<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; Thiền Vipassana Do Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Phương Thuốc Chữa Bệnh Phiền Não Của Chúng Sinh</title>
	<atom:link href="https://thienvipassana.net/tag/phan-tich-gioi-ty-khuu-i/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://thienvipassana.net</link>
	<description>Tổng Hợp Chia Sẻ Các Bài Pháp Về Thiền Vipassana (Thiền Tứ Niệm Xứ) Theo Phương Pháp Ngài Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Các Tài Liệu Dhamma, Trợ Duyên Ai Đó Hữu Duyên Được Vững Vàng Trên Con Đường Tu Tập Giải Thoát Khổ, Được An Lạc Thực Sự, Hoà Hợp Thực Sự, Hạnh Phúc Thực Sự. #vipassana #dhamma #goenka #thienvipassana #buddha #phatphap #phatgiao #thiền</description>
	<lastBuildDate>Sat, 02 May 2020 03:28:34 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9.4</generator>

<image>
	<url>https://thienvipassana.net/wp-content/uploads/2020/05/cropped-LOGO-PHÁP-BẢO-ORIGINAL-7-32x32.png</url>
	<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; Thiền Vipassana Do Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Phương Thuốc Chữa Bệnh Phiền Não Của Chúng Sinh</title>
	<link>https://thienvipassana.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG NISSAGGIYA &#8211; PHẨM BÌNH BÁT</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-5-chuong-nissaggiya-pham-binh-bat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 03:28:34 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=20123</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 5: Nissaggiya &#8211; Phẩm Bình Bát Điều học về bình bát Lúc bấy]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span> </span></strong></h2>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương 5: Nissaggiya &#8211; </span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phẩm Bình Bát</span></h3>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học về bình bát</span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư thực hiện việc tích trữ nhiều bình bát. Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại tích trữ nhiều bình bát? Các Sa-môn Thích tử sẽ làm việc buôn bán bình bát hay sẽ lập nên gian hàng gốm sứ?” Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại cất giữ bình bát phụ trội?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi cất giữ bình bát phụ trội, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại cất giữ bình bát phụ trội vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào cất giữ bình bát phụ trội thì (bình bát ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định căn bản</b>]</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có bình bát phụ trội được phát sanh đến đại đức Ānanda. Đại đức Ānanda có ý định dâng bình bát ấy đến đại đức Sāriputta. Và đại đức Sāriputta ngụ tại Sāketa. Khi ấy, đại đức Ānanda đã khởi ý điều nảy: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định là: ‘Không được cất giữ bình bát phụ trội,’ và bình bát phụ trội này đã được phát sanh đến ta. Và ta có ý định dâng bình bát này đến đại đức Sāriputta mà đại đức Sāriputta cư ngụ ở Sāketa; vậy ta nên thực hành như thế nào?” Sau đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Ānanda, bao lâu nữa Sāriputta sẽ đi đến đây?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, ngày thứ chín hoặc ngày thứ mười.” Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, Ta cho phép cất giữ bình bát phụ trội tối đa mười ngày. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Bình bát phụ trội nên được cất giữ tối đa mười ngày. Vượt quá hạn ấy thì (bình bát ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định lần hai</b>]</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tối đa mười ngày</b>: là nên được cất giữ (hoặc sử dụng) nhiều nhất mười ngày.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bình bát phụ trội</b> nghĩa là chưa được chú nguyện để dùng riêng, chưa được chú nguyện để dùng chung.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bình bát</b> nghĩa là có hai loại bình bát: bình bát sắt và bình bát đất. Bình bát có ba dạng: bình bát cỡ lớn, bình bát cỡ vừa, bình bát cỡ nhỏ. <b>Bình bát cỡ lớn nghĩa</b> là chứa được một nửa <i>āḷhaka</i> cơm,[4] một phần tư vật thực là thức ăn tương xứng với phần (cơm) ấy. <b>Bình bát cỡ vừa</b> nghĩa là chứa được một <i>nāḷika</i> cơm, một phần tư vật thực là thức ăn tương xứng với phần (cơm) ấy. <b>Bình bát cỡ nhỏ</b> nghĩa là chứa được một <i>pattha</i>[5] cơm, một phần tư vật thực là thức ăn tương xứng với phần (cơm) ấy. Lớn hơn các cỡ ấy không phải là bình bát, nhỏ hơn không phải là bình bát.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vượt quá hạn ấy thì (bình bát ấy) nên được xả bỏ</b>:[Đến lúc hừng đông ngày thứ mười một thì phạm vào <i>nissaggiya</i>] (bình bát ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: Vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: &#8211; “<i>Bạch các ngài, bình bát này của tôi đã quá hạn mười ngày cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ bình bát này đến hội chúng.</i> Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực và bình bát đã xả bỏ nên được cho lại.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Bình bát này thuộc về vị tỳ khưu tên (như vầy) là vật phạm vào nissaggiya đã được xả bỏ đến hội chúng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho lại bình bát này đến vị tỳ khưu tên (như vầy)</i>.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu ấy nên đi đến nhiều vị tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: &#8211; “<i>Thưa các ngài, bình bát này của tôi đã quá hạn mười ngày cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến các đại đức.</i>” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực và bình bát đã xả bỏ nên được cho lại.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Xin chư đại đức hãy lắng nghe tôi. Bình bát này thuộc về vị tỳ khưu tên (như vầy) là vật phạm vào nissaggiya đã được xả bỏ đến chư đại đức. Nếu là thời điểm thích hợp cho chư đại đức, chư đại đức nên cho lại bình bát này đến vị tỳ khưu tên (như vầy).</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu ấy nên đi đến một vị tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: &#8211; “<i>Thưa đại đức, bình bát này của tôi đã quá hạn mười ngày cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ bình bát này đến đại đức.</i>” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu ấy và bình bát đã xả bỏ nên được cho lại: “<i>Tôi cho lại đại đức bình bát này</i>.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi quá hạn mười ngày, nhận biết là đã quá hạn, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi quá hạn mười ngày, có sự hoài nghi, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi quá hạn mười ngày, (lầm) tưởng là chưa quá hạn, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi chưa được chú nguyện để dùng riêng, (lầm) tưởng là đã được chú nguyện để dùng riêng, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi chưa được chú nguyện để dùng chung, (lầm) tưởng là đã được chú nguyện để dùng chung, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đã được phân phát, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đã bị mất trộm, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đã bị hư hỏng, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi không bị bể, (lầm) tưởng là đã bị bể, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi không bị cướp, (lầm) tưởng là đã bị cướp, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Bình bát phạm vào <i>nissaggiya</i>, không xả bỏ rồi sử dụng, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa quá hạn mười ngày, (lầm) tưởng là đã quá hạn, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa quá hạn mười ngày, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa quá hạn mười ngày, nhận biết là chưa quá hạn thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong thời hạn mười ngày, vị chú nguyện để dùng riêng, vị chú nguyện để dùng chung, vị phân phát, (bình bát) bị mất trộm, (bình bát) bị hư hỏng, (bình bát) bị bể, (những người khác) cướp rồi lấy đi, (các vị khác) lấy đi do sự thân thiết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="8">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư không cho lại bình bát đã được xả bỏ. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, không nên không cho lại bình bát đã được xả bỏ; vị nào không cho lại thì phạm tội dukkaṭa</i>.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về bình bát.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều học về chưa đủ năm miếng vá.</b></span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự giữa dân chúng dòng Sakya, trong thành Kapilavatthu, tu viện Nigrodha. Vào lúc bấy giờ, có người thợ làm đồ gốm nọ đã thỉnh cầu các tỳ khưu rằng : &#8211; “Các ngài đại đức nào có nhu cầu về bình bát, tôi sẽ dâng bình bát.” Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu không biết chừng mực và yêu cầu nhiều bình bát. Những vị có các bình bát nhỏ thì yêu cầu các bình bát lớn. Những vị có các bình bát lớn thì yêu cầu các bình bát nhỏ. Khi ấy, trong lúc làm nhiều bình bát cho các tỳ khưu, người thợ làm đồ gốm ấy không thể làm hàng khác để bán nên không nuôi nổi bản thân, ngay cả vợ con của người này cũng phải chịu khổ sở. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử này lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều bình bát? Người này trong lúc làm nhiều bình bát cho các vị này không thể làm hàng khác để bán nên không nuôi nổi bản thân, ngay cả vợ con của người này cũng phải chịu khổ sở.” Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều bình bát?”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi không biết chừng mực và yêu cầu nhiều bình bát, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều bình bát vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, không nên yêu cầu bình bát, vị nào yêu cầu thì phạm tội dukkaṭa</i>.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có bình bát bị bể. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn đã cấm đoán yêu cầu bình bát,’ trong lúc ngần ngại không yêu cầu rồi đi khất thực bằng hai bàn tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại đi khất thực bằng hai bàn tay giống như là các ngoại đạo vậy?” Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị có bình bát bị hư hỏng hoặc bình bát bị bể được yêu cầu về bình bát</i>.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Đức Phật đã cho phép vị có bình bát bị hư hỏng hoặc bình bát bị bể được yêu cầu về bình bát,” các vị ấy với (bình bát) bị bể chỉ chút ít, bị lủng chỉ chút ít, chỉ với chút ít bị trầy lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều bình bát. Khi ấy, trong lúc làm nhiều bình bát cho các tỳ khưu, người thợ làm đồ gốm ấy giống như trước đây không thể làm hàng khác để bán nên không nuôi nổi bản thân, ngay cả vợ con của người này cũng phải chịu khổ sở. Tương tợ y như thế, dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều bình bát? Người này trong lúc làm nhiều bình bát cho các vị này không thể làm hàng khác để bán nên không nuôi nổi bản thân, ngay cả vợ con của người này cũng phải chịu khổ sở.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư với (bình bát) bị bể chỉ chút ít, bị lủng chỉ chút ít, chỉ với chút ít bị trầy lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều bình bát?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi với (bình bát) bị bể chỉ chút ít, bị lủng chỉ chút ít, bị nứt chỉ chút ít, chỉ với chút ít bị trầy lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều bình bát, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi với (bình bát) bị bể chỉ chút ít, bị lủng chỉ chút ít, bị nứt chỉ chút ít, chỉ với chút ít bị trầy lại không biết chừng mực và yêu cầu nhiều bình bát vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào với bình bát chưa đủ năm miếng vá mà kiếm thêm bình bát mới khác thì (bình bát mới ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya. Vị tỳ khưu ấy nên xả bỏ bình bát ấy đến tập thể các tỳ khưu. Và cái nào là bình bát cuối cùng của tập thể các tỳ khưu ấy, cái ấy nên trao đến vị tỳ khưu ấy: ‘Này tỳ khưu, đây là bình bát của ngươi, nên giữ lấy cho đến khi bể.’ Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chưa đủ năm miếng vá</b> nghĩa là bình bát không có miếng vá, hoặc một miếng vá, hoặc hai miếng vá, hoặc ba miếng vá, hoặc bốn miếng vá. <b>Bình bát không chỗ đắp vá</b> nghĩa là bình bát không có lỗ thủng rộng hai ngón tay.[6] <b>Bình bát có chỗ đắp vá</b> nghĩa là bình bát có lỗ thủng rộng hai ngón tay.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bình bát mới</b> nghĩa là liên quan việc yêu cầu được đề cập đến.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Kiếm thêm</b>: vị yêu cầu, trong khi tiến hành thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Do sự đạt được thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (bình bát ấy) cần được xả bỏ ở giữa hội chúng. Tất cả các tỳ khưu nên mang theo bình bát đã chú nguyện và tụ hội lại. Không nên chú nguyện bình bát kém cỏi (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy bình bát cao giá.” Nếu vị chú nguyện bình bát kém cỏi (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy bình bát cao giá” thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: Vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: &#8211; “<i>Bạch các ngài, bình bát này của tôi đã được kiếm thêm khi bình bát chưa đủ năm miếng vá, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ bình bát này đến hội chúng.</i> Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên chỉ định vị chuyển đổi bình bát là vị tỳ khưu hội đủ năm điều kiện: là vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, là vị biết vật đã được lấy hay chưa được lấy. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị chuyển đổi bình bát. Đây là lời đề nghị.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị chuyển đổi bình bát. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị chuyển đổi bình bát xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị chuyển đổi bình bát. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.</i>”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bình bát nên được chuyển đổi bởi vị tỳ khưu đã được chỉ định ấy. Nên nói với vị trưởng lão rằng: “Thưa ngài, xin trưởng lão nhận lấy bình bát.” Nếu vị trưởng lão nhận lấy, bình bát của vị trưởng lão nên được chuyển đổi đến vị thứ nhì. Và không nên vì lòng thương hại vị ấy mà không nhận lấy, vị nào không nhận lấy[7] thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Vị không có bình bát không được chuyển đổi. Nên được chuyển đổi cho đến vị mới tu của hội chúng theo đúng phương thức ấy. Và cái nào là bình bát cuối cùng của tập thể các tỳ khưu ấy, cái ấy nên trao đến vị tỳ khưu ấy: “Này tỳ khưu, đây là bình bát của ngươi, nên giữ lấy cho đến khi bể.” Vị tỳ khưu ấy không nên để xuống bình bát ấy không đúng chỗ, không nên sử dụng sái với cách thức dùng,[8] không nên phân phát đi (nghĩ rằng): “Làm thế nào bình bát này bị trộm, hoặc bị hư hỏng, hoặc bị bể?” Nếu để xuống không đúng chỗ, hoặc sử dụng sái với cách thức dùng, hoặc phân phát thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy</b>: Đây là điều hợp lý trong trường hợp ấy.</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bình bát không miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không miếng vá thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Với bình bát không miếng vá, vị kiếm thêm bình bát một miếng vá &#8230; bình bát hai miếng vá &#8230; bình bát ba miếng vá &#8230; bình bát bốn miếng vá thì phạm tội<i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="8">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bình bát một miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không miếng vá &#8230; bình bát một miếng vá &#8230; bình bát hai miếng vá &#8230; bình bát ba miếng vá &#8230; bình bát bốn miếng vá thì phạm tội<i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="9">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bình bát hai miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không miếng vá &#8230; bình bát một miếng vá &#8230; bình bát hai miếng vá &#8230; bình bát ba miếng vá &#8230; bình bát bốn miếng vá thì phạm tội<i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="10">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bình bát ba miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không miếng vá &#8230; bình bát một miếng vá &#8230; bình bát hai miếng vá &#8230; bình bát ba miếng vá &#8230; bình bát bốn miếng vá thì phạm tội<i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="11">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bình bát bốn miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không miếng vá &#8230; bình bát một miếng vá &#8230; bình bát hai miếng vá &#8230; bình bát ba miếng vá &#8230; bình bát bốn miếng vá thì phạm tội<i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="12">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bình bát không miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không chỗ đắp vá. Với bình bát không miếng vá, vị kiếm thêm bình bát một chỗ đắp vá &#8230; bình bát hai chỗ đắp vá &#8230; bình bát ba chỗ đắp vá &#8230; bình bát bốn chỗ đắp vá thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="13">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bình bát một miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không chỗ đắp vá &#8230; bình bát một chỗ đắp vá &#8230; bình bát hai chỗ đắp vá &#8230; bình bát ba chỗ đắp vá &#8230; bình bát bốn chỗ đắp vá thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="14">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bình bát hai miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không chỗ đắp vá &#8230; bình bát một chỗ đắp vá &#8230; bình bát hai chỗ đắp vá &#8230; bình bát ba chỗ đắp vá &#8230; bình bát bốn chỗ đắp vá thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="15">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bình bát ba miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không chỗ đắp vá &#8230; bình bát một chỗ đắp vá &#8230; bình bát hai chỗ đắp vá &#8230; bình bát ba chỗ đắp vá &#8230; bình bát bốn chỗ đắp vá thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="16">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bình bát bốn miếng vá, vị kiếm thêm bình bát không chỗ đắp vá &#8230; bình bát một chỗ đắp vá &#8230; bình bát hai chỗ đắp vá &#8230; bình bát ba chỗ đắp vá &#8230; bình bát bốn chỗ đắp vá thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="17">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bình bát không chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát không miếng vá &#8230; bình bát một miếng vá &#8230; bình bát hai miếng vá &#8230; bình bát ba miếng vá &#8230; bình bát bốn miếng vá &#8230; Với bình bát một chỗ đắp vá, &#8230; Với bình bát hai chỗ đắp vá, &#8230; Với bình bát ba chỗ đắp vá, &#8230; Với bình bát bốn chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát không miếng vá &#8230; bình bát một miếng vá &#8230; bình bát hai miếng vá &#8230; bình bát ba miếng vá &#8230; bình bát bốn miếng vá &#8230; Với bình bát không chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát không chỗ đắp vá &#8230; bình bát một chỗ đắp vá &#8230; bình bát hai chỗ đắp vá &#8230; bình bát ba chỗ đắp vá &#8230; bình bát bốn chỗ đắp vá thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="18">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bình bát một chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát không chỗ đắp vá &#8230; bình bát một chỗ đắp vá &#8230; bình bát hai chỗ đắp vá &#8230; bình bát ba chỗ đắp vá &#8230; bình bát bốn chỗ đắp vá thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="19">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bình bát hai chỗ đắp vá, &#8230; Với bình bát ba chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát không chỗ đắp vá &#8230; bình bát một chỗ đắp vá &#8230; bình bát hai chỗ đắp vá &#8230; bình bát ba chỗ đắp vá &#8230; bình bát bốn chỗ đắp vá thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="20">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với bình bát bốn chỗ đắp vá, vị kiếm thêm bình bát không chỗ đắp vá &#8230; bình bát một chỗ đắp vá &#8230; bình bát hai chỗ đắp vá &#8230; bình bát ba chỗ đắp vá &#8230; bình bát bốn chỗ đắp vá thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="21">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị có bình bát bị hư hỏng, vị có bình bát bị bể, đối với các thân quyến, đối với những người đã nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về chưa đủ năm miếng vá.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều học về dược phẩm.</b></span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindivaccha ở thành Rājagaha có ý muốn làm chỗ trú ngụ nên cho người dọn sạch sẽ hang núi. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đại đức Pilindivaccha, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Pilindivaccha rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đại đức Pilindivaccha điều này: &#8211; “Thưa ngài, ngài trưởng lão cho làm cái gì vậy?” &#8211; “Tâu đại vương, tôi có ý muốn làm chỗ trú ngụ nên cho người dọn sạch sẽ hang núi.” &#8211; “Thưa ngài, ngài có nhu cầu về người giúp việc tu viện không?” &#8211; “Tâu đại vương, đức Thế Tôn chưa có cho phép về người giúp việc tu viện.” &#8211; “Thưa ngài, như thế thì ngài hãy hỏi đức Thế Tôn rồi báo cho trẫm biết.” &#8211; “Tâu đại vương, xin vâng.” Đại đức Pilindivaccha đã đáp lời đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.” Khi ấy, đại đức Pilindivaccha đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đại đức Pilindivaccha chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đại đức Pilindivaccha, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Pilindivaccha đã phái sứ giả đi đến gặp đức Thế Tôn (thưa rằng): &#8211; “Bạch ngài, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha có ý muốn ban cho người giúp việc tu viện. Bạch ngài, vậy nên thực hành như thế nào?” Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại, đã nói Pháp thoại, rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, Ta cho phép người giúp việc tu viện</i>.” Đến lần thứ nhì, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đại đức Pilindivaccha, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Pilindivaccha rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đại đức Pilindivaccha điều này: &#8211; “Thưa ngài, người giúp việc tu viện có được đức Thế Tôn cho phép không?” &#8211; “Tâu đại vương, đã được rồi.” &#8211; “Thưa ngài, như vậy thì trẫm ban cho ngài đại đức người giúp việc tu viện.” Rồi sau khi hứa với đại đức Pilindivaccha về người giúp việc tu viện, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã không ghi nhớ. Sau một thời gian dài, đức vua khi phục hồi lại ký ức đã bảo viên quan đại thần nọ là vị tổng quản rằng: &#8211; “Này khanh, người giúp việc tu viện đã được trẫm hứa với ngài đại đức, người giúp việc tu viện ấy đã được ban cho chưa?” &#8211; “Tâu bệ hạ, người giúp việc tu viện chưa được ban đến ngài đại đức.” &#8211; “Này khanh, tính đến đêm nay là đã bao lâu rồi vậy?” Khi ấy, viên quan đại thần ấy sau khi tính đếm số lượng đêm rồi đã tâu với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này: &#8211; “Tâu bệ hạ, năm trăm đêm.” &#8211; “Này khanh, như vậy thì hãy ban cho ngài đại đức năm trăm người giúp việc tu viện.” &#8211; “Tâu bệ hạ, xin vâng.” Rồi vị quan đại thần đã vâng lệnh đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha dâng đến đại đức Pilindivaccha năm trăm người giúp việc tu viện. Một ngôi làng riêng biệt đã được thiết lập. Họ đã gọi nơi ấy là “Ngôi làng của những người giúp việc tu viện.” Họ đã gọi nơi làng ấy là “Ngôi làng Pilinda.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindivaccha là vị thường hay lui tới ngôi làng ấy. Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Pilindivaccha đã mặc y, cầm y bát, rồi đi vào ngôi làng Pilinda để khất thực. Vào lúc bấy giờ, trong ngôi làng ấy có lễ hội. Những đứa trẻ được trang điểm, đeo vòng hoa, và đùa giỡn.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Pilindivaccha trong lúc đi khất thực theo từng nhà ở làng Pilinda đã đi đến căn nhà của người giúp việc tu viện nọ, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Vào lúc bấy giờ, cô bé gái con của người đàn bà giúp việc tu viện ấy nhìn thấy những đứa trẻ khác được trang điểm, đeo vòng hoa, nên đã oà khóc: &#8211; “Cho con vòng hoa, cho con đồ trang sức.” Khi ấy, đại đức Pilindivaccha đã nói với người đàn bà giúp việc tu viện ấy điều này: &#8211; “Vì sao bé gái này khóc vậy?” &#8211; “Thưa ngài, bé gái này nhìn thấy những đứa trẻ khác được trang điểm, đeo vòng hoa, nên đã oà khóc: ‘Cho con vòng hoa, cho con đồ trang sức.’ Chúng tôi lâm cảnh khó khăn, lấy đâu ra vòng hoa, lấy đâu ra đồ trang sức?” Khi ấy, đại đức Pilindivaccha đã cầm lấy vòng cỏ nọ rồi nói với người đàn bà giúp việc tu viện ấy điều này: &#8211; “Vậy thì hãy đội vòng cỏ này lên đầu của bé gái ấy đi.” Khi ấy, người đàn bà giúp việc tu viện ấy đã cầm lấy vòng cỏ ấy rồi đội lên đầu của đứa bé gái ấy. Vòng cỏ ấy đã trở thành vòng hoa bằng vàng đẹp đẽ, xinh xắn, duyên dáng; trong nội cung của đức vua cũng không có được vòng hoa bằng vàng như thế ấy. Dân chúng đã trình báo lên đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha rằng: &#8211; “Tâu bệ hạ, trong nhà của người giúp việc tu viện kia có vòng hoa bằng vàng đẹp đẽ, xinh xắn, duyên dáng; trong nội cung của đức vua cũng không có được vòng hoa bằng vàng như thế ấy. Đối với kẻ lâm cảnh khó khăn ấy thì lấy đâu ra? Chắc chắn là có được do trộm cắp.” Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra lệnh bắt giữ gia đình của người giúp việc tu viện ấy.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đến lần thứ nhì vào buổi sáng, đại đức Pilindivaccha đã mặc y, cầm y bát, rồi đi vào ngôi làng Pilinda để khất thực. Trong khi đi khất thực tuần tự từng nhà ở ngôi làng Pilinda, đại đức Pilindivaccha đã đi đến căn nhà của người giúp việc tu viện ấy, sau khi đến đã hỏi những người hàng xóm rằng: &#8211; “Gia đình của người giúp việc tu viện này đã đi đâu?” &#8211; “Thưa ngài, họ đã bị đức vua ra lệnh bắt giữ vì nguyên nhân vòng hoa bằng vàng ấy.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Pilindivaccha đã đi đến ngự viện của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đại đức Pilindivaccha, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Pilindivaccha rồi ngồi xuống ở một bên. Đại đức Pilindivaccha đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đang ngồi một bên điều này: &#8211; “Tâu đại vương, vì sao gia đình của người giúp việc tu viện lại bị ra lệnh bắt giữ?” &#8211; “Thưa ngài, trong nhà của người giúp việc tu viện ấy có vòng hoa bằng vàng đẹp đẽ, xinh xắn, duyên dáng; trong nội cung của trẫm cũng không có được vòng hoa bằng vàng như thế ấy. Đối với kẻ lâm cảnh khó khăn ấy thì lấy đâu ra? Chắc chắn là có được do trộm cắp.” Khi ấy, đại đức Pilindivaccha đã chú nguyện rằng: “Cung điện của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha là vàng;” cung điện ấy đã trở thành hoàn toàn làm bằng vàng. &#8211; “Tâu đại vương, do đâu đại vương lại có nhiều vàng đến thế này?” &#8211; “Thưa ngài, trẫm đã hiểu rồi. Việc ấy là năng lực thần thông của chính ngài đại đức.” Rồi đức vua đã ra lệnh thả gia đình người giúp việc tu viện ấy.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dân chúng (đồn rằng): “Nghe nói ngài đại đức Pilindivaccha đã phô bày điều kỳ diệu của thần thông là pháp thượng nhân trước triều thần có cả đức vua nữa!” nên đã hoan hỷ, có niềm tin cao độ, rồi đã đem đến dâng đại đức Pilindivaccha năm loại dược phẩm như là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía. Và theo lẽ tự nhiên, đại đức Pilindivaccha trở thành vị thọ lãnh năm loại dược phẩm và phân phát cho hội chúng mỗi khi được thọ lãnh. Và hội chúng của vị ấy trở nên dư dã. Rồi tiếp tục được thọ lãnh, các vị chứa đầy các hũ và các chum rồi để riêng ra; các vị chứa đầy các túi lọc nước và các túi xách rồi treo lên ở các cửa sổ. Các loại dược phẩm ấy đã bị rỉ xuống chảy ra và vẫn ở nguyên chỗ. Các trú xá đã có chuột xuất hiện rải rác rồi tràn ngập. Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này là những người tích trữ đồ đạc trong nhà giống như là đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha vậy!” Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu lại chấp nhận sự thặng dư như thế này?”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="8">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu chấp nhận sự thặng dư như thế ấy, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại chấp nhận sự thặng dư như thế ấy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Các loại dược phẩm nào được dùng cho các tỳ khưu bị bệnh như là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía. Các thứ ấy sau khi thọ lãnh nên được thọ dụng với sự cất giữ tối đa là bảy ngày. Vượt quá hạn ấy thì nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="9">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Các loại dược phẩm nào được dùng cho các tỳ khưu bị bệnh</b>: <b>Bơ lỏng</b> nghĩa là bơ lỏng từ loài bò, hoặc là bơ lỏng từ loài dê, hoặc là bơ lỏng từ loài trâu, hoặc là bơ lỏng của các loài thú nào có thịt được phép (thọ dụng).