngươi) không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (98-99)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến pháp trường đã nói với viên xử tử kẻ cướp điều này: &#8211; “Này đạo hữu, chớ để người này bị khổ sở. Hãy đoạt lấy mạng sống bằng một nhát.” &#8211; “Thưa ngài, tốt thôi!” rồi đã đoạt lấy mạng sống bằng một nhát. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (100)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến pháp trường đã nói với viên xử tử kẻ cướp điều này: &#8211; “Này đạo hữu, chớ để người này bị khổ sở. Hãy đoạt lấy mạng sống bằng một nhát.” &#8211; “Tôi sẽ không làm theo lời nói của ngài” rồi đã đoạt lấy mạng sống kẻ ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tộidukkaṭa.” (101)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bị đứt lìa tay chân được các thân quyến vây quanh tại nhà của thân quyến. Có vị tỳ khưu nọ đã nói với những người ấy điều này: &#8211; “Này các đạo hữu, các vị có muốn cái chết cho người này không?” &#8211; “Thưa ngài, đúng vậy. Chúng tôi muốn.” &#8211; “Như thế thì hãy cho uống sữa còn bơ.” Họ đã cho người ấy uống sữa còn bơ. Người ấy đã chết đi. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (102)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người nam nọ bị đứt lìa tay chân được thân quyến vây quanh tại nhà của gia đình. Có tỳ khưu ni nọ đã nói với những người ấy điều này: &#8211; “Này các vị, có muốn cái chết cho anh ta không?” &#8211; “Vâng, ni sư. Chúng tôi muốn.” &#8211; “Vậy hãy cho uống giấm mặn.” Họ đã cho anh ta uống giấm mặn. Anh ta đã chết. Vị ni ấy đã có nỗi nghi hoặc. Sau đó, tỳ khưu ni ấy đã kể lại việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni đã kể lại việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni ấy đã phạm tội pārājika.” (103)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều </b><b>pārājika</b><b> thứ ba được đầy đủ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Assāso ti bahi nikkhamanavāto. Passāso ti anto pavisanavāto = Hơi thở ra là gió đi ra bên ngoài. Hơi thở vào là gió đi vào bên trong” (VinA. ii, 408). Như thế assasati là thở ra, passasati là thở vào. Nếu hiểu như vậy thì phương pháp Ānāpānassati hay “Niệm hơi thở” nên được trình bày và tu tập theo thứ tự hơi thở ra trước rồi mới đến hơi thở vào.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Trong bốn mệnh đề đầu, động từ được sử dụng là pajānāti (biết rõ) và có liên từ “vā” (hay là, hoặc là) xen vào giữa. Từ mệnh đề thứ năm trở đi, động từ là sikkhati (thực tập, thực hành, học tập).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa, sabbakāya nên được hiểu là phần đầu, phần giữa, và phần cuối của toàn bộ hơi thở ra mỗi khi thở ra, hoặc toàn bộ hơi thở vào mỗi khi thở vào (VinA. ii, 411)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] A, B, C, D được thêm vào cho dễ hiểu dựa theo Chú Giải (VinA. ii, 448-450).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Là việc bị mổ banh bụng ra bởi con dao bén của kẻ giết trâu bò (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Là việc nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Kinh Pháp Cú, câu 307.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Kinh Pháp Cú, câu 308.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Vô phiền não giải thoát (suññato vimokkho) là nội tâm không còn tham sân si, vô tướng giải thoát (animitto vimokkho) là nội tâm không còn các biểu hiện của tham sân si, vô nguyện giải thoát (appaṇihito vimokkho) là không còn trạng thái mong mỏi tham sân si (VinA. ii, 492).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[10] Vị ấy vì chưa đề cập rõ ràng bản thân là A-la-hán (ahan ti avuttatā) nên không phạm tội pārājika(VinA. ii, 503).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[11] Câu chuyện này được lập lại y như câu chuyện (16) ở trên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[12] Ngài Buddhaghosa giải thích các chim kên kên, chim quạ, chim ưng này là các Dạ-xoa có dạng chim, “yakkhagijjhā yakkhakākā yakkhakulalā” (VinA. ii, 507).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[13] Ngài Buddhaghosa giải thích về người không có lớp da bao bọc là do việc người này đã giết các con dê rồi lột da nên bị quả báu không có lớp da bao bọc (VinA. ii, 509).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[14] Người này tuy là quan xử án nhưng nhận hối lộ ở nơi kín đáo rồi xử án thiên lệch nên bị trả quả phải phơi bày vật kín ra (VinA. ii, 510).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[15] Có thể đây là một lầm lẫn trong lúc gom các đoạn văn trùng lặp lại với nhau vì các vị ni tu tập sự, sa di, sa di ni không có y hai lớp (saṅghāṭi). Chỉ tỳ khưu và tỳ khưu ni mới có y này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[16] Không đạt được sự cộng trú cùng với các vị tỳ khưu nghĩa là vị ấy không còn được tham dự các lễ Uposatha (lễ Bố Tát), lễ Pavāraṇā (lễ Tự Tứ), việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha, và các loại hành sự của hội chúng (VinA. ii, 516).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[17] Trước đây như thế nào thì sau này là như vậy (yathā pure tathā pacchā) nghĩa là trước đây còn tại gia chưa tu lên bậc trên sự cách biệt đối với các vị tỳ khưu như thế nào, bây giờ sau khi phạm tội pārājika thì phải theo đúng như thế ấy (VinA. ii, 516).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG PĀRĀJIKA: ĐIỀU PĀRĀJIKA THỨ TƯ PHẦN 1</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-2-parajika-dieu-parajika-thu-tu-phan-1/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:35:09 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58008</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương Pārājika Điều Pārājika Thứ Tư Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I </span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương Pārājika </span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Điều Pārājika Thứ Tư</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Vesālī, Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đồng quan điểm, thân thiết đã vào mùa (an cư) mưa ở bờ sông Vaggumudā. Vào lúc bấy giờ, xứ Vajjī có sự khan hiếm về vật thực, khó kiếm ăn, có dịch bệnh, thẻ vật thực được phân phối, không dễ sinh sống bằng sự ra sức khất thực.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý rằng: “Hiện nay, xứ Vajjī có sự khan hiếm về vật thực, khó kiếm ăn, có dịch bệnh, thẻ vật thực được phân phối, không dễ sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Còn chúng ta có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau, vậy bằng phương thức nào chúng ta có thể sống mùa (an cư) mưa một cách thoải mái và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một số vị đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, chúng ta hãy quyết định làm công cho các người tại gia đi; như thế họ sẽ nghĩ đến mà bố thí cho chúng ta. Như thế chúng ta có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau sẽ sống mùa (an cư) mưa một cách thoải mái và sẽ không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một số vị đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, thôi đi! Việc gì lại quyết định làm công cho các người tại gia? Này các đại đức, chúng ta hãy đưa tin tức cho các người tại gia đi; như thế họ sẽ nghĩ đến mà bố thí cho chúng ta. Như thế chúng ta có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau sẽ sống mùa (an cư) mưa một cách thoải mái và sẽ không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một số vị đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, thôi đi! Việc gì lại quyết định làm công cho các người tại gia? Việc gì lại đưa tin tức cho các người tại gia? Này các đại đức, chúng ta hãy nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia rằng: ‘Vị tỳ khưu như vầy đạt sơ thiền, vị tỳ khưu như vầy đạt nhị thiền, vị tỳ khưu như vầy đạt tam thiền, vị tỳ khưu như vầy đạt tứ thiền, vị tỳ khưu như vầy là vị Nhập Lưu, vị tỳ khưu như vầy là vị Nhất Lai, vị tỳ khưu như vầy là vị Bất Lai, vị tỳ khưu như vầy là vị A-la-hán, vị tỳ khưu như vầy có ba Minh, vị tỳ khưu như vầy có sáu Thắng Trí;’ như thế họ sẽ nghĩ đến mà bố thí cho chúng ta. Như thế chúng ta có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau sẽ sống mùa (an cư) mưa một cách thoải mái và sẽ không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.” &#8211; “Này các đại đức, chính điều này là tốt hơn hết tức là việc chúng ta nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các tỳ khưu ấy đã nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia rằng: &#8211; “Vị tỳ khưu như vầy đạt sơ thiền, ―(như trên)― vị tỳ khưu như vầy có sáu Thắng Trí.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, những người dân ấy (nghĩ rằng): “Quả thật điều lợi ích đã có cho chúng ta! Quả thật chúng ta đã đạt được điều tốt! Chúng ta có được các tỳ khưu như vầy trong số các tỳ khưu có giới có thiện pháp vào mùa (an cư) mưa! Quả thật từ trước đến nay chúng ta không có các tỳ khưu như vầy vào mùa (an cư) mưa!” Họ dâng đến các tỳ khưu những vật thực loại mềm mà họ không ăn bởi chính mình, không dâng đến cha mẹ, không cho đến vợ con, không cho đến các tôi tớ và người làm công, không cho đến bạn bè và các quan lại, không cho đến các thân quyến cùng huyết thống. Họ dâng đến các tỳ khưu những vật thực loại cứng ―(như trên)― những thức nếm ―(như trên)― những thức uống mà họ không uống bởi chính mình, không dâng đến cha mẹ, không cho đến vợ con, không cho đến các tôi tớ và người làm công, không cho đến bạn bè và các quan lại, không cho đến các thân quyến cùng huyết thống. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã có sắc tướng, căn quyền sung mãn, sắc diện rạng rỡ, sắc thân an tịnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều này đã là thông lệ cho các tỳ khưu trải qua mùa (an cư) mưa là đi đến diện kiến đức Thế Tôn. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy trải qua ba tháng mùa (an cư) mưa đã thu xếp chỗ trú ngụ, cầm y bát, ra đi về phía Vesālī. Theo tuần tự các vị đã đi đến thành Vesālī, Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa ở các phương thì ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân; trái lại các tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā thì có sắc tướng, căn quyền sung mãn, sắc diện rạng rỡ, sắc thân an tịnh. Điều này đã là thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm nở đối với các tỳ khưu đi đến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với các vị tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā điều này: &#8211; “Này các tỳ khưu, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Các ngươi có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau, chắc hẳn đã sống qua mùa (an cư) mưa được thoải mái, và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, sức khoẻ khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc đều tốt đẹp. Và bạch ngài, chúng con có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau đã sống qua mùa (an cư) mưa được thoải mái, và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.” Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi. Các đấng Như lai hỏi có liên quan đến lợi ích và không (hỏi việc) không có liên quan đến lợi ích, khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách để cắt đứt vấn đề.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chư Phật Thế Tôn hỏi các tỳ khưu bởi hai lý do: “Chúng ta sẽ thuyết Pháp hoặc sẽ quy định điều học cho các đệ tử.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā điều này: &#8211; “Này các tỳ khưu, các ngươi có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau, đã sống mùa (an cư) mưa được thoải mái và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực như thế nào?” Khi ấy, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, các ngươi có thực chứng không?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, không thực chứng.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này những kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này những kẻ rồ dại, tại sao các ngươi vì lý do bao tử lại nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia? Này những kẻ rồ dại, thà các ngươi bị mổ banh bụng bởi dao giết trâu sắc bén còn là điều cao thượng, chớ vì lý do bao tử mà nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia là không (cao thượng). Điều ấy có lý do như thế nào? Này những kẻ rồ dại, bởi vì do nguyên nhân kia[5] các ngươi có thể đi đến cái chết hoặc khổ gần như chết, nhưng không vì nguyên nhân kia, khi tan rã thân xác và chết đi, các ngươi lại có thể bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Này những kẻ rồ dại, quả thật do nguyên nhân này,[6] khi tan rã thân xác và chết đi, các ngươi có thể bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, đây là năm kẻ cướp lớn được biết đến ở thế gian? Thế nào là năm?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(1) Này các tỳ khưu, ở đây có kẻ cướp lớn khởi ý như vầy: ‘Đến khi nào được tháp tùng bởi một trăm hay một ngàn, ta sẽ vừa đi quanh làng mạc phố thị kinh thành vừa giết vừa ra lệnh giết, vừa chém vừa ra lệnh chém, vừa hành hạ vừa ra lệnh hành hạ.’ Một thời gian sau, được tháp tùng bởi một trăm hay một ngàn, kẻ ấy vừa đi quanh làng mạc phố thị kinh thành vừa giết vừa ra lệnh giết, vừa chém vừa ra lệnh chém, vừa hành hạ vừa ra lệnh hành hạ. Này các tỳ khưu, tương tợ như thế, ở đây có hạng ác tỳ khưu khởi ý như vầy: ‘Đến khi nào được tùy tùng bởi một trăm hay một ngàn, ta sẽ đi quanh làng mạc phố thị kinh thành và được tiếp rước, được cung kính, được nể sợ, được cúng dường, được tôn trọng, và có được lợi lộc về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh của các gia chủ và các bậc xuất gia.’ Một thời gian sau, được tùy tùng bởi một trăm hay một ngàn, vị ấy đi quanh làng mạc phố thị kinh thành và được tiếp rước, được cung kính, được nể sợ, được cúng dường, được tôn trọng, và có được lợi lộc về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh của các gia chủ và các bậc xuất gia. Này các tỳ khưu, đây là kẻ cướp lớn thứ nhất được biết đến ở thế gian.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> (2) Này các tỳ khưu, hơn nữa ở đây có hạng ác tỳ khưu sau khi đã học tập Pháp và Luật được công bố bởi Như Lai lại xem là của chính bản thân. Này các tỳ khưu, đây là kẻ cướp lớn thứ nhì được biết đến ở thế gian.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(3) Này các tỳ khưu, hơn nữa ở đây có hạng ác tỳ khưu bôi nhọ vị trong sạch, có Phạm hạnh, đang thực hành Phạm hạnh thanh tịnh bằng điều phi Phạm hạnh không có nguyên cớ. Này các tỳ khưu, đây là kẻ cướp lớn thứ ba được biết đến ở thế gian.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(4) Này các tỳ khưu, hơn nữa ở đây có hạng ác tỳ khưu chiêu dụ mua chuộc các người tại gia bằng các trọng vật là các vật dụng chủ yếu của hội chúng như là tu viện, vùng đất của tu viện, trú xá, vùng đất của trú xá, gường, ghế, nệm, gối, chum đồng, chậu đồng, hũ đồng, vại đồng, rìu, búa, cuốc, xẻng, lưỡi đục, dây leo, tre, cỏ muñja, cỏ pabbaja, cỏ tiṇa, đất sét, đồ gỗ, đồ gốm. Này các tỳ khưu, đây là kẻ cướp lớn thứ tư được biết đến ở thế gian.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(5) Này các tỳ khưu, trong thế gian bao gồm cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, và loài người, kẻ cướp lớn đứng hàng đầu là kẻ khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng. Điều ấy có lý do thế nào? Này các tỳ khưu, các ngươi đã ăn thức ăn của xứ sở theo lối trộm cướp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tuyên bố thế này, bản thân như thế khác, </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">ăn cơm kiểu dối lường, như cờ gian bạc lận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhiều kẻ cổ quấn y, ác pháp, không thu thúc, </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">kẻ ác vì nghiệp ác, phải sanh vào địa ngục.[7]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Kẻ ác giới buông lung thà ăn vào sắt cục, </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">cháy đỏ có lửa ngọn, hơn đồ ăn xứ sở.”[8]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã khiển trách các tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā bằng nhiều phương thức về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Vị tỳ khưu nào trong khi chưa biết rõ về pháp thượng nhân, là pháp thể nhập của bản thân, là pháp thuộc về trí tuệ và sự thấy biết xứng đáng bậc Thánh, lại tuyên bố rằng: ‘Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy.’ Sau đó vào lúc khác, trong khi được hỏi hay trong khi không được hỏi, vị đã phạm tội có ước muốn được trong sạch lại nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã không biết như vầy lại nói biết, đã không thấy lại nói thấy, tôi đã nói điều phù phiếm, điều dối trá;’ vị ấy cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định căn bản</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu trong khi không thấy tưởng là đã thấy, trong khi không đạt tưởng là đã đạt, trong khi không đắc chứng tưởng là đã đắc chứng, trong khi không chứng ngộ tưởng là đã chứng ngộ, đã nói một cách thái quá về trí giải thoát. Một thời gian sau, các vị lại có tâm thiên về tham ái, lại có tâm lại thiên về sân hận, lại có tâm lại thiên về si mê. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc rằng: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định; và chúng ta trong khi không thấy tưởng là đã thấy, trong khi không đạt tưởng là đã đạt, trong khi không đắc chứng tưởng là đã đắc chứng, trong khi không chứng ngộ tưởng là đã chứng ngộ, đã nói một cách thái quá về trí giải thoát, phải chăng chúng ta đã phạm tội pārājika?” Các vị ấy đã kể lại sự việc ấy cho đại đức Ānanda. Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Này Ānanda, có các vị tỳ khưu trong khi không thấy tưởng là đã thấy, trong khi không đạt tưởng là đã đạt, trong khi không đắc chứng tưởng là đã đắc chứng, trong khi không chứng ngộ tưởng là đã chứng ngộ, đã nói với sự tự tin thái quá về trí giải thoát; điều ấy vốn không thuộc về trường hợp này. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Vị tỳ khưu nào trong khi chưa biết rõ về pháp thượng nhân, là pháp thể nhập của bản thân, là pháp thuộc về trí tuệ và sự thấy biết xứng đáng bậc Thánh, lại tuyên bố rằng: ‘Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy.’ Sau đó vào lúc khác, trong khi được hỏi hay trong khi không được hỏi, vị đã phạm tội có ước muốn được trong sạch lại nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã không biết như vầy lại nói biết, đã không thấy lại nói thấy, tôi đã nói điều phù phiếm, điều dối trá,’ ngoại trừ vì sự tự tin thái quá; vị này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định lần hai</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― [đã được tu lên bậc trên &#8230; bằng hành sự có lời thông báo đến lần thứ tư]. Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong khi chưa biết rõ</b>: là không có, không thực chứng, trong khi không tự biết, trong khi không hiểu, trong khi không thấy thiện pháp ở nơi mình (lại nói): “Tôi có thiện pháp.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Pháp thượng nhân</b> nghĩa là thiền, sự giải thoát, định, sự chứng đạt, trí tuệ và sự thấy biết, sự tu tập về Đạo, sự chứng ngộ về Quả, sự dứt bỏ phiền não, sự không còn bị che lấp của tâm, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Là pháp thể nhập của bản thân</b>: hoặc là thể nhập các thiện pháp ấy vào bản thân, hoặc là thể nhập bản thân vào các thiện pháp ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trí tuệ</b>: là ba Minh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thấy biết</b>: điều gì là trí tuệ điều ấy là sự thấy biết. Điều gì là sự thấy biết điều ấy là trí tuệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tuyên bố</b>: vị nói ra đến người nữ, hoặc đến người nam, hoặc đến người tại gia, hoặc đến vị xuất gia.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy</b>: Tôi biết các pháp này, tôi thấy các pháp này, các pháp này có ở tôi, các pháp này được thuần thục ở tôi, và tôi thuần thục trong các pháp này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sau đó vào lúc khác</b>: được thực hiện trong giây phút nào, thì đã trải qua giây phút ấy, khoảng thời gian ấy, thời điểm ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong khi được hỏi</b>: Sự việc gì đã cho biết thì đang được hỏi về việc ấy: “Điều gì đã được đại đức đắc chứng? Được đại đức đắc chứng như thế nào? Được đại đức đắc chứng vào lúc nào? Được đại đức đắc chứng ở đâu? Các phiền não nào đã được đại đức dứt bỏ? Đại đức đã đạt được các pháp nào?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong khi không được hỏi</b>: không được bất cứ ai đề cập đến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị đã phạm tội</b>: vị có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng thì phạm tội pārājika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có ước muốn được trong sạch</b>: hoặc là có ước muốn trở thành người gia chủ, hoặc là có ước muốn trở thành nam cư sĩ, hoặc là có ước muốn trở thành người phụ việc cho tu viện, hoặc là có ước muốn trở thành vị sa di.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Này các đại đức, tôi</b> <b>đã không biết như vầy lại nói biết, đã không thấy lại nói thấy</b>: Tôi không biết các pháp này, tôi không thấy các pháp này, các pháp này có ở tôi, các pháp này được thuần thục ở tôi, và tôi thuần thục trong các pháp này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tôi đã nói điều phù phiếm, điều dối trá</b>: Điều phù phiếm đã được tôi nói ra, điều dối trá đã được tôi nói ra, điều không thực đã được tôi nói ra, trong lúc tôi không biết tôi lại nói ra.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ngoại trừ vì sự tự tin thái quá</b>: trừ ra sự tự tin thái quá.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị này cũng</b>: được đề cập liên quan đến các vị trước đây.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Là vị phạm tội </b><b>pārājika</b>: cũng giống như cây thốt nốt bị chặt ở ngọn không thể tăng trưởng được nữa, tương tợ như thế vị tỳ khưu có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, khi đã khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng, thì không phải là Sa-môn, không phải là Thích tử; vì thế, được gọi là ‘vị phạm tội pārājika.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Không được cộng trú</b>: cộng trú nghĩa là có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau, điều ấy gọi là cộng trú. Vị ấy không có được điều ấy, vì thế được gọi là ‘không được cộng trú.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Pháp thượng nhân</b> nghĩa là thiền, sự giải thoát, định, sự chứng đạt, trí tuệ và sự thấy biết, sự tu tập về Đạo, sự chứng ngộ về Quả, sự dứt bỏ phiền não, sự không còn bị che lấp của tâm, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thiền</b>: là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự giải thoát</b>: là vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát.[9]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Định</b>: là vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự chứng đạt</b>: là sự chứng đạt về vô phiền não, sự chứng đạt về vô tướng, sự chứng đạt về vô nguyện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trí tuệ</b>: là ba Minh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự tu tập về Đạo</b>: là bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, Thánh Đạo tám chi phần.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự chứng ngộ về Quả</b>: là sự chứng ngộ quả Nhập Lưu, sự chứng ngộ quả Nhất Lai, sự chứng ngộ quả Bất Lai, sự chứng ngộ quả vị A-la-hán.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự dứt bỏ phiền não</b>: là sự dứt bỏ tham ái, sự dứt bỏ sân, sự dứt bỏ si.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự không còn bị che lấp của tâm</b>: nghĩa là tâm không còn bị che lấp bởi tham ái, tâm không còn bị che lấp bởi sân, tâm không còn bị che lấp bởi si.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự thỏa thích ở nơi thanh vắng</b>: là sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với sơ thiền, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với nhị thiền, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với tam thiền, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với tứ thiền.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có đạt sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có đạt sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có đạt sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có đạt sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có đạt sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có trú sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có trú sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có trú sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có trú sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi có trú sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Phần sơ thiền này đã được giải chi tiết như thế nào,</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">toàn bộ nên được giải chi tiết như thế).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được nhị thiền &#8230; tam thiền &#8230; tứ thiền &#8230; Tôi có đạt tứ thiền &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ tứ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được vô phiền não giải thoát &#8230; vô tướng giải thoát &#8230; vô nguyện giải thoát &#8230; Tôi có đạt vô nguyện giải thoát &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ vô nguyện giải thoát” bị phạm tội pārājika―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được vô phiền não định &#8230; vô tướng định &#8230; vô nguyện định &#8230; Tôi có đạt vô nguyện định &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ vô nguyện định” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sự chứng đạt về vô phiền não &#8230; sự chứng đạt về vô tướng &#8230; sự chứng đạt về vô nguyện &#8230; Tôi có đạt sự chứng đạt về vô nguyện &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ sự chứng đạt về vô nguyện” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được ba Minh, &#8230; Tôi có đạt ba Minh &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ ba Minh” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được bốn sự thiết lập niệm &#8230; bốn chánh cần &#8230; bốn nền tảng của thần thông &#8230; Tôi có đạt bốn nền tảng của thần thông &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ bốn nền tảng của thần thông” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được năm quyền &#8230; năm lực &#8230; Tôi có đạt năm lực &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ năm lực” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được bảy giác chi &#8230; Tôi có đạt bảy giác chi &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ bảy giác chi” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được Thánh Đạo tám chi phần &#8230; Tôi có đạt Thánh Đạo tám chi phần &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ Thánh Đạo tám chi phần” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được quả Nhập Lưu &#8230; quả Nhất Lai &#8230; quả Bất Lai &#8230; phẩm vị A-la-hán &#8230; Tôi có đạt phẩm vị A-la-hán &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ phẩm vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã từ bỏ tham ái, đã quăng bỏ tham ái, đã thoát khỏi tham ái, đã dứt bỏ tham ái, đã xa rời tham ái, đã khai trừ tham ái, đã đoạn trừ tham ái” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã từ bỏ sân, đã quăng bỏ sân, đã thoát khỏi sân, đã dứt bỏ sân, đã xa rời sân, đã khai trừ sân, đã đoạn trừ sân” bị phạm tội pārājika―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã từ bỏ si, đã quăng bỏ si, đã thoát khỏi si, đã dứt bỏ si, đã xa rời si, đã khai trừ si, đã đoạn trừ si” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi sân” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bốn yếu tố ―(như trên)― Với năm yếu tố ―(như trên)― Với sáu yếu tố ―(như trên)― Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần đơn giản.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sơ thiền và nhị thiền, &#8230; Tôi có đạt sơ thiền và nhị thiền &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và nhị thiền” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sơ thiền và tam thiền, &#8230; Tôi có đạt sơ thiền và tam thiền &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và tam thiền” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sơ thiền và tứ thiền, &#8230; Tôi có đạt sơ thiền và tứ thiền &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và tứ thiền” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sơ thiền và vô phiền não giải thoát &#8230; sơ thiền và vô tướng giải thoát &#8230; sơ thiền và vô nguyện giải thoát &#8230; Tôi có đạt sơ thiền và vô nguyện giải thoát &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và vô nguyện giải thoát” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sơ thiền và vô phiền não định &#8230; sơ thiền và vô tướng định &#8230; sơ thiền và vô nguyện định &#8230; Tôi có đạt sơ thiền và vô nguyện định &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và vô nguyện định” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sơ thiền và sự chứng đạt về vô phiền não &#8230; sơ thiền và sự chứng đạt về vô tướng &#8230; sơ thiền và sự chứng đạt về vô nguyện &#8230; Tôi có đạt sơ thiền và sự chứng đạt về vô nguyện &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và sự chứng đạt về vô nguyện” bị phạm tội pārājika―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sơ thiền và ba Minh &#8230; Tôi có đạt sơ thiền và ba Minh &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và ba Minh” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sơ thiền và bốn sự thiết lập niệm &#8230; sơ thiền và bốn chánh cần &#8230; sơ thiền và bốn nền tảng của thần thông &#8230; Tôi có đạt sơ thiền và bốn nền tảng của thần thông &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và bốn nền tảng của thần thông” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sơ thiền và năm quyền &#8230; sơ thiền và năm lực &#8230; Tôi có đạt sơ thiền và năm lực &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và năm lực” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sơ thiền và bảy giác chi &#8230; Tôi có đạt sơ thiền và bảy giác chi &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và bảy giác chi” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sơ thiền và Thánh Đạo tám chi phần &#8230; Tôi có đạt sơ thiền và Thánh Đạo tám chi phần &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ sơ thiền và Thánh Đạo tám chi phần” bị phạm tội pārājika―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sơ thiền và quả Nhập Lưu &#8230; sơ thiền và quả Nhất Lai &#8230; sơ thiền và quả Bất Lai &#8230; sơ thiền và phẩm vị A-la-hán &#8230; Tôi có đạt sơ thiền và phẩm vị A-la-hán &#8230; Tôi có trú &#8230; tôi đã chứng ngộ sơ thiền và phẩm vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sơ thiền &#8230; Tôi có đạt sơ thiền &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ sơ thiền &#8230; và tôi đã từ bỏ tham ái &#8230; và tôi đã từ bỏ sân &#8230; và tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố &#8230; Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sơ thiền &#8230; Tôi có đạt sơ thiền &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ sơ thiền &#8230; và tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái &#8230; và tâm của tôi không bị che lấp bởi sân &#8230; và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được nhị thiền và tam thiền &#8230; Tôi có đạt nhị thiền và tam thiền &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ nhị thiền và tam thiền” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được nhị thiền và tứ thiền &#8230; Tôi có đạt nhị thiền và tứ thiền &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ nhị thiền và tứ thiền” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được nhị thiền và vô phiền não giải thoát &#8230; và vô tướng giải thoát &#8230; và vô nguyện giải thoát &#8230; và vô phiền não định &#8230; và vô tướng định &#8230; và vô nguyện định &#8230; và sự chứng đạt về vô phiền não &#8230; và sự chứng đạt về vô tướng &#8230; và sự chứng đạt về vô nguyện &#8230; và ba Minh &#8230; và bốn sự thiết lập niệm &#8230; và bốn chánh cần &#8230; và bốn nền tảng của thần thông &#8230; và năm quyền &#8230; và năm lực &#8230; và bảy giác chi &#8230; và Thánh Đạo tám chi phần &#8230; và quả Nhập Lưu &#8230; và quả Nhất Lai &#8230; và quả Bất Lai &#8230; và phẩm vị A-la-hán ―(như trên)―Tôi có đạt nhị thiền và phẩm vị A-la-hán &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ nhị thiền và phẩm vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được nhị thiền &#8230; Tôi có đạt nhị thiền &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ nhị thiền &#8230; và tôi đã từ bỏ tham ái &#8230; và tôi đã từ bỏ sân &#8230; và tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, và tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái &#8230; và tâm của tôi không bị che lấp bởi sân &#8230; và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với ba yếu tố &#8230; Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được nhị thiền và sơ thiền &#8230; Tôi có đạt nhị thiền và sơ thiền &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ nhị thiền và sơ thiền” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sau khi thực hiện mỗi một nhân tố như thế, sự luân phiên kết hợp nên được tiến hành viên mãn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">****</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG PĀRĀJIKA: ĐIỀU PĀRĀJIKA THỨ TƯ PHẦN 2</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-2-parajika-dieu-parajika-thu-tu-phan-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:40:55 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58014</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 2: Pārājika Điều Pārājika Thứ Tư Phần 2 Với ba yếu tố, vị]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><span style="font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span> </span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương 2: Pārājika</span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Điều Pārājika Thứ Tư Phần 2</span></strong></h4>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được tam thiền và tứ thiền &#8230; &#8230; tam thiền và phẩm vị A-la-hán &#8230; Tôi có đạt tam thiền và phẩm vị A-la-hán &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ tam thiền và phẩm vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được tam thiền &#8230; Tôi có đạt tam thiền &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ tam thiền &#8230; và tôi đã từ bỏ tham ái &#8230; và tôi đã từ bỏ sân &#8230; và tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, và tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái &#8230; và tâm của tôi không bị che lấp bởi sân &#8230; và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được tam thiền và sơ thiền &#8230; tam thiền và nhị thiền &#8230; Tôi có đạt tam thiền và nhị thiền &#8230; Tôi có trú &#8230; Tôi đã chứng ngộ nhị thiền và sơ thiền” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng &#8230; và tôi chứng &#8230; và tôi đã chứng được sơ thiền &#8230; nhị thiền &#8230; tam thiền &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt tứ thiền &#8230; tôi có trú &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ tứ thiền” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng &#8230; và tôi chứng &#8230; và tôi đã chứng được vô phiền não giải thoát, &#8230; vô tướng giải thoát, &#8230; vô nguyện giải thoát &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt vô nguyện giải thoát &#8230; tôi có trú &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ vô nguyện giải thoát” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng &#8230; và tôi chứng &#8230; và tôi đã chứng được vô phiền não định, vô tướng định, và vô nguyện định &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt vô nguyện định &#8230; tôi có trú &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ vô nguyện định” bị phạm tội pārājika―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng &#8230; và tôi chứng &#8230; và tôi đã chứng được sự chứng đạt về vô phiền não, sự chứng đạt về vô tướng, sự chứng đạt về vô nguyện &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt sự chứng đạt về vô nguyện &#8230; tôi có trú &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ sự chứng đạt về vô nguyện” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng &#8230; và tôi chứng &#8230; và tôi đã chứng được ba Minh &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt ba Minh &#8230; tôi có trú &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ ba Minh” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng &#8230; và tôi chứng &#8230; và tôi đã chứng được bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt bốn nền tảng của thần thông &#8230; tôi có trú &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ bốn nền tảng của thần thông” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng &#8230; và tôi chứng &#8230; và tôi đã chứng được năm quyền &#8230; năm lực &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt năm lực &#8230; tôi có trú &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ năm lực” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng &#8230; và tôi chứng &#8230; và tôi đã chứng được bảy giác chi &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt bảy giác chi &#8230; tôi có trú &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ bảy giác chi” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng &#8230; và tôi chứng &#8230; và tôi đã chứng được Thánh Đạo tám chi phần &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt Thánh Đạo tám chi phần &#8230; tôi có trú &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ Thánh Đạo tám chi phần” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng &#8230; và tôi chứng &#8230; và tôi đã chứng được quả Nhập Lưu, quả Nhất Lai, quả Bất Lai, phẩm vị A-la-hán &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt phẩm vị A-la-hán &#8230; tôi có trú &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ phẩm vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng &#8230; và tôi chứng &#8230; và tôi đã chứng được sơ thiền &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi có đạt sơ thiền &#8230; tôi có trú &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ngộ sơ thiền” bị phạm tội pārājika ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố &#8230; Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng nhị thiền &#8230; tam thiền &#8230; tứ thiền &#8230; vô phiền não giải thoát &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi sân” bị phạm tội pārājika: &#8230; Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Dứt phần một nhân tố.</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">*****</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Phần hai nhân tố, phần ba nhân tố, phần bốn nhân tố, phần năm nhân tố, phần sáu nhân tố, phần bảy nhân tố, phần tám nhân tố, phần chín nhân tố, phần mười nhân tố nên được thực hiện. Theo cách các từ ngữ đã được trình bày, phần một nhân tố nên được triển khai. Phần một nhân tố đã được giải chi tiết như thế nào, phần hai nhân tố cũng nên được giải chi tiết y như thế.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố &#8230; Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng &#8230; Tôi chứng &#8230; Tôi đã chứng được sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định, sự chứng đạt về vô phiền não, sự chứng đạt về vô tướng, sự chứng đạt về vô nguyện, ba Minh, bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, Thánh Đạo tám chi phần, quả Nhập Lưu, quả Nhất Lai, quả Bất Lai, phẩm vị A-la-hán, ―(như trên)― Tôi đã từ bỏ tham ái, tôi đã từ bỏ sân, tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái, tâm của tôi không bị che lấp bởi sân, và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika: ―(như trên)― Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Dứt phần tất cả các nhân tố.</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Dứt phần giảng về các trường hợp đơn giản. </strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">*****<strong> </strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng sơ thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng nhị thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng sơ thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng tam thiền &#8230; tứ thiền &#8230; vô phiền não giải thoát &#8230; vô tướng giải thoát &#8230; vô nguyện giải thoát &#8230; vô phiền não định &#8230; vô tướng định &#8230; vô nguyện định &#8230; sự chứng đạt về vô phiền não &#8230; sự chứng đạt về vô tướng &#8230; sự chứng đạt về vô nguyện &#8230; ba Minh &#8230; bốn sự thiết lập niệm &#8230; bốn chánh cần &#8230; bốn nền tảng của thần thông &#8230; năm quyền &#8230; năm lực &#8230; bảy giác chi &#8230; Thánh Đạo tám chi phần &#8230; quả Nhập Lưu &#8230; quả Nhất Lai &#8230; quả Bất Lai &#8230; phẩm vị A-la-hán &#8230; Tôi đã từ bỏ tham ái &#8230; Tôi đã từ bỏ sân &#8230; Tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi sân &#8230; Tâm của tôi không bị che lấp bởi si,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Dứt sự luân phiên từng phần của một nhân tố theo lời phát biểu của người nói.</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">*****</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng nhị thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng tam thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng nhị thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố &#8230; Với bảy yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng nhị thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya ―(như trên)― đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Sự luân phiên kết hợp của một nhân tố theo lời phát biểu của người nói.</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">*****</span></p>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Phần Nhân Tố Được Tóm Lược</strong></span></h4>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si” lại cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi sân,” (người nghe) hiểu được thì phạm tộipārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Dứt phần một nhân tố theo lời phát biểu của người nói.</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Phần hai nhân tố, phần ba nhân tố, phần bốn nhân tố, phần năm nhân tố, phần sáu nhân tố, phần bảy nhân tố, phần tám nhân tố, phần chín nhân tố, phần mười nhân tố nên được thực hiện y như thế.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">*****</span></p>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Đây là phần tất cả các nhân tố</strong></span></h4>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, ―(như trên)― Với bảy yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định, sự chứng đạt về vô phiền não, sự chứng đạt về vô tướng, sự chứng đạt về vô nguyện, ba Minh, bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, Thánh Đạo tám chi phần, quả Nhập Lưu, quả Nhất Lai, quả Bất Lai, phẩm vị A-la-hán &#8230; Tôi đã từ bỏ tham ái &#8230; Tôi đã từ bỏ sân &#8230; Tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái, tâm của tôi không bị che lấp bởi sân, tâm của tôi không bị che lấp bởi si,” lại cố tình nói điều dối trá, (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya ―(như trên)― đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định, sự chứng đạt về vô phiền não, sự chứng đạt về vô tướng, sự chứng đạt về vô nguyện, ba Minh, bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, Thánh Đạo tám chi phần, quả Nhập Lưu, quả Nhất Lai, quả Bất Lai, phẩm vị A-la-hán, tôi đã từ bỏ tham ái, tôi đã từ bỏ sân, tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái, tâm của tôi không bị che lấp bởi sân, và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng sơ thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng tam thiền, tứ thiền, ―(như trên)― Tâm của tôi không bị che lấp bởi si ―(như trên)― và tôi đã chứng sơ thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng nhị thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si, và tôi đã chứng sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, ―(như trên)― Tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái” lại cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi sân,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Phần tất cả các nhân tố.</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Dứt phần giản lược về sự luân phiên theo lời phát biểu của người nói.</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Dứt phần giảng về trường hợp ‘Có ý định nói.’</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">*****</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị tỳ khưu cư ngụ trong trú xá của đạo hữu đã chứng, chứng, đã chứng được sơ thiền, vị tỳ khưu ấy có đạt, có trú sơ thiền, sơ thiền đã được chứng ngộ bởi vị tỳ khưu ấy,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói.’</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với bốn yếu tố &#8230; Với năm yếu tố &#8230; Với sáu yếu tố &#8230; Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị tỳ khưu cư ngụ trong trú xá của đạo hữu đã chứng, chứng, đã chứng được sơ thiền, vị tỳ khưu ấy có đạt, có trú sơ thiền, sơ thiền đã được chứng ngộ bởi vị tỳ khưu ấy,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị tỳ khưu cư ngụ trong trú xá của đạo hữu đã chứng &#8230; chứng &#8230; đã chứng được nhị thiền &#8230; tam thiền &#8230; tứ thiền &#8230; vô phiền não giải thoát &#8230; vô tướng giải thoát &#8230; vô nguyện giải thoát &#8230; vô phiền não định &#8230; vô tướng định &#8230; vô nguyện định &#8230; sự chứng đạt về vô phiền não &#8230; sự chứng đạt về vô tướng &#8230; sự chứng đạt về vô nguyện &#8230; ba Minh &#8230; bốn sự thiết lập niệm &#8230; bốn chánh cần &#8230; bốn nền tảng của thần thông &#8230; năm quyền &#8230; năm lực &#8230; bảy giác chi &#8230; Thánh Đạo tám chi phần &#8230; quả Nhập Lưu &#8230; quả Nhất Lai &#8230; quả Bất Lai &#8230; phẩm vị A-la-hán &#8230; Vị tỳ khưu ấy có đạt phẩm vị A-la-hán &#8230; có trú &#8230; phẩm vị A-la-hán đã được chứng ngộ bởi vị tỳ khưu ấy,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị tỳ khưu ấy đã từ bỏ tham ái &#8230; đã từ bỏ sân &#8230; đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố &#8230; Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị tỳ khưu ấy có tâm không bị che lấp bởi tham ái &#8230; có tâm không bị che lấp bởi sân &#8230; có tâm không bị che lấp bởi si,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố &#8230; Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị tỳ khưu cư ngụ trong trú xá của đạo hữu đã chứng &#8230; chứng&#8230; đã chứng được sơ thiền &#8230; nhị thiền &#8230; tam thiền &#8230; tứ thiền ở nơi thanh vắng &#8230; vị tỳ khưu ấy có đạt tứ thiền ở nơi thanh vắng &#8230; có trú &#8230; tứ thiền ở nơi thanh vắng đã được chứng ngộ bởi vị tỳ khưu ấy,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố &#8230; Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị nào đã thọ dụng trú xá của đạo hữu, vị nào đã thọ dụng y của đạo hữu, vị nào đã thọ dụng vật thực của đạo hữu, vị nào đã thọ dụng chỗ trú ngụ của đạo hữu, vị nào đã thọ dụng thuốc men trị bệnh của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy đã chứng &#8230; chứng &#8230; đã chứng được tứ thiền ở nơi thanh vắng, vị tỳ khưu ấy có đạt tứ thiền ở nơi thanh vắng &#8230; có trú &#8230; tứ thiền ở nơi thanh vắng đã được chứng ngộ bởi vị tỳ khưu ấy,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố &#8230; Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “ Trú xá của đạo hữu đã được thọ dụng bởi vị nào, y của đạo hữu đã được thọ dụng bởi vị nào, vật thực của đạo hữu đã được thọ dụng bởi vị nào, chỗ trú ngụ của đạo hữu đã được thọ dụng bởi vị nào, thuốc men trị bệnh của đạo hữu đã được thọ dụng bởi vị nào, vị tỳ khưu ấy đã chứng &#8230; chứng &#8230; đã chứng được tứ thiền ở nơi thanh vắng, vị tỳ khưu ấy có đạt tứ thiền ở nơi thanh vắng &#8230; có trú &#8230; tứ thiền ở nơi thanh vắng đã được chứng ngộ bởi vị tỳ khưu ấy,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với ba yếu tố &#8230; Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị nào đạo hữu đã đi đến và đã dâng y, đã dâng vật thực, đã dâng chỗ trú ngụ, đã dâng thuốc men trị bệnh, vị tỳ khưu ấy đã chứng &#8230; chứng &#8230; đã chứng được tứ thiền ở nơi thanh vắng, vị tỳ khưu ấy có đạt tứ thiền ở nơi thanh vắng &#8230; có trú &#8230; tứ thiền ở nơi thanh vắng đã được chứng ngộ bởi vị tỳ khưu ấy,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya, (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa: Trước đó, vị ấy khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nói điều dối trá,’ trong khi nói (biết rằng): ‘Ta đang nói điều dối trá,’ đã nói xong (biết rằng): ‘Điều dối trá đã được ta nói,’ đã che giấu quan điểm, đã che giấu điều mong mỏi, đã che giấu điều khao khát, đã che giấu ý định.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Dứt mười lăm phần giản lược.</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Dứt phần giảng về các trường hợp liên quan đến vật dụng.</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Dứt phần giản lược về sự luân phiên của các Pháp Thượng Nhân.</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">*****</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vì sự tự tin thái quá, vị không có ý định khoác lác, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">CHUYỆN DẪN GIẢI &#8211; </span><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>KỆ NGÔN TÓM LƯỢC</strong></span></h4>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Do tự tin thái quá, trong rừng, đồ ăn khất thực, thầy tế độ, oai nghi, các sự trói buộc, nơi vắng vẻ, trú xá, các pháp (thượng nhân), được hộ độ.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Không phải là việc khó, tinh tấn, tử thần, sợ hãi, này đại đức, sự ân hận, chơn chánh, với sự tinh tấn, với sự gắn bó, đưa đến sự thành tựu, rồi có hai câu chuyện về cảm thọ.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Bà-la-môn năm chuyện, ba chuyện vị đề cập trí giải thoát, ngụ nhà, các dục đã ngăn chặn, thỏa thích, và ra đi.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Bộ xương và miếng thịt, hai chuyện kẻ giết bò, cục thịt kẻ bẫy chim, không da người hàng thịt, cây gươm kẻ mổ heo, cây lao thợ săn nai, mũi tên người xử án, cây kim kẻ dạy thú.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người đâm thọc bị khâu, mang tinh hoàn quan tòa, chìm hố kẻ ngoại tình, Bà-la-môn quỷ quyệt là kẻ bị ăn phân.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Không da gái lăng loàn, gớm ghiếc bà bói toán, thị héo hon tàn tạ, đổ than hồng tình địch, đầu cụt kẻ trảm tù.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Tỳ khưu, tỳ khưu ni, ni tập sự, sa di, rồi vị sa di ni, đã xuất gia trong Luật của Phật Kassapa chúng đã làm ác nghiệp.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Dòng sông Tapodā, thành Rājagaha, chiến trận (Licchavi), và chuyện rồng lặn hụp, tỳ khưu Sobhita là vị A-la-hán nhớ được năm trăm kiếp.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">*****</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ do sự tự tin thái quá đã nói về trí giải thoát. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định; phải chăng ta đã phạm tộipārājika?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, do sự tự tin thái quá thì vô tội.” (1)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ cư ngụ ở trong rừng sau khi đã mong mỏi rằng: “Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng ta!” Dân chúng đã kính trọng vị ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên cư ngụ ở trong rừng sau khi đã mong mỏi; vị nào cư ngụ thì phạm tội dukkaṭa.” (2)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi khất thực sau khi đã mong mỏi rằng: “Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng ta!” Dân chúng đã kính trọng vị ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên đi khất thực sau khi đã mong mỏi; vị nào đi thì phạm tội dukkaṭa.” (3)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với vị tỳ khưu khác điều này: &#8211; “Này đại đức, tất cả các đệ tử của thầy tế độ của chúng ta đều là các vị A-la-hán.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.” &#8211; “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.”[10] (4)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với vị tỳ khưu khác điều này: &#8211; “Này đại đức, tất cả các học trò của thầy tế độ của chúng ta đều có đại thần lực, có đại oai lực.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.” &#8211; “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (5)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi kinh hành sau khi đã mong mỏi rằng: ―(như trên)― đứng yên sau khi đã mong mỏi rằng: ―(như trên)― ngồi xuống sau khi đã mong mỏi rằng: ―(như trên)― nằm xuống sau khi đã mong mỏi rằng: “Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng ta!” Dân chúng đã kính trọng vị ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên nằm xuống sau khi đã mong mỏi; vị nào nằm xuống thì phạm tội dukkaṭa.” (6-9)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khoác lác về pháp thượng nhân đến vị tỳ khưu khác. Vị ấy cũng đã nói như vầy: &#8211; “Này đại đức, những sự trói buộc của tôi cũng đã được dứt bỏ.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (10)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi đến nơi vắng vẻ rồi khoác lác về pháp thượng nhân. Có vị tỳ khưu biết được tâm người khác đã phản bác vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Này đại đức, chớ có nói như thế. Điều ấy đại đức không có.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tộidukkaṭa.” (11)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi đến nơi vắng vẻ rồi khoác lác về pháp thượng nhân. Có vị Thiên nhân đã phản bác vị tỳ khưu ấy rằng: &#8211; “Thưa ngài, chớ có nói như thế. Điều ấy ngài không có.