[9]</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bơ đặc</b> nghĩa là bơ đặc của chính các loài thú ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dầu ăn</b> nghĩa là dầu mè, dầu hạt mù tạt, dầu có chứa mật ong, dầu cây <i>eraṇḍa</i>, dầu từ mỡ thú.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Mật ong</b> nghĩa là mật của loài ong.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đường mía</b> nghĩa là được sản xuất từ cây mía.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Các thứ ấy sau khi thọ lãnh nên được thọ dụng với sự cất giữ tối đa là bảy ngày</b>: nên được thọ dụng nhiều nhất là bảy ngày.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vượt quá hạn ấy thì nên được xả bỏ</b>: Đến lúc hừng đông vào ngày thứ tám thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (dược phẩm ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, dược phẩm này của tôi đã vượt quá hạn bảy ngày, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="10">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi quá hạn bảy ngày, nhận biết là đã quá hạn, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi quá hạn bảy ngày, có sự hoài nghi, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi quá hạn bảy ngày, (lầm) tưởng là chưa quá hạn, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi chưa quyết định, (lầm) tưởng là đã quyết định, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="11">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đã phân phát, &#8230; Khi không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đã bị mất trộm, &#8230; Khi không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đã bị hư hỏng, &#8230; Khi không bị cháy, (lầm) tưởng là đã bị cháy, &#8230; Khi không bị cướp, (lầm) tưởng là đã bị cướp, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="12">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi nhận lại vật đã xả bỏ, không nên sử dụng bằng cách dùng ở trên cơ thể, không nên nuốt vào. Nên sử dụng cho đèn hoặc sơn màu đen. Vị tỳ khưu khác có thể sử dụng bằng cách dùng ở trên cơ thể, (nhưng) không nên nuốt vào.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="13">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi chưa quá hạn bảy ngày, (lầm) tưởng là đã quá hạn, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa quá hạn bảy ngày, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa quá hạn bảy ngày, nhận biết là chưa quá hạn thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="14">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong thời hạn bảy ngày; vị quyết định;[10] vị phân phát; (dược phẩm) bị mất trộm; (dược phẩm) bị hư hỏng; (dược phẩm) bị cháy; (những người khác) cướp rồi lấy đi; (các vị khác) lấy đi do sự thân thiết; vị không mong mỏi với vật đã được hy sinh, đã được từ bỏ, đã được dứt bỏ đến người chưa tu lên bậc trên, sau khi cho rồi được lại và thọ dụng; vị bị điên; vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về dược phẩm.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học về vải choàng tắm mưa</span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, vải choàng tắm mưa đã được đức Thế Tôn cho phép đến các tỳ khưu. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Vải choàng tắm mưa đã được đức Thế Tôn cho phép” nên đã tìm kiếm y choàng tắm mưa trước thời hạn, sau khi làm trước thời hạn rồi mặc vào, đến khi vải choàng tắm mưa đã cũ thì (các vị) lõa thể và để mưa làm ướt thân hình. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại tìm kiếm y choàng tắm mưa trước thời hạn, sau khi làm trước thời hạn rồi mặc vào, đến khi vải choàng tắm mưa đã cũ thì (các vị) lõa thể và để mưa làm ướt thân hình?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi tìm kiếm y choàng tắm mưa trước thời hạn, sau khi làm trước thời hạn rồi mặc vào, đến khi vải choàng tắm mưa đã cũ thì (các ngươi) lõa thể và để mưa làm ướt thân hình, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại tìm kiếm y choàng tắm mưa trước thời hạn, sau khi làm trước thời hạn rồi mặc vào, đến khi vải choàng tắm mưa đã cũ thì (các ngươi) lại lõa thể và để mưa làm ướt thân hình vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>(Biết rằng): ‘Mùa nóng còn lại là một tháng’ vị tỳ khưu nên tìm kiếm y choàng tắm mưa. (Biết rằng): ‘Mùa nóng còn lại là nửa tháng’ vị làm xong thì nên mặc. Nếu (biết rằng): ‘Mùa nóng còn lại là hơn một tháng’ rồi tìm kiếm y choàng tắm mưa, (nếu biết rằng): ‘Mùa nóng còn lại là hơn nửa tháng’ sau khi làm xong rồi mặc vào thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Biết rằng): “Mùa nóng còn lại là một tháng” vị tỳ khưu nên tìm kiếm y choàng tắm mưa</b>: Nên đi đến gặp những người nào trước đây dâng y choàng tắm mưa và nên nói như vầy: “<i>Là thời điểm của vải choàng tắm mưa, là lúc của vải choàng tắm mưa, những người khác cũng dâng y choàng tắm mưa</i>.” Không nên nói rằng: “<i>Hãy dâng y choàng tắm mưa cho tôi, hãy mang lại y choàng tắm mưa cho tôi, hãy sắm y choàng tắm mưa cho tôi, hãy mua y choàng tắm mưa cho tôi</i>.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Biết rằng): “Mùa nóng còn lại là nửa tháng” vị làm xong thì nên mặc</b>: Khi mùa nóng còn lại là nửa tháng, sau khi làm xong thì nên mặc.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nếu (biết rằng): “Mùa nóng còn lại là hơn một tháng”:</b> Khi mùa nóng còn lại là trội hơn một tháng, vị tìm kiếm y choàng tắm mưa thì phạm vào <i>nissaggiya</i>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Nếu biết rằng): “Mùa nóng còn lại là hơn nửa tháng”:</b> Khi mùa nóng còn lại là trội hơn nửa tháng, vị làm xong và mặc vào thì phạm vào <i>nissaggiya</i>. (Y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, y choàng tắm mưa này của tôi đã được tìm kiếm khi mùa nóng còn lại là hơn một tháng, sau khi làm xong đã được mặc khi mùa nóng còn lại là hơn nửa tháng, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ (y) này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi mùa nóng còn lại là hơn một tháng, nhận biết là còn hơn (một tháng), vị tìm kiếm y choàng tắm mưa thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi mùa nóng còn lại là hơn một tháng, có sự hoài nghi, vị tìm kiếm y choàng tắm mưa thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi mùa nóng còn lại là hơn một tháng, (lầm) tưởng là ít hơn (một tháng), vị tìm kiếm y choàng tắm mưa thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi mùa nóng còn lại là hơn nửa tháng, nhận biết là còn hơn (nửa tháng), vị làm xong rồi mặc vào thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi mùa nóng còn lại là hơn nửa tháng, có sự hoài nghi, vị làm xong rồi mặc vào thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi mùa nóng còn lại là hơn nửa tháng, (lầm) tưởng là ít hơn (nửa tháng), vị làm xong rồi mặc vào thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu có y choàng tắm mưa mà lõa thể và để mưa làm ướt thân hình thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi mùa nóng còn lại là ít hơn một tháng, (lầm) tưởng là nhiều hơn (một tháng), phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi mùa nóng còn lại là ít hơn một tháng, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi mùa nóng còn lại là ít hơn một tháng, nhận biết là ít hơn (một tháng) thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi mùa nóng còn lại là ít hơn nửa tháng, (lầm) tưởng là nhiều hơn (nửa tháng), phạm tội<i>dukkaṭa</i>. Khi mùa nóng còn lại là ít hơn nửa tháng, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi mùa nóng còn lại là ít hơn nửa tháng, nhận biết là ít hơn (nửa tháng) thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tìm kiếm y choàng tắm mưa khi (biết rằng): ‘Mùa nóng còn lại là một tháng;’ vị làm xong và mặc vào khi (biết rằng): ‘Mùa nóng còn lại là nửa tháng;’ vị tìm kiếm y choàng tắm mưa khi (biết rằng): ‘Mùa nóng còn lại là ít hơn một tháng;’ vị làm xong và mặc vào khi (biết rằng): ‘Mùa nóng còn lại là ít hơn nửa tháng;’ khi y choàng tắm mưa đã được tìm kiếm thì mùa mưa bị trễ, khi y choàng tắm mưa đã được mặc vào thì mùa mưa bị trễ, nên giặt rồi cất lại và nên mặc lúc đúng thời; vị có y bị cướp đoạt; vị có y bị mất trộm; khi có sự cố;[11] vị bị điên; vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về vải choảng tắm mưa</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học về việc giặt lại Y</span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai dòng Sakya nói với vị tỳ khưu là đệ tử của người anh điều này: &#8211; “Này đại đức, hãy đến. Chúng ta sẽ ra đi du hành trong xứ sở.” &#8211; “Thưa ngài, tôi sẽ không đi. Y của tôi thì mảnh mai.” &#8211; “Này đại đức, hãy đến. Ta sẽ cho ngươi y,” rồi đã cho y đến vị ấy. Vị tỳ khưu ấy đã nghe được rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn sẽ ra đi du hành trong xứ sở.” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Giờ đây ta sẽ không ra đi du hành trong xứ sở với đại đức Upananda con trai dòng Sakya nữa, ta sẽ ra đi du hành trong xứ sở với đức Thế Tôn.” Sau đó, đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: &#8211; “Này đại đức, hãy đến. Giờ đây, chúng ta sẽ ra đi du hành trong xứ sở.” &#8211; “Thưa ngài, tôi sẽ không ra đi du hành trong xứ sở với ngài. Tôi sẽ ra đi du hành trong xứ sở với đức Thế Tôn.” &#8211; “Này đại đức, y mà ta đã cho ngươi là sẽ ra đi du hành trong xứ sở với ta.” Rồi nổi giận, bất bình, đã giật lại y.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Upananda con trai dòng Sakya sau khi tự mình cho y đến vị tỳ khưu lại nổi giận, bất bình rồi giật lại?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này Upananda, nghe nói ngươi sau khi tự mình cho y đến vị tỳ khưu lại nổi giận, bất bình rồi giật lại, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi sau khi tự mình cho y đến vị tỳ khưu lại nổi giận, bất bình rồi giật lại vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào sau khi tự mình cho y đến vị tỳ khưu lại nổi giận, bất bình, rồi giật lại, hoặc bảo giật lại thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đến vị tỳ khưu</b>: là đến vị tỳ khưu khác.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tự mình</b>: sau khi đích thân cho.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Y </b>nghĩa là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y (có kích thước) tối thiểu cần phải chú nguyện để dùng chung.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nổi giận, bất bình</b>: không được hài lòng, có tâm bực bội, nảy sanh lòng cay cú.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Giật lại</b>: tự mình giật lại thì phạm vào <i>nissaggiya</i>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bảo giật lại</b>: ra lệnh người khác thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Được ra lệnh một lần, (vị nghe lệnh) dầu giật lại nhiều lần (vị ra lệnh) phạm (chỉ một) <i>nissaggiya</i>. (Y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, y này của tôi sau khi tự mình cho đến vị tỳ khưu rồi đã giật lại, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ (y) này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người đã tu lên bậc trên, nhận biết là đã tu lên bậc trên, sau khi tự mình cho y lại nổi giận, bất bình rồi giật lại hoặc bảo giật lại thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Người đã tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, ―(như trên)― Người đã tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là chưa tu lên bậc trên, sau khi tự mình cho y lại nổi giận, bất bình rồi giật lại hoặc bảo giật lại thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi cho vật dụng khác lại nổi giận, bất bình rồi giật lại hoặc bảo giật lại thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>. Sau khi cho y hoặc vật dụng khác đến người chưa tu lên bậc trên lại nổi giận, bất bình rồi giật lại hoặc bảo giật lại thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Người chưa tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là đã tu lên bậc trên, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Người chưa tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Người chưa tu lên bậc trên, nhận biết là chưa tu lên bậc trên, phạm tội<i>dukkaṭa</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị kia cho lại, hoặc lấy trong khi thân thiết với vị kia, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về việc giật lại y.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 18.6667px;">Điều học về yêu cầu chỉ sợi</span></span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư trong thời hạn làm y đã yêu cầu nhiều chỉ sợi. Thậm chí khi y đã làm xong vẫn còn lại nhiều chỉ sợi. Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã khởi ý điều này: “Này các đại đức, chúng ta hãy yêu cầu thêm chỉ sợi khác nữa rồi bảo các thợ dệt dệt thành y.” Sau đó, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã yêu cầu thêm chỉ sợi khác nữa rồi bảo các thợ dệt dệt thành y. Thậm chí khi y đã được dệt xong, vẫn còn lại nhiều chỉ sợi. Đến lần thứ nhì, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã yêu cầu thêm chỉ sợi khác nữa rồi bảo các thợ dệt dệt thành y. Thậm chí khi y đã được dệt xong, vẫn còn lại nhiều chỉ sợi. Đến lần thứ ba, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã yêu cầu thêm chỉ sợi khác nữa rồi bảo các thợ dệt dệt thành y. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại tự mình yêu cầu chỉ sợi rồi bảo các thợ dệt dệt thành y?”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại tự mình yêu cầu chỉ sợi rồi bảo các thợ dệt dệt thành y?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi tự mình yêu cầu chỉ sợi rồi bảo các thợ dệt dệt thành y, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại tự mình yêu cầu chỉ sợi rồi bảo các thợ dệt dệt thành y vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào tự mình yêu cầu chỉ sợi rồi bảo các thợ dệt dệt thành y</i> <i>thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tự mình</b>: sau khi đích thân yêu cầu.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chỉ sợi</b> nghĩa là sáu loại chỉ sợi: loại bằng sợi lanh, loại bằng bông vải, loại bằng tơ lụa, loại bằng sợi len, loại bằng gai thô, loại bằng chỉ bố.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Bởi) các thợ dệt</b>: vị bảo các người làm công việc dệt vải (ra công) dệt, trong lúc thực hiện, (vị ấy) phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Do sự đạt được thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, y này của tôi đã được tự mình yêu cầu chỉ sợi rồi đã bảo các thợ dệt dệt thành, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ (y) này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi đã bảo dệt, nhận biết là đã bảo dệt, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi đã bảo dệt, có sự hoài nghi, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi đã bảo dệt, (lầm) tưởng là chưa bảo dệt, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi chưa bảo dệt, (lầm) tưởng là đã bảo dệt, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa bảo dệt, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa bảo dệt, nhận biết là chưa bảo dệt thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Yêu cầu chỉ sợi) để may y, trong trường hợp mạng vá, trường hợp dây thắt lưng, dây buộc ở vai, túi mang bình bát, đồ lược nước, của các thân quyến, của những người đã nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về yêu cầu chỉ sợi</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học quan trọng về thợ dệt </span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ sắp sửa đi vắng nhà đã nói với người vợ điều này: &#8211; “Hãy cân chỉ sợi rồi giao cho người thợ dệt kia, bảo dệt y rồi cất lấy, khi nào về tôi sẽ dâng y đến ngài đại đức Upananda.” Trong khi người đàn ông ấy đang nói lời này, có vị tỳ khưu nọ là vị hành pháp khất thực đã nghe được. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đi đến gặp đại đức Upananda con trai dòng Sakya, sau khi đến đã nói với đại đức Upananda con trai dòng Sakya điều này: &#8211; “Này đại đức Upananda, ngài có phước báu lớn lao. Ở chỗ kia, có người đàn ông nọ sắp sửa đi vắng nhà đã nói với người vợ điều này: ‘Hãy cân chỉ sợi rồi giao cho người thợ dệt kia, bảo dệt y rồi cất lấy, khi nào về tôi sẽ dâng y đến ngài đại đức Upananda.’” &#8211; “Này đại đức, đúng vậy. Ông ấy là người hộ độ cho tôi.” Người thợ dệt ấy cũng là người hộ độ cho đại đức Upananda con trai dòng Sakya.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã đi đến gặp người thợ dệt ấy, sau khi đến đã nói với người thợ dệt ấy điều này: &#8211; “Này đạo hữu, y này được dệt dành riêng cho tôi. Hãy làm (y ấy) dài, rộng, chặt chẽ, hãy dệt cho khéo, dệt cho đều đặn, khéo cào, khéo chải.” &#8211; “Thưa ngài, những người này đã cân chỉ sợi rồi giao cho tôi (nói rằng): ‘Hãy dệt y với số chỉ sợi này.’ Thưa ngài, không thể làm dài, hay rộng, hay chặt chẽ. Thưa ngài, có thể làm là dệt cho khéo, dệt cho đều đặn, khéo cào, và khéo chải.” &#8211; “Này đạo hữu, ngươi hãy làm dài, rộng, và chặt chẽ. Sẽ không bị thiếu hụt về chỉ sợi cho ngươi.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, người thợ dệt ấy sau khi đưa vào máy dệt số chỉ sợi đã được mang lại rồi đã đi đến gặp người đàn bà ấy, sau khi đến đã nói với người đàn bà ấy điều này: &#8211; “Thưa bà, có nhu cầu về chỉ sợi.” &#8211; “Này ông, không phải tôi đã nói với ông rằng: ‘Hãy dệt y với số chỉ sợi này.’” &#8211; “Thưa bà, sự thật là tôi đã được bà nói rằng: ‘Hãy dệt y với số chỉ sợi này;’ tuy nhiên, ngài đại đức Upananda đã nói với tôi như vầy: ‘Này đạo hữu, ngươi hãy làm dài, rộng, và chặt chẽ. Sẽ không bị thiếu hụt về chỉ sợi cho ngươi.’” Khi ấy, người đàn bà ấy đã cho số lượng chỉ sợi lần sau y như số lượng lần thứ nhất.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rồi đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã nghe được rằng: “Nghe nói người đàn ông ấy đi vắng nhà vừa mới trở về.” Sau đó, đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã đi đến tư gia của người đàn ông ấy, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, người đàn ông ấy đã đi đến gặp đại đức Upananda con trai dòng Sakya, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Upananda con trai dòng Sakya rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, người đàn ông ấy đã nói với người vợ điều này: &#8211; “Có phải y ấy đã được dệt?” &#8211; “Ông à, đúng vậy. Y ấy đã được dệt.” &#8211; “Hãy đem lại. Tôi sẽ dâng y cho ngài đại đức Upananda.” Sau đó, người đàn bà ấy đã đem y ấy đến đưa cho chồng và đã kể lại sự việc ấy. Khi ấy, người đàn ông ấy sau khi dâng y đến đại đức Upananda con trai dòng Sakya rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này thật ham muốn quá độ, không tự biết đủ. Không dễ gì mà dâng y cho những người này! Vì sao ngài đại đức Upananda khi chưa được tôi thỉnh cầu trước lại đi đến gặp các thợ dệt và đưa ra sự căn dặn về y?”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được người đàn ông ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Upananda con trai dòng Sakya khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến các thợ dệt của gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này Upananda, nghe nói ngươi khi chưa được thỉnh cầu trước đã đi đến gặp các thợ dệt của gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” &#8211; “Này Upananda, là thân quyến của ngươi hay không phải là thân quyến?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, không phải là thân quyến.” &#8211; “Này kẻ rồ dại, người không phải là thân quyến không biết điều gì thích hợp hay không thích hợp, điều gì đúng hay không đúng đối với người không phải là thân quyến. Này kẻ rồ dại, trong trường hợp ấy sao ngươi khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến gặp các thợ dệt của gia chủ không phải là thân quyến và đưa ra sự căn dặn về y? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Trường hợp có nam gia chủ hoặc nữ gia chủ không phải là thân quyến bảo các thợ dệt dệt thành y dành riêng cho vị tỳ khưu. Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu ấy khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến gặp các thợ dệt và đưa ra sự căn dặn về y: ‘Này đạo hữu, y này được dệt dành riêng cho tôi. Hãy làm (y ấy) dài, rộng, chắc chắn, hãy dệt cho khéo, dệt cho đều đặn, khéo cào, khéo chải. Có lẽ chúng tôi có thể biếu xén các ông vật gì đó.’ Và sau khi nói như vậy, nếu vị tỳ khưu ấy biếu xén vật gì dó dầu chỉ là đồ ăn khất thực thì</i> <i>(y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dành riêng cho vị tỳ khưu</b>: vì nhu cầu của vị tỳ khưu, lấy vị tỳ khưu làm đối tượng rồi có ý định dâng đến vị tỳ khưu.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Không phải là thân quyến</b> nghĩa là người không có sự liên hệ họ hàng cho đến bảy thế hệ tổ tiên từ dòng bên mẹ hoặc từ dòng bên cha.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nam gia chủ</b> nghĩa là bất cứ người nam nào sống trong căn nhà.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nữ gia chủ</b> nghĩa là bất cứ người nữ nào sống trong căn nhà.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Bởi) các thợ dệt</b>: (bởi) các người làm công việc dệt vải.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Y </b>nghĩa là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y (có kích thước) tối thiểu cần phải chú nguyện để dùng chung.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bảo dệt</b>: bảo đan lại.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu ấy</b>: vị tỳ khưu ấy là vị tỳ khưu mà y được dệt dành riêng cho.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi chưa được thỉnh cầu trước</b>: Chưa được nói trước rằng: “’Thưa ngài, ngài có nhu cầu với loại y như thế nào?” “Tôi sẽ dệt cho ngài y như thế nào?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đi đến gặp các thợ dệt</b>: sau khi đi đến nhà, sau khi đi đến gặp ở bất cứ nơi nào.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đưa ra sự căn dặn về y</b>: (Nói rằng): “Này đạo hữu, y này được dệt dành riêng cho tôi. Hãy làm (y ấy) dài, rộng, dày, hãy dệt cho khéo, dệt cho đều đặn, khéo cào, khéo chải.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có lẽ chúng tôi có thể biếu xén các ông vật gì đó.”</b> <b>Và sau khi nói như vậy, nếu vị tỳ khưu ấy biếu xén vật gì dó dầu chỉ là đồ ăn khất thực</b>: ― <b>Đồ ăn khất thực</b> nghĩa là cháo, bữa ăn, vật thực cứng, cục bột tắm, gỗ chà răng, nắm chỉ rời, ngay cả nói Pháp.</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Người thợ dệt) làm (y) dài, hoặc rộng, hoặc chặt chẽ theo lời nói của vị ấy; trong khi tiến hành thì (vị ấy) phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Do sự đạt được thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, y này của tôi khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến các thợ dệt của gia chủ không phải là thân quyến và đã đưa ra sự căn dặn về y, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ y này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="8">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến các thợ dệt của gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Không phải là thân quyến, có sự hoài nghi, ―(như trên)― Không phải là thân quyến, (lầm) tưởng là thân quyến, vị khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến các thợ dệt của gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="9">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là thân quyến, (lầm) tưởng không phải là thân quyến, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Là thân quyến, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Là thân quyến, nhận biết là thân quyến thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="10">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Của các thân quyến, của những người đã nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị bảo dệt (y) có giá trị thấp đối với người có ý định dệt (y) có giá trị cao, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học quan trọng về thợ dệt.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 18.6667px;">Điều học về y đặc biệt</span></span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có vị quan đại thần nọ sắp sửa đi xa đã phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nhắn rằng): &#8211; “Các đại đức hãy đi đến. Tôi sẽ dâng y của mùa (an cư) mưa.” Các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Y của mùa (an cư) mưa đã được đức Thế Tôn cho phép đến các vị đã trải qua mùa (an cư) mưa” rồi trong lúc ngần ngại đã không đi đến. Khi ấy, vị quan đại thần ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các đại đức khi được tôi phái sứ giả đến mời lại không đi đến? Bởi vì tôi đi việc quân đội, việc sống khó biết, việc chết khó hay.” Các tỳ khưu đã nghe được vị quan đại thần ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, Ta cho phép thọ lãnh y đặc biệt rồi để riêng</i>.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Y đặc biệt đã được đức Thế Tôn cho phép thọ lãnh rồi để riêng.” Các vị ấy sau khi thọ lãnh y đặc biệt rồi đã để vượt quá thời hạn về y. Các y ấy được buộc thành đống treo ở sào máng y. Đại đức Ānanda trong khi đi dạo quanh các trú xá đã nhìn thấy các y ấy được buộc thành đống treo ở sào máng y, sau khi nhìn thấy đã nói với các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các đại đức, các y đã được buộc thành đống treo ở sào máng y là của vị nào vậy?” &#8211; “Này đại đức, là các y đặc biệt của chúng tôi.” &#8211; “Này các đại đức, vậy các y này đã được để riêng bao lâu rồi?” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã kể lại cho đại đức Ānanda về việc (y) đã được để riêng như thế nào. Đại đức Ānanda phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các tỳ khưu sau khi thọ lãnh y đặc biệt lại để vượt quá thời hạn về y?” Sau đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)―</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu sau khi thọ lãnh y đặc biệt lại để vượt quá thời hạn về y, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy sau khi thọ lãnh y đặc biệt lại để vượt quá thời hạn về y vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Khi còn mười ngày là đến ngày rằm Kattika của ba tháng,</i>[12]<i> trường hợp vị tỳ khưu có y đặc biệt phát sanh, vị tỳ khưu nghĩ rằng là (y) đặc biệt rồi nên thọ lãnh, sau khi thọ lãnh nên để riêng cho đến hết thời hạn về y. Nếu để riêng vượt quá hạn ấy thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi còn mười ngày là đến</b>: mười ngày là sẽ đến lễ <i>Pavāraṇā</i>.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ngày rằm </b><b><i>Kattika</i></b><b> của ba tháng</b>: lễ <i>Pavāraṇā</i> là <i>Kattika</i> được nói đến.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Y đặc biệt</b> nghĩa là người có ý định đi vào quân đội, hoặc có ý định đi xa, hoặc là bị bệnh, hoặc là mang thai, hoặc là người không có niềm tin đã được sanh khởi niềm tin, hoặc là người không mộ đạo đã được sanh khởi lòng mộ đạo. Nếu người ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Các đại đức hãy đi đến. Tôi sẽ dâng y của mùa (an cư) mưa.” Y này gọi là y đặc biệt.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị tỳ khưu nghĩ rằng là (y) đặc biệt rồi nên thọ lãnh, sau khi thọ lãnh nên để riêng cho đến hết thời hạn về y</b>: Sau khi ghi nhận rằng: “Đây là y đặc biệt.” rồi nên để riêng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thời hạn về y </b>nghĩa là khi <i>Kaṭhina</i> không được thành tựu thì một tháng cuối của mùa mưa. Khi <i>Kaṭhina</i> được thành tựu thì năm tháng.[13]</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nếu để riêng vượt quá hạn ấy</b>: khi <i>Kaṭhina</i> không được thành tựu, vị vượt qua ngày cuối cùng của mùa mưa thì phạm vào <i>nissaggiya</i>. Khi <i>Kaṭhina</i> được thành tựu, vị vượt qua ngày hết hiệu lực <i>Kaṭhina</i> thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, y đặc biệt này của tôi đã vượt quá thời hạn về y, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ y này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Y đặc biệt, nhận biết là y đặc biệt, vị để vượt quá thời hạn về y thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Y đặc biệt, có sự hoài nghi, vị để vượt quá thời hạn về y thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Y đặc biệt, (lầm) tưởng không phải là y đặc biệt, vị để vượt quá thời hạn về y thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi chưa chú nguyện để dùng riêng, (lầm) tưởng là đã chú nguyện để dùng riêng, &#8230; Khi chưa chú nguyện để dùng chung, (lầm) tưởng là đã chú nguyện để dùng chung, &#8230; Khi chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đã phân phát, &#8230; Khi không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đã bị mất trộm, &#8230; Khi không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đã bị hư hỏng, &#8230; Khi không bị cháy, (lầm) tưởng là đã bị cháy, &#8230; Khi không bị cướp, (lầm) tưởng là đã bị cướp, vị để vượt quá thời hạn về y thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Y phạm vào <i>nissaggiya</i>, không xả bỏ rồi sử dụng, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Không phải là y đặc biệt, (lầm) tưởng là y đặc biệt, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Không phải là y đặc biệt, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Không phải là y đặc biệt, nhận biết không phải là y đặc biệt thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong thời hạn (về y), vị chú nguyện để dùng riêng, vị chú nguyện để dùng chung, vị phân phát, (y) bị mất trộm, (y) bị hư hỏng, (y) bị cháy, (những người khác) cướp rồi lấy đi, (các vị khác) lấy đi do sự thân thiết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về y đặc biệt.