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (12)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với nam cư sĩ nọ điều này: &#8211; “Này đạo hữu, vị tỳ khưu sống trong trú xá của đạo hữu là vị A-la-hán.” Và vị tỳ khưu ấy sống trong trú xá của người ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.” &#8211; “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.”1 (13)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với nam cư sĩ nọ điều này: &#8211; “Này đạo hữu, vị tỳ khưu mà ngươi hộ độ bằng vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men trị bệnh là vị A-la-hán.” Và người ấy đang hộ độ vị tỳ khưu ấy bằng vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men trị bệnh. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.” “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (14)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này: &#8211; “Đại đức có pháp thượng nhân không?” “Này các đại đức, không phải là việc khó để nói lên trí giải thoát.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Chỉ có những vị Thinh Văn của đức Thế Tôn mới có thể nói như thế. Và ta không phải là Thinh Văn của đức Thế Tôn; phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con không có ý định khoác lác.” “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (15)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này: &#8211; “Đại đức có pháp thượng nhân không?” “Này các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự tinh tấn đã được ra sức.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (16)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này: &#8211; “Này đại đức, chớ có sợ hãi!” &#8211; “Này các đại đức, tôi không sợ hãi thần chết.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (17)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này: &#8211; “Này đại đức, chớ có sợ hãi!” &#8211; “Này các đại đức, có lẽ vị nào có sự ân hận thì vị ấy mới sợ hãi.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (18)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này: &#8211; “Đại đức có pháp thượng nhân không?” “Này các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự hành trì chơn chánh.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (19)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này: &#8211; “Đại đức có pháp thượng nhân không?” “Này các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự tinh tấn đã được ra sức.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.”[11] (20)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này: &#8211; “Đại đức có pháp thượng nhân không?” &#8211; “Này các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự kiên trì gắn bó.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (21)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này: &#8211; “Này đại đức, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không?” &#8211; “Này các đại đức, người nào khác thì không thể chịu đựng nổi.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (22)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này: &#8211; “Này đại đức, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không?” “Này các đại đức, phàm nhân thì không thể chịu đựng nổi.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.” &#8211; “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (23)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có người Bà-la-môn nọ đã thỉnh mời các tỳ khưu và đã nói điều này: &#8211; “Thưa các ngài, xin các vị A-la-hán hãy ngự đến.” Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Chúng ta không phải là các vị A-la-hán và người Bà-la-môn này gọi chúng ta bằng từ A-la-hán. Vậy chúng ta nên xử trí như thế nào đây?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vô tội trong việc xưng hô theo đức tin.” (24)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có người Bà-la-môn nọ đã thỉnh mời các tỳ khưu và đã nói điều này: &#8211; “Thưa các ngài, xin các vị A-la-hán hãy ngồi xuống.” ―(như trên)― “Thưa các ngài, xin các vị A-la-hán hãy thọ thực.” ―(như trên)― “Thưa các ngài, xin các vị A-la-hán hãy được hài lòng.” ―(như trên)― “Thưa các ngài, xin các vị A-la-hán hãy ra đi.” Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Chúng ta không phải là các vị A-la-hán và người Bà-la-môn này lại đối xử với chúng ta bằng danh xưng A-la-hán. Vậy chúng ta nên xử trí như thế nào đây?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vô tội trong việc xưng hô theo đức tin.” (25-28)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khoác lác với vị tỳ khưu khác về pháp thượng nhân. Vị ấy cũng đã nói như vầy: &#8211; “Này đại đức, tôi cũng đã đoạn tận các lậu hoặc.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (29)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khoác lác với vị tỳ khưu khác về pháp thượng nhân. Vị ấy cũng đã nói như vầy: &#8211; “Này đại đức, các pháp này cũng được tìm thấy ở tôi.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (30)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khoác lác với vị tỳ khưu khác về pháp thượng nhân. Vị ấy cũng đã nói như vầy: &#8211; “Này đại đức, tôi cũng thành thục các pháp này.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (31)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, các thân quyến đã nói với vị tỳ khưu nọ điều này: &#8211; “Thưa ngài, hãy đến và ngụ ở gia đình.” &#8211; “Này các đạo hữu, người như tôi không thể ngụ ở gia đình.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (32)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, các thân quyến đã nói với vị tỳ khưu nọ điều này: &#8211; “Thưa ngài, hãy đến và thọ dụng các dục.” &#8211; “Này các đạo hữu, các dục của tôi đã được ngăn chặn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (33)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, các thân quyến đã nói với vị tỳ khưu nọ điều này: &#8211; “Thưa ngài, xin hãy thỏa thích.” &#8211; “Này các đạo hữu, tôi được thỏa thích với sự thỏa thích tối thượng.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Chỉ có những vị Thinh Văn của đức Thế Tôn mới có thể nói như thế. Và ta không phải là Thinh Văn của đức Thế Tôn; phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con không có ý định khoác lác.” “Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.” (34)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa ở trú xứ nọ sau khi thỏa thuận rằng: &#8211; “Vị nào sẽ rời trú xứ này trước tiên, chúng ta sẽ biết vị ấy là ‘vị A-la-hán.’” Có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Hãy để cho các vị biết ta là ‘vị A-la-hán,’” rồi đã rời trú xứ ấy trước tiên. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (35)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, đại đức Lakkhaṇa và đại đức Mahāmoggallāna cư ngụ tại núi Gijjhakūṭa. Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Mahāmoggallāna đã mặc y cầm y bát đi đến gặp đại đức Lakkhaṇa, sau khi đến đã nói với đại đức Lakkhaṇa điều này: &#8211; “Này đại đức Lakkhaṇa, chúng ta hãy đi vào thành Rājagaha để khất thực.” &#8211; “Này đại đức, xin vâng.” Đại đức Lakkhaṇa đã trả lời đại đức Mahāmoggallāna.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sau đó, trong khi đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tại khu vực nọ đại đức Mahāmoggallāna đã mỉm cười. Khi ấy, đại đức Lakkhaṇa đã nói với đại đức Mahāmoggallāna điều này: &#8211; “Này đại đức Mahāmoggallāna, nhân gì duyên gì đưa đến việc mỉm cười vậy?” &#8211; “Này đại đức Lakkhaṇa, không phải là thời điểm của câu hỏi này, hãy hỏi ta câu hỏi này trong sự hiện diện của đức Thế Tôn.”</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sau đó, đại đức Lakkhaṇa và đại đức Mahāmoggallāna đã đi khất thực ở trong thành Rājagaha, sau bữa ăn khi đi khất thực trở về đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Lakkhaṇa đã nói với đại đức Mahā-moggallāna điều này: &#8211; “Ở đây, đại đức Mahāmoggallāna, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, tại khu vực nọ đã mỉm cười. Này đại đức Mahāmoggallāna, nhân gì duyên gì đưa đến việc mỉm cười vậy?” “Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy bộ xương đang đi trong hư không. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng[12] lăn xả lao vào bộ xương ấy, rứt ra các phần ở khoảng giữa các xương sườn; bộ xương ấy đã rên rỉ khổ sở. Này đại đức, ta đây đã khởi ý điều này: ‘Thật là kỳ diệu! Thật là phi thường! Cũng có chúng sanh lại trở thành như thế này! Cũng có Dạ-xoa lại trở thành như thế này! Cũng có ngạ quỷ lại trở thành như thế này! Cũng có sự hình thành bản ngã lại là như thế này!’” Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Đại đức Mahāmoggallāna khoác lác về pháp thượng nhân.”</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, quả thật các Thinh Văn sống với mắt thấy như thật! Này các tỳ khưu, quả thật các Thinh Văn sống với trí biết như thật! Bởi vì là Thinh Văn thì sẽ biết, hoặc sẽ thấy, hoặc sẽ chứng kiến điều như thế. Này các tỳ khưu, trước đây Ta đã thấy chúng sanh ấy, tuy nhiên Ta đã không nói ra. Và nếu Ta nói ra điều ấy thì những kẻ khác có thể không tin Ta, những ai không tin Ta thì việc ấy sẽ đem lại cho chúng sự bất hạnh khổ đau lâu dài. Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ giết trâu bò ở ngay trong thành Rājagaha này. Kẻ ấy, do quả của nghiệp ấy, sau khi đã bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và do quả dư sót của chính nghiệp ấy đã gánh chịu sự hình thành bản ngã có hình thức như thế. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không phạm tội.” (36)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy miếng thịt đang đi trong hư không. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào miếng thịt ấy day nghiến, rứt ra; miếng thịt ấy đã rên rỉ khổ sở. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ giết trâu bò ở ngay trong thành Rājagaha này.” (37)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy cục thịt đang đi trong hư không. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào cục thịt ấy, day nghiến, rứt ra; cục thịt ấy đã rên rỉ khổ sở. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ bẫy chim ở ngay trong thành Rājagaha này.” (38)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người đàn ông không có lớp da (bao bọc)[13] đang đi trong hư không. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào người ấy, day nghiến, rứt ra; người ấy đã rên rỉ khổ sở.” ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người hàng thịt ở ngay trong thành Rājagaha này.” (39)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người có lông là các cây gươm đang đi trong hư không. Những cây gươm ấy lăn xả lao vào người ấy, rơi xuống trên cơ thể của chính người ấy; người ấy đã rên rỉ khổ sở. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người mổ heo ở ngay trong thành Rājagaha này.” (40)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người có lông là các cây lao đang đi trong hư không. Những cây lao ấy lăn xả lao vào người ấy, rơi xuống trên cơ thể của chính người ấy; người ấy đã rên rỉ khổ sở. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người thợ săn nai ở ngay trong thành Rājagaha này.” (41)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người có lông là các mũi tên đang đi trong hư không. Những mũi tên ấy lăn xả lao vào người ấy, rơi xuống trên cơ thể của chính người ấy; người ấy đã rên rỉ khổ sở. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người tra khảo ở ngay trong thành Rājagaha này.” (42)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người có lông là các cây kim đang đi trong hư không. Những cây kim ấy lăn xả lao vào người ấy, rơi xuống trên cơ thể của chính người ấy; người ấy đã rên rỉ khổ sở. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người đánh xe ở ngay trong thành Rājagaha này.” (43)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người có lông là các cây kim đang đi trong hư không. Những cây kim ấy đã đi vào đầu của người ấy rồi đi ra từ miệng, đã đi vào miệng rồi đi ra từ ngực, đã đi vào ngực rồi đi ra từ bụng, đã đi vào bụng rồi đi ra từ hai đùi, đã đi vào hai đùi rồi đi ra từ hai cẳng chân, đã đi vào hai cẳng chân rồi đi ra từ hai bàn chân; người ấy đã rên rỉ khổ sở. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ nói lời đâm thọc ở ngay trong thành Rājagaha này.” (44)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người hình thù quỷ sứ đang đi trong hư không. Trong lúc đi, người ấy đặt hai tinh hoàn ở trên vai rồi đi. Trong khi ngồi xuống, người ấy ngồi xuống trên chính hai tinh hoàn ấy. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào người ấy, day nghiến, rứt ra; người ấy đã rên rỉ khổ sở. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là quan xử án[14] ở ngay trong thành Rājagaha này.” (45)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người bị chìm đến tận đầu ở trong hố phân ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ phạm tội ngoại tình ở ngay trong thành Rājagaha này.” (46)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người bị chìm đến tận đầu ở trong hố phân, đang ăn phân bằng hai bàn tay ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ Bà-la-môn quỷ quyệt ở ngay trong thành Rājagaha này. Trong thời Giáo Pháp của đức Chánh Đẳng Giác Kassapa, kẻ ấy đã thỉnh mời hội chúng tỳ khưu bữa ăn. Sau khi cho người đổ đầy các máng phân và thông báo thời giờ, kẻ ấy đã nói điều này: &#8211; ‘Này các ngài, hãy ăn rồi hãy mang đi theo ý thích.’” (47)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người đàn bà không có lớp da (bao bọc) đang đi trong hư không. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào cô ấy, day nghiến, rứt ra; cô ấy đã rên rỉ khổ sở. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, người đàn bà ấy đã là gái lăng loàn ở ngay trong thành Rājagaha này. (48)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người đàn bà hôi thối gớm ghiếc đang đi trong hư không. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào cô ấy, day nghiến, rứt ra; cô ấy đã rên rỉ khổ sở. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, người đàn bà ấy đã là bà bói toán ở ngay trong thành Rājagaha này.” (49)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy người đàn bà bị thiêu đốt, héo hon, tàn tạ; cô ấy đã rên rỉ khổ sở. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, người đàn bà ấy đã là đệ nhất hoàng hậu của đức vua Kāliṅga. Bà ta lộ vẻ ghen tương đã dùng chậu than cháy đỏ trút lên người tình địch.” (50)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy thi thể không đầu đang đi trong hư không, còn các con mắt và miệng thì ở trên ngực của người ấy. Có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào người ấy, day nghiến, rứt ra; người ấy đã rên rỉ khổ sở. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người xử tử bọn trộm cướp tên Hārika ở ngay trong thành Rājagaha này.” (51)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy vị tỳ khưu đang đi trong hư không, y hai lớp của vị ấy bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, bình bát cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, dây thắt lưng cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, thân hình cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa; vị ấy đã rên rỉ khổ sở. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy đã là vị ác tỳ khưu ở vào thời Giáo Pháp của đức Chánh Đẳng Giác Kassapa.” (52)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“Này đại đức, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đây đã nhìn thấy vị tỳ khưu ni ―(như trên)― đã nhìn thấy vị ni tu tập sự ―(như trên)― đã nhìn thấy vị sa di ―(như trên)― đã nhìn thấy vị sa di ni đang đi trong hư không, y hai lớp[15] của vị ni ấy bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, bình bát cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, dây thắt lưng cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, thân hình cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa; vị ni ấy đã rên rỉ khổ sở. Này đại đức, ta đây đã khởi ý điều này: “Thật là kỳ diệu! Thật là phi thường! Cũng có chúng sanh lại trở thành như thế này! Cũng có Dạ-xoa lại trở thành như thế này! Cũng có ngạ quỷ lại trở thành như thế này! Cũng có sự hình thành bản ngã lại là như thế này!” Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Đại đức Mahāmoggallāna khoác lác về pháp thượng nhân.”</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, quả thật các Thinh Văn sống với mắt thấy như thật! Này các tỳ khưu, quả thật các Thinh Văn sống với trí biết như thật! Bởi vì là Thinh Văn thì sẽ biết, hoặc sẽ thấy, hoặc sẽ chứng kiến điều như thế. Này các tỳ khưu, trước đây Ta đã thấy vị sa di ni ấy, tuy nhiên Ta đã không nói ra. Và nếu Ta nói ra thì những kẻ khác có thể không tin Ta, những ai không tin Ta thì việc ấy sẽ đem lại cho chúng sự bất hạnh khổ đau lâu dài. Này các tỳ khưu, vị sa di ni ấy đã là ác sa di ni ở vào thời Giáo Pháp của đức Chánh Đẳng Giác Kassapa. Vị ni ấy, do quả của nghiệp ấy, đã bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và do quả dư sót của chính nghiệp ấy đã gánh chịu sự hình thành bản ngã có hình thức như thế. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không phạm tội.” (53-56)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các đại đức, dòng sông Tapodā chảy ra từ cái hồ có nước trong, có nước mát, có nước ngọt, có nước thanh khiết, có chỗ nghỉ chân xinh đẹp, đáng thưởng ngoạn, có nhiều cá và rùa, có những đóa hoa sen tròn nở rộ.” Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Mahāmoggallāna lại phát biểu như vầy: ‘Này các đại đức, dòng sông Tapodā chảy ra từ cái hồ có nước trong, có nước mát, có nước ngọt, có nước thanh khiết, có chỗ nghỉ chân xinh đẹp, đáng thưởng ngoạn, có nhiều cá và rùa, có những đóa hoa sen tròn nở rộ?’ Vả lại dòng sông Tapodā này là nóng bỏng và trôi chảy. Đại đức Mahāmoggallāna khoác lác về pháp thượng nhân.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, dòng sông Tapodā chảy ra từ cái hồ có nước trong, có nước mát, có nước ngọt, có nước thanh khiết, có chỗ nghỉ chân xinh đẹp, đáng thưởng ngoạn, có nhiều cá và rùa, có những đóa hoa sen tròn nở rộ. Này các tỳ khưu, tuy nhiên dòng sông Tapodā này đi qua giữa hai đại địa ngục, vì thế dòng sông Tapodā này trở nên nóng bỏng và trôi chảy. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không phạm tội.” (57)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, trong lúc giao chiến với các vị Licchavi, đã bị đánh tan tác. Sau đó, khi đã gom góp lại đội binh hậu bị, đức vua đã đánh bại các vị Licchavi. Và trong trận chiến có sự vui mừng loan truyền rằng: “Các vị Licchavi đã bị đức vua đánh tan tác.” Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các đại đức, đức vua đã bị các vị Licchavi đánh tan tác. Và trong trận chiến có sự vui mừng loan truyền rằng: ‘Các vị Licchavi đã bị đức vua đánh tan tác.’” Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Mahāmoggallāna lại phát biểu như vầy: ‘Này các đại đức, đức vua đã bị các vị Licchavi đánh tan tác. Và trong trận chiến có sự vui mừng loan truyền rằng: Các vị Licchavi đã bị đức vua đánh tan tác’? Đại đức Mahāmoggallāna khoác lác về pháp thượng nhân.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, trước tiên đức vua đã bị các vị Licchavi đánh tan tác. Sau đó, khi đã gom góp lại đội binh hậu bị, đức vua đã đánh bại các vị Licchavi. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không phạm tội.” (58)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Sau đó, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các đại đức, được thể nhập định bất thối, tôi đây ở nơi bờ sông Sappinikā đã nghe tiếng động của các con rồng đang hụp xuống rồi trồi lên và gầm lên tiếng rống.” Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Làm sao đại đức Mahāmoggallāna, được thể nhập định bất thối, lại có thể nghe tiếng động? Đại đức Mahāmoggallāna khoác lác về pháp thượng nhân.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, có loại định này và vị ấy chưa được thuần thục lắm. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna không phạm tội.” (59)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi ấy, đại đức Sobhita đã nói với các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các đại đức, tôi nhớ được năm trăm kiếp.” Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Sobhita lại nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi nhớ được năm trăm kiếp’? Đại đức Sobhita khoác lác về pháp thượng nhân.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, Sobhita đã sống kiếp sống ấy, và kiếp sống ấy chính là một kiếp sống của Sobhita. Này các tỳ khưu, Sobhita đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Sobhita không phạm tội.” (60)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Điều pārājika thứ tư được đầy đủ.</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Bạch chư đại đức, bốn điều pārājika đã được đọc tụng xong. Vị tỳ khưu vi phạm điều nọ hoặc điều kia thuộc về các điều này thì không đạt được sự cộng trú cùng với các vị tỳ khưu,[16] trước đây như thế nào thì sau này là như vậy;[17] (vị ấy) là vị phạm tội pārājika không được cộng trú.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Các đại đức ở đây được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Dứt Điều Học Pārājika.</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY</strong></span></h3>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Bốn điều pārājika là: việc đôi lứa, vật không được cho, mạng người, pháp thượng nhân. Sự việc nên được phân tích, không còn sự nghi vấn.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Dứt Chương Pārājika.</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[1] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Assāso ti bahi nikkhamanavāto. Passāso ti anto pavisanavāto = Hơi thở ra là gió đi ra bên ngoài. Hơi thở vào là gió đi vào bên trong” (VinA. ii, 408). Như thế assasati là thở ra, passasati là thở vào. Nếu hiểu như vậy thì phương pháp Ānāpānassati hay “Niệm hơi thở” nên được trình bày và tu tập theo thứ tự hơi thở ra trước rồi mới đến hơi thở vào.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[2] Trong bốn mệnh đề đầu, động từ được sử dụng là pajānāti (biết rõ) và có liên từ “vā” (hay là, hoặc là) xen vào giữa. Từ mệnh đề thứ năm trở đi, động từ là sikkhati (thực tập, thực hành, học tập).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[3] Theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa, sabbakāya nên được hiểu là phần đầu, phần giữa, và phần cuối của toàn bộ hơi thở ra mỗi khi thở ra, hoặc toàn bộ hơi thở vào mỗi khi thở vào (VinA. ii, 411)</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[4] A, B, C, D được thêm vào cho dễ hiểu dựa theo Chú Giải (VinA. ii, 448-450).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[5] Là việc bị mổ banh bụng ra bởi con dao bén của kẻ giết trâu bò (ND).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[6] Là việc nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia (ND).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[7] Kinh Pháp Cú, câu 307.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[8] Kinh Pháp Cú, câu 308.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[9] Vô phiền não giải thoát (suññato vimokkho) là nội tâm không còn tham sân si, vô tướng giải thoát (animitto vimokkho) là nội tâm không còn các biểu hiện của tham sân si, vô nguyện giải thoát (appaṇihito vimokkho) là không còn trạng thái mong mỏi tham sân si (VinA. ii, 492).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[10] Vị ấy vì chưa đề cập rõ ràng bản thân là A-la-hán (ahan ti avuttatā) nên không phạm tội pārājika(VinA. ii, 503).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[11] Câu chuyện này được lập lại y như câu chuyện (16) ở trên.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[12] Ngài Buddhaghosa giải thích các chim kên kên, chim quạ, chim ưng này là các Dạ-xoa có dạng chim, “yakkhagijjhā yakkhakākā yakkhakulalā” (VinA. ii, 507).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[13] Ngài Buddhaghosa giải thích về người không có lớp da bao bọc là do việc người này đã giết các con dê rồi lột da nên bị quả báu không có lớp da bao bọc (VinA. ii, 509).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[14] Người này tuy là quan xử án nhưng nhận hối lộ ở nơi kín đáo rồi xử án thiên lệch nên bị trả quả phải phơi bày vật kín ra (VinA. ii, 510).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[15] Có thể đây là một lầm lẫn trong lúc gom các đoạn văn trùng lặp lại với nhau vì các vị ni tu tập sự, sa di, sa di ni không có y hai lớp (saṅghāṭi). Chỉ tỳ khưu và tỳ khưu ni mới có y này.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[16] Không đạt được sự cộng trú cùng với các vị tỳ khưu nghĩa là vị ấy không còn được tham dự các lễ Uposatha (lễ Bố Tát), lễ Pavāraṇā (lễ Tự Tứ), việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha, và các loại hành sự của hội chúng (VinA. ii, 516).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">[17] Trước đây như thế nào thì sau này là như vậy (yathā pure tathā pacchā) nghĩa là trước đây còn tại gia chưa tu lên bậc trên sự cách biệt đối với các vị tỳ khưu như thế nào, bây giờ sau khi phạm tội pārājika thì phải theo đúng như thế ấy (VinA. ii, 516).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" rel="nofollow noopener" target="_blank">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA &#8211; ĐIỀU SAṄGHĀDISESA THỨ NHẤT</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-3-sa%e1%b9%85ghadisesa-dieu-sa%e1%b9%85ghadisesa-thu-nhat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:43:02 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58025</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương Saṅghādisesa Điều Saṅghādisesa thứ nhất Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span> </span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương Saṅghādisesa </span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Điều Saṅghādisesa thứ nhất</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Seyyasaka không được thỏa thích[1] thực hành Phạm hạnh. Vì thế, vị ấy trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đại đức Udāyi[2] đã nhìn thấy đại đức Seyyasaka ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân; sau khi nhìn thấy đã nói với đại đức Seyyasaka điều này: &#8211; “Này đại đức Seyyasaka, tại sao ngươi lại ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân? Này đại đức Seyyasaka, chẳng lẽ ngươi không được thỏa thích thực hành Phạm hạnh hay sao?” &#8211; “Này đại đức, đúng vậy.” &#8211; “Này đại đức Seyyasaka, như thế thì ngươi hãy ăn theo như ý thích, hãy ngủ theo như ý thích, hãy tắm theo như ý thích. Sau khi đã ăn theo như ý thích, đã ngủ theo như ý thích, đã tắm theo như ý thích, khi nào sự không thỏa thích sanh khởi ở ngươi, tham ái quấy rối tâm, khi ấy ngươi hãy dùng bàn tay gắng sức làm xuất ra tinh dịch.” &#8211; “Này đại đức, có được phép để làm như thế không?” &#8211; “Này đại đức, được chớ. Ta cũng làm như thế.