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 18.6667px;">Điều học về (chổ ngụ) nguy hiểm</span></span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đã trải qua mùa (an cư) mưa sống ở những chỗ trú ngụ trong các khu rừng. Bọn trộm cướp tháng <i>Kattika</i> (nghĩ rằng): “Các tỳ khưu đạt được lợi lộc” nên đã quấy nhiễu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị sống ở những chỗ trú ngụ trong các khu rừng được để lại một y nào đó của ba y ở trong xóm nhà</i>.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cho phép vị sống ở những chỗ trú ngụ trong các khu rừng được để lại một y nào đó của ba y ở trong xóm nhà” rồi để lại một y nào đó của ba y ở trong xóm nhà và xa lìa hơn sáu đêm. Các y ấy bị mất, bị hư hỏng, bị cháy, bị các con chuột gặm nhấm. Các tỳ khưu trở nên mặc vải tàn tạ và y phục thô xấu. Các tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, tại sao các vị lại trở nên mặc vải tàn tạ và y phục thô xấu?” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu sau khi để lại một y nào đó của ba y ở trong xóm nhà lại xa lìa hơn sáu đêm?”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu sau khi để lại một y nào đó của ba y ở trong xóm nhà lại xa lìa hơn sáu đêm, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy sau khi để lại một y nào đó của ba y ở trong xóm nhà lại xa lìa hơn sáu đêm vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Khi mùa (an cư) mưa đã qua ngày rằm Kattika, trường hợp có những chỗ trú ngụ ở trong rừng được xác định là có sự nguy hiểm, có sự kinh hoàng, và vị tỳ khưu đang sống ở các chỗ trú ngụ có hình thức như thế, khi mong mỏi có thể để lại một y nào đó của ba y ở trong xóm nhà. Nếu vị tỳ khưu ấy có lý do nào đó đưa đến việc xa lìa y ấy, vị tỳ khưu ấy nên xa lìa y ấy tối đa là sáu đêm. Nếu xa lìa vượt quá hạn ấy, ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu, thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi mùa (an cư) mưa đã qua</b>: là mùa mưa đã đuợc trải qua.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ngày rằm </b><b><i>Kattika</i></b>: ngày rằm <i>Kattika</i> của bốn tháng được đề cập đến.[14]</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Những chỗ trú ngụ ở trong rừng: </b>― <b>Chỗ trú ngụ ở trong rừng </b>nghĩa là cách (căn nhà) cuối cùng khoảng cách 500 cây cung.[15]</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có sự nguy hiểm</b> nghĩa là trong tu viện hoặc trong vùng phụ cận tu viện, chỗ cắm trại của bọn cướp được thấy, chỗ ăn được thấy, chỗ đứng được thấy, chỗ ngồi được thấy, chỗ nằm được thấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có sự kinh hoàng</b> nghĩa là trong tu viện hoặc trong vùng phụ cận tu viện, dân chúng bị giết bởi bọn cướp được thấy, bị cướp giật được thấy, bị đánh đập được thấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị tỳ khưu đang sống ở các chỗ trú ngụ có hình thức như thế</b>: là vị tỳ khưu đang sống ở các chỗ trú ngụ có hình thức như vậy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi mong mỏi</b>: khi ước muốn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Một y nào đó của ba y</b>: hoặc là y hai lớp, hoặc là thượng y, hoặc là y nội.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có thể để lại ở trong xóm nhà</b>: có thể để lại ở vùng xung quanh ngôi làng là khu vực đi khất thực.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nếu vị tỳ khưu ấy có lý do nào đó đưa đến việc xa lìa y ấy</b>: nếu có lý do, nếu có nguyên nhân.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị tỳ khưu ấy nên xa lìa y ấy tối đa là sáu đêm</b>: nên xa lìa nhiều nhất là sáu đêm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu</b>: Trừ ra có sự đồng ý của các tỳ khưu</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nếu xa lìa vượt quá hạn ấy</b>: Khi hừng đông ngày thứ bảy mọc lên thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, y này của tôi đã bị xa lìa quá sáu đêm, giờ cần được xả bỏ, ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu. Tôi xả bỏ y này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi quá hạn sáu đêm, nhận biết là đã quá hạn, vị xa lìa thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu. Khi quá hạn sáu đêm, có sự hoài nghi, vị xa lìa thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya </i>ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu. Khi quá hạn sáu đêm, (lầm) tưởng là chưa quá hạn, vị xa lìa thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i> ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu. Khi chưa nguyện xả, (lầm) tưởng là đã nguyện xả, &#8230; Khi chưa phân phát, (lầm) tưởng là đã phân phát, &#8230; Khi không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đã bị mất trộm, &#8230; Khi không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đã bị hư hỏng, &#8230; Khi không bị cháy, (lầm) tưởng là đã bị cháy, &#8230; Khi không bị cướp, (lầm) tưởng là đã bị cướp, vị xa lìa thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i> ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Y phạm vào <i>nissaggiya</i>, không xả bỏ rồi sử dụng, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa quá hạn sáu đêm, (lầm) tưởng là đã quá hạn, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa quá hạn sáu đêm, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa quá hạn sáu đêm, nhận biết là chưa quá hạn thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị xa lìa sáu đêm, vị xa lìa kém sáu đêm, sau khi xa lìa sáu đêm vị ấy đi vào lại trong ranh giới của làng cư ngụ rồi ra đi, vị nguyện xả trong đêm thứ sáu, vị phân phát, (y) bị mất trộm, (y) bị hư hỏng, (y) bị cháy, (những người khác) cướp rồi lấy đi, (các vị khác) lấy đi do sự thân thiết, với sự đồng ý của các tỳ khưu, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về (chỗ ngụ) nguy hiểm.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 18.6667px;">Điều học về &#8220;đã được khẳng định&#8221;</span></span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, trong thành Sāvatthī có bữa trai phạn có dâng y đến hội chúng của phường hội nọ được chuẩn bị (thông báo rằng): “Sau khi mời thọ thực, chúng tôi sẽ dâng y.” Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Lục sư đã đi đến gặp phường hội ấy, sau khi đến đã nói với phường hội ấy điều này: &#8211; “Này các đạo hữu, hãy dâng các y này cho chúng tôi.” &#8211; “Thưa các ngài, chúng tôi sẽ không dâng, bữa trai phạn có dâng y đến hội chúng hàng năm của chúng tôi đã được thông báo.” &#8211; “Này các đạo hữu, hội chúng có nhiều thí chủ, hội chúng có nhiều cơ hội. Chúng tôi sống ở đây nương nhờ vào quý vị, trông ngóng nơi quý vị. Nếu quý vị sẽ không bố thí đến chúng tôi, giờ còn ai sẽ bố thí cho chúng tôi? Này các đạo hữu, hãy dâng các y này cho chúng tôi.” Khi ấy, trong lúc bị các tỳ khưu nhóm Lục Sư ép buộc phường hội ấy đã dâng y được chuẩn bị như thế đến các tỳ khưu nhóm Lục Sư rồi dâng vật thực đến hội chúng. Những vị tỳ khưu nào biết được bữa trai phạn có dâng y đến hội chúng đã được chuẩn bị mà không biết được là: ‘(Y) đã được dâng đến các tỳ khưu nhóm Lục Sư,’ những vị ấy đã nói như vầy:</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các đạo hữu, hãy dâng y đến hội chúng.” &#8211; “Thưa các ngài, không có y như đã chuẩn bị, các ngài đại đức nhóm Lục Sư đã thuyết phục dâng cho bản thân.” Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư dầu biết lợi lộc đã được khẳng định là dâng đến hội chúng lại thuyết phục dâng cho bản thân?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi dầu biết lợi lộc đã được khẳng định là dâng đến hội chúng vẫn thuyết phục dâng cho bản thân, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi dầu biết lợi lộc đã được khẳng định là dâng đến hội chúng lại thuyết phục dâng cho bản thân vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào dầu biết lợi lộc đã được khẳng định là dâng đến hội chúng vẫn thuyết phục dâng cho bản thân thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.” </i></span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Biết</b> nghĩa là tự mình biết, hoặc những người khác nói cho vị ấy, hoặc người ấy nói.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Dâng đến) hội chúng</b> nghĩa là đã được dâng đến, đã được giao hẳn cho hội chúng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Lợi lộc</b> nghĩa là các vật dụng như là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh ngay cả cục bột tắm, gỗ chà răng, nắm chỉ rời.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đã được khẳng định là dâng đến </b>nghĩa là lời nói đã được phát ra rằng: “Chúng tôi sẽ dâng, chúng tôi sẽ làm.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị thuyết phục dâng cho bản thân, trong khi tiến hành thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Do sự đạt được thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (vật ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, vật này của tôi đã được thuyết phục dâng cho bản thân dầu biết lợi lộc đã được khẳng định là dâng đến hội chúng, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)―<i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi đã được khẳng định, nhận biết là đã được khẳng định, vị thuyết phục dâng cho bản thân thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi đã được khẳng định, có sự hoài nghi, vị thuyết phục dâng cho bản thân thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi đã được khẳng định, (lầm) tưởng là chưa được khẳng định, vị thuyết phục dâng cho bản thân thì vô tội. Khi đã được khẳng định là dâng đến hội chúng, vị thuyết phục dâng đến hội chúng khác hoặc bảo tháp thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>. Khi đã được khẳng định là dâng đến bảo tháp, vị thuyết phục dâng đến bảo tháp khác, hoặc hội chúng, hoặc nhóm, hoặc cá nhân thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi đã được khẳng định là dâng cho cá nhân, vị thuyết phục dâng cho cá nhân khác, hoặc hội chúng, hoặc nhóm, hoặc bảo tháp thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa được khẳng định, (lầm) tưởng là đã được khẳng định, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa được khẳng định, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa được khẳng định, nhận biết là chưa được khẳng định thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi được hỏi rằng: “Chúng tôi dâng nơi nào?” vị nói rằng: “Nơi nào mà pháp bố thí của quý vị có thể đạt được sự hữu dụng, hoặc có thể được làm vật sửa chữa, hoặc có thể tồn tại lâu dài, hoặc nơi nào tâm của quý vị hoan hỷ thì hãy dâng nơi đó,” vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về ‘đã được khẳng định.’</b></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phẩm Bình Bát là thứ ba.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tóm lược phần này</span></h4>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai điều về bình bát, dược phẩm, thuộc mùa mưa, việc lấy lại (y) là thứ năm. Tự mình, việc bảo dệt, (y) đặc biệt, sự nguy hiểm, và thuộc về hội chúng.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch chư đại đức, ba mươi điều <i>nissaggiya pācittiya</i> đã được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Các đại đức được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[(Y) phụ trội, chỉ một đêm, (y) ngoài hạn kỳ, việc giặt y cũ, và việc nhận lãnh ấy nữa, việc yêu cầu, và vượt quá số y ấy, luôn cả hai điều về chưa được thỉnh cầu, và về việc nhắc nhở đến lần thứ ba.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Được trộn lẫn, luôn cả thuần (màu đen), có cân lượng, và hàng năm, tấm trải lót cũ, và việc mang đi các lông cừu, việc giặt (lông cừu), luôn cả vàng bạc, và hai việc (trao đổi với mua bán) dưới nhiều hình thức.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bình bát phụ trội, và chưa đủ (năm) miếng vá, dược phẩm, vải choàng (tắm mưa), việc giật lại (y) vì bị nổi giận, hai điều về thợ dệt, và với y đặc biệt, với việc xa lìa sáu đêm, và sự thuyết phục dâng cho bản thân.”][16]</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt ba mươi điều. </b></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>DỨT BỘ </b><b><i>PĀRĀJIKAPĀḶI</i></b><b>.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Cân (<i>tulā</i>) là đơn vị đo trọng lượng. Theo cách tính của ngài Mahāsamaṇa Chao ở trong <i>Vinayamukha</i>thì 1 <i>tulā</i> có trọng lượng của 160.000 hạt gạo.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Từ điển của Childers ghi rằng 1 <i>yojana</i> là vào khoảng 12 <i>miles</i>, còn từ điển của <i>Pali Text Society</i> lại ghi là khoảng 7 <i>miles</i>. Trong khi đó <i>The Buddhist Monastic Code</i> của Thanissaro bhikkhu cho biết 1 <i>yojana</i> = 10 <i>miles</i> = 16 km.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Nếu dựa vào câu chuyện này thì giá trị của 1 <em>pāda</em> hoặc 5 <em>māsaka</em> (= ¼ <em>kahāpaṇa</em>) vào thời bấy giờ không cao lắm, xin xem lại <em>pārājika</em> điều hai (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] <i>Aḍḍhāḷhakodanaṃ</i> (<i>aḍḍha-āḷhaka-odanaṃ</i>). <i>Aḍḍha</i> là một nửa, <i>āḷhaka</i> là đơn vị đo thể tích, <i>odanaṃ</i> là cơm đã được nấu. Tuy nhiên, nên hiểu là “cơm đã được nấu từ ½<i> āḷhaka </i>gạo” (VinA. iii, 703), chứ không phải “lượng cơm là ½<i> āḷhaka.</i>” Người Việt chúng ta cũng nói ăn hết 1 lon là ăn hết 1 lon gạo chứ không phải 1 lon cơm, Ngài Mahāsamaṇa Chao cũng giải thích tương tợ; trong khi đó dịch giả I.B. Horner dịch theo ý sau, nghĩa là “lượng cơm là ½<i> āḷhaka.</i>”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Theo ngài Mahāsamaṇa Chao giải thích ở <i>Vinayamukha</i> thì 1 <i>āḷhaka</i> = 4 <i>nāḷi</i>/<i>nāḷika </i>= 8 <i>pattha</i> (1 <i>nāli</i>= 2 <i>pattha</i>). <i>Pattha</i> là lượng chứa do hai tay bụm lại. Khi dùng các lượng ½ <i>āḷhaka</i>, 1 <i>nāli</i>, 1 <i>pattha</i> gạo rồi nấu lên thành cơm thì các lượng cơm ấy theo thứ tự là sức chứa đựng của ba loại bình bát cỡ lớn, cỡ vừa, và cỡ nhỏ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] <i>Dvaṅgula</i> (hai ngón tay): <i>aṅgula</i> là chiều dài của ngón tay tương đương độ dài của 7 hạt gạo (VibhA<i>.</i>343). <i>The Buddhist Monastic Code</i> cho biết độ dài của hai ngón tay <i>dvaṅgula</i> khoảng 2 <i>inches</i> = 5,08 cm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Theo lời giải thích của Ngài Buddhaghosa thì vị nào vì lòng thương hại mà không nhận lấy thì mới phạm tội <i>dukkaṭa</i>, còn vị tự biết đủ (nghĩ rằng): “Bình bát khác cho tôi làm gì?” rồi không nhận lấy thì vô tội (VinA. iii, 708).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Không nên sử dụng sái với cách thức dùng ví dụ như nấu cơm, nấu cháo, nấu thuốc nhuộm, v.v&#8230; Tuy nhiên, khi đi đường xa nếu bị bệnh và không có vật gì để nấu thì nên bôi đất sét ở bên ngoài rồi nấu cháo hoặc nấu nước (VinA. iii, 709).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Vị tỳ khưu không được dùng mười loại thịt: thịt người, thịt voi, thịt ngựa, thịt chó, thịt rắn, thịt sư tử, thịt hổ, thịt beo, thịt gấu, thịt chó sói (<i>Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm</i>, TTPV tập 5, chương VI, trang 557-561).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[10] Ví dụ như khi được phát sanh dầu ăn thì được cất giữ trong thời hạn bảy ngày, trường hợp quyết định làm dầu bôi ở đầu, thuốc thoa tay chân và vết thương thì không phạm tội. Lý do là vì khi sử dụng làm thuốc thoa nên trở thành vật có thể cất giữ đến hết đời (VinA. iii, 718).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[11] Chú giải cho một ví dụ là vị mặc y choàng tắm trị giá cao trong khi tắm sẽ có sự nguy hiểm về trộm cướp (Vin.A. iii, 723).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[12] <i>Kattikatemāsipuṇṇamā</i> (ngày rằm <i>Kattika</i> của ba tháng): Tương đương rằm tháng 9 âm lịch Việt Nam là ngày cuối cùng của mùa (an cư) mưa thời kỳ đầu, ngày này còn là ngày làm lễ <i>Pavāraṇā</i> của các vị tỳ khưu đã trải qua mùa (an cư) mưa thời kỳ đầu. Còn <i>Kattikacatumāsipuṇṇamā</i> (ngày rằm <i>Kattika</i> của bốn tháng) tương đương rằm tháng 10 âm lịch (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[13] Thời hạn về y: nghĩa là khi <i>Kaṭhina</i> không được thành tựu thì một tháng cuối của mùa mưa tương đương 16 tháng chín âm lịch đến hết rằm tháng mười âm lịch; thời gian này còn là thời kỳ dâng y <i>Kaṭhina</i>. Nếu <i>Kaṭhina</i> được thành tựu thì thời hạn về y được kéo dài đến khi nào <i>Kaṭhina</i> còn hiệu lực, hoặc đến hết rằm tháng 2 năm sau tức là thời hạn 5 tháng (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[14] Theo âm lịch của Việt Nam là rằm tháng 10.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[15] <em>The Buddhist Monastic Code</em> cho biết khoảng cách của 500 cây cung độ chừng 1 km.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[16] Những câu kệ phụ trội này chỉ được thấy ở Tạng Tích Lan.</span></p>
<blockquote><p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p></blockquote>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><em><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người dịch: Tỳ khưu Indacanda &#8211; Nguồn TamtangPaliViet.net</span></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG NISSAGGIYA PHẨM Y &#8211; ĐIỀU HỌC VỀ ĐỨC VUA</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-5-nissaggiya-dieu-hoc-ve-duc-vua/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 03:28:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58173</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 5: Nissaggiya Điều học về đức vua Lúc bấy giờ, đức Phật Thế]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương 5: Nissaggiya</span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Điều học về đức vua</span></h4>
<ol>
<li><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có vị quan đại thần, là người hộ độ cho đại đức Upananda con trai dòng Sakya, đã phái sứ giả đem tiền mua y đến đại đức Upananda con trai dòng Sakya (bảo rằng): &#8211; “Hãy mua y với số tiền mua y này rồi dâng y đến ngài đại đức Upananda.” Sau đó, người sứ giả ấy đã đi đến đại đức Upananda con trai dòng Sakya, sau khi đến đã nói với đại đức Upananda con trai dòng Sakya điều này: &#8211; “Thưa ngài, số tiền mua y này được dành riêng cho đại đức đã được mang lại. Xin đại đức hãy nhận lãnh tiền mua y.” Khi được nói như thế, đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã nói với người sứ giả ấy điều này: &#8211; “Này đạo hữu, chúng tôi không nhận lãnh tiền mua y và chúng tôi chỉ nhận lãnh y đúng phép vào lúc hợp thời.” Khi được nói như thế, người sứ giả ấy đã nói với đại đức Upananda con trai dòng Sakya điều này: &#8211; “Vậy có ai là người phục vụ cho đại đức không?” Vào lúc bấy giờ, có nam cư sĩ nọ đã đi đến tu viện do công việc cần làm nào đó. Khi ấy, đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã nói với người sứ giả ấy điều này: &#8211; “Này đạo hữu, chính nam cư sĩ này là người phục vụ cho các tỳ khưu.” Sau đó, khi đã dặn dò nam cư sĩ ấy, người sứ giả ấy đã đi đến gặp đại đức Upananda con trai dòng Sakya, sau khi đến đã nói với đại đức Upananda con trai dòng Sakya điều này: &#8211; “Thưa ngài, người phục vụ mà đại đức chỉ ra đã được tôi dặn dò. Đại đức hãy đi đến lúc đúng thời, người ấy sẽ dâng y cho ngài.”</span></li>
</ol>
<ol>
<li><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ, vị quan đại thần ấy đã phái sứ giả đi đến gặp đại đức Upananda con trai dòng Sakya (nhắn rằng): &#8211; “Thưa ngài, xin hãy sử dụng y ấy. Chúng tôi muốn y ấy được ngài đại đức sử dụng.” Khi ấy, đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã không nói với nam cư sĩ ấy điều gì cả. Đến lần thứ nhì, vị quan đại thần ấy đã phái sứ giả đi đến gặp đại đức Upananda con trai dòng Sakya (nhắn rằng): &#8211; “Thưa ngài, xin hãy sử dụng y ấy. Chúng tôi muốn y ấy được ngài đại đức sử dụng.” Đến lần thứ nhì, đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã không nói với nam cư sĩ ấy điều gì cả. Đến lần thứ ba, vị quan đại thần ấy đã phái sứ giả đi đến gặp đại đức Upananda con trai dòng Sakya (nhắn rằng): &#8211; “Thưa ngài, xin hãy sử dụng y ấy. Chúng tôi muốn y ấy được ngài đại đức sử dụng.”</span></li>
</ol>
<ol>
<li><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Vào lúc bấy giờ là ngày hội họp của thị trấn. Và thị trấn đã thực hiện quy định là: “Ai đi đến trễ bị phạt năm mươi tiền.” Khi ấy, đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã đi đến gặp nam cư sĩ ấy, sau khi đến đã nói với nam cư sĩ ấy điều này:</span></li>
</ol>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211; “Này đạo hữu, tôi có nhu cầu về y.” &#8211; “Thưa ngài, xin hãy chờ cho ngày hôm nay. Hôm nay là ngày hội họp của thị trấn. Và thị trấn đã thực hiện quy định là: ‘Ai đi đến trễ bị phạt năm mươi tiền.’” &#8211; “Này đạo hữu, hãy dâng y cho tôi ngay hôm nay,” rồi đã nắm lấy dây thắt lưng (của người ấy).” Khi ấy, nam cư sĩ ấy trong lúc bị đại đức Upananda con trai dòng Sakya ép buộc nên đã mua y cho đại đức Upananda con trai dòng Sakya và đã đi đến trễ. Dân chúng đã nói với nam cư sĩ ấy điều này: &#8211; “Này ông, vì sao ông lại đi đến trễ? Ông đã bị mất năm mươi tiền.”</span></p>
<ol>
<li><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Khi ấy, nam cư sĩ ấy đã kể lại sự việc ấy cho những người ấy. Những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này thật ham muốn quá độ, không tự biết đủ. Không dễ gì mà phục vụ cho những người này! Vì sao đại đức Upananda con trai dòng Sakya khi được nam cư sĩ nói rằng: ‘Thưa ngài, xin hãy chờ cho ngày hôm nay’ lại không chờ đợi?” Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Upananda con trai dòng Sakya khi được nam cư sĩ nói rằng: ‘Thưa ngài, xin hãy chờ cho ngày hôm nay’ lại không chờ đợi?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này Upananda, nghe nói ngươi khi được nam cư sĩ nói rằng: ‘Thưa ngài, xin hãy chờ cho ngày hôm nay’ lại không chờ đợi, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― “Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi khi được nam cư sĩ nói rằng: ‘Thưa ngài, xin hãy chờ cho ngày hôm nay’ lại không chờ đợi? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">“<em>Trường hợp đức vua, hoặc quan triều đình, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ phái sứ giả đem số tiền mua y dành riêng cho vị tỳ khưu (nói rằng): ‘Hãy mua y với số tiền mua y này rồi hãy dâng đến vị tỳ khưu tên (như vầy).’ Nếu người sứ giả ấy đi đến gặp vị tỳ khưu ấy và nói như vầy: ‘Thưa ngài, số tiền mua y này được dành riêng cho đại đức đã được mang lại. Xin đại đức hãy nhận lãnh tiền mua y.’ Người sứ giả ấy nên được vị tỳ khưu ấy nói như vầy: ‘Này đạo hữu, chúng tôi không nhận lãnh tiền mua y và chúng tôi chỉ nhận lãnh y đúng phép vào lúc hợp thời.’ Nếu người sứ giả ấy nói với vị tỳ khưu ấy như vầy: ‘Vậy có ai là người phục vụ cho đại đức không?’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có sự cần dùng y nên chỉ ra người phục vụ là người phụ việc chùa hoặc là nam cư sĩ: ‘Này đạo hữu, đây chính là người phục vụ cho các tỳ khưu.’ Nếu người sứ giả ấy sau khi đã dặn dò người phục vụ ấy rồi đã đi đến gặp vị tỳ khưu ấy nói như vầy: ‘Thưa ngài, người phục vụ mà đại đức đã chỉ ra đã được tôi dặn dò. Đại đức hãy đi đến lúc đúng thời, người ấy sẽ dâng y cho ngài.’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có sự cần dùng y sau khi đi đến gặp người phục vụ ấy rồi nên thông báo nên nhắc nhở hai hoặc ba lần: ‘Này đạo hữu, tôi có nhu cầu về y.’</em></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><em> Trong khi thông báo nhắc nhở hai hoặc ba lần, nếu đạt được y ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không đạt được thì nên đứng với trạng thái im lặng bốn lần, năm lần, tối đa là sáu lần. Trong khi đứng với trạng thái im lặng bốn lần, năm lần, tối đa là sáu lần, nếu đạt được y ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không đạt được rồi ra sức vượt quá số lần ấy và đạt được y ấy thì (y ấy) phạm vào nissaggiya và (vị ấy) phạm tội pācittiya. Nếu không đạt được thì tiền mua y đã được mang lại là của nơi nào thì nên đích thân đi đến nơi ấy, hoặc nên phái sứ giả đi đến (nói rằng): ‘Này quý vị, các người đã gởi đến số tiền mua y dành riêng cho vị tỳ khưu nào, số tiền ấy không có được chút gì lợi ích cho vị tỳ khưu ấy. Quý vị hãy thâu hồi lại vật của mình, chớ để vật của quý vị bị mất mát. Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy</em>.”</span></p>
<ol>
<li><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Dành riêng cho vị tỳ khưu</strong>: vì nhu cầu của vị tỳ khưu, sau khi nghĩ đến vị tỳ khưu rồi có ý định dâng vị tỳ khưu.</span></li>
</ol>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Đức vua</strong> nghĩa là người nào cai trị vương quốc.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Quan triều đình</strong> nghĩa là người nào nhận lãnh bữa ăn và tiền lương của đức vua.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Bà-la-môn</strong> nghĩa là Bà-la-môn do sự sanh ra.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Gia chủ</strong> nghĩa là trừ ra các vị vua, các quan triều đình, các Bà-la-môn; những người còn lại gọi là gia chủ.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Số tiền mua y</strong> nghĩa là vàng, hoặc là tiền vàng, hoặc là ngọc trai, hoặc ngọc là ma-ni.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Với số tiền mua y này</strong>: với (số tiền) đã được sẵn sàng.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Sau khi mua y</strong>: sau khi trao đổi.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Hãy dâng đến</strong>: hãy trao cho.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nếu người sứ giả ấy đi đến gặp vị tỳ khưu ấy và nói như vầy: ‘Thưa ngài, số tiền mua y này được dành riêng cho đại đức đã được mang lại. Xin đại đức hãy nhận lãnh tiền mua y.’ Người sứ giả ấy nên được vị tỳ khưu ấy nói như vầy: ‘Này đạo hữu, chúng tôi không nhận lãnh tiền mua y và chúng tôi chỉ nhận lãnh y đúng phép vào lúc hợp thời.’ Nếu người sứ giả ấy nói với vị tỳ khưu ấy như vầy: ‘Vậy có ai là người phục vụ cho đại đức không?’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có sự cần dùng y nên chỉ ra người phục vụ là người phụ việc chùa hoặc là nam cư sĩ: ‘<em>Này đạo hữu, đây chính là người phục vụ cho các tỳ khưu</em>.’ Không nên nói: ‘<em>Hãy trao cho người ấy</em>;’ hoặc ‘<em>Người ấy sẽ cất giữ;</em>’ hoặc ‘<em>Người ấy sẽ trao đổi</em>;’ hoặc ‘<em>Người ấy sẽ mua</em>.’</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nếu người sứ giả ấy sau khi đã dặn dò người phục vụ ấy rồi đã đi đến gặp vị tỳ khưu ấy nói như vầy: ‘Thưa ngài, người phục vụ mà đại đức đã chỉ ra đã được tôi dặn dò. Đại đức hãy đi đến lúc đúng thời, người ấy sẽ dâng y cho ngài.’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có sự cần dùng y sau khi đi đến gặp người phục vụ ấy rồi nên thông báo, nên nhắc nhở hai hoặc ba lần: ‘<em>Này đạo hữu, tôi có nhu cầu về y</em>.’ Không nên nói: ‘<em>Hãy dâng y cho tôi;</em>’ ‘<em>Hãy mang lại y cho tôi;</em>’ ‘<em>Hãy trao đổi y cho tôi</em>;’ ‘<em>Hãy mua y cho tôi</em>.’ Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu đạt được (y), như thế việc này là tốt đẹp.</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nếu không đạt được thì sau khi đi đến nơi ấy nên đứng với trạng thái im lặng. Không nên ngồi xuống chỗ ngồi. Không nên thọ nhận vật thực. Không nên thuyết Pháp. Nếu được hỏi: ‘Ngài đã đi đến vì lý do gì?’ Nên nói rằng: ‘Này đạo hữu, ngươi hãy biết lấy.’ Nếu ngồi xuống chỗ ngồi, hoặc thọ nhận vật thực, hoặc thuyết Pháp, thì làm hỏng việc đứng. Lần thứ nhì, nên đứng. Lần thứ ba, nên đứng. Sau khi thông báo bốn lần, nên đứng bốn lần. Sau khi thông báo năm lần, nên đứng hai lần. Sau khi thông báo sáu lần thì không nên đứng. Nếu không đạt được rồi ra sức vượt quá số lần ấy và đạt được y ấy, trong lúc thực hiện thì (vị ấy) phạm tội <em>dukkaṭa</em>. Do sự đạt được thì phạm vào <em>nissaggiya</em>, (y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<em>Bạch các ngài, y này của tôi đã đạt được do sự thông báo quá ba lần và đứng quá sáu lần, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ y này đến hội chúng.</em>” ―(như trên)― <em>hội chúng nên cho lại</em> ―(như trên)― <em>chư đại đức nên cho lại</em> ―(như trên)― “<em>Tôi cho lại đại đức</em>.”</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Nếu không đạt được thì tiền mua y đã được mang lại là của nơi nào thì nên đích thân đi đến nơi ấy hoặc nên phái sứ giả đi đến (nói rằng): “Này quý vị, các người đã gởi đến số tiền mua y dành riêng cho vị tỳ khưu nào, số tiền ấy không có được chút gì lợi ích cho vị tỳ khưu ấy. Quý vị hãy thâu hồi lại vật của mình, chớ để vật của quý vị bị mất mát.”</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy</strong>: Đây là điều hợp lý trong trường hợp ấy.</span></p>
<ol>
<li><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với sự thông báo hơn ba lần, với việc đứng hơn sáu lần, nhận biết là đã vượt quá, vị đạt được thì phạm tội <em>nissaggiya pācittiya</em>. Với sự thông báo hơn ba lần, với việc đứng hơn sáu lần, có sự hoài nghi, vị đạt được thì phạm tội <em>nissaggiya pācittiya</em>. Với sự thông báo hơn ba lần, với việc đứng hơn sáu lần, (lầm) tưởng là chưa đủ, vị đạt được thì phạm tội <em>nissaggiya pācittiya</em>. Với sự thông báo chưa đủ ba lần, với việc đứng chưa đủ sáu lần, (lầm) tưởng là đã vượt quá, phạm tội <em>dukkaṭa</em>. Với sự thông báo chưa đủ ba lần, với việc đứng chưa đủ sáu lần, có sự hoài nghi, phạm tội <em>dukkaṭa</em>. Với sự thông báo chưa đủ ba lần, với việc đứng chưa đủ sáu lần, nhận biết là chưa đủ thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol>
<li><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Với sự thông báo ba lần, với việc đứng sáu lần, với sự thông báo chưa đủ ba lần, với việc đứng chưa đủ sáu lần, (người ấy) dâng khi chưa được thông báo, thí chủ dâng sau khi thông báo, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Dứt điều học về đức vua.</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Phẩm Y là thứ nhất.</strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Tóm lược phần này</strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> <em>Kaṭhina</em> đã hết hiệu lực có ba điều, việc giặt, và việc nhận lãnh, ba điều nữa về không phải là thân quyến, của cả hai, và bởi người sứ giả.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<blockquote><p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p></blockquote>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><em><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người dịch: Tỳ khưu Indacanda &#8211; Nguồn TamtangPaliViet.net</span></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG NISSAGGIYA PHẨM Y &#8211; ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT VÀ THỨ NHÌ VỀ (SỐ TIỀN) ĐÃ ĐƯỢC CHUẨN BỊ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-5-nissaggiya-dieu-hoc-thu-nhat-va-thu-nhi-ve-so-tien-da-duoc-chuan-bi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 03:25:42 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58170</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 5: Nissaggiya Điều học thứ nhất về (số tiền) đã được chuẩn bị]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</strong> </span></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương 5: Nissaggiya</span></h3>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 14pt;">Điều học thứ nhất về (số tiền) đã được chuẩn bị</span> </span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ đã nói với người vợ điều này: &#8211; “Tôi sẽ dâng y đến ngài đại đức Upananda.” Khi người đàn ông ấy đang nói lời này, có vị tỳ khưu nọ là vị hành pháp khất thực đã nghe được. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đi đến gặp đại đức Upananda con trai dòng Sakya, sau khi đến đã nói với đại đức Upananda con trai dòng Sakya điều này: &#8211; “Này đại đức Upananda, ngài có phước báu lớn lao. Ở chỗ kia, có người đàn ông nọ đã nói với người vợ điều này: ‘Tôi sẽ dâng y đến ngài đại đức Upananda.’” &#8211; “Này đại đức, người ấy là người hộ độ cho tôi.” Sau đó, đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã đi đến gặp người đàn ông ấy, sau khi đến đã nói với người đàn ông ấy điều này: &#8211; “Này đạo hữu, nghe nói đạo hữu có ý định dâng y đến tôi, có đúng không vậy?” &#8211; “Thưa ngài, tôi cũng có khởi ý như vầy: ‘Tôi sẽ dâng y đến ngài đại đức Upananda.’” &#8211; “Này đạo hữu, nếu quả thật đạo hữu có ý định dâng y đến tôi thì hãy dâng y có hình thức như vầy. Tôi được dâng y mà tôi sẽ không sử dụng thì tôi sẽ làm gì với y ấy?”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, người đàn ông ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này thật ham muốn quá độ, không tự biết đủ. Không dễ gì mà dâng y cho những người này! Vì sao ngài đại đức Upananda khi chưa được tôi thỉnh cầu trước lại đi đến và đưa ra sự căn dặn về y?” Các tỳ khưu đã nghe được người đàn ông ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Upananda con trai dòng Sakya khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến gặp gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này Upananda, nghe nói ngươi khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến gặp gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” “Này Upananda, là thân quyến của ngươi hay không phải là thân quyến?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, không phải là thân quyến.” “Này kẻ rồ dại, người không phải là thân quyến không biết điều gì thích hợp hay không thích hợp, điều gì đúng hay không đúng đối với người không phải là thân quyến. Này kẻ rồ dại, trong trường hợp ấy sao ngươi khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến gặp gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Trường hợp có số tiền mua y của nam gia chủ hoặc nữ gia chủ không phải là thân quyến đã được chuẩn bị dành riêng cho vị tỳ khưu: ‘Với số tiền mua y này sau khi mua y tôi sẽ dâng y đến vị tỳ khưu tên (như vầy).’ Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu ấy khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến và đưa ra sự căn dặn về y: ‘Quả thật là tốt, với số tiền mua y này ông hãy mua y có hình thức như vầy và như vầy rồi dâng cho tôi;’ vì sự mong muốn y tốt đẹp, (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dành riêng cho vị tỳ khưu</b>: vì nhu cầu của vị tỳ khưu, sau khi nghĩ đến vị tỳ khưu rồi có ý định dâng vị tỳ khưu.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Không phải là thân quyến</b> nghĩa là người không có sự liên hệ họ hàng cho đến bảy thế hệ tổ tiên từ dòng bên mẹ hoặc từ dòng bên cha.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nam gia chủ</b> nghĩa là bất cứ người nam nào sống trong căn nhà.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nữ gia chủ</b> nghĩa là bất cứ người nữ nào sống trong căn nhà.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Số tiền mua y</b> nghĩa là vàng, hoặc là tiền vàng, hoặc là ngọc trai, hoặc là ngọc ma-ni, hoặc là đá quý, hoặc là pha lê, hoặc là vải vóc, hoặc là chỉ sợi, hoặc là bông vải.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Với số tiền mua y này</b>: với (số tiền) đã được sẵn sàng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sau khi mua y</b>: sau khi trao đổi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tôi sẽ dâng</b>: tôi sẽ cho.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu ấy</b>: vị tỳ khưu ấy là vị tỳ khưu mà số tiền mua y đã được chuẩn bị dành riêng cho.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chưa được thỉnh cầu trước</b>: chưa được nói trước rằng: “Thưa ngài, ngài có nhu cầu với loại y như thế nào?” “Tôi sẽ mua y như thế nào cho ngài?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Lại đi đến</b>: sau khi đi đến nhà, sau khi đi đến gặp ở bất cứ nơi nào.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đưa ra sự căn dặn về y</b>: (Y) hãy dài, hoặc rộng, hoặc chắc, hoặc mịn màng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Với số tiền mua y này</b>: với (số tiền) đã được sẵn sàng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có hình thức như vầy và như vầy</b>: là dài, hoặc rộng, hoặc chắc, hoặc mịn màng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sau khi mua</b>: sau khi trao đổi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Đạo hữu) hãy dâng cho</b>: hãy trao cho.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vì sự mong muốn y tốt đẹp</b>: có ao ước vật tốt, có ao ước vật giá cao.</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Gia chủ) mua (y) dài, hoặc rộng, hoặc chắc, hoặc mịn màng theo lời nói của vị ấy. Trong lúc thực hiện thì (vị ấy) phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Do sự đạt được thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, y này của tôi khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến gia chủ không phải là thân quyến và đã đưa ra sự căn dặn về y, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ y này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Không phải là thân quyến, có sự hoài nghi, ―(như trên)― Không phải là thân quyến, (lầm) tưởng là thân quyến, khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Là thân quyến, (lầm) tưởng không phải là thân quyến, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Là thân quyến, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Là thân quyến, nhận biết là thân quyến thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Của các thân quyến, của những người đã nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị bảo mua (y) giá thấp đối với người có ý định mua (y) giá cao, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học thứ nhất về (số tiền) đã được chuẩn bị.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 14pt;">Điều học thứ nhì về (số tiền) đã được chuẩn bị</span> </span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ đã nói với người đàn ông khác điều này: &#8211; “Tôi sẽ dâng y đến ngài đại đức Upananda.” Người kia cũng đã nói như vầy: &#8211; “Tôi cũng sẽ dâng y đến ngài đại đức Upananda.” Có vị tỳ khưu nọ là vị hành pháp khất thực đã nghe được cuộc nói chuyện này của những người đàn ông ấy. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đi đến gặp đại đức Upananda con trai dòng Sakya, sau khi đến đã nói với đại đức Upananda con trai dòng Sakya điều này: &#8211; “Này đại đức Upananda, ngài có phước báu lớn lao. Ở chỗ kia, có người đàn ông nọ đã nói với người đàn ông khác điều này: ‘Tôi sẽ dâng y đến ngài đại đức Upananda.’ Người kia cũng đã nói như vầy: ‘Tôi cũng sẽ dâng y đến ngài đại đức Upananda.’” &#8211; “Này đại đức, họ là những người hộ độ cho tôi.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã đi đến gặp những người đàn ông ấy, sau khi đến đã nói với những người đàn ông ấy điều này: &#8211; “Này các đạo hữu, nghe nói các đạo hữu có ý định dâng các y đến tôi, có đúng không vậy?” &#8211; “Thưa ngài, chúng tôi cũng có khởi ý như vầy: ‘Chúng tôi sẽ dâng các y đến ngài đại đức Upananda.’” &#8211; “Này các đạo hữu, nếu quả thật các đạo hữu có ý định dâng các y đến tôi thì nên dâng y có hình thức như vầy. Tôi được dâng những y mà tôi sẽ không sử dụng thì tôi sẽ làm gì với các y ấy?”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, những người đàn ông ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này thật ham muốn quá độ, không tự biết đủ. Không dễ gì mà dâng các y cho những người này! Tại sao ngài đại đức Upananda khi chưa được chúng tôi thỉnh cầu trước lại đi đến và đưa ra sự căn dặn về y?” Các tỳ khưu đã nghe được những người đàn ông ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Upananda con trai dòng Sakya khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến gặp các gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y?”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này Upananda, nghe nói ngươi khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến gặp các gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” &#8211; “Này Upananda, là các thân quyến của ngươi hay không phải là các thân quyến?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, không phải là các thân quyến.” &#8211; “Này kẻ rồ dại, người không phải là thân quyến không biết điều gì thích hợp hay không thích hợp, điều gì đúng hay không đúng đối với những người không phải là thân quyến. Này kẻ rồ dại, trong trường hợp ấy sao ngươi khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến gặp các gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Trường hợp có</i> <i>các số tiền mua y khác nhau của hai nam gia chủ hoặc (của hai) nữ gia chủ không phải là các thân quyến đã được chuẩn bị dành riêng cho vị tỳ khưu: ‘Với các số tiền mua y khác nhau này sau khi mua các y khác nhau chúng tôi sẽ dâng các y đến vị tỳ khưu tên (như vầy).’ Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu ấy khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến và đưa ra sự căn dặn về y: ‘Quả thật là tốt, với các số tiền mua y này quý ông hãy mua y có hình thức như vầy và như vầy rồi hãy dâng cho tôi, cả hai là với một (y);’ vì sự mong muốn y tốt đẹp, (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dành riêng cho vị tỳ khưu</b>: vì nhu cầu của vị tỳ khưu, sau khi nghĩ đến vị tỳ khưu rồi có ý định dâng vị tỳ khưu.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Của hai</b>: của cả hai.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Không phải là các thân quyến</b> nghĩa là những người không có sự liên hệ họ hàng cho đến bảy thế hệ tổ tiên từ dòng bên mẹ hoặc từ dòng bên cha.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Các) nam gia chủ</b> nghĩa là bất cứ những người nam nào sống trong căn nhà.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Các) nữ gia chủ</b> nghĩa là bất cứ những người nữ nào sống trong căn nhà.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Các số tiền mua y</b> nghĩa là nhiều vàng, hoặc là các tiền vàng, hoặc là các ngọc ma-ni, hoặc là các ngọc trai, hoặc là các đá quý, hoặc là các pha lê, hoặc là nhiều vải vóc, hoặc là nhiều chỉ sợi, hoặc là nhiều bông vải.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Với các số tiền mua y này</b>: với (các số tiền) đã được sẵn sàng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sau khi mua y</b>: sau khi trao đổi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chúng tôi sẽ dâng</b>: chúng tôi sẽ cho.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu ấy</b>: vị tỳ khưu ấy là vị tỳ khưu mà các số tiền mua y đã được chuẩn bị dành riêng cho.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chưa được thỉnh cầu trước</b>: chưa được nói trước rằng: “Thưa ngài, ngài có nhu cầu với loại y như thế nào?” “Chúng tôi sẽ mua y như thế nào cho ngài?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Lại đi đến</b>: sau khi đi đến nhà, sau khi đi đến gặp ở bất cứ nơi nào.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đưa ra sự căn dặn về y</b>: (Y) hãy dài, hoặc rộng, hoặc chắc, hoặc mịn màng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Với các số tiền mua y này</b>: với (các số tiền) đã được sẵn sàng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có hình thức như vầy và như vầy</b>: là dài, hoặc rộng, hoặc chắc, hoặc mịn màng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sau khi mua</b>: sau khi trao đổi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Quý ông) hãy dâng đến</b>: (quý ông) hãy trao cho.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Cả hai là với một (y)</b>: luôn cả hai người là với một (y).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vì sự mong muốn y tốt đẹp</b>: có ao ước vật tốt, có ao ước vật giá cao.</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Họ mua (y) dài, hoặc rộng, hoặc chắc, hoặc mịn màng theo lời nói của vị ấy. Trong lúc thực hiện thì (vị ấy) phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Do sự đạt được thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, y này của tôi khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến các gia chủ không phải là các thân quyến và đã đưa ra sự căn dặn về y, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ y này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến các gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Không phải là thân quyến, có sự hoài nghi, ―(như trên)― Không phải là thân quyến, (lầm) tưởng là thân quyến, khi chưa được thỉnh cầu trước lại đi đến các gia chủ và đưa ra sự căn dặn về y thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Là thân quyến, (lầm) tưởng không phải là thân quyến, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Là thân quyến, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Là thân quyến, nhận biết là thân quyến thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="8">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Của các thân quyến, của những người đã nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị bảo mua (y) giá thấp đối với những người có ý định mua (y) giá cao, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học thứ nhì về (số tiền) đã được chuẩn bị.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<blockquote><p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p></blockquote>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><em><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người dịch: Tỳ khưu Indacanda &#8211; Nguồn TamtangPaliViet.net</span></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p></blockquote>
<p style="text-align: center;">
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG NISSAGGIYA &#8211; PHẨM TƠ TẰM</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-iv-phan-ii/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 03:25:27 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=11550</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 5: Nissaggiya Phẩm Tơ Tằm Điều học về tơ tằm Lúc bấy giờ,]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><span style="font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span> </span></strong></h2>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương 5: Nissaggiya Phẩm Tơ Tằm</span></h3>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Điều học về tơ tằm </span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Āḷavī, nơi tháp thờ Aggāḷava. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đi đến gặp những người làm tơ tằm rồi nói như vầy: &#8211; “Này các đạo hữu, hãy nấu nhiều kén tằm rồi bố thí đến chúng tôi; chúng tôi cũng muốn làm tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm.” Những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử này sau khi đi đến gặp chúng tôi lại nói như vầy: ‘Này các đạo hữu, hãy nấu nhiều kén tằm rồi bố thí đến chúng tôi; chúng tôi cũng muốn làm tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm.’ Chúng tôi không có lợi nhuận, chúng tôi thu nhập khó khăn, chúng tôi vì lý do nuôi mạng, vì nguyên nhân vợ con mà gây nên việc giết chóc nhiều sinh vật nhỏ bé.” Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư sau khi đi đến gặp những người làm tơ tằm lại nói như vầy: ‘Này các đạo hữu, hãy nấu nhiều kén tằm rồi bố thí đến chúng tôi; chúng tôi cũng muốn làm tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm’?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi đi đến gặp những người làm tơ tằm rồi nói như vầy: ‘Này các đạo hữu, hãy nấu nhiều kén tằm rồi bố thí đến chúng tôi; chúng tôi cũng muốn làm tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm,’ có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi sau khi đi đến gặp những người làm tơ tằm lại nói như vầy: ‘Này các đạo hữu, hãy nấu nhiều kén tằm rồi bố thí đến chúng tôi; chúng tôi cũng muốn làm tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm’? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào bảo làm tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tấm trải nằm</b> nghĩa là đã được trải ra còn chưa được dệt.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bảo làm</b>: vị (tự) làm hoặc bảo làm sau khi đã trộn lẫn vào cho dầu chỉ một sợi tơ tằm. Trong khi tiến hành thì (vị ấy) phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Do sự đạt được thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (vật ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm này của tôi đã được bảo làm, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội<i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị (tự) làm hoặc bảo làm vì nhu cầu của vị khác thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Sau khi thọ lãnh vật đã được làm bởi người khác, vị thọ dụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị làm tấm màn che, hoặc tấm thảm trải nền đất, hoặc tấm vách chắn, hoặc nệm, hoặc gối, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về tơ tằm.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học về thuần màu đen</span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Vesālī, Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen. Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử này lại bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen giống như những kẻ tại gia hưởng dục vậy?” Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Màu đen</b> nghĩa là có hai loại màu đen: màu đen do tự nhiên hoặc là màu đen nhuộm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tấm trải nằm</b> nghĩa là đã được trải ra còn chưa được dệt.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bảo làm</b>: vị (tự) làm hoặc bảo làm. Trong khi tiến hành thì (vị ấy) phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Do sự đạt được thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (vật ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen của tôi đã được bảo làm, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội<i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị (tự) làm hoặc bảo làm vì nhu cầu của vị khác thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Sau khi thọ lãnh vật đã được làm bởi người khác, vị thọ dụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị làm tấm màn che, hoặc tấm thảm trải nền đất, hoặc tấm vách chắn, hoặc nệm, hoặc gối, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về thuần màu đen.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học về hai phần </span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm không được bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen” nên sau khi đã lấy chỉ chút ít màu trắng ở đường biên rồi bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen y như thế. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại lấy chỉ một chút ít màu trắng ở đường biên rồi bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen y như thế?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi lấy chỉ một chút ít màu trắng ở đường biên rồi bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen y như thế, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại lấy chỉ một chút ít màu trắng ở đường biên rồi bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen y như thế vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> “<i>Trong khi bảo làm tấm trải nằm mới, vị tỳ khưu nên lấy hai phần lông cừu thuần màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu nâu đỏ. Nếu vị tỳ khưu không lấy hai phần lông cừu thuần màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu nâu đỏ rồi bảo làm tấm trải nằm mới thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Mới</b> nghĩa là liên quan việc làm (tấm trải nằm) được đề cập đến.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tấm trải nằm</b> nghĩa là đã được trải ra còn chưa được dệt.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong khi bảo làm</b>: trong khi (tự) làm hoặc trong khi bảo làm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nên lấy hai phần lông cừu thuần màu đen</b>: sau khi đã được mang lại, thì nên lấy hai cân<a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/01/01_08.htm#_ftn1" name="_ftnref1" rel="nofollow noopener" target="_blank">[1]</a>lông cừu thuần màu đen.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần thứ ba màu trắng</b>: một cân của màu trắng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần thứ tư màu nâu đỏ</b>: một cân của màu nâu đỏ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nếu vị tỳ khưu không lấy hai phần lông cừu thuần màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu nâu đỏ</b>: sau khi không lấy hai cân lông cừu thuần màu đen, một cân màu trắng, một cân màu nâu đỏ rồi (tự) làm hoặc bảo làm tấm trải nằm mới. Trong khi tiến hành thì (vị ấy) phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Do sự đạt được thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (vật ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, tấm trải nằm của tôi đã được bảo làm sau khi đã không lấy [hai cân lông cừu thuần màu đen] một cân màu trắng và một cân màu nâu đỏ, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i>―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội<i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị (tự) làm hoặc bảo làm vì nhu cầu của vị khác thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Sau khi thọ lãnh vật đã được làm bởi người khác, vị thọ dụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi lấy một cân màu trắng và một cân màu nâu đỏ rồi làm, sau khi lấy màu trắng nhiều hơn (hoặc) màu nâu đỏ nhiều hơn rồi làm, sau khi lấy thuần màu trắng (hoặc) thuần màu nâu đỏ rồi làm, vị làm tấm màn che, hoặc tấm thảm trải nền đất, hoặc tấm vách chắn, hoặc nệm, hoặc gối, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về hai phần.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học về sáu năm </span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu bảo làm tấm trải nằm hàng năm. Các vị ấy sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: “Các người hãy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các lông cừu.” Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại bảo làm tấm trải nằm hàng năm rồi sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: ‘Các người hãy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các lông cừu’? Các tấm trải nằm của chúng tôi bị con cái của chúng tôi tiêu tiểu và bị các con chuột gặm nhấm còn được làm năm sáu năm một lần. Thế mà các Sa-môn Thích tử này lại bảo làm tấm trải nằm hàng năm rồi sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: ‘Các người hãy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các lông cừu.’”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu lại bảo làm tấm trải nằm hàng năm rồi sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: ‘Các người hãy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các lông cừu’?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu bảo làm tấm trải nằm hàng năm rồi sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: ‘Các người hãy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các lông cừu,’ có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại bảo làm tấm trải nằm hàng năm rồi sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: ‘Các người hãy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các lông cừu’ vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Sau khi bảo làm tấm trải nằm mới, vị tỳ khưu nên sử dụng sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm mà cho đi hoặc không cho đi tấm trải nằm ấy rồi bảo làm tấm trải nằm mới khác thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya. </i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định căn bản</b>]</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ ở thành Kosambī bị bệnh. Các thân quyến đã phái người đưa tin đến gặp vị tỳ khưu ấy nói rằng: &#8211; “Ngài đại đức hãy đi đến. Chúng tôi sẽ hộ độ.” Các tỳ khưu cũng đã nói như vầy: &#8211; “Này đại đức, hãy đi. Các thân quyến sẽ hộ độ đại đức.” Vị ấy đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, điều học đã được đức Thế Tôn quy định rằng: ‘Sau khi bảo làm tấm trải nằm mới, vị tỳ khưu nên sử dụng sáu năm.’ Và tôi thì bị bệnh nên không thể mang theo tấm trải nằm mà ra đi được. Tôi không được thoải mái khi không có tấm trải nằm. Tôi sẽ không đi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, Ta cho phép ban cho sự đồng ý về tấm trải nằm đối với vị tỳ khưu bị bệnh. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: &#8211; “<i>Bạch các ngài, tôi bị bệnh không thể mang theo tấm trải nằm mà ra đi được. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về tấm trải nằm.</i>” Nên được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần thứ ba. Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) bị bệnh không thể mang theo tấm trải nằm mà ra đi được. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về tấm trải nằm. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho sự đồng ý về tấm trải nằm đến vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) bị bệnh không thể mang theo tấm trải nằm mà ra đi được. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về tấm trải nằm. Hội chúng ban cho sự đồng ý về tấm trải nằm đến vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc ban cho sự đồng ý về tấm trải nằm đến vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Sự đồng ý về tấm trải nằm đã được hội chúng ban cho đến vị tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Sau khi bảo làm tấm trải nằm mới, vị tỳ khưu nên sử dụng sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm mà cho đi hoặc không cho đi tấm trải nằm ấy rồi bảo làm tấm trải nằm mới khác thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya, ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu.</i>”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định lần hai</b>]</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Mới</b> nghĩa là có liên quan việc làm (tấm trải nằm) được đề cập đến.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tấm trải nằm</b> nghĩa là đã được trải ra còn chưa được dệt.