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Seyyasaka đã ăn theo như ý thích, đã ngủ theo như ý thích, đã tắm theo như ý thích. Sau khi đã ăn theo như ý thích, đã ngủ theo như ý thích, đã tắm theo như ý thích, khi nào sự không thỏa thích sanh khởi, tham ái quấy rối tâm, khi ấy vị ấy đã dùng bàn tay gắng sức làm xuất ra tinh dịch. Rồi một thời gian sau, đại đức Seyyasaka đã trở nên có tướng mạo, căn quyền sung mãn, sắc mặt rạng rỡ, sắc thân an tịnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu thân hữu của đại đức Seyyasaka đã nói với đại đức Seyyasaka điều này: &#8211; “Này đại đức Seyyasaka, trước đây đại đức thì ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Giờ đây, trong lúc này, đại đức đây có tướng mạo, căn quyền sung mãn, sắc mặt rạng rỡ, sắc thân an tịnh. Này đại đức Seyyasaka, đại đức có sử dụng thuốc men gì không?” &#8211; “Này các đại đức, tôi không có sử dụng thuốc men. Tuy nhiên, tôi ăn theo như ý thích, ngủ theo như ý thích, tắm theo như ý thích. Sau khi đã ăn theo như ý thích, đã ngủ theo như ý thích, đã tắm theo như ý thích, khi nào sự không thỏa thích sanh khởi ở tôi, tham ái quấy rối tâm, khi ấy tôi dùng bàn tay gắng sức làm xuất ra tinh dịch.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này đại đức Seyyasaka, có phải đại đức gắng sức làm xuất ra tinh dịch bằng chính bàn tay thọ dụng vật tín thí?” &#8211; “Này các đại đức, đúng vậy.” Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Seyyasaka lại dùng bàn tay gắng sức làm xuất ra tinh dịch vậy?” Sau đó, khi đã khiển trách đại đức Seyyasaka bằng nhiều phương thức, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Seyyasaka rằng: &#8211; “Này Seyyasaka, nghe nói ngươi dùng bàn tay gắng sức làm xuất ra tinh dịch, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời? Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn ràng buộc chứ không phải để đưa đến sự ràng buộc, đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn chấp thủ chứ không phải để đưa đến sự chấp thủ hay sao? Này kẻ rồ dại, thế mà ở đây trong khi Ta thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn tham ái thì ngươi lại nghĩ đến tham ái, thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn ràng buộc thì ngươi lại nghĩ đến sự ràng buộc, thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn chấp thủ thì ngươi lại nghĩ đến sự chấp thủ. Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn tham ái trong các ái, để đưa đến sự không còn đam mê trong các nỗi đam mê, để kềm chế sự khao khát, để trừ diệt sự vướng mắc, để cắt đứt vòng tái sanh, để diệt tận ái, để ly tham, để đưa đến sự tịch diệt, để đưa đến Niết Bàn hay sao? Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã đề cập đến sự từ bỏ các dục, đã đề cập đến sự hiểu rõ về các dục tưởng, đã đề cập đến sự kềm chế các nỗi khao khát về dục, đã đề cập đến sự trừ diệt các dục tầm, đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này kẻ rồ dại, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã khiển trách đại đức Seyyasaka bằng nhiều phương thức về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Việc xuất ra tinh do sự cố ý thì tội saṅghādisesa.</i>”[3]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định lần đầu</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu sau khi thọ thực các loại vật thực hảo hạng có niệm bị xao lãng, không tỉnh giác, rồi rơi vào giấc ngủ. Trong khi các vị ấy có niệm bị xao lãng, không tỉnh giác, rồi rơi vào giấc ngủ, tinh dịch bị xuất ra do chiêm bao. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định rằng: ‘Việc xuất ra tinh do sự cố ý thì tội<i>saṅghādisesa</i>.’ Và tinh dịch của chúng ta đã bị xuất ra do chiêm bao. Và trong trường hợp này có sự cố ý dự phần vào; phải chăng chúng ta đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, sự cố ý ấy là có nhưng nó không đáng kể. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Việc xuất ra tinh dịch có sự cố ý thì tội saṅghādisesa, ngoại trừ chiêm bao.</i>”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định lần hai</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự cố ý</b>: là sự vi phạm trong khi biết, trong khi tự mình nhận biết, sau khi đã suy nghĩ, sau khi đã khẳng định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tinh</b>: có mười loại tinh: màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, màu sữa loãng, màu nước, màu dầu ăn, màu sữa tươi, màu sữa đông, màu bơ lỏng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự xuất ra</b>: sự làm di chuyển khỏi vị trí được gọi là ‘sự xuất ra.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ngoại trừ chiêm bao</b>: trừ ra trường hợp đang nằm mơ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b><i>saṅghādisesa</i></b>: Chỉ có hội chúng–không phải một số vị không phải cá nhân–ban cho hình phạt <i>parivāsa</i> của tội ấy, cho thực hành lại từ đầu, ban cho hình phạt <i>mānatta</i>, cho giải tội; vì thế được gọi là ‘tội <i>saṅghādisesa</i>.’ Là việc định danh, tức là việc đặt tên cho cả nhóm tội giống như tội ấy; vì thế được gọi là ‘tội <i>saṅghādisesa</i>.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Làm xuất ra ở sắc pháp thuộc nội phần, làm xuất ra ở sắc pháp thuộc ngoại phần, làm xuất ra ở sắc pháp thuộc nội phần và ngoại phần, làm xuất ra trong khi lắc hông ở khoảng không, làm xuất ra khi có sự tác động của tham ái, làm xuất ra khi có sự tác động của phân, làm xuất ra khi có sự tác động của nước tiểu, làm xuất ra khi có sự tác động của gió, làm xuất ra khi có sự tác động của sâu bọ, làm xuất ra vì mục đích sức khoẻ, làm xuất ra vì mục đích khoái lạc, làm xuất ra vì mục đích dược phẩm, làm xuất ra vì mục đích bố thí, làm xuất ra vì mục đích phước thiện, làm xuất ra vì mục đích tế lễ, làm xuất ra vì mục đích cõi trời, làm xuất ra vì mục đích nòi giống, làm xuất ra vì mục đích nghiên cứu, làm xuất ra vì mục đích đùa giỡn, làm xuất ra tinh màu xanh, làm xuất ra tinh màu vàng, làm xuất ra tinh màu đỏ, làm xuất ra tinh màu trắng, làm xuất ra tinh màu sữa loãng, làm xuất ra tinh màu nước, làm xuất ra tinh màu dầu ăn, làm xuất ra tinh màu sữa tươi, làm xuất ra tinh màu sữa đông, làm xuất ra tinh màu bơ lỏng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ở sắc pháp thuộc nội phần</b>: là ở sắc pháp có liên quan đến phần ở bên trong.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ở sắc pháp thuộc ngoại phần</b>: là ở sắc pháp có liên quan hoặc không có liên quan đến phần ở bên ngoài.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ở sắc pháp thuộc nội phần và ngoại phần</b>: là ở cả hai nơi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong khi lắc hông ở khoảng không</b>: là dương vật của vị đang ra sức ở khoảng không trở nên thích ứng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi có sự tác động của tham ái</b>: là dương vật của vị bị tham ái quấy rối trở nên thích ứng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi có sự tác động của phân</b>: là dương vật của vị bị phân quấy rối trở nên thích ứng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi có sự tác động của nước tiểu</b>: là dương vật của vị bị nước tiểu quấy rối trở nên thích ứng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi có sự tác động của gió</b>: là dương vật của vị bị gió quấy rối trở nên thích ứng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi có sự tác động của sâu bọ</b>: là dương vật của vị bị sâu bọ cắn trở nên thích ứng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vì mục đích sức khoẻ</b>: là (nghĩ rằng): “Ta sẽ không có bệnh.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vì mục đích khoái lạc</b>: là (nghĩ rằng): “Ta sẽ tạo ra cảm giác khoái lạc.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vì mục đích dược phẩm</b>: là (nghĩ rằng): “Sẽ có được thuốc men.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vì mục đích bố thí</b>: là (nghĩ rằng): “Ta sẽ cho vật thí.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vì mục đích phước thiện</b>: là (nghĩ rằng): “Sẽ có được phước báu.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vì mục đích tế lễ</b>: là (nghĩ rằng): “Ta sẽ cúng hiến vật tế lễ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vì mục đích cõi trời</b>: là (nghĩ rằng): “Ta sẽ đi đến cõi trời.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vì mục đích nòi giống</b>: là (nghĩ rằng): “Sẽ có được nòi giống.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vì mục đích nghiên cứu</b>: là (nghĩ rằng): “Sẽ có được tinh màu xanh, ―(như trên)― sẽ có được tinh màu bơ lỏng.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vì mục đích đùa giỡn</b>: có ý định chơi giỡn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở sắc pháp thuộc nội phần, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở sắc pháp thuộc ngoại phần, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở sắc pháp thuộc nội phần và ngoại phần, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi lắc hông ở khoảng không, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi có sự tác động của tham ái, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Khi có sự tác động của phân, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi có sự tác động của nước tiểu, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi có sự tác động của gió, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi có sự tác động do đã bị sâu bọ cắn, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vì mục đích sức khoẻ, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vì mục đích khoái lạc, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vì mục đích dược phẩm, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vì mục đích bố thí, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vì mục đích phước thiện, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vì mục đích tế lễ, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vì mục đích cõi trời, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vì mục đích nòi giống, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vì mục đích nghiên cứu, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vì mục đích đùa giỡn, vị suy nghĩ đến rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến tinh màu xanh rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến &#8230; tinh màu vàng &#8230; tinh màu đỏ &#8230; tinh màu trắng &#8230; tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu nước &#8230; tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần đơn giản</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích sức khoẻ và mục đích khoái lạc rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến mục đích sức khoẻ và mục đích dược phẩm &#8230; mục đích sức khoẻ và mục đích bố thí &#8230; mục đích sức khoẻ và mục đích phước thiện &#8230; mục đích sức khoẻ và mục đích tế lễ &#8230; mục đích sức khoẻ và mục đích cõi trời &#8230; mục đích sức khoẻ và mục đích nòi giống &#8230; mục đích sức khoẻ và mục đích nghiên cứu &#8230; mục đích sức khoẻ và mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên từng phần của một nhân tố</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích khoái lạc và mục đích dược phẩm rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến mục đích khoái lạc và mục đích bố thí &#8230; mục đích khoái lạc và mục đích phước thiện &#8230; mục đích khoái lạc và mục đích tế lễ &#8230; mục đích khoái lạc và mục đích cõi trời &#8230; mục đích khoái lạc và mục đích nòi giống &#8230; mục đích khoái lạc và mục đích nghiên cứu &#8230; Vị suy nghĩ đến mục đích khoái lạc và mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến mục đích khoái lạc và mục đích sức khoẻ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích dược phẩm và mục đích bố thí &#8230; mục đích dược phẩm và mục đích phước thiện &#8230; mục đích dược phẩm và mục đích tế lễ &#8230; mục đích dược phẩm và mục đích cõi trời &#8230; mục đích dược phẩm và mục đích nòi giống &#8230; mục đích dược phẩm và mục đích nghiên cứu &#8230; mục đích dược phẩm và mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến mục đích dược phẩm và mục đích sức khoẻ &#8230; mục đích dược phẩm và mục đích khoái lạc rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích bố thí và mục đích phước thiện &#8230; mục đích bố thí và mục đích tế lễ &#8230; mục đích bố thí và mục đích cõi trời &#8230; mục đích bố thí và mục đích nòi giống &#8230; mục đích bố thí và mục đích nghiên cứu &#8230; mục đích bố thí và mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến mục đích bố thí và mục đích sức khoẻ &#8230; mục đích bố thí và mục đích khoái lạc &#8230; mục đích bố thí và mục đích dược phẩm rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích phước thiện và mục đích tế lễ &#8230; mục đích phước thiện và mục đích cõi trời &#8230; mục đích phước thiện và mục đích nòi giống &#8230; mục đích phước thiện và mục đích nghiên cứu &#8230; mục đích phước thiện và mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến mục đích phước thiện và mục đích sức khoẻ &#8230; mục đích phước thiện và mục đích khoái lạc &#8230; mục đích phước thiện và mục đích dược phẩm &#8230; mục đích phước thiện và mục đích bố thí rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích tế lễ và mục đích cõi trời &#8230; mục đích tế lễ và mục đích nòi giống &#8230; mục đích tế lễ và mục đích nghiên cứu &#8230; mục đích tế lễ và mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến mục đích tế lễ và mục đích sức khoẻ &#8230; mục đích tế lễ và mục đích khoái lạc &#8230; mục đích tế lễ và mục đích dược phẩm &#8230; mục đích tế lễ và mục đích bố thí &#8230; mục đích tế lễ và mục đích phước thiện rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích cõi trời và mục đích nòi giống &#8230; mục đích cõi trời và mục đích nghiên cứu &#8230; mục đích cõi trời và mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến mục đích cõi trời và mục đích sức khoẻ &#8230; mục đích cõi trời và mục đích khoái lạc &#8230; mục đích cõi trời và mục đích dược phẩm &#8230; mục đích cõi trời và mục đích bố thí &#8230; mục đích cõi trời và mục đích phước thiện &#8230; mục đích cõi trời và mục đích tế lễ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích nòi giống và mục đích nghiên cứu &#8230; mục đích nòi giống và mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến mục đích nòi giống và mục đích sức khoẻ &#8230; mục đích nòi giống và mục đích khoái lạc &#8230; mục đích nòi giống và mục đích dược phẩm &#8230; mục đích nòi giống và mục đích bố thí &#8230; mục đích nòi giống và mục đích phước thiện &#8230; mục đích nòi giống và mục đích tế lễ &#8230; mục đích nòi giống và mục đích cõi trời rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích nghiên cứu và mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến mục đích nghiên cứu và mục đích sức khoẻ &#8230; mục đích nghiên cứu và mục đích khoái lạc &#8230; mục đích nghiên cứu và mục đích dược phẩm &#8230; mục đích nghiên cứu và mục đích bố thí &#8230; mục đích nghiên cứu và mục đích phước thiện &#8230; mục đích nghiên cứu và mục đích tế lễ &#8230; mục đích nghiên cứu và mục đích cõi trời &#8230; mục đích nghiên cứu và mục đích nòi giống rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích đùa giỡn và mục đích sức khoẻ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến mục đích đùa giỡn và mục đích khoái lạc &#8230; mục đích đùa giỡn và mục đích dược phẩm &#8230; mục đích đùa giỡn và mục đích bố thí &#8230; mục đích đùa giỡn và mục đích phước thiện &#8230; mục đích đùa giỡn và mục đích tế lễ &#8230; mục đích đùa giỡn và mục đích cõi trời &#8230; mục đích đùa giỡn và mục đích nòi giống &#8230; mục đích đùa giỡn và mục đích nghiên cứu rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp </b><b>của một nhân tố đã được tóm lược.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần giản lược </b><b>về sự luân phiên của một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, và mục đích dược phẩm rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)― Vị suy nghĩ đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, và mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên từng phần của hai nhân tố. </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, và mục đích bố thí rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)― Vị suy nghĩ đến mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, và mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, và mục đích sức khoẻ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp của hai nhân tố đã được tóm lược.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích nghiên cứu, mục đích đùa giỡn, và mục đích sức khoẻ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)― Vị suy nghĩ đến mục đích nghiên cứu, mục đích đùa giỡn, và mục đích khoái lạc ―(như trên)― mục đích nghiên cứu, mục đích đùa giỡn, và mục đích nòi giống rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần hai nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân tố nên được giải chi tiết y như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<h4><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đây là phần tất cả các nhân tố</b></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, mục đích bố thí, mục đích phước thiện, mục đích tế lễ, mục đích cõi trời, mục đích nòi giống, mục đích nghiên cứu, mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần tất cả các nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần giản lược về sự luân phiên.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến tinh màu xanh và tinh màu vàng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến tinh màu xanh và tinh màu đỏ &#8230; tinh màu xanh và tinh màu trắng &#8230; tinh màu xanh và tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu xanh và tinh màu nước &#8230; tinh màu xanh và tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu xanh và tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu xanh và tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu xanh và tinh màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần của một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến tinh màu vàng và tinh màu đỏ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến tinh màu vàng và tinh màu trắng &#8230; tinh màu vàng và tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu vàng và tinh màu nước &#8230; tinh màu vàng và tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu vàng và tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu vàng và tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu vàng và tinh màu bơ lỏng &#8230; tinh màu vàng và tinh màu xanh rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp của một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến tinh màu đỏ và tinh màu trắng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến tinh màu đỏ và tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu đỏ và tinh màu nước &#8230; tinh màu đỏ và tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu đỏ và tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu đỏ và tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu đỏ và tinh màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến tinh màu đỏ và tinh màu xanh &#8230; tinh màu đỏ và tinh màu vàng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến tinh màu trắng và tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu trắng và tinh màu nước &#8230; tinh màu trắng và tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu trắng và tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu trắng và tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu trắng và tinh màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến tinh màu trắng và tinh màu xanh &#8230; tinh màu trắng và tinh màu vàng &#8230; tinh màu trắng và tinh màu đỏ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến tinh màu sữa loãng và tinh màu nước &#8230; tinh màu sữa loãng và tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu sữa loãng và tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu sữa loãng và tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu sữa loãng và tinh màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến tinh màu sữa loãng và tinh màu xanh &#8230; tinh màu sữa loãng và tinh màu vàng &#8230; tinh màu sữa loãng và tinh màu đỏ &#8230; tinh màu sữa loãng và tinh màu trắng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến tinh màu nước và tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu nước và tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu nước và tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu nước và tinh màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến tinh màu nước và tinh màu xanh &#8230; tinh màu nước và tinh màu vàng &#8230; tinh màu nước và tinh màu đỏ &#8230; tinh màu nước và tinh màu trắng &#8230; tinh màu nước và tinh màu sữa loãng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến tinh màu dầu ăn và tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu dầu ăn và tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu dầu ăn và tinh màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến tinh màu dầu ăn và tinh màu xanh &#8230; tinh màu dầu ăn và tinh màu vàng &#8230; tinh màu dầu ăn và tinh màu đỏ &#8230; tinh màu dầu ăn và tinh màu trắng &#8230; tinh màu dầu ăn và tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu dầu ăn và tinh màu nước rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến tinh màu sữa tươi và tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu sữa tươi và tinh màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến tinh màu sữa tươi và tinh màu xanh &#8230; tinh màu sữa tươi và tinh màu vàng &#8230; tinh màu sữa tươi và tinh màu đỏ &#8230; tinh màu sữa tươi và tinh màu trắng &#8230; tinh màu sữa tươi và tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu sữa tươi và tinh màu nước &#8230; tinh màu sữa tươi và tinh màu dầu ăn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến tinh màu sữa đông và tinh màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến tinh màu sữa đông và tinh màu xanh &#8230; tinh màu sữa đông và tinh màu vàng &#8230; tinh màu sữa đông và tinh màu đỏ &#8230; tinh màu sữa đông và tinh màu trắng &#8230; tinh màu sữa đông và tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu sữa đông và tinh màu nước &#8230; tinh màu sữa đông và tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu sữa đông và tinh màu sữa tươi rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến tinh màu bơ lỏng và tinh màu xanh rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến tinh màu bơ lỏng và tinh màu vàng &#8230; tinh màu bơ lỏng và tinh màu đỏ &#8230; tinh màu bơ lỏng và tinh màu trắng &#8230; tinh màu bơ lỏng và tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu bơ lỏng và tinh màu nước &#8230; tinh màu bơ lỏng và tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu bơ lỏng và tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu bơ lỏng và tinh màu sữa đông rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên kết hợp của một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến tinh màu xanh, tinh màu vàng, và tinh màu đỏ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến tinh màu xanh, tinh màu vàng, và tinh màu trắng ―(như trên)― tinh màu xanh, tinh màu vàng, và tinh màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần của hai nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến tinh màu vàng, tinh màu đỏ, và tinh màu trắng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)― Vị suy nghĩ đến tinh màu vàng, tinh màu đỏ, và tinh màu bơ lỏng ―(như trên)― tinh màu vàng, tinh màu đỏ, và tinh màu xanh rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> <b>Dứt sự luân phiên kết hợp của hai nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến tinh màu sữa đông, tinh màu bơ lỏng, và tinh màu xanh rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)― Vị suy nghĩ đến tinh màu sữa đông, tinh màu bơ lỏng, và tinh màu sữa tươi rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần hai nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân tố nên được giải chi tiết y như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> ĐÂY LÀ PHẦN TẤT CẢ CÁC NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến tinh màu xanh, tinh màu vàng, tinh màu đỏ, tinh màu trắng, tinh màu sữa loãng, tinh màu nước, tinh màu dầu ăn, tinh màu sữa tươi, tinh màu sữa đông, và tinh màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần tất cả các nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích sức khoẻ và tinh màu xanh rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, tinh màu xanh, và tinh màu vàng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, tinh màu xanh, tinh màu vàng, và tinh màu đỏ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)― và tinh màu sữa đông rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự khai triển cả hai nên được tiến hành y như thế. </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, mục đích bố thí, mục đích phước thiện, mục đích tế lễ, mục đích cõi trời, mục đích nòi giống, mục đích nghiên cứu, mục đích đùa giỡn, tinh màu xanh, tinh màu vàng, tinh màu đỏ, tinh màu trắng, tinh màu sữa loãng, tinh màu nước, tinh màu dầu ăn, tinh màu sữa tươi, tinh màu sữa đông, và tinh màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên xen kẽ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu xanh” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu vàng thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu xanh” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu đỏ &#8230; tinh màu trắng &#8230; tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu nước &#8230; tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu bơ lỏng thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu vàng” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu đỏ thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu vàng” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu trắng &#8230; tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu nước &#8230; tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu bơ lỏng &#8230; tinh màu xanh thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố đã được tóm lược. </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu bơ lỏng” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu xanh thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu bơ lỏng” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu vàng &#8230; tinh màu đỏ &#8230; tinh màu trắng &#8230; tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu nước &#8230; tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu sữa đông thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên từ phần giữa.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu vàng” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu xanh thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu đỏ &#8230; tinh màu trắng &#8230; tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu nước &#8230; tinh dầu ăn &#8230; tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu bơ lỏng” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu xanh thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt bước thứ nhất của sự luân phiên nghịch chiều.