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sau khi bảo làm</b>: sau khi (tự) làm hoặc sau khi bảo (người khác) làm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nên sử dụng sáu năm</b>: nên sử dụng tối đa là sáu năm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nếu chưa đủ sáu năm</b>: còn ít hơn sáu năm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Cho đi tấm trải nằm ấy</b>: sau khi cho đến những người khác.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc không cho đi</b>: sau khi không cho đến bất cứ ai.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu</b>: Trừ ra có sự đồng ý của các tỳ khưu.</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị (tự) làm hoặc bảo làm tấm trải nằm mới khác. Trong khi tiến hành thì (vị ấy) phạm tội<i>dukkaṭa</i>. Do sự đạt được thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (vật ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, tấm trải nằm của tôi đã được bảo làm chưa đủ sáu năm giờ cần được xả bỏ, ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="8">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội<i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="9">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị làm khi được sáu năm, vị làm khi đã quá sáu năm, vị làm hoặc bảo làm vì nhu cầu của vị khác, vị nhận được (tấm trải nằm) đã được làm bởi người khác rồi sử dụng, vị làm tấm màn che, hoặc tấm thảm trải nền đất, hoặc tấm vách chắn, hoặc nệm, hoặc gối, với sự đồng ý của các tỳ khưu, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về sáu năm.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học về tấm lót ngồi và tấm trải nằm </span></h3>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, Ta muốn thiền tịnh trong ba tháng. Không ai đi đến gặp Ta ngoại trừ một vị mang lại vật thực. &#8211; “Bạch ngài, xin vâng.” Các vị tỳ khưu ấy đã trả lời đức Thế Tôn. Và quả thật không có vị nào đi đến gặp đức Thế Tôn ngoại trừ một vị mang lại vật thực. Vào lúc bấy giờ, hội chúng ở Sāvatthī đã thực hiện quy định là: “Này các đại đức, đức Thế Tôn muốn thiền tịnh trong ba tháng. Không ai được đi đến gặp đức Thế Tôn ngoại trừ một vị mang lại vật thực. Vị nào đi đến gặp đức Thế Tôn nên bị buộc sám hối tội <i>pācittiya</i>.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Upasena con trai của Vaṅganta cùng tập thể đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đại đức Upasena con trai của Vaṅganta đã ngồi xuống ở một bên, đức Thế Tôn đã nói điều này: &#8211; “Này Upasena, sức khỏe có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Các ngươi đi đường xa có được ít mệt nhọc không?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, sức khỏe khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc tốt đẹp. Bạch ngài, chúng con đi đường xa được ít mệt nhọc.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, vị tỳ khưu đệ tử của đại đức Upasena con trai của Vaṅganta ngồi xuống không xa đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: &#8211; “Này tỳ khưu, đối với ngươi các y <i>paṃsukūla</i> có dễ chịu không?” &#8211; “Bạch ngài, đối với con các y <i>paṃsukūla</i> không có dễ chịu.” &#8211; “Này tỳ khưu, vậy tại sao ngươi lại là vị hành pháp sử dụng y <i>paṃsukūla</i>?” &#8211; “Bạch ngài, thầy tế độ của con là vị hành pháp sử dụng y <i>paṃsukūla</i>; như thế con cũng là vị hành pháp sử dụng y <i>paṃsukūla</i>.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Upasena con trai của Vaṅganta điều này:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Upasena, tập thể này quả là có niềm tin đối với ngươi. Này Upasena, ngươi hướng dẫn tập thể thế nào?” &#8211; “Bạch ngài, ai cầu xin con sự tu lên bậc trên thì con nói với người ấy như vầy: ‘Này đạo hữu, ta là vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y <i>paṃsukūla</i>, nếu ngươi cũng sẽ là vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y <i>paṃsukūla</i> như thế thì ta sẽ cho ngươi tu lên bậc trên.’ Nếu đồng ý với con thì con cho tu lên bậc trên, nếu không đồng ý với con thì con không cho tu lên bậc trên. Vị nào cầu xin con pháp nương nhờ thì con nói với vị ấy như vầy: ‘Này đại đức, ta là vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y <i>paṃsukūla</i>, nếu ngươi cũng sẽ là vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y <i>paṃsukūla</i> như thế thì ta sẽ ban cho ngươi pháp nương nhờ.’ Nếu đồng ý với con thì con ban cho pháp nương nhờ, nếu không đồng ý với con thì con không ban cho pháp nương nhờ. Bạch ngài, con hướng dẫn tập thể như thế.” &#8211; “Này Upasena, tốt lắm, tốt lắm! Này Upasena, ngươi hướng dẫn tập thể tốt lắm. Này Upasena, ngươi có biết về quy định của hội chúng ở Sāvatthī không?” &#8211; “Bạch ngài, con quả thật không biết về quy định của hội chúng ở Sāvatthī.” &#8211; “Này Upasena, hội chúng ở Sāvatthī đã thực hiện quy định là: ‘Này các đại đức, đức Thế Tôn muốn thiền tịnh trong ba tháng. Không ai được đi đến gặp đức Thế Tôn ngoại trừ một vị mang lại vật thực. Vị nào đi đến gặp đức Thế Tôn nên bị buộc sám hối tội <i>pācittiya</i>.’” &#8211; “Bạch ngài, hội chúng ở Sāvatthī sẽ được biết tiếng bởi quy định của chính họ. Chúng con sẽ không quy định điều không được quy định hoặc sẽ không hủy bỏ điều đã được quy định. Chúng con sẽ thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định.” &#8211; “Này Upasena, tốt lắm, tốt lắm! Không nên quy định điều không được quy định hoặc không nên hủy bỏ điều đã được quy định. Nên thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định. Này Upasena, Ta cho phép các vị tỳ khưu nào là những vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y <i>paṃsukūla</i>, hãy để các vị ấy đi đến diện kiến Ta một cách thoải mái.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đứng bên ngoài cổng ra vào (nghĩ rằng): “Chúng ta sẽ buộc đại đức Upasena con trai của Vaṅganta sám hối tội <i>pācittiya</i>.” Sau đó, đại đức Upasena con trai của Vaṅganta cùng tập thể đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã nói với đại đức Upasena con trai của Vaṅganta điều này: &#8211; “Này đại đức Upasena, đại đức có biết quy định của hội chúng ở Sāvatthī không?” &#8211; “Này các đại đức, đức Thế Tôn đã nói với tôi như vầy: ‘Này Upasena, ngươi có biết về quy định của hội chúng ở Sāvatthī không?’ ‘Bạch ngài, con quả không biết về quy định của hội chúng ở thành Sāvatthī.’ ‘Này Upasena, hội chúng ở Sāvatthī đã thực hiện quy định là: Này các đại đức, đức Thế Tôn muốn thiền tịnh trong ba tháng. Không ai được đi đến gặp đức Thế Tôn ngoại trừ một vị mang lại vật thực. Vị nào đi đến gặp đức Thế Tôn nên bị buộc sám hối tội <i>pācittiya</i>.’ ‘Bạch ngài, hội chúng ở Sāvatthī sẽ được biết tiếng bởi quy định của chính họ. Chúng con sẽ không quy định điều không được quy định hoặc sẽ không hủy bỏ điều đã được quy định. Chúng con sẽ thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định.’ Này các đại đức, đức Thế Tôn đã cho phép rằng: ‘Các vị tỳ khưu nào là những vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y <i>paṃsukūla</i>, hãy để các vị ấy đi đến diện kiến Ta một cách thoải mái.’”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy (bàn bạc rằng): “Đại đức Upasena đã nói rằng: ‘Không nên quy định điều không được quy định hoặc không nên hủy bỏ điều đã được quy định. Nên thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định’ có phải là sự thật không vậy?” Các tỳ khưu đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn đã cho phép rằng: ‘Các vị tỳ khưu nào là những vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y <i>paṃsukūla</i>, hãy để các vị ấy đi đến diện kiến Ta một cách thoải mái.’” Các vị ấy ao ước được diện kiến đức Thế Tôn nên đã quăng bỏ các tấm trải nằm và thọ trì pháp của vị ở trong rừng, pháp của vị đi khất thực, pháp của vị sử dụng y <i>paṃsukūla</i>. Sau đó, đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các chỗ trú ngụ cùng với nhiều vị tỳ khưu đã nhìn thấy các tấm trải nằm bị quăng bỏ chỗ này chỗ nọ, sau khi nhìn thấy đã hỏi các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, những tấm trải nằm bị quăng bỏ chỗ này chỗ nọ là của vị nào vậy?” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy Ta sẽ quy định điều học cho các tỳ khưu vì mười điều lợi ích: Nhằm đem lại sự tốt đẹp cho hội chúng, nhằm đem lại sự an lạc cho hội chúng, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Trong khi bảo thực hiện tấm lót ngồi, vị tỳ khưu nên lấy một gang tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh của tấm lót cũ để hoại vẻ đẹp. Nếu vị tỳ khưu không lấy một gang tay của đức Thiện Thệ</i> <i>ở phần xung quanh của tấm lót cũ mà bảo làm tấm lót ngồi mới</i> <i>thì</i> <i>(vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tấm lót ngồi</b> nghĩa là có đường viền quanh được nói đến.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tấm trải nằm</b> nghĩa là đã được trải ra còn chưa được dệt.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sau khi bảo làm</b>: sau khi (tự) làm hoặc sau khi bảo (người khác) làm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tấm lót cũ</b> nghĩa là đã được ngồi dầu chỉ một lần, đã được nằm dầu chỉ một lần.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nên lấy một gang tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh để hoại vẻ đẹp</b>: sau khi cắt vòng tròn hoặc vuông vức rồi nên trải ra ở một góc, hoặc sau khi tháo rời rồi nên trải ra.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nếu vị tỳ khưu không lấy một gang tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh của tấm lót cũ</b>: sau khi không lấy một gang tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh của tấm lót cũ rồi (tự) làm hoặc bảo làm tấm lót ngồi mới, trong khi tiến hành thì (vị ấy) phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Do sự đạt được thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (vật ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, tấm lót ngồi này của tôi đã được bảo làm sau khi không lấy một gang tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh của tấm lót cũ, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội<i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị (tự làm) hoặc bảo làm vì nhu cầu của vị khác thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="8">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi đã lấy một gang tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh của tấm lót cũ rồi làm; trong khi không có, đã lấy ít hơn rồi làm; trong khi không có, đã không lấy rồi làm; vị nhận được (tấm lót ngồi) đã được làm bởi người khác rồi sử dụng; vị làm tấm màn che, hoặc tấm thảm trải nền đất, hoặc tấm vách chắn, hoặc nệm, hoặc gối; vị bị điên; vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về tấm lót ngồi và tấm trải nằm.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> </b></span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học về các lông cừu</span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khi đang đi đến thành Sāvatthī trong xứ Kosala, ở giữa đường có các lông cừu đã được phát sanh. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã dùng thượng y gói các lông cừu ấy lại thành gói rồi đi. Dân chúng sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đã chế giễu rằng: &#8211; “Thưa ngài, chúng được mua bao nhiêu? Lợi nhuận sẽ là bao nhiêu?” Trong khi bị những người ấy chế giễu, vị tỳ khưu ấy đã trở nên xấu hổ. Sau đó, khi đến thành Sāvatthī vị tỳ khưu ấy đã đứng thẳng người ném các lông cừu ấy xuống. Các tỳ khưu đã nói với vị tỳ khưu ấy như vầy: &#8211; “Này đại đức, vì sao đại đức lại đứng thẳng người ném các lông cừu này xuống vậy?” &#8211; “Này các đại đức, như thế là vì nguyên nhân các lông cừu này mà tôi đã bị dân chúng chế giễu.” &#8211; “Này đại đức, thế đại đức đã mang những lông cừu này khoảng bao xa vậy?” &#8211; “Này các đại đức, hơn ba do-tuần.”<a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/01/01_08.htm#_ftn2" name="_ftnref2" rel="nofollow noopener" target="_blank">[2]</a> Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao vị tỳ khưu lại mang các lông cừu hơn ba do-tuần?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này tỳ khưu, nghe nói ngươi mang các lông cừu hơn ba do-tuần, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại mang các lông cừu hơn ba do-tuần vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu trong khi đi đường xa có các lông cừu được phát sanh, vị tỳ khưu mong muốn thì nên thọ lãnh. Sau khi thọ lãnh, nên dùng tay mang tối đa ba do-tuần khi không có người mang. Nếu mang vượt quá khoảng cách ấy cho dầu không có người mang vác thì</i> <i>(vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị tỳ khưu trong khi đi đường xa</b>: là vị đang đi đường.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Các lông cừu được phát sanh</b>: là được phát sanh từ hội chúng, hoặc từ nhóm, hoặc từ thân quyến, hoặc từ bạn bè, hoặc từ vật quăng bỏ, hoặc từ vật sở hữu của bản thân.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Mong muốn</b>: với vị đang ước muốn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thì nên thọ lãnh, sau khi thọ lãnh thì nên dùng tay mang tối đa ba do-tuần</b>: Nên dùng tay mang nhiều nhất ba do-tuần.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi không có người mang vác</b>: không có người nào khác khuân vác: hoặc là người nữ, hoặc là người nam, hoặc là người tại gia, hoặc là vị xuất gia.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nếu mang vượt quá khoảng cách ấy cho dầu không có người mang vác</b>: Vượt quá ba do-tuần bước thứ nhất thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Vượt quá ba do-tuần bước thứ nhì thì phạm vào <i>nissaggiya pācittiya</i>. Đứng trong khoảng ba do-tuần và làm rơi ngoài ba do-tuần thì phạm vào<i>nissaggiya pācittiya</i>. Sau khi để ở trên xe hoặc trong gói đồ của người khác mà họ không hay biết, vị vượt quá ba do-tuần thì (các lông cừu ấy) phạm vào <i>nissaggiya</i>, cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, các lông cừu này của tôi đã vượt quá ba do-tuần, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ các vật này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i>―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hơn ba do-tuần, nhận biết là đã hơn, vị vượt qua thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Hơn ba do-tuần, có sự hoài nghi, vị vượt qua thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Hơn ba do-tuần, (lầm) tưởng là chưa hơn, vị vượt qua thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi chưa hơn ba do-tuần, (lầm) tưởng là đã hơn, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa hơn ba do-tuần, có sự hoài nghi, phạm tội<i>dukkaṭa</i>. Khi chưa hơn ba do-tuần, nhận biết là chưa hơn thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị mang đi ba do-tuần, vị mang đi kém ba do-tuần, vị mang đi ba do-tuần rồi mang lui lại, sau khi đi ba do-tuần vị có ý định tìm trú xứ rồi mang hơn khoảng cách đó, vị nhận lại vật bị cướp rồi mang đi, vị nhận lại vật đã sám hối ưng xả (và được cho lại) rồi mang đi, vị bảo người khác mang, vị mang vật đã là thành phẩm, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về các lông cừu.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều học về việc bảo giặt lông cừu.</b></span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự giữa dân chúng dòng Sakya, trong thành Kapilavatthu, tu viện Nigrodha. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư bảo các tỳ khưu ni giặt, bảo nhuộm, và bảo chải các lông cừu. Trong khi giặt, trong khi nhuộm, và trong khi chải các lông cừu, các tỳ khưu ni xao lãng việc đọc tụng, việc vấn hỏi, (việc tu tập) tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ. Khi ấy, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn, rồi đứng ở một bên. Đức Thế Tôn đã nói với bà Mahāpajāpatī Gotamī đang đứng một bên điều này: &#8211; “Này Gotamī, chắc hẳn các tỳ khưu ni sống không có xao lãng, tinh cần, và bản thân có nỗ lực?” &#8211; “Bạch ngài, sự không xao lãng của các tỳ khưu ni từ đâu có được khi các ngài đại đức nhóm Lục Sư bảo các tỳ khưu ni giặt, bảo nhuộm, và bảo chải các lông cừu? Trong khi giặt, trong khi nhuộm, và trong khi chải các lông cừu, các tỳ khưu ni xao lãng việc đọc tụng, việc vấn hỏi, (việc tu tập) tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho bà Mahāpajāpatī Gotamī bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu nhóm Lục Sư rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi bảo các tỳ khưu ni giặt, bảo nhuộm, và bảo chải các lông cừu, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” &#8211; “Này các tỳ khưu, là các nữ thân quyến của các ngươi hay không phải là các nữ thân quyến?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, không phải là các nữ thân quyến.” &#8211; “Này những kẻ rồ dại, những người nam không phải là thân quyến không biết điều gì thích hợp hay không thích hợp, điều gì làm hài lòng hay không làm hài lòng những người nữ không phải là thân quyến. Này những kẻ rồ dại, trong trường hợp ấy sao các ngươi lại bảo các tỳ khưu ni không phải là thân quyến giặt, bảo nhuộm, và bảo chải các lông cừu vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào bảo tỳ khưu ni không phải là thân quyến giặt, hoặc bảo nhuộm, hoặc bảo chải các lông cừu thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>(Người nữ) Không phải là thân quyến</b> nghĩa là người nữ không có sự liên hệ họ hàng cho đến bảy thế hệ tổ tiên từ dòng bên mẹ hoặc từ dòng bên cha.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu ni</b> nghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng.</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị chỉ thị rằng: “Hãy giặt” thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>, (các lông cừu) đã được giặt thì phạm vào <i>nissaggiya</i>. Vị chỉ thị rằng: “Hãy nhuộm” thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>, (các lông cừu) đã được nhuộm thì phạm vào <i>nissaggiya</i>. Vị chỉ thị rằng: “Hãy chải” thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>, (các lông cừu) đã được chải thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, nên được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: “<i>Bạch các ngài, các lông cừu này của tôi đã được bảo tỳ khưu ni không phải là thân quyến giặt, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ (các lông cừu) này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo giặt các lông cừu thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo giặt, bảo nhuộm các lông cừu thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>nissaggiya</i>. Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo giặt, bảo chải các lông cừu thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>nissaggiya</i>. Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo giặt, bảo nhuộm, bảo chải các lông cừu thì phạm hai tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>nissaggiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo nhuộm các lông cừu thì phạm tội <i>nissaggiya</i>. Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo nhuộm, bảo chải ―(như trên)― vị bảo nhuộm, bảo giặt các lông cừu thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>nissaggiya</i>. ―(như trên)― vị bảo nhuộm, bảo chải, bảo giặt các lông cừu thì phạm hai tội<i>dukkaṭa </i>với tội <i>nissaggiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo chải các lông cừu thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến, vị bảo chải, bảo giặt ―(như trên)― vị bảo chải, bảo nhuộm các lông cừu thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>nissaggiya</i>. ―(như trên)― vị bảo chải, bảo giặt, bảo nhuộm các lông cừu thì phạm hai tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>nissaggiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="8">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không phải là thân quyến, có sự hoài nghi, ―(như trên)― Không phải là thân quyến, (lầm) tưởng là thân quyến, ―(như trên)― Vị bảo giặt các lông cừu của vị khác thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>. Vị bảo cô ni tu lên bậc trên từ một hội chúng giặt thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Là thân quyến, (lầm) tưởng không phải là thân quyến, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Là thân quyến, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Là thân quyến, nhận biết là thân quyến thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="9">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi vị (tỳ khưu ni) là thân quyến đang giặt có vị (tỳ khưu ni) thứ nhì không phải là thân quyến (phụ giúp), vị (tỳ khưu ni) giặt khi chưa được nói, vị bảo giặt vật đã là thành phẩm chưa được sử dụng, (vị bảo) cô ni tu tập sự, (vị bảo) sa di ni, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về việc bảo giặt lông cừu.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều học về vàng bạc.</b></span></h3>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai dòng Sakya là vị thường tới lui với gia đình nọ và là vị nhận bữa ăn thường kỳ. Khi nào gia đình ấy có được vật thực loại cứng hoặc loại mềm, phần chia trong số đó được để dành cho đại đức Upananda con trai dòng Sakya. Vào lúc bấy giờ, gia đình ấy có được miếng thịt nhằm lúc chiều tối. Trong số đó, phần chia của đại đức Upananda con trai dòng Sakya được để dành lại. Đến canh cuối của đêm, đứa bé trai của gia đình ấy thức dậy khóc lóc rằng: &#8211; “Hãy cho con thịt.” Khi ấy, người đàn ông ấy đã nói với người vợ điều này: &#8211; “Hãy cho đứa bé phần chia của ngài đại đức. Sau khi mua phần khác tôi sẽ dâng ngài.” Rồi đã cho đứa bé phần thịt ấy.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó vào buổi sáng, đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã mặc y, cầm y bát đi đến gia đình ấy, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, người đàn ông ấy đã đi đến gặp đại đức Upananda con trai dòng Sakya, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Upananda con trai dòng Sakya rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, người đàn ông ấy đã nói với đại đức Upananda con trai dòng Sakya điều này: &#8211; “Thưa ngài, hôm qua lúc chiều tối có được miếng thịt. Trong số đó, phần chia của ngài đại đức đã được để dành. Thưa ngài, vào canh cuối của đêm, đứa bé trai này đã thức dậy khóc lóc rằng: ‘Hãy cho con thịt.’ Phần chia của ngài đại đức đã được cho đến đứa bé. Thưa ngài, với một đồng tiền thì vật gì hãy được mang lại?”[3] &#8211; “Này đạo hữu, đồng tiền đã được ta từ bỏ.” &#8211; “Thưa ngài, đúng vậy. Đã được từ bỏ.” &#8211; “Này đạo hữu, hãy trao cho ta chính đồng tiền ấy.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, người đàn ông ấy đã trao đồng tiền cho đại đức Upananda con trai dòng Sakya rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Chúng tôi nhận lãnh vàng bạc như thế nào thì các Sa-môn Thích tử này thọ lãnh vàng bạc y như thế.” Các tỳ khưu đã nghe được người đàn ông ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Upananda con trai dòng Sakya lại thọ lãnh vàng bạc?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này Upananda, nghe nói ngươi thọ lãnh vàng bạc, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại thọ lãnh vàng bạc vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào nhận lấy hoặc bảo nhận lấy hoặc ưng thuận vàng bạc đã được mang đến thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vàng</b> nghĩa là màu da của bậc Đạo Sư được nói đến.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bạc</b> nghĩa là đồng tiền <i>kahāpaṇa</i>, tiền <i>māsaka</i> bằng đồng, tiền <i>māsaka</i> bằng gỗ, tiền <i>māsaka</i>bằng nhựa cánh kiến, những vật nào dùng trong việc buôn bán.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nhận lấy</b>: bản thân cầm lấy thì phạm vào <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bảo nhận lấy</b>: bảo người khác cầm lấy thì phạm vào <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc ưng thuận (vàng bạc) đã được mang đến</b>: Đối với (vàng bạc) đã được mang đến (nói rằng): “<i>Vật này hãy là của ngài</i>,” vị ưng thuận thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, nên được xả bỏ ở giữa hội chúng. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: Vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: “<i>Bạch các ngài, tôi đã thọ lãnh vàng bạc, vật này nên được tôi xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.</i>” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực. Nếu có người phụ việc chùa hoặc nam cư sĩ đi đến nơi ấy thì nên nói với người ấy rằng: “<i>Này đạo hữu, hãy nhận biết vật này</i>.” Nếu người ấy nói rằng: “<i>Với vật này, hãy để cho vật gì được mang lại</i>?” Không nên nói rằng: “<i>Hãy mang lại vật này hoặc vật này</i>.” Nên đề cập đến vật được phép là bơ lỏng, hoặc dầu ăn, hoặc mật ong, hoặc đường mía. Nếu người ấy sau khi dùng (vàng bạc) ấy trao đổi và đem lại vật được phép thì tất cả nên thọ dụng trừ ra vị đã thọ lãnh vàng bạc. Nếu điều ấy có thể đạt được như vậy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không thể đạt được thì nên nói với người ấy rằng: “<i>Này đạo hữu, hãy quăng bỏ vật này</i>.” Nếu người ấy quăng bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu (người ấy) không quăng bỏ thì nên chỉ định vị quăng bỏ vàng bạc là vị tỳ khưu hội đủ năm điều kiện: là vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, là vị biết vật đã được quăng bỏ hoặc chưa được quăng bỏ. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu nên được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc. Đây là lời đề nghị.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị quăng bỏ vàng bạc. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu đã được chỉ định ấy sau khi đã không làm dấu hiệu rồi nên ném đi. Nếu sau khi đã làm dấu hiệu rồi ném đi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Vàng bạc, nhận biết là vàng bạc, vị thọ lãnh vàng bạc thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vàng bạc, có sự hoài nghi, vị thọ lãnh vàng bạc thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vàng bạc, (lầm) tưởng không phải là vàng bạc, vị thọ lãnh vàng bạc thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Không phải là vàng bạc, (lầm) tưởng là vàng bạc, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Không phải là vàng bạc, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Không phải là vàng bạc, nhận biết không phải là vàng bạc thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi nhặt lấy hoặc bảo nhặt lấy ở trong khuôn viên tu viện hoặc ở trong chỗ ngụ, vị giữ lại (nghĩ rằng): “Là của ai, người ấy sẽ mang đi,” vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về vàng bạc.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều học về việc trao đổi bằng vàng bạc</b>.</span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều hình thức. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các Sa-môn Thích tử lại tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều hình thức, giống như những kẻ tại gia hưởng dục vậy?” Các tỳ khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều hình thức?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều hình thức, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều hình thức? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều hình thức</i> <i>thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dưới nhiều hình thức</b> nghĩa là vật đã chế biến, vật chưa chế biến, vật đã chế biến và chưa chế biến. <b>Đã chế biến</b> nghĩa là làm thành vật (trang sức) ở đầu, làm thành vật (trang sức) ở cổ, làm thành vật (trang sức) ở tay, làm thành vật (trang sức) ở bàn chân, làm thành vật (trang sức) ở hông. <b>Chưa chế biến</b> nghĩa là việc làm thành khối được nói đến. <b>Đã chế biến và chưa chế biến</b> nghĩa là cả hai điều ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vàng bạc</b> nghĩa là có màu sắc của bậc Đạo Sư, là đồng tiền <i>kahāpaṇa</i>, tiền <i>māsaka</i> bằng đồng, tiền <i>māsaka</i> bằng gỗ, tiền <i>māsaka</i> bằng nhựa cánh kiến, những vật nào dùng trong việc buôn bán.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tiến hành</b>: vị trao đổi vật đã chế biến với vật đã chế biến thì phạm <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị trao đổi vật chưa chế biến với vật đã chế biến thì phạm <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị trao đổi vật đã chế biến và chưa chế biến với vật đã chế biến thì phạm <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị trao đổi vật đã chế biến với vật chưa chế biến thì phạm <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị trao đổi vật chưa chế biến với vật chưa chế biến thì phạm <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị trao đổi vật đã chế biến và chưa chế biến với vật chưa chế biến thì phạm <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị trao đổi vật đã chế biến với vật đã chế biến và chưa chế biến thì phạm <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị trao đổi vật chưa chế biến với vật đã chế biến và chưa chế biến thì phạm <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vị trao đổi vật đã chế biến và chưa chế biến với vật đã chế biến và chưa chế biến thì phạm <i>nissaggiya pācittiya</i>. Nên được xả bỏ ở giữa hội chúng. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: Vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Bạch các ngài, tôi đã tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều hình thức, vật này nên được tôi xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.</i>” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực. Nếu có người phụ việc chùa hoặc nam cư sĩ đi đến nơi ấy thì nên nói với người ấy rằng: “<i>Này đạo hữu, hãy nhận biết vật này</i>.” Nếu người ấy nói rằng: “<i>Với vật này, hãy để cho vật gì được mang lại</i>?” Không nên nói rằng: “<i>Hãy mang lại vật này hoặc vật này</i>.” Nên đề cập đến vật được phép là bơ lỏng, hoặc dầu ăn, hoặc mật ong, hoặc đường mía. Nếu người ấy sau khi dùng (vàng bạc) ấy trao đổi và đem lại vật được phép thì tất cả nên thọ dụng trừ ra vị đã thọ lãnh vàng bạc. Nếu điều ấy có thể đạt được như vậy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không thể đạt được thì nên nói với người ấy rằng: “<i>Này đạo hữu, hãy quăng bỏ vật này</i>.” Nếu người ấy quăng bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu (người ấy) không quăng bỏ thì nên chỉ định vị quăng bỏ vàng bạc là vị tỳ khưu hội đủ năm điều kiện: là vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, là vị biết vật đã được quăng bỏ hoặc chưa được quăng bỏ. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu nên được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc. Đây là lời đề nghị.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị quăng bỏ vàng bạc. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu đã được chỉ định ấy sau khi đã không làm dấu hiệu rồi nên ném đi. Nếu sau khi đã làm dấu hiệu rồi ném đi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vàng bạc, nhận biết là vàng bạc, vị trao đổi vàng bạc thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vàng bạc, có sự hoài nghi, vị trao đổi vàng bạc thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Vàng bạc, (lầm) tưởng không phải là vàng bạc, vị trao đổi vàng bạc thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Không phải là vàng bạc, (lầm) tưởng là vàng bạc, vị trao đổi vàng bạc thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Không phải là vàng bạc, có sự hoài nghi, vị trao đổi vàng bạc thì phạm tội<i>nissaggiya pācittiya</i>. Không phải là vàng bạc, nhận biết không phải là vàng bạc, vị trao đổi vàng bạc thì phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Không phải là vàng bạc, (lầm) tưởng là vàng bạc, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Không phải là vàng bạc, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Không phải là vàng bạc, nhận biết không phải là vàng bạc thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về việc trao đổi bằng vàng bạc</b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều học về việc mua bán</b>.</span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai dòng Sakya là rành rẽ về việc may y. Vị ấy đã làm y hai lớp được nhuộm khéo léo và được sửa soạn khéo léo từ các loại vải cũ, sau khi làm xong đã khoác vào. Khi ấy, có vị du sĩ ngoại đạo nọ mặc tấm choàng trị giá cao đã đi đến gặp đại đức Upananda con trai dòng Sakya, sau khi đến đã nói với đại đức Upananda con trai dòng Sakya điều này: &#8211; “Này đại đức, y hai lớp này của ngài đẹp thật. Hãy đổi cho tôi với tấm choàng này.” &#8211; “Này đạo hữu, hãy biết lấy.” &#8211; “Này đại đức, được rồi. Tôi biết mà.” &#8211; “Này đạo hữu, tốt thôi,” rồi đã trao đổi. Sau đó, vị du sĩ ngoại đạo ấy đã khoác lên y hai lớp ấy rồi đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo. Các du sĩ ngoại đạo đã nói với vị du sĩ ngoại đạo ấy điều này: &#8211; “Này huynh đệ, y hai lớp này của ngươi đẹp thật. Ngươi nhận được từ đâu vậy?” &#8211; “Này các huynh đệ, đã được trao đổi bằng tấm choàng kia của tôi.” &#8211; “Này huynh đệ, y hai lớp này của ngươi sẽ được bao nhiêu ngày? Chính tấm choàng kia của ngươi mới giá trị.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, vị du sĩ ngoại đạo ấy (nghĩ rằng): ‘Các du sĩ ngoại đạo đã nói sự thật. Y hai lớp này của ta sẽ được bao nhiêu ngày? Chính tấm choàng kia của ta mới giá trị’ rồi đã đi đến gặp đại đức Upananda con trai dòng Sakya, sau khi đến đã nói với đại đức Upananda con trai dòng Sakya điều này: &#8211; “Này đại đức, đây là y hai lớp của đại đức. Hãy cho lại tôi tấm choàng.” &#8211; “Này đạo hữu, không phải ta đã nói với đạo hữu rằng: ‘Này đạo hữu, hãy biết lấy.’ Ta sẽ không cho lại.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, vị du sĩ ngoại đạo ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Ngay cả người tại gia còn cho lại vật ấy đến người tại gia có sự luyến tiếc. Sao vị xuất gia lại không cho lại vị xuất gia?” Các tỳ khưu đã nghe được vị du sĩ ngoại đạo ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Vì sao đại đức Upananda con trai dòng Sakya lại tiến hành việc mua bán với du sĩ ngoại đạo?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này Upananda, nghe nói ngươi tiến hành việc mua bán với du sĩ ngoại đạo, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại tiến hành việc mua bán với du sĩ ngoại đạo vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào tiến hành việc mua bán dưới nhiều hình thức</i> <i>thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dưới nhiều hình thức</b> nghĩa là các vật dụng như là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, thuốc men chữa bệnh, thậm chí cục bột tắm, gỗ chà răng, nắm chỉ rời.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tiến hành việc mua bán</b>: (Nói rằng): “Hãy cho vật này với vật này, hãy mang lại vật này với vật này, hãy trao đổi vật này với vật này, hãy mua vật này với vật này,” vị tiến hành thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi nào có vật được mua và vật được bán, (tức là) vật của bản thân được đến tay người kia và vật của người kia được đến tay của bản thân thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, nên được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, tôi đã tiến hành việc mua bán dưới nhiều hình thức, vật này nên được tôi xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Việc mua bán, nhận biết là việc mua bán, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Việc mua bán, có sự hoài nghi, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Việc mua bán, (lầm) tưởng không phải là việc mua bán, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Không phải là việc mua bán, (lầm) tưởng là việc mua bán, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Không phải là việc mua bán, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Không phải là việc mua bán, nhận biết không phải là việc mua bán thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị hỏi trị giá (của vật), vị chỉ bảo người làm cho đúng phép, vị nói rằng: “<i>Chúng ta có vật này, chúng ta cần vật này và vật này</i>,” vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về việc mua bán</b>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phẩm Tơ Tằm là thứ nhì.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tóm lược phần này </span></h4>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Tơ tằm, thuần (màu đen), hai phần, sáu năm, tấm lót ngồi, hai điều về lông cừu, về việc nhận lấy, cả hai dưới nhiều hình thức.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Cân (<i>tulā</i>) là đơn vị đo trọng lượng. Theo cách tính của ngài Mahāsamaṇa Chao ở trong <i>Vinayamukha</i>thì 1 <i>tulā</i> có trọng lượng của 160.000 hạt gạo.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Từ điển của Childers ghi rằng 1 <i>yojana</i> là vào khoảng 12 <i>miles</i>, còn từ điển của <i>Pali Text Society</i> lại ghi là khoảng 7 <i>miles</i>. Trong khi đó <i>The Buddhist Monastic Code</i> của Thanissaro bhikkhu cho biết 1 <i>yojana</i> = 10 <i>miles</i> = 16 km.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Nếu dựa vào câu chuyện này thì giá trị của 1 <em>pāda</em> hoặc 5 <em>māsaka</em> (= ¼ <em>kahāpaṇa</em>) vào thời bấy giờ không cao lắm, xin xem lại <em>pārājika</em> điều hai (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] <i>Aḍḍhāḷhakodanaṃ</i> (<i>aḍḍha-āḷhaka-odanaṃ</i>). <i>Aḍḍha</i> là một nửa, <i>āḷhaka</i> là đơn vị đo thể tích, <i>odanaṃ</i> là cơm đã được nấu. Tuy nhiên, nên hiểu là “cơm đã được nấu từ ½<i> āḷhaka </i>gạo” (VinA. iii, 703), chứ không phải “lượng cơm là ½<i> āḷhaka.</i>” Người Việt chúng ta cũng nói ăn hết 1 lon là ăn hết 1 lon gạo chứ không phải 1 lon cơm, Ngài Mahāsamaṇa Chao cũng giải thích tương tợ; trong khi đó dịch giả I.B. Horner dịch theo ý sau, nghĩa là “lượng cơm là ½<i> āḷhaka.</i>”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Theo ngài Mahāsamaṇa Chao giải thích ở <i>Vinayamukha</i> thì 1 <i>āḷhaka</i> = 4 <i>nāḷi</i>/<i>nāḷika </i>= 8 <i>pattha</i> (1 <i>nāli</i>= 2 <i>pattha</i>). <i>Pattha</i> là lượng chứa do hai tay bụm lại. Khi dùng các lượng ½ <i>āḷhaka</i>, 1 <i>nāli</i>, 1 <i>pattha</i> gạo rồi nấu lên thành cơm thì các lượng cơm ấy theo thứ tự là sức chứa đựng của ba loại bình bát cỡ lớn, cỡ vừa, và cỡ nhỏ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] <i>Dvaṅgula</i> (hai ngón tay): <i>aṅgula</i> là chiều dài của ngón tay tương đương độ dài của 7 hạt gạo (VibhA<i>.</i>343). <i>The Buddhist Monastic Code</i> cho biết độ dài của hai ngón tay <i>dvaṅgula</i> khoảng 2 <i>inches</i> = 5,08 cm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Theo lời giải thích của Ngài Buddhaghosa thì vị nào vì lòng thương hại mà không nhận lấy thì mới phạm tội <i>dukkaṭa</i>, còn vị tự biết đủ (nghĩ rằng): “Bình bát khác cho tôi làm gì?” rồi không nhận lấy thì vô tội (VinA. iii, 708).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Không nên sử dụng sái với cách thức dùng ví dụ như nấu cơm, nấu cháo, nấu thuốc nhuộm, v.v&#8230; Tuy nhiên, khi đi đường xa nếu bị bệnh và không có vật gì để nấu thì nên bôi đất sét ở bên ngoài rồi nấu cháo hoặc nấu nước (VinA. iii, 709).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Vị tỳ khưu không được dùng mười loại thịt: thịt người, thịt voi, thịt ngựa, thịt chó, thịt rắn, thịt sư tử, thịt hổ, thịt beo, thịt gấu, thịt chó sói (<i>Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm</i>, TTPV tập 5, chương VI, trang 557-561).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[10] Ví dụ như khi được phát sanh dầu ăn thì được cất giữ trong thời hạn bảy ngày, trường hợp quyết định làm dầu bôi ở đầu, thuốc thoa tay chân và vết thương thì không phạm tội. Lý do là vì khi sử dụng làm thuốc thoa nên trở thành vật có thể cất giữ đến hết đời (VinA. iii, 718).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[11] Chú giải cho một ví dụ là vị mặc y choàng tắm trị giá cao trong khi tắm sẽ có sự nguy hiểm về trộm cướp (Vin.A. iii, 723).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[12] <i>Kattikatemāsipuṇṇamā</i> (ngày rằm <i>Kattika</i> của ba tháng): Tương đương rằm tháng 9 âm lịch Việt Nam là ngày cuối cùng của mùa (an cư) mưa thời kỳ đầu, ngày này còn là ngày làm lễ <i>Pavāraṇā</i> của các vị tỳ khưu đã trải qua mùa (an cư) mưa thời kỳ đầu. Còn <i>Kattikacatumāsipuṇṇamā</i> (ngày rằm <i>Kattika</i> của bốn tháng) tương đương rằm tháng 10 âm lịch (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[13] Thời hạn về y: nghĩa là khi <i>Kaṭhina</i> không được thành tựu thì một tháng cuối của mùa mưa tương đương 16 tháng chín âm lịch đến hết rằm tháng mười âm lịch; thời gian này còn là thời kỳ dâng y <i>Kaṭhina</i>. Nếu <i>Kaṭhina</i> được thành tựu thì thời hạn về y được kéo dài đến khi nào <i>Kaṭhina</i> còn hiệu lực, hoặc đến hết rằm tháng 2 năm sau tức là thời hạn 5 tháng (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[14] Theo âm lịch của Việt Nam là rằm tháng 10.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[15] <em>The Buddhist Monastic Code</em> cho biết khoảng cách của 500 cây cung độ chừng 1 km.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[16] Những câu kệ phụ trội này chỉ được thấy ở Tạng Tích Lan.</span></p>
<blockquote><p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p></blockquote>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><em><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người dịch: Tỳ khưu Indacanda &#8211; Nguồn TamtangPaliViet.net</span></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG NISSAGGIYA PHẨM Y &#8211; ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT, THỨ NHÌ VÀ THỨ BA VỀ KAṬHINA</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-5-chuong-nissaggiya-pham-y/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 03:19:51 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=20115</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 5: Nissaggiya Điều học thứ nhất về Kaṭhina Lúc bấy giờ, đức Phật Thế]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></h2>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương 5: Nissaggiya</span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Điều học thứ nhất về Kaṭhina</span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Vesālī, ở tháp thờ Gotamaka. Vào lúc bấy giờ, ba y đã được đức Thế Tôn cho phép đến các tỳ khưu. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Ba y đã được đức Thế Tôn cho phép” nên đi vào làng với ba y nọ, mặc ở trong tu viện với ba y khác, và đi xuống tắm với ba y khác nữa. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại sử dụng y phụ trội?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi sử dụng y phụ trội, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại sử dụng y phụ trội vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào sử dụng y phụ trội thì phạm tội nissaggiya pācittiya.</i>”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định căn bản</b>]</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có y phụ trội phát sanh đến đại đức Ānanda. Đại đức Ānanda có ý định dâng y ấy đến đại đức Sāriputta. Và đại đức Sāriputta cư ngụ ở Sāketa. Khi ấy, đại đức Ānanda đã khởi ý điều này: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định là: ‘Không được sử dụng y phụ trội’ và y phụ trội này đã được phát sanh đến ta. Và ta có ý định dâng y này đến đại đức Sāriputta mà đại đức Sāriputta cư ngụ ở Sāketa; vậy ta nên thực hành như thế nào?” Sau đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này Ānanda, bao lâu nữa Sāriputta sẽ đi đến đây?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, ngày thứ chín hoặc ngày thứ mười.” Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, Ta cho phép cất giữ[4] y phụ trội tối đa mười ngày. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> “<i>Khi vấn đề y đã được dứt điểm đối với vị tỳ khưu tức là khi Kaṭhina đã hết hiệu lực, y phụ trội được cất giữ tối đa mười ngày. Vượt quá hạn ấy thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”[5]</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định lần hai</b>]</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi vấn đề y đã được dứt điểm</b>: Y của vị tỳ khưu đã được làm xong, hoặc là đã bị mất, hoặc là đã bị hư hỏng, hoặc là đã bị cháy, hoặc là niềm mong mỏi về y đã bị tan vỡ.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi </b><b><i>Kaṭhina</i></b><b> đã hết hiệu lực</b>: là đã hết hiệu lực do bất cứ tiêu đề nào trong tám tiêu đề,[6]hoặc là đã hết hiệu lực giữa chừng do hội chúng.[7]</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tối đa mười ngày</b>: là được cất giữ nhiều nhất là mười ngày.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Y phụ trội</b> nghĩa là chưa được chú nguyện để dùng riêng, chưa được chú nguyện để dùng chung.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Y </b>nghĩa là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y[8] (có kích thước) tối thiểu[9] cần phải chú nguyện để dùng chung.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vượt quá hạn ấy thì (y ấy) nên được xả bỏ</b>: Đến lúc hừng đông ngày thứ mười một thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: Vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: &#8211; “<i>Bạch các ngài, y này của tôi đã quá hạn mười ngày cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ (y) này đến hội chúng</i>.” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực, và y đã xả bỏ nên được cho lại:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Y này thuộc về vị tỳ khưu tên (như vầy) là vật phạm vào nissaggiya đã được xả bỏ đến hội chúng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho lại y này đến vị tỳ khưu tên (như vầy)</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu ấy nên đi đến nhiều vị tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: &#8211; “<i>Bạch các ngài, y này của tôi đã quá hạn mười ngày cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến các đại đức</i>.” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực, và y đã xả bỏ nên được cho lại:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Xin chư đại đức hãy lắng nghe tôi. Y này thuộc về vị tỳ khưu tên (như vầy) là vật phạm vào nissaggiya đã được xả bỏ đến chư đại đức. Nếu là thời điểm thích hợp cho chư đại đức, chư đại đức nên cho lại y này đến vị tỳ khưu tên (như vầy)</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu ấy nên đi đến một vị tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: &#8211; “<i>Bạch đại đức, y này của tôi đã quá hạn mười ngày cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ y này đến đại đức</i>.” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu ấy và y đã xả bỏ nên được cho lại: “<i>Tôi cho lại đại đức y này</i>.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi quá hạn mười ngày, nhận biết là đã quá hạn, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi quá hạn mười ngày, có sự hoài nghi, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi quá hạn mười ngày, (lầm) tưởng là chưa quá hạn, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi chưa được chú nguyện để dùng riêng, (lầm) tưởng là đã được chú nguyện để dùng riêng, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi chưa được chú nguyện để dùng chung, (lầm) tưởng là đã được chú nguyện để dùng chung, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đã được phân phát, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đã bị mất trộm, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đã bị hư hỏng, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi không bị cháy, (lầm) tưởng là đã bị cháy, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi không bị cướp, (lầm) tưởng là đã bị cướp, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Y phạm vào <i>nissaggiya</i>, không xả bỏ rồi sử dụng, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa quá hạn mười ngày, (lầm) tưởng là đã quá hạn, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa quá hạn mười ngày, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa quá hạn mười ngày, nhận biết là chưa quá hạn thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong thời hạn mười ngày, vị chú nguyện để dùng riêng, vị chú nguyện để dùng chung, vị phân phát, (y) bị mất trộm, (y) bị hư hỏng, (y) bị cháy, (những người khác) cướp rồi lấy đi, (các vị khác) lấy do sự thân thiết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="8">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư không cho lại y đã được xả bỏ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, không nên không cho lại y đã được xả bỏ; vị nào không cho lại thì phạm tội dukkaṭa</i>.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học thứ nhất về </b><b><i>kaṭhina</i></b><b>.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học thứ nhì về </span>Kaṭhina</span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu sau khi đã trao y tận tay các tỳ khưu rồi ra đi du hành trong xứ sở với y nội và thượng y (y vai trái).[10] Các y ấy được để lại lâu ngày trở nên mốc meo. Các tỳ khưu đem phơi nắng các y ấy. Đại đức Ānanda trong lúc đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã nhìn thấy các tỳ khưu ấy đang phơi nắng các y ấy, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp các vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này: &#8211; “Này các đại đức, các y bị mốc meo này là của vị nào vậy?” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho đại đức Ānanda. Đại đức Ānanda phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu sau khi trao y tận tay các tỳ khưu lại ra đi du hành trong xứ sở với y nội và thượng y?” Sau đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu sau khi trao y tận tay các tỳ khưu rồi ra đi du hành trong xứ sở với y nội và thượng y, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy, sau khi trao y tận tay các tỳ khưu, lại ra đi du hành trong xứ sở với y nội và thượng y vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Khi vấn đề y đã được dứt điểm đối với vị tỳ khưu tức là khi Kaṭhina đã hết hiệu lực, nếu vị tỳ khưu xa lìa (một trong) ba y dầu chỉ một đêm thì phạm tội nissaggiya pācittiya.</i>”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định căn bản</b>]</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ ở thành Kosambī bị bệnh. Các thân quyến đã phái người đưa tin đến gặp vị tỳ khưu ấy (nói rằng): &#8211; “Ngài đại đức hãy đi đến. Chúng tôi sẽ hộ độ.” Các tỳ khưu cũng đã nói như vầy: &#8211; “Này đại đức, hãy đi. Các thân quyến sẽ hộ độ đại đức.” Vị ấy đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, điều học đã được đức Thế Tôn quy định rằng: ‘Không được xa lìa ba y;’ và tôi thì bị bệnh nên không thể mang theo ba y mà ra đi được. Tôi sẽ không đi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, Ta cho phép ban cho sự đồng ý về việc không phạm tội vì xa lìa ba y đối với tỳ khưu bị bệnh</i>. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: &#8211; ‘<i>Bạch các ngài, tôi bị bệnh không thể mang theo ba y mà ra đi được. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về việc không phạm tội vì xa lìa ba y</i>.’ Nên được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần thứ ba. Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) bị bệnh không thể mang theo ba y mà ra đi được. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về việc không phạm tội vì xa lìa ba y. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho sự đồng ý về việc không phạm tội vì xa lìa ba y đến vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) bị bệnh không thể mang theo ba y mà ra đi được. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về việc không phạm tội vì xa lìa ba y. Hội chúng ban cho sự đồng ý về việc không phạm tội vì xa lìa ba y đến vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc ban cho sự đồng ý về việc không phạm tội vì xa lìa ba y đến vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Sự đồng ý về việc không phạm tội vì xa lìa ba y đã được hội chúng ban cho vị tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.</i>”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Khi vấn đề y đã được dứt điểm đối với vị tỳ khưu tức là khi Kaṭhina đã hết hiệu lực, nếu vị tỳ khưu xa lìa (một trong) ba y dầu chỉ một đêm thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya, ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu.</i>”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định lần hai</b>]</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi vấn đề y đã được dứt điểm</b>: Y của vị tỳ khưu đã được làm xong, hoặc là đã bị mất, hoặc là đã bị hư hỏng, hoặc là đã bị cháy, hoặc là niềm mong mỏi về y đã bị tan vỡ.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi </b><b><i>Kaṭhina</i></b><b> đã hết hiệu lực</b>: là đã hết hiệu lực do bất cứ tiêu đề nào trong tám tiêu đề, hoặc là đã hết hiệu lực giữa chừng do hội chúng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nếu vị tỳ khưu xa lìa ba y dầu chỉ một đêm</b>: Nếu đã xa lìa hoặc là y hai lớp, hoặc là thượng y, hoặc là y nội dầu chỉ một đêm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu</b>: Trừ ra có sự đồng ý của các tỳ khưu.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thì (y ấy) nên được xả bỏ</b>: Đến lúc hừng đông thì phạm vào <i>nissaggiya</i>, (y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, y này của tôi đã xa lìa qua đêm giờ cần được xả bỏ, ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu. Tôi xả bỏ y này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Làng một địa hạt, nhiều địa hạt; gia trang một địa hạt, nhiều địa hạt; trang trại một địa hạt, nhiều địa hạt; nhà mái nhọn một địa hạt, nhiều địa hạt; tòa nhà vuông một địa hạt, nhiều địa hạt; tòa nhà lớn một địa hạt, nhiều địa hạt; tòa nhà dài một địa hạt, nhiều địa hạt; chiếc thuyền một địa hạt, nhiều địa hạt; đoàn xe một địa hạt, nhiều địa hạt; cánh đồng một địa hạt, nhiều địa hạt; ruộng lúa một địa hạt, nhiều địa hạt; khu vườn một địa hạt, nhiều địa hạt; trú xá một địa hạt, nhiều địa hạt; gốc cây một địa hạt, nhiều địa hạt; khoảng không gian một địa hạt, nhiều địa hạt.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Làng một địa hạt</i> nghĩa là làng thuộc về một gia đình và được rào lại, sau khi đã để y ở trong làng thì nên hiện diện trong làng. (Nếu) không được rào lại, y đã được để ở tại nhà nào thì nên hiện diện tại nhà đó, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.[11]</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Làng thuộc về nhiều gia đình</i> và được rào lại, y đã được để ở tại nhà nào thì nên hiện diện tại nhà đó: ở trong phòng hội họp, hoặc ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay. Khi đi đến phòng hội họp, sau khi đã để y ở trong tầm tay thì nên hiện diện ở trong phòng hội họp hoặc ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay. Sau khi đã để y ở trong phòng hội họp, nên hiện diện ở trong phòng hội họp hoặc ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay. (Nếu) không được rào lại, y đã được để ở tại nhà nào thì nên hiện diện tại nhà đó, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="8">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Gia trang thuộc về một gia đình</i> là được rào lại và có nhiều căn phòng, nhiều hậu phòng. Sau khi đã để y ở trong gia trang thì nên hiện diện trong gia trang. (Nếu) không được rào lại, y đã được để ở trong căn phòng nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="9">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Gia trang thuộc về nhiều gia đình</i> là được rào lại và có nhiều căn phòng, nhiều hậu phòng. Y đã được để ở trong căn phòng nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó hoặc ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay. (Nếu) không được rào lại, y đã được để ở trong căn phòng nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="10">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Trang trại thuộc về một gia đình </i>và được rào lại, có nhiều căn phòng, nhiều hậu phòng. Sau khi đã để y ở trong trang trại thì nên hiện diện trong trang trại. (Nếu) không được rào lại, y đã được để ở trong căn phòng nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="11">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Trang trại thuộc về nhiều gia đình </i>và được rào lại, có nhiều căn phòng, nhiều hậu phòng. Y đã được để ở trong căn phòng nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó hoặc ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay. (Nếu) không được rào lại, y đã được để ở trong căn phòng nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="12">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Nhà mái nhọn thuộc về một gia đình</i>: Sau khi đã để y ở trong nhà mái nhọn thì nên hiện diện trong nhà mái nhọn. <i>Nhà mái nhọn thuộc về nhiều gia đình </i>là có nhiều căn phòng, nhiều hậu phòng. Y đã được để ở trong căn phòng nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó hoặc ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="13">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tòa nhà vuông thuộc về một gia đình</i>: Sau khi đã để y ở trong tòa nhà vuông thì nên hiện diện trong tòa nhà vuông. <i>Tòa nhà vuông thuộc về nhiều gia đình</i> là có nhiều căn phòng, nhiều hậu phòng. Y đã được để ở trong căn phòng nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó hoặc ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="14">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tòa nhà lớn thuộc về một gia đình</i>: Sau khi đã để y ở trong tòa nhà lớn thì nên hiện diện trong tòa nhà lớn. <i>Tòa nhà lớn thuộc về nhiều gia đình</i> là có nhiều căn phòng, nhiều hậu phòng. Y đã được để ở trong căn phòng nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó hoặc ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="15">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tòa nhà dài thuộc về một gia đình</i>: Sau khi đã để y ở trong khu nhà dài thì nên hiện diện trong khu nhà dài. <i>Tòa nhà dài thuộc về nhiều gia đình</i> là có nhiều căn phòng, nhiều hậu phòng. Y đã được để ở trong căn phòng nào thì nên hiện diện ở trong căn phòng đó hoặc ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="16">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Chiếc thuyền thuộc về một gia đình</i>: Sau khi đã để y ở trong chiếc thuyền thì nên hiện diện trong chiếc thuyền. <i>Chiếc thuyền thuộc về nhiều gia đình</i> là có nhiều căn phòng, nhiều hậu phòng. Y đã được để ở trong hậu phòng nào thì nên hiện diện trong hậu phòng đó hoặc ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="17">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Đoàn xe thuộc về một gia đình</i>: Sau khi đã để y ở trong đoàn xe thì không nên rời xa phía trước hoặc phía sau quá bảy <i>abbhantara</i>,[12] không nên xa rời phía bên hông quá một <i>abbhantara</i>. <i>Đoàn xe thuộc về nhiều gia đình</i>: Sau khi đã để y ở trong đoàn xe thì không nên rời xa khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="18">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Cánh đồng thuộc về một gia đình </i>và được rào lại, sau khi đã để y ở bên trong cánh đồng thì nên hiện diện bên trong cánh đồng. (Nếu) không được rào lại thì không nên rời khỏi tầm tay. <i>Cánh đồng thuộc về nhiều gia đình </i>và được rào lại, sau khi đã để y ở bên trong cánh đồng thì nên hiện diện bên trong cánh đồng hoặc ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay. (Nếu) không được rào lại thì không nên rời khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="19">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ruộng lúa thuộc về một gia đình </i>và được rào lại, sau khi đã để y bên trong ruộng lúa thì nên hiện diện bên trong ruộng lúa. (Nếu) không được rào lại thì không nên rời khỏi tầm tay. <i>Ruộng lúa thuộc về nhiều gia đình</i> và được rào lại, sau khi đã để y ở bên trong ruộng lúa thì nên hiện diện ở nơi ngưỡng cửa hoặc là không nên rời khỏi tầm tay. (Nếu) không được rào lại thì không nên rời khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="20">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Khu vườn thuộc về một gia đình </i>và được rào lại, sau khi đã để y ở bên trong khu vườn thì nên hiện diện ở bên trong khu vườn. (Nếu) không được rào lại thì không nên rời khỏi tầm tay. <i>Khu vườn thuộc về nhiều gia đình </i>và được rào lại, sau khi đã để y ở bên trong khu vườn thì nên hiện diện ở nơi ngưỡng cửa hoặc là không nên rời khỏi tầm tay. (Nếu) không được rào lại thì không nên rời khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="21">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Trú xá thuộc về một gia đình</i> và được rào lại, sau khi đã để y ở bên trong trú xá thì nên hiện diện bên trong trú xá. (Nếu) không được rào lại, y đã được để ở tại trú xá nào thì nên hiện diện tại trú xá ấy, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay. <i>Trú xá thuộc về nhiều gia đình</i> và được rào lại, y đã được để ở tại trú xá nào thì nên hiện diện tại trú xá ấy hoặc ở nơi ngưỡng cửa, hoặc là không nên rời khỏi tầm tay. (Nếu) không được rào lại, y đã được để ở tại trú xá nào thì nên hiện diện tại trú xá ấy hoặc là không nên rời khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="22">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Gốc cây thuộc về một gia đình</i> là toàn bộ bóng râm được chiếu xuống vào lúc nửa ngày (giữa trưa). Sau khi đã để y ở bên trong bóng râm thì nên hiện diện bên trong bóng râm. <i>Gốc cây thuộc về nhiều gia đình</i> thì không nên rời khỏi tầm tay.