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu đỏ” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu vàng thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. &#8230; Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu trắng &#8230; tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu nước &#8230; tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu bơ lỏng &#8230; tinh màu xanh” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu vàng thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt bước thứ nhì của sự luân phiên nghịch chiều.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu trắng” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu đỏ thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu nước &#8230; tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu bơ lỏng &#8230; tinh màu xanh &#8230; tinh màu vàng” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu đỏ thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt bước thứ ba của sự luân phiên nghịch chiều.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu sữa loãng” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu trắng thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu nước &#8230; tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu bơ lỏng &#8230; tinh màu xanh &#8230; tinh màu vàng &#8230; tinh màu đỏ” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu trắng thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt bước thứ tư của sự luân phiên nghịch chiều.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu nước” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu sữa loãng thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu bơ lỏng &#8230; tinh màu xanh &#8230; tinh màu vàng &#8230; tinh màu đỏ &#8230; tinh màu trắng” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu sữa loãng thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt bước thứ năm của sự luân phiên nghịch chiều.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu dầu ăn” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu nước thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu bơ lỏng &#8230; tinh màu xanh &#8230; tinh màu vàng &#8230; tinh màu đỏ &#8230; tinh màu trắng &#8230; tinh màu sữa loãng” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu nước thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt bước thứ sáu của sự luân phiên nghịch chiều.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu sữa tươi” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu dầu ăn thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu sữa đông &#8230; tinh màu bơ lỏng &#8230; tinh màu xanh &#8230; tinh màu vàng &#8230; tinh màu đỏ &#8230; tinh màu trắng &#8230; tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu nước” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu dầu ăn thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt bước thứ bảy của sự luân phiên nghịch chiều.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu sữa đông” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu sữa tươi thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu bơ lỏng &#8230; tinh màu xanh &#8230; tinh màu vàng &#8230; tinh màu đỏ &#8230; tinh màu trắng &#8230; tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu nước &#8230; tinh màu dầu ăn” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu sữa tươi thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt bước thứ tám của sự luân phiên nghịch chiều.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu bơ lỏng” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu sữa đông thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu xanh &#8230; tinh màu vàng &#8230; tinh màu đỏ &#8230; tinh màu trắng &#8230; tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu nước &#8230; tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu sữa tươi” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu sữa đông thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt bước thứ chín của sự luân phiên nghịch chiều.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu xanh” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu bơ lỏng thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị suy nghĩ rằng: “Ta sẽ làm xuất ra tinh màu vàng &#8230; tinh màu đỏ &#8230; tinh màu trắng &#8230; tinh màu sữa loãng &#8230; tinh màu nước &#8230; tinh màu dầu ăn &#8230; tinh màu sữa tươi &#8230; tinh màu sữa đông” rồi gắng sức và làm xuất ra tinh màu bơ lỏng thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt bước thứ mười của sự luân phiên nghịch chiều.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên nghịch chiều.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến, gắng sức, bị xuất ra thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến, gắng sức,không bị xuất ra thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến, không gắng sức, bị xuất ra thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị suy nghĩ đến, không gắng sức, không bị xuất ra thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị không suy nghĩ đến, gắng sức, bị xuất ra thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị không suy nghĩ đến, gắng sức, không bị xuất ra thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị không suy nghĩ đến, không gắng sức, bị xuất ra thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị không suy nghĩ đến, không gắng sức, không bị xuất ra thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do chiêm bao, vị không có ý định làm cho xuất ra, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Chuyện Dẫn Giải Kệ Ngôn Tóm Lược </strong></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị ngủ mơ, vị đại tiện, và tiểu tiện, vị suy tư (về dục), và (tắm) bằng nước nóng, thuốc thoa, bị cơn ngứa, đường đi, bao tinh hoàn, nhà tắm hơi, bắp vế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị sa di, và vị đã ngủ, bắp vế, vị dùng nắm tay bóp chặt, ở khoảng trống, gồng cứng cơ thể, vị suy tưởng, lỗ khoá, vị cọ xát bằng thanh gỗ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở dòng nước chảy, đầm nước, đang chạy, đống bông hoa, (rừng) cây hương lạc, cát, bùn, rưới nước, ở chỗ nằm, và dùng ngón tay cái.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> *****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ do trong lúc đang ngủ mơ tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, do trong lúc đang ngủ mơ thì vô tội.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đại tiện tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con không có ý định làm xuất ra.” &#8211; “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc tiểu tiện tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc suy tư tầm cầu về dục tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, trong lúc suy tư tầm cầu về dục thì vô tội.” (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc tắm bằng nước nóng tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con không có ý định làm xuất ra.” &#8211; “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc tắm bằng nước nóng tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc tắm bằng nước nóng tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (7)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị vết thương ở dương vật, trong lúc vị ấy thoa thuốc tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (8)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị vết thương ở dương vật. Vị ấy có ý định làm xuất ra, trong lúc thoa thuốc tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (9-10)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc (gãi) ngứa ở tinh hoàn tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (11)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc (gãi) ngứa ở tinh hoàn tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (12-13)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đi đường tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (14)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc đi đường tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (15-16)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nắm lấy bao tinh hoàn trong lúc tiểu tiện và tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (17)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra đã nắm lấy bao tinh hoàn trong lúc tiểu tiện và tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>thullaccaya</i>.” (18-19)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc hơ nóng vùng bụng ở trong nhà tắm hơi tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (20)   </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc hơ nóng vùng bụng ở trong nhà tắm hơi tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>thullaccaya</i>.” (21-22)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc kỳ cọ phần lưng của thầy tế độ ở trong nhà tắm hơi tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (23)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc kỳ cọ phần lưng của thầy tế độ ở trong nhà tắm hơi tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội<i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (24-25)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc cho người xoa bóp bắp vế tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (26)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc cho người xoa bóp bắp vế tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (27-28)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra đã nói với vị sa di nọ điều này: &#8211; “Này sa di, hãy đến. Ngươi hãy nắm lấy dương vật của ta.” Vị sa di đã nắm lấy dương vật của vị ấy, tinh dịch của vị ấy đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (29)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nắm lấy dương vật của vị sa di đang ngủ, tinh dịch của vị ấy đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (30)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc dùng hai bắp vế ép chặt lấy dương vật tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>thullaccaya</i>.” (31-32)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc dùng nắm tay bóp chặt lấy dương vật tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>thullaccaya</i>.” (33-34)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong khi lắc hông ở khoảng trống tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>thullaccaya</i>.” (35-36)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc gồng cứng cơ thể tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (37)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc gồng cứng cơ thể tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (38-39)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị dục khởi đã suy tưởng về âm vật của người nữ, tinh dịch của vị ấy đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. <i>Và này các tỳ khưu, vị bị dục khởi không nên suy tưởng về âm vật của người nữ; vị nào suy tưởng thì phạm tội dukkaṭa</i>.” (40)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc đưa dương vật vào lỗ khoá tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>thullaccaya</i>.” (41-42)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc dùng thanh gỗ cọ xát vào dương vật tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>thullaccaya</i>.” (43-44)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc tắm ở dòng nước chảy ngược tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (45)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc tắm ở dòng nước chảy ngược và tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>thullaccaya</i>.” (46-47)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đùa nghịch ở đầm nước tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (48)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc đùa nghịch ở đầm nước tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>thullaccaya</i>.” (49-50)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc chạy ở trong nước tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (51)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc chạy ở trong nước tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (52-53)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đùa nghịch trò chơi trượt bùn tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (54)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc đùa nghịch trò chơi trượt bùn tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>thullaccaya</i>.” (55-56)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc chạy trong rừng sen tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (57)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc chạy ở trong rừng sen tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (58-59)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc đưa dương vật vào trong cát tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>thullaccaya</i>.” (60-61)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc đưa dương vật vào trong bùn tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>thullaccaya</i>.” (62-63)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ không có ý định làm xuất ra, trong lúc dùng nước rưới lên dương vật tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.” (64)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc dùng nước rưới lên dương vật tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>thullaccaya</i>.” (65-66)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc cọ xát dương vật ở chỗ nằm tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>thullaccaya</i>.” (67-68)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra, trong lúc dùng ngón tay cái cọ xát vào dương vật tinh dịch đã bị xuất ra. ―(như trên)― tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>?” Vị ấy đã trình lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (69-70)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về việc xuất ra tinh dịch</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> [1] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng tâm vị ấy bị loạn động và đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa ái dục nhưng lại không muốn quay trở về làm người tại gia (VinA. iii, 517).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Đại đức Udāyi là thầy tế độ của đại đức Seyyasaka (VinA. iii, 517).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Ngài Buddhaghosa giải thích về ý nghĩa của từ <i>saṅghādisesa</i> (<i>saṅgha-ādi-sesa</i>) như sau: Hội chúng (<i>saṅgha</i>) là cần thiết từ lúc khởi đầu (<i>ādi</i>) và các phần còn lại (<i>sesa</i>). Khởi đầu là sự ban cho hành phạt <i>parivāsa</i>, các phần kế tiếp là sự ban cho hành phạt <i>mānatta</i> hoặc sự ban cho việc thực hành trở lại từ đầu (<i>mūlāya paṭikassanaṃ</i>), cuối cùng là hành sự giải tội (<i>abbhānakamma</i>), tất cả các việc này đều do hội chúng (<i>saṅgha</i>) thực hiện, cá nhân hoặc nhóm tỳ khưu đều không được (VinA. iii, 522). Xin xem thêm chi tiết ở <i>Cullavagga &#8211; Tiểu Phẩm</i>, TTPV 06, chương II.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng trú xá của đại đức Udāyi không phải ở trong một khu rừng riêng biệt mà ở trong Jetavana, thuộc về khu vực ở một bên, cuối cùng, sát ranh giới (VinA. iii, 532).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Khi (tâm) không ghi nhận (<em>asatiyā = </em>bị thất niệm): Vị ấy bị bận rộn về việc khác nên không biết rằng: ‘Ta chạm vào người nữ.’ Trong lúc không biết như thế, như trong khi co duỗi tay chân, v.v&#8230; vị có sự đụng chạm thì vô tội (VinA. iii, 541).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Trường hợp người nữ có ý muốn nắm lấy bàn chân rồi đảnh lễ thì vị tỳ khưu nên ngăn lại, hoặc hai bàn chân nên được che đậy, hoặc bất động. Vị không lay động, nếu tâm có ưng thuận thì cũng không phạm tội (VinA. iii, 546).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Hai đường khiếu là đường tiêu và đường tiểu. Từ <i>magga</i> theo ý nghĩa thông thường là “đường đi, con đường.” Tuy nhiên, trong văn cảnh này từ dịch được ghi là “khiếu, đường khiếu” như đã được các vị tiền bối sử dụng. Ngoài ra, ở điều <i>pārājika</i> thứ nhất còn có đề cập đến một đường khiếu khác nữa là đường miệng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Cả ba ý nghĩa được ghi lại căn cứ vào Chú Giải (Vin.A. iii, 549).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Trường hợp này vị tỳ khưu bị phạm tội <em>thullaccaya</em> vì đã ám chỉ ‘chỗ kín’ khi sử dụng từ ‘<em>magga</em>’ nhưng người nữ du sĩ hiểu theo nghĩa thông thường là ‘con đường.’ Nếu cô ấy hiểu được ý thô tục thì vị tỳ khưu ấy đã phạm tội <em>saṅghādisesa</em> (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đọc sách ebook: PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA &#8211; ĐIỀU HỌC VỀ XÚC CHẠM THÂN THỂ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-3-sa%e1%b9%85ghadisesa-dieu-hoc-ve-xuc-cham-than-the/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:46:34 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58035</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương Saṅghādisesa Điều học về xúc chạm thân thể Lúc bấy giờ, đức Phật]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> Chương Saṅghādisesa </span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Điều học về xúc chạm thân thể</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi cư ngụ ở trong rừng.[4] Trú xá của đại đức ấy đẹp đẽ, đáng nhìn, xinh xắn, có nội phòng ở giữa, có gian nhà vây tròn ở xung quanh. Giường, ghế, nệm, gối được khéo xếp đặt, nước uống, nước rửa được khéo bố trí, phòng ốc được quét dọn cẩn thận. Nhiều người đi đến có ý muốn nhìn ngắm trú xá của đại đức Udāyi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có người Bà-la-môn nọ cùng người vợ cũng đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này: &#8211; “Chúng tôi muốn nhìn ngắm trú xá của ngài Udāyi.” &#8211; “Này Bà-la-môn, như thế thì ông hãy nhìn ngắm,” rồi đã cầm lấy chìa khóa, tháo chốt, mở cửa, và đi vào trong trú xá. Người Bà-la-môn ấy đã đi vào tiếp theo sau đại đức Udāyi. Rồi người nữ Bà-la-môn ấy đã đi vào tiếp theo sau người Bà-la-môn ấy. Khi ấy, trong khi mở ra một số cửa sổ, trong khi đóng lại một số cửa sổ, đại đức Udāyi đã đi vòng quanh nội phòng rồi đi đến ở phía sau và vuốt ve các phần thân thể của người nữ Bà-la-môn ấy. Sau đó, người Bà-la-môn ấy đã trao đổi lời xã giao thân thiện với đại đức Udāyi rồi ra đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, người Bà-la-môn ấy được hoan hỷ đã thốt ra lời hoan hỷ rằng: &#8211; “Các vị Sa-môn Thích tử này thật là cao quý khi sống ở trong khu rừng như thế này! Ngài đại đức Udāyi thật là cao quý khi sống ở trong khu rừng như thế này!” Khi được nói như thế, người nữ Bà-la-môn ấy đã nói với người Bà-la-môn ấy điều này: &#8211; “Sự cao quý của vị ấy là do đâu? Ông đã vuốt ve các phần thân thể của tôi ra sao thì Sa-môn Udāyi cũng đã vuốt ve các phần thân thể của tôi y như thế.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, người Bà-la-môn ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, giới hạnh xấu xa, nói láo. Chính các vị này làm ra vẻ là có sự thực hành Pháp, có thực hành sự an tịnh, có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Các vị này không có Sa-môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh! Sa-môn hạnh của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị này đã bị hư hỏng! Sa-môn hạnh của các vị này đâu rồi? Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa-môn hạnh của các vị này đã không còn! Phạm hạnh của các vị này đã không còn! Vì sao Sa-môn Udāyi lại vuốt ve các phần thân thể của vợ ta? Không thể để cho các người đàn bà gia đình danh giá, các tiểu thơ gia đình danh giá, các thiếu nữ gia đình danh giá, các cô dâu gia đình danh giá, các nữ tỳ gia đình danh giá đi đến tu viện hoặc trú xá. Nếu các người đàn bà gia đình danh giá, các tiểu thơ gia đình danh giá, các thiếu nữ gia đình danh giá, các cô dâu gia đình danh giá, các nữ tỳ gia đình danh giá đi đến tu viện hoặc trú xá, các Sa-môn Thích tử có thể làm nhục họ nữa!”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được người Bà-la-môn ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Udāyi lại thực hiện việc xúc chạm thân thể với người nữ?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Udāyi rằng: &#8211; “Này Udāyi, nghe nói ngươi thực hiện việc xúc chạm thân thể với người nữ, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại thực hiện việc xúc chạm thân thể với người nữ vậy? Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, ―(như trên)― đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào bị khởi dục, do tâm bị thay đổi, rồi thực hiện việc xúc chạm thân thể với người nữ là sự nắm lấy tay, hoặc sự nắm lấy búi tóc, hoặc sự vuốt ve bất cứ bộ phận nào thì tội saṅghādisesa.</i>”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bị khởi dục</b> nghĩa là có bị nhiễm dục vọng, có sự khao khát, có tâm say đắm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Bị thay đổi</b>: Tâm bị nhiễm dục vọng là (tâm) bị thay đổi, tâm giận hờn là (tâm) bị thay đổi, tâm mê muội là (tâm) bị thay đổi. Tâm bị nhiễm dục vọng là (tâm) ‘bị thay đổi’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ</b> nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ Dạ-xoa, không phải ma nữ, không phải loài thú cái, ngay cả đứa bé gái mới sanh ngày hôm ấy cho đến bà lão.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Với</b>: cùng chung.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thực hiện việc xúc chạm thân thể</b>: được gọi là sự vi phạm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tay</b> nghĩa là tính từ cùi chỏ cho đến các đầu móng tay.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Búi tóc</b> nghĩa là tóc thuần túy, hoặc là (tóc) có trộn lẫn chỉ sợi, hoặc là có trộn lẫn tràng hoa, hoặc là có trộn lẫn bạc, hoặc là có trộn lẫn vàng, hoặc có trộn lẫn ngọc trai, hoặc có trộn lẫn ngọc ma-ni.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bộ phận</b> nghĩa là ngoại trừ tay và búi tóc, phần còn lại gọi là bộ phận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự sờ vào, sự vuốt ve, sự vuốt xuống, sự vuốt lên, sự uốn xuống, sự nâng lên, sự kéo vào, sự đẩy ra, sự giữ lại, sự ôm chặt, sự nắm lấy, sự chạm vào.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự sờ vào</b> nghĩa là việc được cọ xát vào.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự vuốt ve</b> nghĩa là sự vuốt ve từ chỗ này qua chỗ khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự vuốt xuống</b> nghĩa là vuốt xuống phía dưới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự vuốt lên</b> nghĩa là vuốt lên phía trên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự uốn xuống</b> nghĩa là nghiêng về phía dưới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự nâng lên</b> nghĩa là hướng lên phía trên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự kéo vào</b> nghĩa là sự lôi tới.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự đẩy ra</b> nghĩa là sự đưa về lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự giữ lại</b> nghĩa là sự siết chặt lại sau khi nắm lấy bộ phận (thân thể).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự ôm chặt</b> nghĩa là sự siết chặt lại cùng với bất cứ ai.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự nắm lấy</b> nghĩa là việc được nắm lấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự chạm vào</b> nghĩa là việc được đụng vào.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b><i>saṅghādisesa</i></b>: ―(như trên)― cũng vì thế được gọi là ‘<i>tội saṅghādisesa</i>.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, vuốt xuống, vuốt lên, uốn xuống, nâng lên, kéo vào, đẩy ra, giữ lại, ôm chặt, nắm lấy, chạm vào thân thể của người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, có sự hoài nghi và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội<i>thullaccaya</i>. Là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. Là người nữ, (lầm) tưởng là người nam và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. Là người nữ, (lầm) tưởng là loài thú và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người vô căn, nhận biết là người vô căn và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của người vô căn ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người vô căn, có sự hoài nghi và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của người vô căn ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của người vô căn ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người vô căn, (lầm) tưởng là loài thú và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của người vô căn ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người vô căn, (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của người vô căn ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nam, nhận biết là người nam và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của người nam ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>. Là người nam, có sự hoài nghi ―(như trên)― Là người nam, (lầm) tưởng là loài thú ―(như trên)― Là người nam, (lầm) tưởng là người nữ ―(như trên)― Là người nam, (lầm) tưởng là người vô căn và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của người nam ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là loài thú, nhận biết là loài thú và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của loài thú ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Là loài thú, có sự hoài nghi ―(như trên)― Là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ ―(như trên)― Là loài thú, (lầm) tưởng là người vô căn ―(như trên)― Là loài thú, (lầm) tưởng là người nam và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của loài thú ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần một nhân tố</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ có sự hoài nghi và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ (lầm) tưởng là người vô căn ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nam, ―(như trên)― (lầm) tưởng là loài thú và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người vô căn, đối với hai người vô căn nhận biết là người vô căn và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người vô căn ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người vô căn, đối với hai người vô căn có sự hoài nghi ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nam ―(như trên)―(lầm) tưởng là loài thú ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người vô căn ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nam, đối với hai người nam nhận biết là người nam và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người nam ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nam, đối với hai người nam có sự hoài nghi ―(như trên)― (lầm) tưởng là loài thú ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nữ ―(như trên)― (lầm) tưởng là người vô căn và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người nam ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai con thú, đối với hai con thú nhận biết là loài thú và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của hai con thú ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai con thú, đối với hai con thú có sự hoài nghi ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nữ ―(như trên)― (lầm) tưởng là người vô căn ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nam và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của hai con thú ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai có sự hoài nghi và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người vô căn và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nam và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là loài thú và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người nam, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người nam, đối với cả hai có sự hoài nghi ―(như trên)― (lầm) tưởng là người vô căn ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nam ―(như trên)― (lầm) tưởng là loài thú và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và loài thú, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai (người và thú) ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và loài thú, đối với cả hai có sự hoài nghi ―(như trên)― (lầm) tưởng là người vô căn ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nam ―(như trên)― (lầm) tưởng là loài thú và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai (người và thú) ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người vô căn và người nam, đối với cả hai (lầm) tưởng là người vô căn và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người vô căn và người nam, đối với cả hai có sự hoài nghi ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nam ―(như trên)― (lầm) tưởng là loài thú ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người vô căn và loài thú, đối với cả hai (lầm) tưởng là người vô căn và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai (người và thú) ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người vô căn và loài thú, đối với cả hai có sự hoài nghi ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nam ―(như trên)― (lầm) tưởng là loài thú ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai (người và thú) ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam và loài thú, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nam và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai (người và thú) ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam và loài thú, đối với cả hai có sự hoài nghi và bị khởi dục, ―(như trên)― (lầm) tưởng là loài thú, ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nữ, ―(như trên)― (lầm) tưởng là người vô căn và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai (người và thú) ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần hai nhân tố</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của người nữ ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ (ấy) nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người nữ ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>thullaccaya</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>thullaccaya</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của người nữ ấy bằng thân thể (vị ấy) thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ (ấy) nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của hai người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>thullaccaya</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>thullaccaya</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của người nữ ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ (ấy) nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của hai người nữ ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của cả hai người ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào vật ném ra của người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ (ấy) nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào vật ném ra của hai người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào vật ném ra của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội<i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào vật ném ra của người nữ ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ (ấy) nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào vật ném ra của hai người nữ ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào vào vật ném ra của cả hai người ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào vật ném ra của người nữ ấy bằng vật ném ra (của vị ấy) thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ (ấy) nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào vật ném ra của hai người nữ ấy bằng vật ném ra (của vị ấy) thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu sờ vào vật ném ra của cả hai người ấy bằng vật ném ra (của vị ấy) thì phạm hai tội<i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần giản lược về vị tỳ khưu.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, người nữ sờ vào, vuốt ve, vuốt xuống, vuốt lên, uốn xuống, nâng lên, kéo vào, đẩy ra, giữ lại, ôm chặt, nắm lấy, chạm vào thân thể của vị tỳ khưu ấy bằng thân thể (của cô ấy); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân và biết được sự xúc chạm thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, hai người nữ sờ vào, vuốt ve, vuốt xuống, vuốt lên, uốn xuống, nâng lên, kéo vào, đẩy ra, giữ lại, ôm chặt, nắm lấy, chạm vào thân thể của vị tỳ khưu ấy bằng thân thể (của họ); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, cả hai sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của vị tỳ khưu ấy bằng thân thể (của họ); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, người nữ sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của vị tỳ khưu ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của cô ấy); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, hai người nữ sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của vị tỳ khưu ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của họ); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội <i>thullaccaya</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, cả hai sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào thân thể của vị tỳ khưu ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của họ); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>thullaccaya</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, người nữ sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của vị tỳ khưu ấy bằng thân thể (của cô ấy); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, hai người nữ sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của vị tỳ khưu ấy bằng thân thể (của họ); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội <i>thullaccaya</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, cả hai sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của vị tỳ khưu ấy bằng thân thể (của họ); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>thullaccaya</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, người nữ sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của vị tỳ khưu ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của cô ấy); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, hai người nữ sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của vị tỳ khưu ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của họ); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, cả hai sờ vào, vuốt ve, ―(như trên)― nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của vị tỳ khưu ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của họ); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, người nữ sờ vào vật ném ra của vị tỳ khưu ấy bằng thân thể (của cô ấy); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, hai người nữ sờ vào vật ném ra của vị tỳ khưu ấy bằng thân thể (của họ); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, cả hai sờ vào vật ném ra của vị tỳ khưu ấy bằng thân thể (của họ); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, người nữ sờ vào vật ném ra của vị tỳ khưu ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của cô ấy); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, hai người nữ sờ vào vật ném ra của vị tỳ khưu ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của họ); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, cả hai sờ vào vật ném ra của vị tỳ khưu ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của họ); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, người nữ sờ vào vật ném ra của vị tỳ khưu ấy bằng vật ném ra (của cô ấy); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, hai người nữ sờ vào vật ném ra của vị tỳ khưu ấy bằng vật ném ra (của họ); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, cả hai sờ vào vật ném ra của vị tỳ khưu ấy bằng vật ném ra (của họ); (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Vị có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, (nhưng) không biết được sự xúc chạm thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Vị có ý muốn đáp ứng, (nhưng) không ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì vô tội. Vị có ý muốn đáp ứng, (nhưng) không ra sức bằng thân, và không biết được sự xúc chạm thì vô tội. Vị có ý muốn thoát ra, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì vô tội. Vị có ý muốn thoát ra, rồi ra sức bằng thân, (nhưng) không biết được sự xúc chạm thì vô tội. Vị có ý muốn thoát ra, (nhưng) không ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì vô tội. Vị có ý muốn thoát ra, (nhưng) không ra sức bằng thân, và không biết được sự xúc chạm thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị không cố ý, khi (tâm) không ghi nhận,[5] vị không biết, vị không thích thú, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>CHUYỆN DẪN GIẢI &#8211; </strong></span><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">KỆ NGÔN TÓM LƯỢC</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ, người con gái, chị (em) gái, và người vợ, nữ Dạ-xoa, người vô căn, người nữ đang ngủ, đã chết, thú cái, và con búp bê gỗ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi bị áp bức, xe hàng, đường đi, thân cây, chiếc thuyền, và sợi dây, cây gậy, vị dùng bình bát đẩy, khi đảnh lễ, ra sức nhưng chưa đụng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sờ vào người mẹ do lòng thương mến mẹ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― Phải chăng ta đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>dukkaṭa</i>.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sờ vào người con gái ruột do lòng thương mến con gái. ―(như trên)― sờ vào người chị (em) gái do lòng thương mến chị (em) gái. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (2-3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc xúc chạm thân thể với người vợ cũ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc xúc chạm thân thể với nữ Dạ-xoa. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc xúc chạm thân thể với người vô căn. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc xúc chạm thân thể với người nữ đang ngủ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.” (7)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc xúc chạm thân thể với người nữ đã chết. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i>mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (8)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc xúc chạm thân thể với loài thú cái. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (9)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc xúc chạm thân thể với con búp bê gỗ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (10)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có nhiều người đàn bà đã áp bức vị tỳ khưu nọ và tay nắm tay dẫn đi. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi có thích thú không?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, con không thích thú.” &#8211; “Này tỳ khưu, vị không thích thú thì vô tội.” (11)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục nên đã làm lay động chiếc xe hàng có người đàn bà đã leo lên. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (12)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khi nhìn thấy người đàn bà ở lối đi ngược chiều đã bị khởi dục rồi dùng bả vai thúc vào (cô ấy). Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (13)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục nên đã làm lay động thân cây có người đàn bà đã leo lên. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội<i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (14)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục nên đã làm lay động chiếc thuyền có người đàn bà đã leo lên. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội<i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (15)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục và đã lôi sợi dây thừng đang được người đàn bà nắm lấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội<i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (16)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục và đã lôi cây gậy đang được người đàn bà nắm lấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội<i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (17)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục và đã dùng bình bát đẩy người đàn bà. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (18)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong khi người đàn bà đang đảnh lễ[6] bị khởi dục nên đã đưa bàn chân lên. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (19)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Ta sẽ nắm lấy người đàn bà” rồi đã ra sức nhưng chưa chạm đến. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (20)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về việc xúc chạm thân thể.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> [1] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng tâm vị ấy bị loạn động và đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa ái dục nhưng lại không muốn quay trở về làm người tại gia (VinA. iii, 517).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Đại đức Udāyi là thầy tế độ của đại đức Seyyasaka (VinA. iii, 517).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Ngài Buddhaghosa giải thích về ý nghĩa của từ <i>saṅghādisesa</i> (<i>saṅgha-ādi-sesa</i>) như sau: Hội chúng (<i>saṅgha</i>) là cần thiết từ lúc khởi đầu (<i>ādi</i>) và các phần còn lại (<i>sesa</i>). Khởi đầu là sự ban cho hành phạt <i>parivāsa</i>, các phần kế tiếp là sự ban cho hành phạt <i>mānatta</i> hoặc sự ban cho việc thực hành trở lại từ đầu (<i>mūlāya paṭikassanaṃ</i>), cuối cùng là hành sự giải tội (<i>abbhānakamma</i>), tất cả các việc này đều do hội chúng (<i>saṅgha</i>) thực hiện, cá nhân hoặc nhóm tỳ khưu đều không được (VinA. iii, 522). Xin xem thêm chi tiết ở <i>Cullavagga &#8211; Tiểu Phẩm</i>, TTPV 06, chương II.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng trú xá của đại đức Udāyi không phải ở trong một khu rừng riêng biệt mà ở trong Jetavana, thuộc về khu vực ở một bên, cuối cùng, sát ranh giới (VinA. iii, 532).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Khi (tâm) không ghi nhận (<em>asatiyā = </em>bị thất niệm): Vị ấy bị bận rộn về việc khác nên không biết rằng: ‘Ta chạm vào người nữ.’ Trong lúc không biết như thế, như trong khi co duỗi tay chân, v.v&#8230; vị có sự đụng chạm thì vô tội (VinA. iii, 541).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Trường hợp người nữ có ý muốn nắm lấy bàn chân rồi đảnh lễ thì vị tỳ khưu nên ngăn lại, hoặc hai bàn chân nên được che đậy, hoặc bất động. Vị không lay động, nếu tâm có ưng thuận thì cũng không phạm tội (VinA. iii, 546).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Hai đường khiếu là đường tiêu và đường tiểu. Từ <i>magga</i> theo ý nghĩa thông thường là “đường đi, con đường.” Tuy nhiên, trong văn cảnh này từ dịch được ghi là “khiếu, đường khiếu” như đã được các vị tiền bối sử dụng. Ngoài ra, ở điều <i>pārājika</i> thứ nhất còn có đề cập đến một đường khiếu khác nữa là đường miệng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Cả ba ý nghĩa được ghi lại căn cứ vào Chú Giải (Vin.A. iii, 549).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Trường hợp này vị tỳ khưu bị phạm tội <em>thullaccaya</em> vì đã ám chỉ ‘chỗ kín’ khi sử dụng từ ‘<em>magga</em>’ nhưng người nữ du sĩ hiểu theo nghĩa thông thường là ‘con đường.’ Nếu cô ấy hiểu được ý thô tục thì vị tỳ khưu ấy đã phạm tội <em>saṅghādisesa</em> (ND).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA &#8211; ĐIỀU HỌC VỀ LỜI NÓI THÔ TỤC</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-3-sa%e1%b9%85ghadisesa-dieu-hoc-ve-loi-noi-tho-tuc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:50:59 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58063</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương Saṅghādisesa Điều học về lời nói thô tục Lúc bấy giờ, đức Phật]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương Saṅghādisesa</span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Điều học về lời nói thô tục</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi cư ngụ ở trong rừng. Trú xá của đại đức ấy đẹp đẽ, đáng nhìn, xinh xắn. Vào lúc bấy giờ, có nhiều người nữ đã đi đến tu viện với ý định nhìn ngắm trú xá. Khi ấy, những người nữ ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này: &#8211; “Thưa ngài, chúng tôi muốn nhìn ngắm trú xá của ngài.” Khi ấy, đại đức Udāyi sau khi cho những người nữ ấy nhìn ngắm trú xá rồi đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của những người nữ ấy, còn nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, yêu cầu, nài nỉ, hỏi han, chất vấn, chỉ bảo, dạy dỗ, và khinh bỉ nữa. Những người nữ nào thuộc hạng táo tợn, ranh mãnh, trơ trẽn, những người ấy cùng với đại đức Udāyi cười cợt, khoe khoang, cười vang, trêu chọc. Trái lại, những người nữ nào có sự hổ thẹn, những người ấy đi ra bên ngoài và phàn nàn với các tỳ khưu rằng: &#8211; “Thưa các ngài, điều này là không đúng đắn, không thích hợp. Chúng tôi dầu được chồng nói như thế còn không thích, huống hồ là ngài Udāyi!” Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Udāyi lại nói với người nữ bằng những lời thô tục?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Udāyi rằng: &#8211; “Này Udāyi, nghe nói ngươi nói với người nữ bằng những lời thô tục, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại nói với người nữ bằng những lời thô tục? Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, ―(như trên)― đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào bị khởi dục, do tâm bị thay đổi, rồi nói với người nữ bằng những lời thô tục như là việc người trai trẻ nói với cô gái bằng những lời có tính chất đôi lứa thì tội saṅghādisesa.</i>”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bị khởi dục</b> nghĩa là có bị nhiễm dục vọng, có sự khao khát, có tâm say đắm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bị thay đổi</b>: Tâm bị nhiễm dục vọng là (tâm) bị thay đổi, tâm giận hờn là (tâm) bị thay đổi, tâm mê muội là (tâm) bị thay đổi. Tâm bị nhiễm dục vọng là (tâm) ‘bị thay đổi’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ</b> nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ Dạ-xoa, không phải ma nữ, không phải loài thú cái, có trí suy xét, có khả năng nhận biết lời nói tốt và lời nói xấu, là (lời nói) thô tục và không thô tục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Lời nói thô tục</b> nghĩa là là lời nói liên quan đến đường tiêu, đường tiểu, và việc đôi lứa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nói</b>: là sự vi phạm được đề cập đến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Như là việc người trai trẻ nói với cô gái</b>: là trai tơ với gái tơ, thanh niên với thanh nữ, người nam hưởng dục với người nữ hưởng dục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có tính chất đôi lứa</b>: có liên quan đến việc hành dâm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b><i>saṅghādisesa</i></b>: ―(như trên)― cũng vì thế được gọi là ‘tội <i>saṅghādisesa</i>.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, yêu cầu, nài nỉ, hỏi han, chất vấn, chỉ bảo, dạy dỗ, và khinh bỉ có liên hệ đến đến hai đường khiếu.[7]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nói lời ca ngợi</b> nghĩa là tán dương, khen ngợi, ca tụng về hai đường khiếu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nói lời chê bai</b> nghĩa là xỉ vả, khinh khi, chê bai về hai đường khiếu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Yêu cầu</b> nghĩa là (nói rằng): ‘Hãy dâng hiến cho tôi, cô là thích hợp để dâng hiến cho tôi.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nài nỉ</b> nghĩa là (nói rằng): ‘Khi nào mẹ cô sẽ hoan hỷ? Khi nào cha cô sẽ hoan hỷ? Khi nào các Thiên nhân của cô sẽ hoan hỷ? Khi nào là thời khắc tốt, là thời giờ tốt, là thời điểm tốt? Khi nào tôi sẽ đạt được được việc đôi lứa với cô?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hỏi han</b> nghĩa là (nói rằng): ‘Cô dâng hiến cho chồng như thế nào? Cô dâng hiến cho tình nhân như thế nào?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chất vấn</b> nghĩa là (nói rằng): ‘Nghe nói cô dâng hiến cho chồng như vầy, cô dâng hiến cho tình nhân như vầy.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chỉ bảo </b>nghĩa là khi được hỏi thì nói rằng: ‘Hãy dâng hiến như vầy, trong khi dâng hiến như vầy thì sẽ được chồng yêu quý và thương mến.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dạy dỗ</b> nghĩa là khi không được hỏi thì nói rằng: ‘Hãy dâng hiến như vầy, trong khi dâng hiến như vầy thì sẽ được chồng yêu quý và thương mến.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khinh bỉ</b> nghĩa là (nói rằng): ‘Cô không có hiện tướng (người nữ), cô không có đủ hiện tướng (người nữ), cô không có kinh nguyệt, cô bị băng huyết, cô thường xuyên mang vải lót, cô bị rong kinh, cô là người nữ có dị căn, cô là người nữ vô căn, cô là người bị lại đực, cô là người nữ tiêu tiểu chung một khiếu, cô là người nữ lưỡng căn.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, yêu cầu, nài nỉ, hỏi han, chất vấn, chỉ bảo, dạy dỗ, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của người nữ ấy thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người nữ ấy của thì phạm hai tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)―,và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu của người nữ ấy thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu của hai người nữ ấy thì phạm hai tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở lên và từ đầu gối trở xuống của người nữ ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở lên và từ đầu gối trở xuống của hai người nữ ấy thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở lên và từ đầu gối trở xuống của hai người ấy thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến vật gắn liền với thân của người nữ ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến vật gắn liền với thân của hai người nữ ấy thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến vật gắn liền với thân của hai người ấy thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi giảng giải về ý nghĩa của từ ngữ, khi đọc tụng Pháp, khi chỉ dạy Giáo Pháp,[8] vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chuyện dẫn giải kệ ngôn tóm lược</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Màu đỏ, bị sần sùi, bị rối, thô dày, và lông dài, được gieo giống, phải chăng đạo lộ là thông suốt, đức tin, với vật thí, về công việc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len được nhuộm mới. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, của chị là màu đỏ.” Cô ấy đã không hiểu được. &#8211; “Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len được nhuộm mới.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len sần sùi (có lông rậm và ngắn). Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, của chị là sần sùi.” Cô ấy đã không hiểu được. &#8211; “Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len sần sùi.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len vừa mới dệt. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, của chị có lông bị rối.” Cô ấy đã không hiểu được. &#8211; “Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len vừa mới dệt.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len thô dày. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, của chị có lông rậm.” Cô ấy đã không hiểu được. &#8211; “Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len thô dày.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm áo choàng dài. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, của chị có lông dài.” Cô ấy đã không hiểu được. &#8211; “Thưa ngài, đúng vậy. Là tấm áo choàng.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ sau khi cho người gieo giống thửa ruộng rồi đi về. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, của chị đã được gieo giống.” Cô ấy đã không hiểu được. &#8211; “Thưa ngài, đúng vậy. Vẫn còn chưa được lấp kín.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi nhìn thấy người nữ du sĩ ngoại đạo đi ngược chiều, bị khởi dục rồi đã nói với người nữ du sĩ ngoại đạo ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, phải chăng đạo lộ của chị là thông suốt?” Cô ấy đã không hiểu được. &#8211; “Này tỳ khưu, đúng vậy. Rồi ngươi sẽ theo vào.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.”[9] (7)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà nọ điều này: &#8211; “Này em gái, cô có đức tin. Tuy nhiên, cô không dâng cho chúng tôi việc cô đã dâng cho chồng.” &#8211; “Thưa ngài, việc gì vậy?” &#8211; “Việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (8)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà nọ điều này: &#8211; “Này em gái, cô có đức tin. Tuy nhiên, cô không dâng cho chúng tôi vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, việc gì vậy?” &#8211; “Việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (9)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đang làm công việc. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này: &#8211; “Này em gái, cô hãy đứng, tôi sẽ làm.” ―(như trên)― “Này em gái, cô hãy ngồi xuống, tôi sẽ làm.” Cô ấy đã không hiểu được. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>dukkaṭa</i>.” (10-11-12)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về nói lời thô tục</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng tâm vị ấy bị loạn động và đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa ái dục nhưng lại không muốn quay trở về làm người tại gia (VinA. iii, 517).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Đại đức Udāyi là thầy tế độ của đại đức Seyyasaka (VinA. iii, 517).