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="23">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Khoảng không gian một địa hạt</i> nghĩa là không ở trong thôn làng, ở trong rừng, khoảng không gian xung quanh bảy <i>abbhantara</i> là một địa hạt,[13] từ đó trở đi là nhiều địa hạt.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="24">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi đã xa lìa, nhận biết là đã xa lìa, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i> ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu. Khi đã xa lìa, có sự hoài nghi, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i> ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu. Khi đã xa lìa, (lầm) tưởng là chưa xa lìa, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i> ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu. Khi chưa nguyện xả, (lầm) tưởng là đã nguyện xả, &#8230; Khi chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đã phân phát, &#8230; Khi không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đã bị mất trộm, &#8230; Khi không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đã bị hư hỏng, &#8230; Khi không bị cháy, (lầm) tưởng là đã bị cháy, &#8230; Khi không bị cướp, (lầm) tưởng là đã bị cướp, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i> ngoại trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu. Y phạm vào<i>nissaggiya</i>, không xả bỏ rồi sử dụng, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa bị xa lìa, (lầm) tưởng là đã bị xa lìa, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa bị xa lìa, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa bị xa lìa, nhận biết là chưa bị xa lìa thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="25">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị nguyện xả vào thời điểm rạng đông, vị phân phát, (y) bị mất trộm, (y) bị hư hỏng, (y) bị cháy, (những người khác) cướp rồi lấy đi, (các vị khác) lấy do sự thân thiết, với sự đồng ý của các tỳ khưu, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học thứ nhì về </b><b><i>kaṭhina</i></b><b>.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học thứ ba về </span>Kaṭhina</span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, y ngoài hạn kỳ đã phát sanh đến vị tỳ khưu nọ. Y ấy trong khi được may cho vị ấy thì không đủ. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy căng y ấy ra rồi vuốt tới vuốt lui cho thẳng. Đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các trú xá đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy sau khi căng y ấy ra đang vuốt tới vuốt lui cho thẳng, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: &#8211; “Này tỳ khưu, vì sao ngươi lại căng y ấy ra rồi vuốt tới vuốt lui cho thẳng vậy?” &#8211; “Bạch ngài, y ngoài thời hạn này đã phát sanh đến con, trong khi được may lại không đủ. Chính vì thế nên con căng y này ra rồi vuốt tới vuốt lui cho thẳng.” &#8211; “Này tỳ khưu, ngươi có sự mong mỏi về y không?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, thưa có.” Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “<i>Này các tỳ khưu, Ta cho phép sau khi thọ lãnh y ngoài hạn kỳ thì được giữ lại với sự mong mỏi về y</i>.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cho phép sau khi thọ lãnh y ngoài hạn kỳ thì được giữ lại với sự mong mỏi về y” nên khi thọ lãnh y ngoài hạn kỳ thì giữ lại hơn một tháng. Các y ấy được buộc thành đống treo ở sào máng y. Đại đức Ānanda trong khi đi dạo quanh các trú xá đã nhìn thấy các y ấy được buộc thành đống treo ở sào máng y, sau khi nhìn thấy đã nói với các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các đại đức, các y đã được buộc thành đống treo ở sào máng y là của vị nào vậy?” &#8211; “Này đại đức, chúng là các y ngoài hạn kỳ của chúng tôi đã được giữ lại với sự mong mỏi về y.” &#8211; “Này các đại đức, vậy các y này đã được giữ lại bao lâu rồi?” &#8211; “Này đại đức, hơn một tháng.” Đại đức Ānanda phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu sau khi thọ lãnh y ngoài hạn kỳ rồi giữ lại hơn một tháng?” Sau đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu sau khi thọ lãnh y ngoài hạn kỳ rồi giữ lại hơn một tháng, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy sau khi thọ lãnh y ngoài hạn kỳ rồi giữ lại hơn một tháng vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Khi vấn đề y đã được dứt điểm đối với vị tỳ khưu tức là khi Kaṭhina đã hết hiệu lực, lại có y ngoài hạn kỳ phát sanh đến vị tỳ khưu, vị tỳ khưu đang mong muốn thì nên thọ lãnh. Sau khi thọ lãnh nên bảo thực hiện ngay lập tức, và nếu không đủ thì vị tỳ khưu ấy nên giữ lại y ấy tối đa một tháng khi có sự mong mỏi làm cho đủ phần thiếu hụt; nếu giữ lại quá hạn ấy mặc dầu có sự mong mỏi, (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi vấn đề y đã được dứt điểm</b>: Y của vị tỳ khưu đã được làm xong, hoặc là đã bị mất, hoặc là đã bị hư hỏng, hoặc là đã bị cháy, hoặc là niềm mong mỏi về y đã bị tan vỡ.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi </b><b><i>Kaṭhina</i></b><b> đã hết hiệu lực</b>: là đã hết hiệu lực do bất cứ tiêu đề nào trong tám tiêu đề, hoặc là đã hết hiệu lực giữa chừng do hội chúng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Y ngoài hạn kỳ</b> nghĩa là khi <i>Kaṭhina</i> không thành tựu thì được phát sanh trong mười một tháng, khi <i>Kaṭhina</i> thành tựu thì được phát sanh trong bảy tháng; (y) được dâng xác định trong thời gian trên thì (y) ấy gọi là y ngoài hạn kỳ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phát sanh</b>: là phát sanh từ hội chúng, hoặc từ nhóm, hoặc từ thân quyến, hoặc từ bạn bè, hoặc từ vải quăng bỏ,[14] hoặc từ vật sở hữu của bản thân.[15]</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đang mong muốn</b>: vị đang ước muốn thì nên thọ lãnh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sau khi thọ lãnh nên bảo thực hiện ngay lập tức</b>: nên bảo thực hiện trong mười ngày.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nếu không đủ</b>: trong khi được may thì không đủ (y chưa hoàn thành).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị tỳ khưu ấy nên giữ lại y ấy tối đa một tháng</b>: nên giữ lại nhiều nhất là một tháng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Làm cho đủ phần thiếu hụt</b>: với mục đích làm cho đủ phần thiếu hụt.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khi có sự mong mỏi</b>: là sự mong mỏi (y) từ hội chúng, hoặc từ nhóm, hoặc từ thân quyến, hoặc từ bạn bè, hoặc từ vải quăng bỏ, hoặc từ vật sở hữu của bản thân.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nếu giữ lại quá hạn ấy mặc dầu có sự mong mỏi</b>: Khi y căn bản được phát sanh ngày ấy (và) y mong mỏi được phát sanh (cùng ngày) thì nên bảo thực hiện trong mười ngày. Khi y căn bản được phát sanh hai ngày rồi y mong mỏi được phát sanh thì nên bảo thực hiện trong mười ngày. &#8230; Khi y căn bản được phát sanh ba ngày &#8230; được phát sanh bốn ngày &#8230; được phát sanh năm ngày &#8230; được phát sanh sáu ngày &#8230; được phát sanh bảy ngày &#8230; được phát sanh tám ngày &#8230; được phát sanh chín ngày &#8230; được phát sanh mười ngày rồi y mong mỏi được phát sanh thì nên bảo thực hiện trong mười ngày.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi y căn bản được phát sanh mười một ngày &#8230; được phát sanh mười hai ngày &#8230; được phát sanh mười ba ngày &#8230; được phát sanh mười bốn ngày &#8230; được phát sanh mười lăm ngày &#8230; được phát sanh mười sáu ngày &#8230; được phát sanh mười bảy ngày &#8230; được phát sanh mười tám ngày &#8230; được phát sanh mười chín ngày &#8230; được phát sanh hai mươi ngày rồi y mong mỏi được phát sanh thì nên bảo thực hiện trong mười ngày.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi y căn bản được phát sanh hai mươi mốt ngày thì nên bảo thực hiện trong chín ngày. Khi y căn bản được phát sanh hai mươi hai ngày &#8230; được phát sanh hai mươi ba ngày &#8230; được phát sanh hai mươi bốn ngày &#8230; được phát sanh hai mươi lăm ngày &#8230; được phát sanh hai mươi sáu ngày &#8230; được phát sanh hai mươi bảy ngày &#8230; được phát sanh hai mươi tám ngày &#8230; được phát sanh hai mươi chín ngày rồi y mong mỏi được phát sanh thì nên bảo thực hiện trong một ngày. Khi y căn bản được phát sanh ba mươi ngày rồi y mong mỏi được phát sanh, thì ngay trong ngày ấy (y căn bản) nên được chú nguyện để dùng riêng, nên được chú nguyện để dùng chung, nên được phân phát. Nếu vị không chú nguyện để dùng riêng, hoặc không chú nguyện để dùng chung, hoặc không phân phát, đến lúc hừng đông vào ngày thứ ba mươi mốt thì (y căn bản) phạm vào <i>nissaggiya</i>, nên được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy ―(như trên)― “<i>Bạch các ngài, y ngoài hạn kỳ này của tôi đã quá hạn một tháng cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ y này đến hội chúng.</i>” ―(như trên)― <i>hội chúng nên cho lại</i> ―(như trên)― <i>chư đại đức nên cho lại</i> ―(như trên)― “<i>Tôi cho lại đại đức</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi y căn bản được phát sanh là khác phẩm chất rồi y mong mỏi được phát sanh và còn lại nhiều đêm, không nên bảo thực hiện trái với ước muốn.[16]</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi quá hạn một tháng, nhận biết là đã quá hạn, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>. Khi quá hạn một tháng, có sự hoài nghi, &#8230; Khi quá hạn một tháng, (lầm) tưởng là chưa quá hạn, &#8230; Khi chưa được chú nguyện để dùng riêng, (lầm) tưởng là đã được chú nguyện để dùng riêng, &#8230; Khi chưa được chú nguyện để dùng chung, (lầm) tưởng là đã được chú nguyện để dùng chung, &#8230; Khi chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đã được phân phát, &#8230; Khi không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đã bị mất trộm, &#8230; Khi không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đã bị hư hỏng, &#8230; Khi không bị cháy, (lầm) tưởng là đã bị cháy, &#8230; Khi không bị cướp, (lầm) tưởng là đã bị cướp, phạm tội <i>nissaggiya pācittiya</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Y phạm vào <i>nissaggiya</i>, không xả bỏ rồi sử dụng, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa quá hạn một tháng, (lầm) tưởng là đã quá hạn, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa quá hạn một tháng, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Khi chưa quá hạn một tháng, nhận biết là chưa quá hạn thì vô tội.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong thời hạn một tháng, vị chú nguyện để dùng riêng, vị chú nguyện để dùng chung, vị phân phát, (y) bị mất trộm, (y) bị hư hỏng, (y) bị cháy, (những người khác) cướp rồi lấy đi, (các vị khác) lấy do sự thân thiết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học thứ ba về </b><b><i>kaṭhina</i></b><b>.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<blockquote><p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p></blockquote>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><em><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người dịch: Tỳ khưu Indacanda &#8211; Nguồn TamtangPaliViet.net</span></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG ANIYATA &#8211; ĐIỀU HỌC ANIYATA THỨ NHẤT VÀ THỨ NHÌ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-4-chuong-aniyata-dieu-hoc-aniyata-thu-nhat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 03:18:19 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=11547</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 4: Aniyata Điều học Aniyata thứ nhất Lúc bấy giờ, đức Phật Thế]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></h2>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương 4: Aniyata</span></h3>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Điều học Aniyata thứ nhất</span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi là vị thường tới lui với các gia đình và đi đến nhiều gia đình ở thành Sāvatthī. Vào lúc bấy giờ, người con gái của gia đình hộ độ đại đức Udāyi đã được gả cho người con trai của gia đình nọ. Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Udāyi đã mặc y, cầm y bát, đi đến gia đình ấy, sau khi đến đã hỏi mọi người rằng: &#8211; “Cô gái tên (như vầy) ở đâu?” &#8211; “Thưa ngài, cô ấy đã được gả cho người con trai của gia đình kia rồi.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và gia đình ấy cũng là người hộ độ cho đại đức Udāyi. Sau đó, đại đức Udāyi đã đi đến gia đình ấy, sau khi đến đã hỏi mọi người rằng: &#8211; “Cô gái tên (như vầy) ở đâu? &#8211; “Thưa ngài, cô ấy ngồi ở phòng trong. Khi ấy, đại đức Udāyi đã đi đến gặp người con gái ấy, sau khi đến đã cùng với người con gái ấy, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động, tùy lúc thì tâm sự, tùy lúc thì nói Pháp.<a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/01/01_07.htm#_ftn1" name="_ftnref1" rel="nofollow noopener" target="_blank">[1]</a></span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, bà Visākhā mẹ của Migāra có nhiều con trai, có nhiều cháu trai,<a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/01/01_07.htm#_ftn2" name="_ftnref2" rel="nofollow noopener" target="_blank">[2]</a> có các con trai không bệnh tật, có các cháu trai không bệnh tật, được xem là điều đại kiết tường. Trong những dịp tế lễ, hội hè, đình đám, dân chúng thường ưu tiên mời bà Visākhā mẹ của Migāra dự tiệc. Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra được thỉnh mời nên đã đi đến gia đình ấy. Rồi bà Visākhā mẹ của Migāra đã nhìn thấy đại đức Udāyi cùng với người con gái ấy, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động, sau khi nhìn thấy đã nói với đại đức Udāyi điều này: &#8211; “Thưa ngài, điều này là không thích hợp, là không đúng đắn. Là việc ngài đại đức cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động. Thưa ngài, mặc dầu ngài đại đức không có ước muốn gì đến chuyện ấy, tuy nhiên những người không có niềm tin thì khó mà thuyết phục lắm.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuy được bà Visākhā mẹ của Migāra nói như thế, đại đức Udāyi đã không lưu tâm đến. Sau đó, bà Visākhā mẹ của Migāra đã ra về và đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Udāyi lại cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động?”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này Udāyi, nghe nói ngươi cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động, có nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy sau khi thấy rồi tố cáo vị ấy với một tội nào đó trong ba tội: hoặc là với tội pārājika, hoặc là với tội saṅghādisesa, hoặc là với tội pācittiya. (Nếu) vị tỳ khưu thú nhận việc ngồi thì nên được hành xử với một tội nào đó trong ba tội: hoặc là với tội pārājika, hoặc là với tội saṅghādisesa, hoặc là với tội pācittiya; hoặc là nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy ấy tố cáo với tội nào thì nên hành xử vị tỳ khưu ấy theo tội ấy. Đây là điều aniyata.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ</b> nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ Dạ-xoa, không phải ma nữ, không phải loài thú cái, ngay cả đứa bé gái mới sanh ngày hôm ấy cho đến bà lão.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Với</b>: cùng chung.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Một nam một nữ</b>: chỉ có vị tỳ khưu và người nữ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Kín đáo</b>: nghĩa là kín đáo đối với mắt, kín đáo đối với tai. <b>Kín đáo đối với mắt</b> nghĩa là không thể nhìn thấy trong khi bị che mắt lại, trong khi nhướng mày, trong khi ngẩng đầu lên. <b>Kín đáo đối với tai</b> nghĩa là không thể nghe lời nói (với giọng) bình thường.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chỗ ngồi được che khuất</b> là không được che khuất bởi bức tường, hoặc bởi cánh cửa, hoặc bởi tấm màn, hoặc bởi tấm vách chắn, hoặc bởi cội cây, hoặc bởi cột nhà, hoặc bởi nhà kho, hoặc bởi bất cứ vật gì.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thuận tiện cho hành động</b>: là có thể thực hiện việc đôi lứa.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ngồi</b>: Khi người nữ đang ngồi thì vị tỳ khưu ngồi gần hoặc nằm gần, khi vị tỳ khưu đang ngồi thì người nữ ngồi gần hoặc nằm gần, hoặc cả hai đang ngồi, hoặc cả hai đang nằm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có lời nói đáng tin cậy</b> nghĩa là người nữ đã chứng Thánh Quả, đã thông suốt Tứ Diệu Đế, đã hiểu rõ Tam Học: Giới, Định, Tuệ.<a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/01/01_07.htm#_ftn3" name="_ftnref3" rel="nofollow noopener" target="_blank">[3]</a></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nữ cư sĩ </b>nghĩa là người nữ đã đi đến nương nhờ đức Phật, đã đi đến nương nhờ Giáo Pháp, đã đi đến nương nhờ Hội Chúng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sau khi thấy</b>: sau khi đã nhìn thấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Cô ấy) có thể tố cáo với một tội nào đó trong ba tội: hoặc là với tội <i>pārājika</i>, hoặc là với tội <i>saṅghādisesa</i>, hoặc là với tội <i>pācittiya</i>. (Nếu) vị tỳ khưu thú nhận việc ngồi thì nên được hành xử với một tội nào đó trong ba tội: hoặc là với tội <i>pārājika</i>, hoặc là với tội <i>saṅghādisesa</i>, hoặc là với tội <i>pācittiya</i>; hoặc là nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy ấy tố cáo với tội nào thì nên hành xử vị tỳ khưu ấy theo tội ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,” nếu vị ấy nói như vầy: “Sự thật là tôi đã ngồi nhưng tôi đã không thực hiện việc đôi lứa” thì nên hành xử theo việc ngồi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,” nếu vị ấy nói như vầy: “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành xử theo việc nằm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,” nếu vị ấy nói như vầy: “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã nằm và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã nằm và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,” nếu vị ấy nói như vầy: “Sự thật là tôi đã nằm nhưng tôi đã không thực hiện việc đôi lứa” thì nên hành xử theo việc nằm. ―(như trên)― “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành xử theo việc ngồi. ―(như trên)― “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với người nữ,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm. ―(như trên)― “Sự thật là tôi đã ngồi nhưng tôi đã không thực hiện việc xúc chạm cơ thể” thì nên hành xử theo việc ngồi. ―(như trên)― “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành xử theo việc nằm. ―(như trên)― “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã nằm và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với người nữ,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm. ―(như trên)― “Sự thật là tôi đã nằm nhưng tôi đã không thực hiện việc xúc chạm cơ thể” thì nên hành xử theo việc nằm. ―(như trên)― “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành xử theo việc ngồi. ―(như trên)― “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức cùng với người nữ, một nam một nữ đã ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo việc ngồi. ―(như trên)― “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành xử theo việc nằm. ―(như trên)― “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức cùng với người nữ, một nam một nữ đã nằm xuống ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo việc nằm. ―(như trên)― “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành xử theo việc ngồi. ―(như trên)― “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b><i>aniyata</i></b>: không chắc chắn là tội <i>pārājika</i>, hay là tội <i>saṅghādisesa</i>, hay là tội <i>pācittiya</i>.</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì nên hành xử theo việc ngồi. Vị thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì không nên hành xử.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị không thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị không thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị không thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì nên hành xử theo việc ngồi. Vị không thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì không nên hành xử.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học </b><b><i>aniyata</i></b><b> thứ nhất.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><span style="font-size: 18.6667px;"><b>Điều học Aniyata thứ nhì</b></span></span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán việc cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động” nên đã cùng với chính người con gái ấy, một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo, tùy lúc thì tâm sự, tùy lúc thì nói Pháp. Đến lần thứ nhì, bà Visākhā mẹ của Migāra được thỉnh mời nên đã đi đến gia đình ấy. Rồi bà Visākhā mẹ của Migāra đã nhìn thấy đại đức Udāyi cùng với chính người con gái ấy, một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo, sau khi nhìn thấy đã nói với đại đức Udāyi điều này: &#8211; “Thưa ngài, điều này là không thích hợp, là không đúng đắn. Là việc ngài đại đức cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo. Thưa ngài, mặc dầu ngài đại đức không có ước muốn gì đến chuyện ấy, tuy nhiên những người không có niềm tin thì khó mà thuyết phục lắm.” Tuy được bà Visākhā mẹ của Migāra nói như thế, đại đức Udāyi đã không lưu tâm đến.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, bà Visākhā mẹ của Migāra đã ra về và đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Udāyi lại cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này Udāyi, nghe nói ngươi cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Hơn nữa, khi chỗ ngồi là không được che khuất, không thuận tiện cho hành động, nhưng thích hợp để nói với người nữ bằng những lời thô tục. Vị tỳ khưu nào ở chỗ ngồi có hình thức như thế cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo, có nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy sau khi thấy rồi tố cáo vị ấy với một tội nào đó trong hai tội: hoặc là với tội saṅghādisesa, hoặc là với tội pācittiya. (Nếu) vị tỳ khưu thú nhận việc ngồi thì nên hành xử với một tội nào đó trong hai tội: hoặc là với tội saṅghādisesa, hoặc là với tội pācittiya; hoặc là nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy ấy tố cáo với tội nào thì nên hành xử vị tỳ khưu ấy theo tội ấy. Đây cũng là điều aniyata.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hơn nữa, khi chỗ ngồi là không được che khuất</b>: là không được che khuất bởi bức tường, hoặc bởi cánh cửa, hoặc bởi tấm màn, hoặc bởi tấm vách chắn, hoặc bởi cội cây, hoặc bởi cột nhà, hoặc bởi nhà kho, hoặc bởi bất cứ vật gì.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Không thuận tiện cho hành động</b>: là không thể thực hiện việc đôi lứa.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nhưng thích hợp để thốt ra với người nữ bằng những lời thô tục</b>: là có thể nói với người nữ bằng những lời thô tục.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ở chỗ ngồi có hình thức như thế</b>: ở chỗ ngồi y như thế ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ</b> nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ Dạ-xoa, không phải ma nữ, không phải loài thú cái, có trí suy xét, có khả năng nhận biết lời nói tốt và lời nói xấu, là (lời nói) thô tục và không thô tục.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Với</b>: cùng chung.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Một nam một nữ</b>: chỉ có vị tỳ khưu và người nữ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Kín đáo</b>: nghĩa là kín đáo đối với mắt, kín đáo đối với tai.<b>Kín đáo đối với mắt</b> nghĩa là không thể nhìn thấy trong khi bị che mắt lại, trong khi nhướng mày, trong khi ngẩng đầu lên.<b>Kín đáo đối với tai</b> nghĩa là không thể nghe lời nói (với giọng) bình thường.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ngồi</b>: Khi người nữ đang ngồi thì vị tỳ khưu ngồi gần hoặc nằm gần, khi vị tỳ khưu đang ngồi thì người nữ ngồi gần hoặc nằm gần, hoặc cả hai đang ngồi, hoặc cả hai đang nằm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có lời nói đáng tin cậy</b>: nghĩa là người nữ đã chứng Thánh Quả, đã thông suốt Tứ Diệu Đế, đã hiểu rõ Tam Học: Giới, Định, Tuệ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nữ cư sĩ </b>nghĩa là người nữ đã đi đến nương nhờ đức Phật, đã đi đến nương nhờ Giáo Pháp, đã đi đến nương nhờ Hội Chúng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sau khi thấy</b>: sau khi đã nhìn thấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Cô ấy) có thể tố cáo với một tội nào đó trong hai tội: hoặc là với tội <i>saṅghādisesa</i>, hoặc là với tội <i>pācittiya</i>, (nếu) vị tỳ khưu thú nhận việc ngồi thì nên được hành xử với một tội nào đó trong hai tội: hoặc là với tội <i>saṅghādisesa</i>, hoặc là với tội <i>pācittiya</i>; hoặc là nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy ấy tố cáo với tội nào thì nên hành xử vị tỳ khưu ấy theo tội ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với người nữ,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với người nữ,” nếu vị ấy nói như vầy: “Sự thật là tôi đã ngồi nhưng tôi đã không thực hiện việc xúc chạm cơ thể” thì nên hành xử theo việc ngồi. ―(như trên)― “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành xử theo việc nằm. ―(như trên)― “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã nằm và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với người nữ,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm. ―(như trên)― “Sự thật là tôi đã nằm nhưng tôi đã không thực hiện việc xúc chạm cơ thể” thì nên hành xử theo việc nằm. ―(như trên)― “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành xử theo việc ngồi. ―(như trên)― “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã nghe được rằng ngài đại đức đã ngồi và đang nói với người nữ bằng những lời thô tục,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm. ―(như trên)― “Sự thật là tôi đã ngồi nhưng tôi đã không nói với người nữ bằng những lời thô tục” thì nên hành xử theo việc ngồi. ―(như trên)― “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành xử theo việc nằm. ―(như trên)― “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã nghe được rằng ngài đại đức đã nằm và đang nói với người nữ bằng những lời thô tục,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm. ―(như trên)― “Sự thật là tôi đã nằm nhưng tôi đã không nói bằng những lời thô tục” thì nên hành xử theo việc nằm. ―(như trên)― “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành xử theo việc ngồi. ―(như trên)― “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức cùng với người nữ, một nam một nữ đã ngồi ở chỗ kín đáo,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo việc ngồi. ―(như trên)― “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành xử theo việc nằm. ―(như trên)― “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức cùng với người nữ, một nam một nữ đã nằm ở chỗ kín đáo,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo việc nằm. ―(như trên)― “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành xử theo việc ngồi. ―(như trên)― “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đây cũng là</b>: được gọi như thế vì có liên quan đến điều trước.