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Ngài Buddhaghosa giải thích về ý nghĩa của từ <i>saṅghādisesa</i> (<i>saṅgha-ādi-sesa</i>) như sau: Hội chúng (<i>saṅgha</i>) là cần thiết từ lúc khởi đầu (<i>ādi</i>) và các phần còn lại (<i>sesa</i>). Khởi đầu là sự ban cho hành phạt <i>parivāsa</i>, các phần kế tiếp là sự ban cho hành phạt <i>mānatta</i> hoặc sự ban cho việc thực hành trở lại từ đầu (<i>mūlāya paṭikassanaṃ</i>), cuối cùng là hành sự giải tội (<i>abbhānakamma</i>), tất cả các việc này đều do hội chúng (<i>saṅgha</i>) thực hiện, cá nhân hoặc nhóm tỳ khưu đều không được (VinA. iii, 522). Xin xem thêm chi tiết ở <i>Cullavagga &#8211; Tiểu Phẩm</i>, TTPV 06, chương II.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng trú xá của đại đức Udāyi không phải ở trong một khu rừng riêng biệt mà ở trong Jetavana, thuộc về khu vực ở một bên, cuối cùng, sát ranh giới (VinA. iii, 532).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Khi (tâm) không ghi nhận (<em>asatiyā = </em>bị thất niệm): Vị ấy bị bận rộn về việc khác nên không biết rằng: ‘Ta chạm vào người nữ.’ Trong lúc không biết như thế, như trong khi co duỗi tay chân, v.v&#8230; vị có sự đụng chạm thì vô tội (VinA. iii, 541).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Trường hợp người nữ có ý muốn nắm lấy bàn chân rồi đảnh lễ thì vị tỳ khưu nên ngăn lại, hoặc hai bàn chân nên được che đậy, hoặc bất động. Vị không lay động, nếu tâm có ưng thuận thì cũng không phạm tội (VinA. iii, 546).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Hai đường khiếu là đường tiêu và đường tiểu. Từ <i>magga</i> theo ý nghĩa thông thường là “đường đi, con đường.” Tuy nhiên, trong văn cảnh này từ dịch được ghi là “khiếu, đường khiếu” như đã được các vị tiền bối sử dụng. Ngoài ra, ở điều <i>pārājika</i> thứ nhất còn có đề cập đến một đường khiếu khác nữa là đường miệng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Cả ba ý nghĩa được ghi lại căn cứ vào Chú Giải (Vin.A. iii, 549).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Trường hợp này vị tỳ khưu bị phạm tội <em>thullaccaya</em> vì đã ám chỉ ‘chỗ kín’ khi sử dụng từ ‘<em>magga</em>’ nhưng người nữ du sĩ hiểu theo nghĩa thông thường là ‘con đường.’ Nếu cô ấy hiểu được ý thô tục thì vị tỳ khưu ấy đã phạm tội <em>saṅghādisesa</em> (ND).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA &#8211; ĐIỀU HỌC VỀ SỰ HẦU HẠ TÌNH DỤC CHO BẢN THÂN</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-3-sa%e1%b9%85ghadisesa-dieu-hoc-ve-su-hau-ha-tinh-duc-cho-ban-than/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:53:48 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58067</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương Saṅghādisesa Điều học về sự hầu hạ tình dục cho bản thân Lúc]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I </span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương Saṅghādisesa </span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Điều học về sự hầu hạ tình dục cho bản thân</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi ở thành Sāvatthī là vị thường tới lui với các gia đình và đi đến nhiều gia đình . Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ là góa chồng, đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái. Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Udāyi đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư gia của người đàn bà ấy, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, người đàn bà ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Udāyi rồi ngồi xuống ở một bên. Đại đức Udāyi đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người đàn bà ấy đang ngồi ở một bên bằng bài Pháp thoại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã được đại đức Udāyi chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, người đàn bà ấy đã nói với đại đức Udāyi điều này: &#8211; “Thưa ngài, xin ngài cứ nói ra nhu cầu. Chúng tôi có khả năng để dâng đến ngài vật dụng tức là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh.” &#8211; “Này em gái, đối với chúng tôi những thứ ấy tức là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh thì đạt được không khó. Vậy hãy dâng cho chúng tôi điều mà chúng tôi khó đạt được.” &#8211; “Thưa ngài, điều gì vậy?” &#8211; “Việc đôi lứa.” &#8211; “Thưa ngài, là điều cần thiết?” &#8211; “Này em gái, là điều cần thiết.” &#8211; “Thưa ngài, hãy đi đến” rồi đã đi vào phòng trong, cởi bỏ y phục, và nằm ngửa ra trên chiếc giường nhỏ. Sau đó, đại đức Udāyi đã đi đến gặp người đàn bà ấy, sau khi đến (đã nói rằng): “Ai mà sờ vào vật hạ tiện hôi thối này?” rồi đã nhổ bãi nước miếng và bỏ đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, người đàn bà ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, giới hạnh xấu xa, nói láo. Chính các vị này làm ra vẻ là có sự thực hành Pháp, có thực hành sự an tịnh, có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Các vị này không có Sa-môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh! Sa-môn hạnh của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị này đã bị hư hỏng! Sa-môn hạnh của các vị này đâu rồi? Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa-môn hạnh của các vị này đã không còn! Phạm hạnh của các vị này đã không còn! Vì sao Sa-môn Udāyi sau khi đích thân cầu xin tôi việc đôi lứa (lại nói rằng): ‘Ai mà sờ vào vật hạ tiện hôi thối này?’ rồi nhổ bãi nước miếng và bỏ đi? Tôi có điều gì xấu? Tôi có mùi hôi gì? Tôi thua kém với ai, vì điều gì?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các người đàn bà khác cũng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, ―(như trên)― Vì sao Sa-môn Udāyi sau khi đích thân cầu xin cô ấy việc đôi lứa (lại nói rằng): ‘Ai mà sờ vào vật hạ tiện hôi thối này?’ rồi nhổ bãi nước miếng và bỏ đi? Cô ấy có điều gì xấu? Cô ấy có mùi hôi gì? Cô ấy thua kém với ai, vì điều gì?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được những người đàn bà ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Udāyi lại ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Udāyi rằng: &#8211; “Này Udāyi, nghe nói ngươi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ vậy? Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, ―(như trên)― đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào bị khởi dục, do tâm bị thay đổi, rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ rằng: </i>‘<i>Này em gái, đây là việc đứng đầu trong các sự hầu hạ là việc người nữ nên hầu hạ đến người có giới, có thiện pháp, có Phạm hạnh như là ta bằng việc ấy</i>’<i> là việc có tính chất đôi lứa, thì tội saṅghādisesa.</i>”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bị khởi dục</b> nghĩa là có bị nhiễm dục vọng, có sự khao khát, có tâm say đắm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bị thay đổi</b>: Tâm bị nhiễm dục vọng là (tâm) bị thay đổi, tâm giận hờn là (tâm) bị thay đổi, tâm mê muội là (tâm) bị thay đổi. Tâm bị nhiễm dục vọng là (tâm) ‘bị thay đổi’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ</b> nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ Dạ-xoa, không phải ma nữ, không phải loài thú cái, có trí suy xét, có khả năng nhận biết lời nói tốt và lời nói xấu, là (lời nói) thô tục và không thô tục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong sự hiện diện của người nữ</b>: xung quanh người nữ, không xa người nữ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tình dục cho bản thân</b>: là tình dục của chính bản thân, có nguyên nhân của bản thân, có ý định cho bản thân, là sự phục vụ cho bản thân.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đây là việc đứng đầu</b>: điều này là tột đỉnh, điều này là hạng nhất, điều này là dẫn đầu, điều này là tối thượng, điều này là quý báu nhất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ</b>: là người nữ dòng vua chúa, hoặc là người nữ Bà-la-môn, hoặc là người nữ thương buôn, hoặc là người nữ nô lệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Như là ta</b>: là người dòng vua chúa, hoặc là Bà-la-môn, hoặc là thương buôn, hoặc là nô lệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Người có giới</b>: người có sự tránh xa việc sát sanh, có sự tránh xa việc trộm cắp, có sự tránh xa việc nói dối.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có Phạm hạnh</b>: có sự tránh xa việc đôi lứa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có thiện pháp</b> nghĩa là với giới ấy và với Phạm hạnh ấy là (người) có thiện pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bằng việc ấy</b>: bằng việc đôi lứa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nên hầu hạ</b>: nên làm cho thích thú.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có tính chất đôi lứa</b>: là có liên quan đến việc hành dâm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b><i>saṅghādisesa</i></b>: ―(như trên)― cũng vì thế được gọi là ‘tội <i>saṅghādisesa</i>.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ ấy thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[Là người nữ, có sự hoài nghi ―(như trên)― (lầm) tưởng là người vô căn ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nam ―(như trên)― (lầm) tưởng là loài thú và bị khởi dục, vị tỳ khưu ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người vô căn, nhận biết là người vô căn và bị khởi dục, vị tỳ khưu ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người vô căn ấy thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người vô căn, có sự hoài nghi ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nam ―(như trên)― (lầm) tưởng là loài thú ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người vô căn ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nam ―(như trên)― Là loài thú, nhận biết là loài thú ―(như trên)― có sự hoài nghi ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nữ ―(như trên)― (lầm) tưởng là người vô căn ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nam và bị khởi dục, vị tỳ khưu ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của loài thú ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>].</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người nữ ấy thì phạm hai tội<i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị nói rằng: “Hãy hộ độ với vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh,” vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chuyện dẫn giải kệ ngôn tóm lược</span></strong></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Làm sao bà hiếm muộn (sanh con)? (Làm sao) tôi đạt được đứa con trai? Được yêu quý? Và có thể may mắn? Tôi nên dâng vật gì? Tôi có thể hộ độ bằng thứ gì? Làm sao tôi có thể đi đến cõi trời?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà không sanh sản nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, làm sao tôi có thể sanh con?” &#8211; “Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?” &#8211; “Là việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà còn sanh sản nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, làm sao tôi có thể đạt được con trai?” &#8211; “Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?” &#8211; “Là việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, làm sao tôi có thể được chồng yêu quý?” &#8211; “Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?” &#8211; “Là việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, làm sao tôi có thể được may mắn?” &#8211; “Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?” &#8211; “Là việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, tôi nên dâng ngài vật gì?” &#8211; “Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?” &#8211; “Là việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, tôi hộ độ ngài bằng vật gì?” &#8211; “Này em gái, bằng vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?” &#8211; “Là việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, làm sao tôi có thể đi đến cõi trời?” &#8211; “Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?” &#8211; “Là việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (7)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về sự hầu hạ tình dục cho bản thân</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> [1] Phỏng dịch theo chú giải (Vin.A. iii, 555). Dịch sát từ là ‘người nữ mang bát nước.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] <i>Bảo hộ</i>: không cho phép đi đến bất cứ nơi đâu. <i>Canh giữ</i>: giữ nàng ở nơi kín đáo, không để các người khác nhìn thấy. <i>Thể hiện sự lãnh đạo</i>: cấm đoán nàng sống ở chỗ theo ý thích. <i>Vận hành sự quản lý</i>: nói rằng: “Hãy làm điều này, chớ có làm điều kia” (VinA. iii, 555).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Sớ Giải (<em>Ṭīkā</em>) giải thích là <em>sasāmikā</em> nghĩa là cô ấy đã có chồng, đã có sở hữu chủ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: <i>Vợ sống chung vì y phục</i>: đề cập đến người đàn bà nghèo trở thành vợ sau khi nhận lấy y phục cho dầu chỉ là tấm áo choàng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] <i>Vợ được cưới theo nghi thức</i>: Sau khi cả hai người nhúng hai tay vào trong một bát nước nói rằng: “Hãy gắn bó như là nước này, đừng có chia lìa” thì nàng được chấp nhận là vợ theo phong tục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] <i>Vợ do nâng đỡ gánh nặng</i>: Nàng là người kiếm củi, v.v&#8230; Sau khi lấy xuống từ đầu của nàng tấm đệm lót để đội vật nặng rồi đem về sống ở trong nhà.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] <i>Vợ hạng nữ tỳ</i>: Nàng được thuê làm việc trong nhà. Người đàn ông không hài lòng với vợ của mình rồi san sẽ cuộc sống gia đình với nàng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] <i>Vợ hạng tù binh</i>: Khi đoàn quân dương cờ đi đến chiếm cứ một khu vực và nàng bị bắt đem lại, một người nào đó nhận nàng làm vợ nên được gọi là <i>dhajāhaṭā</i> (VinA. iii, 555).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Người học trò khi quay trở về không báo cho thầy biết (đứng ở bên ngoài) và đích thân đem lại hồi báo cho người đàn ông. Người thầy bản thân nhận lời và bản thân bảo học trò thông báo nên phạm tội<i>thullaccaya</i> vì hai phần ấy; còn người học trò bản thân thông báo và bản thân đem lại (hồi báo) nên phạm tội <i>thullaccaya</i> vì hai phần ấy (VinA. iii, 559).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[10] Ngài Buddhaghosa giải thích <i>alaṃvacanīyā</i> là <i>pariccattā </i>(bị từ bỏ). Theo như trong một số quốc độ người đàn bà bị mất đi tính chất làm vợ thì gọi là <i>alaṃvacanīyā</i>. Ý nghĩa của các từ được ghi như sau: <i>alaṃ</i>: vừa đủ, xứng đáng; <i>vacanīya</i>: nên được nói, cần phải nói; <i>alaṃvacanīyā</i>: được nói đủ rồi, hết nước nói, không còn gì để nói (VinA. iii, 561).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[11] <i>Maṇikaṇṭha</i> nghĩa là “cổ có ngọc ma-ni.” Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Nghe nói con rồng chúa ấy khi đi có trang điểm ở cổ một viên ngọc ma-ni lớn vĩ đại (có thể) ban cho tất cả các điều mong ước; vì thế được biết đến với tên <i>Maṇikaṇṭha</i>” (VinA. iii, 565).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[12] <i>Sugatavidatthi</i> (gang tay của đức Thiện Thệ): được ngài Buddhaghosa giải thích bằng ba lần gang tay của người bậc trung, với bàn tay của người thợ nề thì bằng một gang rưỡi (VinA. iii, 567). Cũng vậy, HT. Bửu Chơn ghi rằng 1 gang của người bậc trung là 0,25 mét và tính ra diện tích là 9,00 mét x 5,20 mét (<i>Tứ Thanh Tịnh Giới</i>, trang 33, ở phần chú thích). Trong tài liệu <i>Vinayamukha</i>, ngài Mahāsamaṇa Chao đề nghị rằng <i>sugatavidatthi</i>, tức là gang tay của đức Thiện Thệ, nên được tính theo kích thước trung bình là 0,25 mét; như vậy diện tích sẽ là 3,00 mét x 1,75 mét. Vì đây là <i>kuṭi</i> (cốc) nên chúng tôi nghĩ rằng kích thước thứ hai hợp lý hơn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[13] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: Ngoại trừ nhà ở cho mục đích trú ngụ của vị ấy (thì phạm tội). Nếu vị ấy cho xây dựng bảo rằng: “Sẽ là nhà làm lễ <i>Uposatha</i>, nhà tắm hơi, nhà ăn, nhà đốt lửa khác nữa,” trong mọi trường hợp thì vô tội. Tuy nhiên, nếu vị ấy nghĩ rằng: “Sẽ là nhà làm lễ <i>Uposatha</i> và ta sẽ trú ngụ,” hoặc “Sẽ là nhà tắm hơi, nhà ăn, nhà đốt lửa và ta sẽ trú ngụ,” trong khi được cho làm thì vị ấy phạm tội (VinA. iii, 574).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA &#8211; ĐIỀU HỌC VỀ VIỆC MAI MỐI</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-3-sa%e1%b9%85ghadisesa-dieu-hoc-ve-viec-mai-moi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:55:30 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58071</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương Saṅghādisesa Điều học về việc mai mối Lúc bấy giờ, đức Phật Thế]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> Chương Saṅghādisesa </span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Điều học về việc mai mối</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi ở thành Sāvatthī là vị thường tới lui với các gia đình và đi đến nhiều gia đình. Tại nơi nào vị ấy nhìn thấy thanh niên chưa vợ hoặc thanh nữ chưa chồng thì vị ấy nói lời khen ngợi về cô con gái trước mặt cha mẹ của người con trai rằng: &#8211; “Cô con gái của gia đình kia là đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái, có học thức, khôn ngoan, thông minh, giỏi giang, siêng năng. Cô gái ấy thì xứng đôi với người con trai này.” Các người ấy nói như vầy: &#8211; “Thưa ngài, những người này không biết chúng tôi: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Thưa ngài, nếu ngài có thể bảo họ cho cưới thì chúng tôi có thể rước cô con gái ấy về cho người con trai này.” Rồi vị ấy nói lời khen ngợi về cậu con trai trước mặt cha mẹ của người con gái rằng: &#8211; “Cậu con trai của gia đình kia là đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái, có học thức, khôn ngoan, thông minh, giỏi giang, siêng năng. Cậu trai ấy thì xứng đôi với người con gái này.” Các người ấy nói như vầy: &#8211; “Thưa ngài, những người này không biết chúng tôi: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Thật xấu hổ khi rêu rao về con gái! Thưa ngài, nếu ngài có thể bảo họ xin cưới thì chúng tôi có thể gả cô con gái này cho người con trai ấy.” Bằng chính phương thức ấy, vị ấy cho người thực hiện các đoàn đi rước dâu, cho người thực hiện các đoàn đi đưa dâu, và cho người tiến hành các vụ cưới hỏi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ trước đây (chồng) làm nghề thầy bói có cô con gái đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái. Các đệ tử đạo lõa thể ở ngôi làng khác đã đi đến và nói với bà vợ người thầy bói ấy rằng: &#8211; “Thưa bà, hãy gả cô con gái này cho con trai của chúng tôi.” Bà ấy đã nói như vầy: &#8211; “Thưa các ông, quả thật tôi không biết các ông: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Và đây là đứa con gái duy nhất của tôi, không thể đi đến ngôi làng khác. Tôi sẽ không gả.” Dân chúng đã nói với các đệ tử đạo lõa thể ấy điều này: &#8211; “Thưa các ông, vì sao các ông đã đi đến?” &#8211; “Thưa các ông, ở đây chúng tôi đã xin bà vợ người thầy bói kia gả cô con gái cho người con trai của chúng tôi, bà ấy đã nói như vầy: &#8211; “Thưa các ông, quả thật tôi không biết các ông: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Và đây là đứa con gái duy nhất của tôi, không thể đi đến ngôi làng khác. Tôi sẽ không gả.” &#8211; “Thưa các ông, vì sao các ông lại xin bà vợ người thầy bói ấy gả cô con gái? Sao không nói với ngài Udāyi? Ngài Udāyi sẽ bảo người ta gả cho” Khi ấy, các đệ tử đạo lõa thể ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này: &#8211; “Thưa ngài, ở đây chúng tôi đã xin bà vợ người thầy bói kia gả cô con gái cho người con trai của chúng tôi, bà ấy đã nói như vầy: ‘Thưa các ông, quả thật tôi không biết các ông: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Và đây là đứa con gái duy nhất của tôi, không thể đi đến ngôi làng khác. Tôi sẽ không gả.’ Thưa ngài, tốt thay ngài hãy bảo bà vợ người thầy bói ấy gả cô con gái cho người con trai của chúng tôi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Udāyi đã đi đến gặp bà vợ người thầy bói ấy, sau khi đến đã nói với bà vợ người thầy bói ấy điều này: &#8211; “Sao bà lại không gả cô con gái cho những người này?” &#8211; “Thưa ngài, quả thật tôi không biết các người này: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Và đây là đứa con gái duy nhất của tôi, không thể đi đến ngôi làng khác. Tôi sẽ không gả.” &#8211; “Hãy gả cho những người này. Tôi biết những người này.” &#8211; “Thưa ngài, nếu ngài biết thì tôi sẽ gả.” Sau đó, bà vợ người thầy bói ấy đã gả cô con gái cho các đệ tử ngoại đạo ấy. Khi ấy, các đệ tử ngoại đạo ấy đã dẫn cô con gái ấy đi và đã đối xử như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Sau đó, cô con gái ấy đã phái người đưa tin đi đến gặp người mẹ (nhắn rằng): &#8211; “Vì bị đọa đày nên con bị khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử con như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Mẹ của con hãy đến và hãy dẫn con đi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, bà vợ người thầy bói ấy đã đi đến gặp các đệ tử ngoại đạo ấy, sau khi đến đã nói với các đệ tử ngoại đạo ấy điều này: &#8211; “Thưa các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.” Các người ấy đã nói như vầy: &#8211; “Chúng tôi không có cưới hỏi gì với bà; chúng tôi chỉ có cưới hỏi với vị Sa-môn thôi. Bà hãy đi, chúng tôi không biết bà.” Khi ấy, bà vợ người thầy bói ấy bị trách mắng bởi các đệ tử ngoại đạo ấy nên đã quay trở về lại thành Sāvatthī. Đến lần thứ nhì, cô con gái ấy đã phái người đưa tin đi đến gặp người mẹ (nhắn rằng): &#8211; “Vì bị đọa đày nên con bị khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử con như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Mẹ của con hãy đến và hãy dẫn con đi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, bà vợ người thầy bói ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này: &#8211; “Thưa ngài, nghe nói người con gái ấy bị đọa đày, bị khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử cô ấy như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Thưa ngài, ngài nên nói rằng: ‘Này các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.” Sau đó, đại đức Udāyi đã đi đến gặp các đệ tử ngoại đạo ấy, sau khi đến đã nói với các đệ tử ngoại đạo ấy điều này: &#8211; “Này các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.” Các người ấy đã nói như vầy: &#8211; “Chúng tôi không có cưới hỏi gì với ngài; chúng tôi chỉ có cưới hỏi với bà vợ người thầy bói thôi. Vị Sa-môn thì không nên vướng bận công việc. Là Sa-môn thì nên là vị Sa-môn tốt. Ngài hãy đi, chúng tôi không biết ngài.” Khi ấy, đại đức Udāyi bị trách mắng bởi các đệ tử ngoại đạo ấy nên đã quay trở về lại thành Sāvatthī. Đến lần thứ ba, cô con gái ấy đã phái người đưa tin đi đến gặp người mẹ (nhắn rằng): &#8211; “Vì bị đọa đày nên con bị khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử con như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Mẹ của con hãy đến và hãy dẫn con đi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đến lần thứ nhì, bà vợ người thầy bói ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này: &#8211; “Thưa ngài, nghe nói người con gái ấy bị đọa đày, bị khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử cô ấy như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Thưa ngài, ngài nên nói rằng: ‘Này các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.’” &#8211; “Lần trước, tôi đã bị các đệ tử ngoại đạo ấy trách mắng. Bà hãy đi, tôi sẽ không đi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, bà vợ người thầy bói ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Ngài Udāyi hãy bị đọa đày như vầy! Ngài Udāyi hãy bị khổ sở như vầy! Ngài Udāyi chớ được yên ổn như vầy, giống như cô con gái của tôi bị đọa đày, khổ sở, không được yên ổn với bà gia tồi, với ông gia tồi, với người chồng tồi.” Và cô con gái ấy cũng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Ngài Udāyi hãy bị đọa đày như vầy! Ngài Udāyi hãy bị khổ sở như vầy! Ngài Udāyi chớ được yên ổn như vầy, giống như tôi bị đọa đày, khổ sở, không được yên ổn với bà gia tồi, với ông gia tồi, với người chồng tồi.” Những người nữ khác không được thuận thảo với các bà gia, hoặc với các ông gia, hoặc với những người chồng, các cô ấy nguyền rủa như vầy: &#8211; “Ngài Udāyi hãy bị đọa đày như vầy! Ngài Udāyi hãy bị khổ sở như vầy! Ngài Udāyi chớ được yên ổn như vầy, giống như chúng tôi bị đọa đày, khổ sở, không được yên ổn với các bà gia tồi, với các ông gia tồi, với những người chồng tồi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trái lại, những người nữ nào được thuận thảo với các bà gia, hoặc với các ông gia, hoặc với những người chồng, các cô ấy cầu khẩn như vầy: &#8211; “Ngài Udāyi hãy được yên ổn như vầy! Ngài Udāyi hãy được chiều chuộng như vầy! Ngài Udāyi hãy đạt được sự an lạc như vầy, giống như chúng tôi được yên ổn, được chiều chuộng, và đạt được sự an lạc với các bà gia tốt, với các ông gia tốt, với những người chồng tốt.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được một số người đàn bà thì đang nguyền rủa, một số người đàn bà thì đang cầu khẩn. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Udāyi lại tiến hành việc mai mối?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Udāyi rằng: &#8211; “Này Udāyi, nghe nói ngươi tiến hành việc mai mối, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại tiến hành việc mai mối vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào tiến hành việc mai mối ý định của người nam đến người nữ, hoặc ý định của người nữ đến người nam về việc trở thành vợ chồng, hoặc về việc trở thành nhân tình, thì tội saṅghādisesa.</i>”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định căn bản</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có nhiều kẻ vô lại trong khi dạo chơi ở vườn hoa đã phái người đưa tin đi đến gặp cô kỷ nữ nọ (nói rằng): &#8211; “Hãy đến, chúng ta sẽ dạo chơi ở vườn hoa.” Cô ấy đã nói như vầy: &#8211; “Thưa các ông, quả thật tôi không biết các ông: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Vả lại, tôi có nhiều đồ đạc, có nhiều vật dụng, và tôi sẽ không đi ngoại thành cho dù là nên đi.” Sau đó, người đưa tin ấy đã kể lại sự việc ấy cho những kẻ vô lại ấy. Khi được nói như thế, có người đàn ông nọ đã nói với những kẻ vô lại ấy điều này: &#8211; “Này các ông, tại sao các ông lại nài nỉ cô kỷ nữ ấy? Sao không nói với ngài Udāyi? Ngài Udāyi sẽ tác hợp cho.” Khi được nói như thế, có nam cư sĩ nọ đã nói với người đàn ông ấy điều này: &#8211; “Thưa ông, chớ có nói như thế. Các Sa-môn Thích tử không được phép để làm việc như thế. Ngài Udāyi sẽ không làm như vậy. Khi được nói như thế, họ đã đánh cá với nhau rằng: “Sẽ làm! Sẽ không làm!” Sau đó, những kẻ vô lại ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này: &#8211; “Thưa ngài, ở đây chúng tôi trong khi dạo chơi ở vườn hoa đã phái người đưa tin đi đến gặp cô kỷ nữ kia (nói rằng): ‘Hãy đến, chúng ta sẽ dạo chơi ở vườn hoa.’ Cô ấy đã nói như vầy: ‘Thưa các ông, quả thật tôi không biết các ông: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Vả lại, tôi có nhiều đồ đạc, có nhiều vật dụng, và tôi sẽ không đi ngoại thành cho dù là nên đi.’ Thưa ngài, tốt thay xin ngài hãy tác hợp cô kỷ nữ ấy cho.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Udāyi đã đi đến gặp cô kỷ nữ ấy, sau khi đến đã nói với cô kỷ nữ ấy điều này: &#8211; “Sao cô không đi cho những người này?” &#8211; “Thưa ngài, quả thật tôi không biết những người này: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Vả lại, tôi có nhiều đồ đạc, có nhiều vật dụng, và tôi sẽ không đi ngoại thành cho dù là nên đi.” &#8211; “Cô hãy đi cho họ. Tôi biết họ.” &#8211; “Thưa ngài, nếu ngài biết thì tôi sẽ đi.” Sau đó, những kẻ vô lại ấy đã dắt cô kỷ nữ ấy đi đến vườn hoa. Khi ấy, vị nam cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao ngài Udāyi lại tiến hành việc mai mối cho cuộc tình phút chốc?” Các tỳ khưu đã nghe được nam cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Udāyi lại tiến hành việc mai mối cho cuộc tình phút chốc?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Udāyi rằng: &#8211; “Này Udāyi, nghe nói ngươi tiến hành việc mai mối cho cuộc tình phút chốc, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại tiến hành việc mai mối cho cuộc tình phút chốc vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào tiến hành việc mai mối hoặc là ý định của người nam đến người nữ, hoặc là ý định của người nữ đến người nam trong việc trở thành vợ chồng, hoặc trong việc trở thành nhân tình, thậm chí chỉ là cuộc tình phút chốc thì phạm tội saṅghādisesa.</i>”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Quy định lần hai</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tiến hành việc mai mối</b>: Hoặc là đi đến gặp người nam do người nữ phái đi, hoặc là đi đến gặp người nữ do người nam phái đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc là ý định của người nam đến người nữ</b>: Hoặc là thông báo ý định của người nam đến người nữ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc là ý định của người nữ đến người nam</b>: Hoặc là thông báo ý định của người nữ đến người nam.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc trong việc trở thành vợ chồng</b>: Cô sẽ trở thành người vợ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc trong việc trở thành nhân tình</b>: Cô sẽ trở thành nhân tình.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Cho dầu chỉ là cuộc tình phút chốc</b>: Cô sẽ là người vợ trong giây lát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b><i>saṅghādisesa</i></b>: ―(như trên)― cũng vì thế được gọi là ‘tội<i> saṅghādisesa</i>.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có mười hạng người nữ: người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, người nữ được mẹ cha bảo hộ, người nữ được anh (em) trai bảo hộ, người nữ được chị (em) gái bảo hộ, người nữ được thân quyến bảo hộ, người nữ được dòng họ bảo hộ, người nữ được luân lý bảo hộ, người nữ có sự gìn giữ, người nữ bị quy định hình phạt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có mười hạng vợ: vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức,[1] vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, vợ trong giây lát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ được mẹ bảo hộ</b> nghĩa là có mẹ bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.[2]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ được cha bảo hộ</b> nghĩa là có cha bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ được mẹ cha bảo hộ</b> nghĩa là có mẹ cha bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ được anh (em) trai bảo hộ</b> nghĩa là có anh (em) trai bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ được chị (em) gái bảo hộ</b> nghĩa là có chị (em) gái bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ được thân quyến bảo hộ</b> nghĩa là có thân quyến bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ được dòng họ bảo hộ</b> nghĩa là có dòng họ bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Người nữ được luân lý bảo hộ</b> nghĩa là có các đồng đạo bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ có sự gìn giữ</b> nghĩa là được giữ lại ngay ở trong phòng: ‘Cô ấy là của ta;’ thậm chí còn được đặt quanh bằng các bó hoa.[3]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ bị quy định hình phạt </b>nghĩa là có những người nào đó quy định hình phạt rằng: ‘Ai đến với người đàn bà tên như vầy phải chịu phạt tới mức này.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ được mua bằng của cải</b> nghĩa là sau khi mua bằng của cải, (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ sống chung do tự nguyện</b> nghĩa là người yêu giữ người yêu sống chung.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ sống chung vì tài vật</b> nghĩa là sau khi biếu xén tài vật, (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ sống chung vì y phục</b> nghĩa là sau khi biếu xén y phục, (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).[4]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ được cưới theo nghi thức</b> nghĩa là sau khi chạm vào bát nước, (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).[5]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ do nâng đỡ gánh nặng</b> nghĩa là sau khi lấy xuống tấm đệm lót ở đầu (để mang vác), (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).[6]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ hạng nữ tỳ</b> nghĩa là vừa là nữ tỳ vừa là vợ.[7]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ hạng nhân công</b> nghĩa là vừa là nhân công vừa là vợ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ hạng tù binh</b> nghĩa là (nàng) được đem lại như tù binh.[8]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ trong giây lát</b> nghĩa là đề cập đến cuộc tình phút chốc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Nghe nói cô hãy là vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ &#8230; nói với người nữ được mẹ cha bảo hộ &#8230; nói với người nữ được anh (em) trai bảo hộ &#8230; nói với người nữ được chị (em) gái bảo hộ &#8230; nói với người nữ được thân quyến bảo hộ &#8230; nói với người nữ được dòng họ bảo hộ &#8230; nói với người nữ được luân lý bảo hộ &#8230; nói với người nữ có sự gìn giữ &#8230; nói với người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Nghe nói cô hãy là vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ ―(như trên)― người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ &#8230; người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ &#8230; người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ &#8230; người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ &#8230; người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ &#8230; người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ &#8230; người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ &#8230; người nữ được cha bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ &#8230; người nữ được cha bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ &#8230; người nữ được cha bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ &#8230; người nữ được cha bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ &#8230; người nữ được cha bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ &#8230; người nữ được cha bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ và người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp. </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố đã được tóm lược</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i></i> Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được cha bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được mẹ cha bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được anh (em) trai bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được chị (em) gái bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được thân quyến bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được dòng họ bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được luân lý bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ có sự gìn giữ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần liên quan đến hai nhân tố, phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân tố nên được thực hiện y như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>ĐÂY LÀ PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, người nữ được mẹ cha bảo hộ, người nữ được anh (em) trai bảo hộ, người nữ được chị (em) gái bảo hộ, người nữ được thân quyến bảo hộ, người nữ được dòng họ bảo hộ, người nữ được luân lý bảo hộ, người nữ có sự gìn giữ, và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên của ‘Vợ được mua bằng của cải.’</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ hạng nhân công &#8230; vợ hạng tù binh &#8230; vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ &#8230; người nữ được mẹ cha bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được anh (em) trai bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được chị (em) gái bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được thân quyến bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được dòng họ bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được luân lý bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ có sự gìn giữ nói rằng &#8230; người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ ―(như trên)― người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ &#8230; người nữ được cha bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ và người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố đã được tóm lược.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được cha bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ có sự gìn giữ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần liên quan đến hai nhân tố, phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân tố nên được thực hiện y như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>ĐÂY LÀ PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, người nữ được mẹ cha bảo hộ, người nữ được anh (em) trai bảo hộ, người nữ được chị (em) gái bảo hộ, người nữ được thân quyến bảo hộ, người nữ được dòng họ bảo hộ, người nữ được luân lý bảo hộ, người nữ có sự gìn giữ, và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên của ‘Hạng vợ trong giây lát.’</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ hạng nhân công &#8230; vợ hạng tù binh &#8230; vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung do tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ hạng nhân công &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ hạng tù binh &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ sống chung do tự nguyện và vợ sống chung vì tài vật ―(như trên)― vợ sống chung do tự nguyện và vợ trong giây lát ―(như trên)― vợ sống chung do tự nguyện và vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố đã được tóm lược.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">28 Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là vợ trong giây lát và vợ được mua bằng của cải ―(như trên)― vợ trong giây lát và vợ sống chung do tự nguyện ―(như trên)― vợ trong giây lát và vợ hạng tù binh của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần hai nhân tố cho đến phần chín nhân tố nên được thực hiện như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức, vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên của “Người nữ được mẹ bảo hộ.”</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ &#8230; người nữ được mẹ cha bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được anh (em) trai bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được chị (em) gái bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được thân quyến bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được dòng họ bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được luân lý bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ có sự gìn giữ nói rằng &#8230; người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ hạng nhân công &#8230; vợ hạng tù binh &#8230; vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung do tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ sống chung do tự nguyện và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ trong giây lát &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố được tóm tắt.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là vợ trong giây lát và vợ được mua bằng của cải &#8230; vợ trong giây lát và vợ hạng tù binh của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần hai nhân tố cho đến phần chín nhân tố nên được thực hiện y như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>ĐÂY LÀ PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức, vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên của “Người nữ bị quy định hình phạt.”</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung do tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, và người nữ được mẹ cha bảo hộ tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, và vợ sống chung vì tài vật của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự triển khai cả hai phần nên được thực hiện như thế.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, người nữ được mẹ cha bảo hộ, người nữ được anh (em) trai bảo hộ, người nữ được chị (em) gái bảo hộ, người nữ được thân quyến bảo hộ, người nữ được dòng họ bảo hộ, người nữ được luân lý bảo hộ, người nữ có sự gìn giữ, và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức, vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự triển khai cả hai phần. </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)― Cha của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)― Mẹ cha của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)― Anh (em) trai của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)― Chị (em) gái của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)― Thân quyến của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)― Dòng họ của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)― Các đồng đạo của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự giản lược về người nam nên được giải chi tiết.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần triển khai cả hai của hai nhân tố nên được giải chi tiết</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">giống như cách thức về người nam.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ hạng nhân công &#8230; vợ hạng tù binh &#8230; vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ sống chung do tự nguyện và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ trong giây lát &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố đã được tóm lược.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là vợ trong giây lát và vợ được mua bằng của cải &#8230; vợ trong giây lát và vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ trong giây lát và vợ hạng tù binh của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần hai nhân tố cho đến chín nhân tố nên được thực hiện như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> ĐÂY LÀ PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức, vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên của “Người mẹ.”</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người cha của người nữ được cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Mẹ cha của người nữ được mẹ cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Anh (em) trai của người nữ được anh (em) trai bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Chị (em) gái của người nữ được chị (em) gái bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Thân quyến của người nữ được thân quyến bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Dòng họ của người nữ được dòng họ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Các đồng đạo của người nữ được luân lý bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Sở hữu chủ của người nữ có sự gìn giữ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ hạng nhân công &#8230; vợ hạng tù binh &#8230; vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ sống chung do tự nguyện và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ trong giây lát &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố đã được tóm lược.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là vợ trong giây lát và vợ được mua bằng của cải &#8230; vợ trong giây lát và vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ trong giây lát và vợ hạng tù binh của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần hai nhân tố, ba nhân tố cho đến chín nhân tố</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">nên được thực hiện y như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>ĐÂY LÀ PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức, vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên của “Người nữ bị quy định hình phạt.”</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ hạng nhân công &#8230; vợ hạng tù binh &#8230; vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung do tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ sống chung do tự nguyện và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ trong giây lát &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố được tóm tắt.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là vợ trong giây lát và vợ được mua bằng của cải &#8230; vợ trong giây lát và vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ trong giây lát và vợ hạng tù binh của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các phần hai nhân tố, v.v&#8230; nên được thực hiện y như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>ĐÂY LÀ PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức, vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt</b> <b>sự luân phiên thứ nhì của ‘Người nữ được mẹ bảo hộ.’</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ được cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ được mẹ cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ được anh (em) trai bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ được chị (em) gái bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ được thân quyến bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ được dòng họ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ được luân lý bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ có sự gìn giữ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải &#8230; vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ hạng nhân công &#8230; vợ hạng tù binh &#8230; vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung do tự nguyện ―(như trên)― vợ được mua bằng của cải và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ sống chung do tự nguyện và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ trong giây lát &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố đã được tóm lược.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là vợ trong giây lát và vợ được mua bằng của cải &#8230; vợ trong giây lát và vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ trong giây lát và vợ hạng tù binh của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các phần hai nhân tố. v.v&#8230; nên được thực hiện y như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>ĐÂY LÀ PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức, vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên của “Người nữ bị quy định hình phạt.”</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tất cả các phần giản lược theo sự luân phiên.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận lời, thông báo, không hồi báo thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận lời, không thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận lời, không thông báo, không hồi báo thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nhận lời, thông báo, không hồi báo thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nhận lời, không thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nhận lời, không thông báo, không hồi báo thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, tất cả thông báo, tất cả hồi báo thì tất cả phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, tất cả thông báo, rồi bảo một vị hồi báo thì tất cả phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, rồi bảo một vị thông báo, tất cả hồi báo thì tất cả phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, sau khi bảo một vị thông báo, rồi bảo một vị hồi báo thì tất cả phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị nhận lời, thông báo, bảo người học trò hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị nhận lời, bảo người học trò thông báo, đích thân hồi báo thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị nhận lời, bảo người học trò thông báo, người học trò sau khi thông báo (trở về) đứng ở bên ngoài rồi (đi) hồi báo thì cả hai phạm tội <i>thullaccaya</i>.[9]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi đi làm hoàn tất, khi trở về làm trái lời dặn thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. Khi đi làm trái lời dặn, khi trở về làm hoàn tất thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. Khi đi làm hoàn tất, khi trở về làm hoàn tất thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Khi đi làm trái lời dặn, khi trở về làm trái lời dặn thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị đi vì công việc cần thiết của hội chúng hoặc của bảo tháp hoặc của người bệnh, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chuyện dẫn giải kệ ngôn tóm lược </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ đã ngủ, đã chết, và đã đi khỏi, không phải người nữ, người nữ vô căn, sau khi gây gỗ, vị đã khuyên giải, và việc mai mối cho người vô căn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> *****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bảo vị tỳ khưu nọ rằng: “Thưa ngài, hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị ấy đã đi và đã hỏi mọi người rằng: &#8211; “Cô gái tên như vầy ở đâu?” &#8211; “Thưa ngài, cô ta đã ngủ.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bảo vị tỳ khưu nọ rằng: “Thưa ngài, hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị ấy đã đi và đã hỏi mọi người rằng: &#8211; “Cô gái tên như vầy ở đâu?” &#8211; “Thưa ngài, cô ta đã chết.” ―(như trên)― “Thưa ngài, cô ta đã đi khỏi.” ―(như trên)― “Thưa ngài, cô ta không phải là người nữ.” ―(như trên)― “Thưa ngài, cô ta là người nữ vô căn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (2-5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ sau khi gây gỗ với chồng đã đi về nhà mẹ. Có vị tỳ khưu nọ thường tới lui với các gia đình đã làm công việc hòa giải. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, có phải cô ta đã bị chồng bỏ?”[10] &#8211; “Bạch Thế Tôn, cô ta không bị chồng bỏ.” &#8211; “Này tỳ khưu, trường hợp không bị chồng bỏ thì vô tội.” (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã tiến hành việc mai mối cho người vô căn. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (7)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về việc mai mối.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> [1] Phỏng dịch theo chú giải (Vin.A. iii, 555). Dịch sát từ là ‘người nữ mang bát nước.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] <i>Bảo hộ</i>: không cho phép đi đến bất cứ nơi đâu. <i>Canh giữ</i>: giữ nàng ở nơi kín đáo, không để các người khác nhìn thấy. <i>Thể hiện sự lãnh đạo</i>: cấm đoán nàng sống ở chỗ theo ý thích. <i>Vận hành sự quản lý</i>: nói rằng: “Hãy làm điều này, chớ có làm điều kia” (VinA. iii, 555).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Sớ Giải (<em>Ṭīkā</em>) giải thích là <em>sasāmikā</em> nghĩa là cô ấy đã có chồng, đã có sở hữu chủ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: <i>Vợ sống chung vì y phục</i>: đề cập đến người đàn bà nghèo trở thành vợ sau khi nhận lấy y phục cho dầu chỉ là tấm áo choàng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] <i>Vợ được cưới theo nghi thức</i>: Sau khi cả hai người nhúng hai tay vào trong một bát nước nói rằng: “Hãy gắn bó như là nước này, đừng có chia lìa” thì nàng được chấp nhận là vợ theo phong tục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] <i>Vợ do nâng đỡ gánh nặng</i>: Nàng là người kiếm củi, v.v&#8230; Sau khi lấy xuống từ đầu của nàng tấm đệm lót để đội vật nặng rồi đem về sống ở trong nhà.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] <i>Vợ hạng nữ tỳ</i>: Nàng được thuê làm việc trong nhà. Người đàn ông không hài lòng với vợ của mình rồi san sẽ cuộc sống gia đình với nàng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] <i>Vợ hạng tù binh</i>: Khi đoàn quân dương cờ đi đến chiếm cứ một khu vực và nàng bị bắt đem lại, một người nào đó nhận nàng làm vợ nên được gọi là <i>dhajāhaṭā</i> (VinA. iii, 555).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Người học trò khi quay trở về không báo cho thầy biết (đứng ở bên ngoài) và đích thân đem lại hồi báo cho người đàn ông. Người thầy bản thân nhận lời và bản thân bảo học trò thông báo nên phạm tội<i>thullaccaya</i> vì hai phần ấy; còn người học trò bản thân thông báo và bản thân đem lại (hồi báo) nên phạm tội <i>thullaccaya</i> vì hai phần ấy (VinA. iii, 559).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[10] Ngài Buddhaghosa giải thích <i>alaṃvacanīyā</i> là <i>pariccattā </i>(bị từ bỏ). Theo như trong một số quốc độ người đàn bà bị mất đi tính chất làm vợ thì gọi là <i>alaṃvacanīyā</i>. Ý nghĩa của các từ được ghi như sau: <i>alaṃ</i>: vừa đủ, xứng đáng; <i>vacanīya</i>: nên được nói, cần phải nói; <i>alaṃvacanīyā</i>: được nói đủ rồi, hết nước nói, không còn gì để nói (VinA. iii, 561).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[11] <i>Maṇikaṇṭha</i> nghĩa là “cổ có ngọc ma-ni.” Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Nghe nói con rồng chúa ấy khi đi có trang điểm ở cổ một viên ngọc ma-ni lớn vĩ đại (có thể) ban cho tất cả các điều mong ước; vì thế được biết đến với tên <i>Maṇikaṇṭha</i>” (VinA. iii, 565).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[12] <i>Sugatavidatthi</i> (gang tay của đức Thiện Thệ): được ngài Buddhaghosa giải thích bằng ba lần gang tay của người bậc trung, với bàn tay của người thợ nề thì bằng một gang rưỡi (VinA. iii, 567). Cũng vậy, HT. Bửu Chơn ghi rằng 1 gang của người bậc trung là 0,25 mét và tính ra diện tích là 9,00 mét x 5,20 mét (<i>Tứ Thanh Tịnh Giới</i>, trang 33, ở phần chú thích). Trong tài liệu <i>Vinayamukha</i>, ngài Mahāsamaṇa Chao đề nghị rằng <i>sugatavidatthi</i>, tức là gang tay của đức Thiện Thệ, nên được tính theo kích thước trung bình là 0,25 mét; như vậy diện tích sẽ là 3,00 mét x 1,75 mét. Vì đây là <i>kuṭi</i> (cốc) nên chúng tôi nghĩ rằng kích thước thứ hai hợp lý hơn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[13] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: Ngoại trừ nhà ở cho mục đích trú ngụ của vị ấy (thì phạm tội). Nếu vị ấy cho xây dựng bảo rằng: “Sẽ là nhà làm lễ <i>Uposatha</i>, nhà tắm hơi, nhà ăn, nhà đốt lửa khác nữa,” trong mọi trường hợp thì vô tội. Tuy nhiên, nếu vị ấy nghĩ rằng: “Sẽ là nhà làm lễ <i>Uposatha</i> và ta sẽ trú ngụ,” hoặc “Sẽ là nhà tắm hơi, nhà ăn, nhà đốt lửa và ta sẽ trú ngụ,” trong khi được cho làm thì vị ấy phạm tội (VinA. iii, 574).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