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b><i>aniyata</i></b>: không chắc chắn là tội <i>saṅghādisesa</i>, hay là tội <i>pācittiya</i>.</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì nên hành xử theo việc ngồi. Vị thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì không nên hành xử.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị không thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị không thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị không thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì nên hành xử theo việc ngồi. Vị không thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì không nên hành xử.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học </b><b><i>aniyata</i></b><b> thứ nhì.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> </b></span><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Bạch chư đại đức, hai điều </span><i style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">aniyata</i><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> đã được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Các đại đức được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tóm lược chương này</span></h4>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Nơi) thuận tiện cho hành động, và tương tợ y như thế về nơi không thuận tiện. (Hai) điều học <i>aniyata</i> đã khéo được quy định bởi đức Phật tối thượng như thế ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt Chương </b><b><i>Aniyata</i></b><b>.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Xem xét khi nào không có ai qua lại thì hỏi han chuyện gia đình: “Chắc là cô hạnh phúc? Chắc là cô không bị mệt nhọc? Chắc là cô không bị đói?” v.v&#8230; Khi nào có ai đi lại gần thì nói Pháp: “Nên thọ bát quan trai giới. Nên dâng thức ăn theo thẻ.” v.v&#8230; (VinA. iii, 631).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Ngài Buddhaghosa giải thích là bà Visākhā có 10 người con trai và 10 người con gái. Mỗi người con trai hoặc gái có 20 người con. Tổng cộng bà có hơn 420 người con cháu (VinA. iii, 631).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Hai từ <i>abhisametāvinī</i> và <i>viññātasāsanā</i> được ghi nghĩa theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa (Vin.A. iii, 632).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Động từ <em>dhāreti</em> có nghĩa chính là “<em>mang,</em> <em>mặc, v.v</em>&#8230;” nhưng để phù hợp với ngữ cảnh từ dịch Việt đã được biến đổi ít nhiều như là “<em>cất giữ</em>, <em>sử dụng</em>, v.v&#8230;”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] <i>Nissaggiya pācittiya </i>có hai phần: <i>nissaggiya</i> liên quan đến đồ vật cần được xả bỏ, <i>pācittiya</i> là tội ưng đối trị.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Tám tiêu đề (<i>mātikā</i>) về sự hết hiệu lực của <i>Kaṭhina</i>: do sự ra đi, do (y) được hoàn tất, do tự mình quyết định, do bị mất, do nghe được (tin), do sự tan vỡ của niềm mong mỏi, do sự vượt qua ranh giới, do sự hết hiệu lực cùng một lúc (<i>Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm</i>, TTPV tập 5, chương VII, trang 116).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Hội chúng thực hiện hành sự thâu hồi khiến <em>Kaṭhina</em> hết hiệu lực (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Sáu loại y: “Này các tỳ khưu, ta cho phép sáu loại y: loại bằng sợi lanh, loại bằng bông vải, loại bằng tơ lụa, loại bằng sợi len, loại bằng gai thô, loại bằng chỉ bố” (<i>Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm</i>, TTPV tập 5, chương VII, trang 183).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Chú nguyện để dùng chung: “Này các tỳ khưu, Ta cho phép chú nguyện để dùng chung y (có kích thước) tối thiểu với chiều dài là tám ngón tay với chiều rộng là bốn ngón tay theo ngón tay tiêu chuẩn” (<i>Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm</i>, TTPV tập 5, chương VIII, trang 213).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[10] <i>santaruttara = sa+antara+uttara = sa+antaravāsaka+uttarasaṅga</i> = với+y nội+thượng y (y vai trái).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[11] Ngài Buddhaghosa giải thích là 1 <i>hatthapāsa</i> (tầm tay) = 2,5 <i>ratana</i> (VinA. iii, 652), và 1 <i>ratana</i> = 2 <i>vidatthiyo</i> (gang tay), 1 <i>vidatthi</i> = 12 lần bề rộng của ngón tay (VibhA. 343). Tài liệu <i>The Buddhist Monastic Code</i> của Thanissaro Bhikkhu cho biết = 1 <i>hatthapāsa</i> = 1,25 mét.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[12] Ngài Buddhaghosa giải thích 1 <i>abbhantara</i> là 28 <i>hattha</i> (cánh tay) (VinA. iii, 654). Từ điển của Childers giải thích <i>hattha</i> là chiều dài tính từ cùi chỏ của cánh tay đến đầu ngón tay út. Tài liệu <i>The Buddhist Monastic Code</i> của Thanissaro Bhikkhu cho biết khoảng cách của 7 <i>abbhantara</i> = 98 mét (Như vậy 1 <i>abbhantara</i> = 14 mét, 1 <i>hattha</i> = 0,5 mét).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[13] Tức là vòng tròn bán kính 7 <em>abbhantara</em> (= 98 mét), lấy chỗ để y làm tâm điểm (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[14] Vải quăng bỏ (<i>paṃsukūla</i>) được phát sanh lên do nhiều cách thức. Một trong những cách thức đã được các tỳ khưu thời ấy áp dụng là đi vào mộ địa nhặt lấy các vải quấn tử thi đem về giặt sạch, cắt may thành y, nhuộm màu, v.v&#8230; (ND).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[15] Ngài Buddhaghosa giải thích “từ vật sở hữu của bản thân” là phát sanh lên do bông vải, chỉ sợi, v.v&#8230; của bản thân (VinA. iii, 659).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[16] Ngài Buddhaghosa giải thích như sau: “Nếu y căn bản là mịn và y mong mỏi là thô không thể kết hợp với nhau, và còn lại nhiều đêm nhưng vẫn không đủ cho đến hết tháng thì không nên cho thực hiện y trái với ước muốn, lại còn bị sự chê bai nữa. Nên chờ cho đến khi nhận lãnh y mong mỏi khác nữa rồi cho thực hiện trong khoảng thời gian (cho phép). Cũng nên chú nguyện y mong mỏi làm vải phụ tùng (<i>parikkhāracoḷaṃ</i>). Nếu y căn bản là thô và y mong mỏi là mịn thì nên chú nguyện y căn bản làm vải phụ tùng, rồi lấy y mong mỏi làm y căn bản, và giữ lại. Bằng phương thức này thì đạt được lại cả tháng ấy để giữ lại y” (VinA. iii, 659). Có thể hiểu lời giải thích trên như sau: Trong vòng hai mươi ngày đầu tính từ lúc y căn bản được phát sanh, nếu y mong mỏi được phát sanh thì số ngày để giữ y căn bản không còn đủ ba mươi ngày (mà chỉ còn mười ngày, phù hợp với thời gian cất giữ của y mới được phát sanh chỉ được tối đa là mười ngày). Như vậy, hoặc là hy vọng trong mười ngày còn lại sẽ có thêm y mong mỏi khác cùng loại, hoặc là chú nguyện y mong mỏi thành vải phụ tùng để y căn bản có thể tiếp tục giữ được đủ ba mươi ngày. Trường hợp y mong mỏi là tốt hơn thì có thể lấy y mong mỏi mới phát sanh làm y căn bản và nguyện y căn bản làm vải phụ tùng, như thế sẽ được tính đủ ba mươi ngày.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[17] Ngoài ba y như các tỳ khưu là y hai lớp (<i>saṅghāṭi</i>), thượng y (<i>uttarasagaṃ</i>), và y nội (<i>antaravāsakaṃ</i>), tỳ khưu ni còn có thêm hai y nữa là áo lót (<i>saṃkaccikaṃ</i>) và vải choàng tắm (<i>udakasāṭikaṃ</i>). Xin xem <em>Cullavagga &#8211; Tiểu Phẩm</em>, TTPV tập 7, chương X, trang 515.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[18] <em>Ito</em>: nghĩa là “<em>từ đây</em>” ám chỉ vải đang được mặc trên người ấy. Theo câu chuyện, được biết người ấy đang mặc hai tấm vải nên ghi lại như trên (ND).</span></p>
<blockquote><p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p></blockquote>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><em><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người dịch: Tỳ khưu Indacanda &#8211; Nguồn TamtangPaliViet.net</span></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA &#8211; ĐIỀU HỌC VỀ VỊ LÀM HƯ HỎNG CÁC GIA ĐÌNH</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-3-chuong-sa%e1%b9%85ghadisesa-dieu-hoc-ve-vi-lam-hu-hong-cac-gia-dinh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 03:15:38 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=20107</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 3: Saṅghādisesa Điều học về vị làm hư hỏng các gia đình Lúc]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></span></h2>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương 3: Saṅghādisesa</span></h3>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học về vị làm hư hỏng các gia đình </span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú[8] tại Kīṭāgiri (núi Kīṭā) là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa che ngực. Họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết một mặt, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết hai mặt, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng thảm hoa, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa đội đầu, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa đeo tai, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa che ngực cho những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Họ cùng với những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình ăn chung trong một đĩa, uống chung trong một cốc, ngồi chung trên một chỗ ngồi, nằm chung trên một giường, nằm chung một tấm trải, nằm chung một tấm đắp, nằm chung một tấm trải và tấm đắp. Họ ăn sái giờ, họ uống rượu, họ đeo dây chuyền, xức nước hoa và phấn thơm, họ nhảy múa, họ ca hát, họ tấu đàn, họ vui đùa. Họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy múa; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang ca hát; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang tấu đàn; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang vui đùa. Họ còn tiêu khiển cờ tám ô vuông, cờ mười ô vuông, họ chơi với bàn cờ tưởng tượng ở trên không, họ chơi trò nhảy cóc, họ chơi lối rút quân cờ, họ chơi ném xúc xắc, họ chơi đánh khăng, họ chơi trò đoán hình vẽ bằng tay, họ chơi bóng tròn, họ chơi trò thổi kèn bằng lá cây, họ chơi trò kéo cày, họ chơi trò nhào lộn, họ chơi trò dùng lá cọ giả làm cối xay gió, họ chơi trò đo lường, họ chơi trò đua xe, họ thi bắn cung, họ chơi trò đố chữ, họ chơi trò đoán ý, họ chơi trò nhái điệu bộ, họ tập cỡi voi, họ tập cỡi ngựa, họ tập điều khiển xe, họ tập bắn cung, họ tập đao kiếm, họ chạy phía trước voi, họ chạy phía trước ngựa, họ chạy đi chạy lại phía trước xe; họ huýt sáo, họ vỗ tay, họ vật lộn, họ đánh nhau bằng các nắm tay. Họ trải y ca-sa hai lớp ở giữa nhà rồi nói với cô vũ nữ như vầy: “Này cô em, hãy nhảy múa ở đây,” họ còn vỗ tay tán thưởng. Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách.</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã trải qua mùa (an cư) mưa ở xứ Kāsi, trong khi đi đến thành Sāvatthī để diện kiến đức Thế Tôn, đã trú tại vùng Kīṭāgiri. Khi ấy vào buổi sáng, vị tỳ khưu ấy đã mặc y, cầm y bát, và đi vào vùng Kīṭāgiri để khất thực. Vị ấy với mắt nhìn xuống, thành tựu các oai nghi, tạo được niềm tịnh tín khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duỗi. Dân chúng sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đã nói như vầy: &#8211; “Người này là ai mà trông giống như kẻ ngu trong nhóm người ngu, giống như kẻ khờ trong nhóm người khờ, giống như kẻ ngớ ngẩn trong nhóm người ngớ ngẩn vậy? Khi gã đi đến, ai mà chịu bố thí đồ ăn đây? Trong khi các ngài thuộc nhóm Assaji và Punabbasuka của chúng ta thì lịch thiệp, thân thiện, nói năng hòa nhã, luôn cười xã giao, luôn mời mọc đến thăm viếng, không có hợm hĩnh, khuôn mặt lại rạng rỡ, luôn mở đầu câu chuyện; chính vì thế, đồ ăn khất thực nên được cúng dường đến các ngài.” Có nam cư sĩ nọ đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đang đi khất thực ở vùng Kīṭāgiri, sau khi thấy đã đi đến gần vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã đảnh lễ vị tỳ khưu ấy và đã nói điều này: &#8211; “Thưa ngài, đồ khất thực có nhận được chưa vậy?” &#8211; “Này đạo hữu, đồ khất thực chưa có nhận được.” &#8211; “Thưa ngài, xin thỉnh. Chúng ta sẽ đi về nhà.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, nam cư sĩ ấy đã dẫn vị tỳ khưu ấy về nhà, dâng thức ăn, và đã nói điều này: &#8211; “Thưa ngài, ngài sẽ đi đâu?” &#8211; “Này đạo hữu, giờ ta sẽ đi Sāvatthī để diện kiến đức Thế Tôn.” &#8211; “Thưa ngài, như thế thì xin ngài đê đầu đảnh lễ ở chân của đức Thế Tôn với lời thăm hỏi của con và xin ngài hãy thưa như vầy: “Bạch ngài, sự sinh sống ở vùng Kīṭāgiri đã bị hủ hóa. Các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú tại vùng Kīṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, ―(như trên)― Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách. Bạch ngài, những người trước đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ. Bạch ngài, lành thay nếu đức Thế Tôn có thể phái các tỳ khưu đến vùng Kīṭāgiri, như vậy sự sinh sống ở vùng Kīṭāgiri có thể tồn tại.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này đạo hữu, được rồi.” Vị tỳ khưu ấy sau khi lắng nghe nam cư sĩ ấy đã ra đi về hướng thành Sāvatthī. Tuần tự, vị ấy đã đến thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Điều này đã là thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm nở đối với các tỳ khưu đi đến. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: &#8211; “Này tỳ khưu, sức khỏe có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Ngươi đi đến đường xa có được ít mệt nhọc không? Và này tỳ khưu, ngươi từ đâu đến vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, sức khỏe khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc tốt đẹp. Bạch ngài, con đi đường xa không mệt lắm.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Bạch ngài, con đây đã trải qua mùa (an cư) mưa ở xứ Kāsi, trong khi đi đến thành Sāvatthī để diện kiến đức Thế Tôn, đã trú tại vùng Kīṭāgiri. Bạch ngài, khi ấy vào buổi sáng con đã mặc y, cầm y bát, đi vào vùng Kīṭāgiri để khất thực. Bạch ngài, có nam cư sĩ nọ đã nhìn thấy con đang đi khất thực ở vùng Kīṭāgiri, sau khi thấy đã đi đến gần con, sau khi đến đã đảnh lễ con và đã nói điều này: ‘Thưa ngài, đồ khất thực có nhận được chưa vậy?’ ‘Này đạo hữu, đồ khất thực chưa có nhận được.’ ‘Thưa ngài, xin thỉnh. Chúng ta sẽ đi về nhà.’ Bạch ngài, khi ấy nam cư sĩ ấy đã dẫn con về nhà, dâng thức ăn, rồi đã nói điều này: ‘Thưa ngài, ngài sẽ đi đâu?’ ‘Này đạo hữu, giờ ta sẽ đi Sāvatthī để diện kiến đức Thế Tôn.’ ‘Thưa ngài, như thế thì xin ngài đê đầu đảnh lễ ở chân của đức Thế Tôn với lời thăm hỏi của con và xin ngài hãy thưa như vầy: Bạch ngài, sự sinh sống ở vùng Kīṭāgiri đã bị hủ hóa. Các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú tại vùng Kīṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, ―(như trên)― Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách. Bạch ngài, những người trước đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ. Bạch ngài, lành thay nếu đức Thế Tôn có thể phái các tỳ khưu đến vùng Kīṭāgiri, như vậy sự sinh sống ở vùng Kīṭāgiri có thể tồn tại.’ Bạch Thế Tôn, con từ xứ đó đi đến.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú tại vùng Kīṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, ―(như trên)― Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách. Những người trước đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ, có đúng không vậy? &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại hành xử sai nguyên tắc có hình thức như thế? Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa che ngực. Họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết một mặt, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết hai mặt, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng thảm hoa, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa đội đầu, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa đeo tai, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa che ngực cho những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình. Họ cùng với những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình ăn chung trong một đĩa, uống chung trong một cốc, ngồi chung trên một chỗ ngồi, nằm chung trên một giường, nằm chung một tấm trải, nằm chung một tấm đắp, nằm chung một tấm trải và tấm đắp. Họ ăn sái giờ, họ uống rượu, họ đeo dây chuyền, xức nước hoa và phấn thơm, họ nhảy múa, họ ca hát, họ tấu đàn, họ vui đùa. Họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy múa; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang ca hát; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang tấu đàn; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang vui đùa. Họ còn tiêu khiển cờ tám ô vuông, cờ mười ô vuông, họ chơi với bàn cờ tưởng tượng ở trên không, họ chơi lối sắp vòng tròn, họ chơi lối rút quân cờ, họ chơi ném xúc xắc, họ chơi đánh gậy, họ chơi trò vẽ bằng tay, họ chơi trò sấp ngửa, họ chơi trò thổi kèn bằng lá cây, họ chơi trò uốn dẻo, họ chơi trò nhào lộn, họ chơi trò dùng lá cọ giả làm cối xay gió, họ chơi trò đo lường, họ chơi trò đua xe, họ thi bắn cung, họ chơi trò đố chữ, họ chơi trò đoán ý, họ chơi trò nhái điệu bộ, họ tập cỡi voi, họ tập cỡi ngựa, họ tập điều khiển xe, họ tập bắn cung, họ tập đao kiếm, họ chạy phía trước voi, họ chạy phía trước ngựa, họ chạy đi chạy lại phía trước xe; họ huýt sáo, họ vỗ tay, họ vật lộn, họ đánh nhau bằng các nắm tay. Họ trải y ca-sa hai lớp ở giữa nhà rồi nói với cô vũ nữ như vầy: ‘Này cô em, hãy nhảy múa ở đây,’ họ còn vỗ tay tán thưởng. Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="8">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Sau khi đã khiển trách, đức Thế Tôn đã nói Pháp thoại rồi bảo Sāriputta và Moggallāna rằng: &#8211; “Này Sāriputta và Moggallāna, hai ngươi hãy đi đến vùng Kīṭāgiri rồi hãy thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka, các vị này là những đệ tử của hai ngươi.”[9] &#8211; “Bạch ngài, các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka thì dữ tợn và thô lỗ, làm thế nào chúng con thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu ấy được?” &#8211; “Này Sāriputta và Moggallāna, chính vì điều ấy hai ngươi hãy đi cùng với nhiều vị tỳ khưu.” &#8211; “Bạch ngài, xin vâng. Sāriputta và Moggallāna đã trả lời đức Thế Tôn.”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="9">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Và này các tỳ khưu, nên thực thi như vầy: Trước hết, các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka cần được quở trách; sau khi quở trách cần được nhắc nhở; sau khi nhắc nhở cần xác định tội; sau khi xác định tội, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình và có các hành động sai trái. Những hành động sai trái của các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri.’ Đây là lời đề nghị.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình và có các hành động sai trái. Những hành động sai trái của các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Hội chúng thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri.’ Đại đức nào đồng ý việc thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri’ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. </i>―(như trên)―</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. </i>―(như trên)―</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri’ đã được hội chúng thực thi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy</i>.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, hội chúng tỳ khưu dẫn đầu là Sāriputta và Moggallāna đã đi đến vùng Kīṭāgiri và đã thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: “Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri.” Khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi, các vị ấy không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, không trở nên thu thúc, không làm bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỳ khưu hài lòng, họ mắng chửi, họ nói xấu, do có sự thiên vị vì thương, do có sự thiên vị vì ghét, do có sự thiên vị vì si mê, do có sự thiên vị vì sợ hãi họ bị sa đọa, họ bỏ đi, họ hoàn tục. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi lại không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, không trở nên thu thúc, không làm bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỳ khưu hài lòng, họ lại mắng chửi, họ lại nói xấu, do có sự thiên vị vì thương, do có sự thiên vị vì ghét, do có sự thiên vị vì si mê, do có sự thiên vị vì sợ hãi, họ bị sa đọa, họ bỏ đi, họ hoàn tục?”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="11">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi, các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, ―(như trên)― họ hoàn tục, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi, lại không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, không trở nên thu thúc, không làm bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỳ khưu hài lòng, họ lại mắng chửi, họ lại nói xấu, do có sự thiên vị vì thương, do có sự thiên vị vì ghét, do có sự thiên vị vì si mê, do có sự thiên vị vì sợ hãi, họ bị sa đọa, họ bỏ đi, hoàn tục vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu sống nương tựa vào ngôi làng hoặc thị trấn nọ là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của vị ấy không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì vị ấy không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Vị tỳ khưu ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như vầy: ‘Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!’ Và khi được nói như thế bởi các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy lại nói với các tỳ khưu ấy như vầy: ‘Các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi, cùng với tội như nhau họ lại xua đuổi vị này, họ lại không xua đuổi vị kia.’ </i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> Vị tỳ khưu ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như vầy: ‘Đại đức chớ có nói như thế. Các tỳ khưu không có sự thiên vị vì thương, không có sự thiên vị vì ghét, không có sự thiên vị vì si mê, không có sự thiên vị vì sợ hãi. Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!’ </i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Và khi được các tỳ khưu nói như vậy mà vị tỳ khưu ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="12">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị tỳ khưu (sống nương tựa) vào ngôi làng hoặc thị trấn nọ</b>: là ngôi làng, là thị trấn, là thành phố, là ngôi làng và luôn cả thị trấn.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sống nương tựa</b>: các vật dụng là y phục, đồ ăn khất thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bịnh là phụ thuộc vào nơi ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Gia đình</b> nghĩa là có bốn loại gia đình: Gia đình Sát-đế-lỵ, gia đình Bà-la-môn, gia đình thương buôn, và gia đình hạng cùng đinh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Kẻ làm hư hỏng các gia đình</b>: là kẻ làm các gia đình trở thành hư hỏng với bông hoa, hoặc với trái cây, hoặc với bột tắm, hoặc với đất sét, hoặc với gỗ chà răng, hoặc với tre, hoặc bằng cách thức chữa bệnh, hoặc bằng cách đi bộ đưa tin.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có hành động sai trái</b>: vị trồng bông hoa, vị bảo kẻ khác trồng, vị tưới bông hoa, vị bảo kẻ khác tưới, vị hái bông hoa, vị bảo kẻ khác hái, vị kết lại bông hoa, vị bảo kẻ khác kết lại.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa</b>: Những ai có mặt thì nhìn thấy, những ai vắng mặt thì nghe.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Các gia đình bị hư hỏng vì vị ấy</b>: Trước kia họ mộ đạo, vì vị ấy họ trở nên không còn mộ đạo. Họ đã có niềm tin trở thành không có niềm tin.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa</b>: Những ai có mặt thì nhìn thấy, những ai vắng mặt thì nghe.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị tỳ khưu ấy</b>: là vị tỳ khưu làm hư hỏng các gia đình.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bởi các tỳ khưu</b>: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!” Và khi được các tỳ khưu nói như thế, vị tỳ khưu ấy lại nói với các tỳ khưu ấy như vầy: “Các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi, cùng với tội như nhau các vị lại xua đuổi vị này, các vị lại không xua đuổi vị kia.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị tỳ khưu ấy</b>: là vị tỳ khưu được thực thi hành sự.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bởi các tỳ khưu</b>: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Đại đức chớ có nói như thế. Các tỳ khưu không có sự thiên vị vì thương, không có sự thiên vị vì ghét, không có sự thiên vị vì si mê, không có sự thiên vị vì sợ hãi. Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>. Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Vị tỳ khưu ấy nên được kéo đến giữa hội chúng và nên được nói rằng: “Đại đức chớ có nói như thế. Các tỳ khưu không có sự thiên vị vì thương, không có sự thiên vị vì ghét, không có sự thiên vị vì si mê, không có sự thiên vị vì sợ hãi. Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở. Và này các tỳ khưu, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) khi được hội chúng thực thi hình phạt xua đuổi lại lên án các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) khi được hội chúng thực thi hình phạt xua đuổi lại lên án các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="13">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tội <i>dukkaṭa</i> do lời đề nghị. Các tội <i>thullaccaya</i> do hai lời tuyên ngôn của hành sự. Khi chấm dứt tuyên ngôn của hành sự thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Đối với vị vi phạm tội <i>saṅghādisesa</i>, thì tội <i>dukkaṭa</i> do lời đề nghị và các tội <i>thullaccaya</i> do hai lời tuyên ngôn của hành sự hết hiệu lực.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Tội </b><b><i>saṅghādisesa</i></b><b>:</b> Chỉ có hội chúng–không phải một số vị, không phải một cá nhân–ban cho hình phạt <i>parivāsa</i> của tội ấy, cho thực hành lại từ đầu, ban cho hình phạt <i>mānatta</i>, cho giải tội; vì thế được gọi là “tội <i>saṅghādisesa</i>.” Là việc định danh, tức là việc đặt tên cho cả nhóm tội giống như tội ấy; cũng vì thế được gọi là “tội <i>saṅghādisesa</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="15">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Hành sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị không dứt bỏ thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Hành sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Hành sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Hành sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Hành sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="16">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về vị làm hư hỏng các gia đình. </b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="17">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch chư đại đức, mười ba điều <i>saṅghādisesa</i> đã được đọc tụng xong, chín điều bị phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, bốn điều (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba. Vị tỳ khưu vi phạm điều nọ hoặc điều kia thuộc về các điều này và che giấu biết được bao nhiêu ngày thì vị tỳ khưu ấy phải chịu hình phạt <i>parivāsa</i> không theo ý muốn bấy nhiêu ngày. Vị tỳ khưu đã trải qua hình phạt <i>parivāsa</i> nên thực hành thêm sáu đêm <i>mānatta </i>dành cho tỳ khưu. Vị tỳ khưu có hình phạt <i>mānatta</i> đã được hoàn tất thì vị tỳ khưu ấy nên được giải tội tại nơi nào có hội chúng tỳ khưu nhóm hai mươi vị. Nếu hội chúng tỳ khưu nhóm hai mươi vị chỉ thiếu đi một mà giải tội cho vị tỳ khưu ấy thì vị tỳ khưu ấy chưa được giải tội và các tỳ khưu ấy bị khiển trách. Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Các đại đức được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt Chương Mười Ba Pháp. </b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tóm lược chương này </span></h4>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Sự xuất ra (tinh dịch), việc xúc chạm cơ thể, (nói lên) lời thô tục, tình dục cho bản thân, mai mối, và liêu cốc, trú xá, và không có nguyên cớ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Điều nhỏ nhặt nào đó, sự chia rẽ (hội chúng), những kẻ ủng hộ vị ấy, vị khó dạy, và làm hư hỏng các gia đình, là mười ba điều học <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt Chương </b><b><i>saṅghādisesa</i></b>.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Tu viện này được cho xây dựng bởi người phú hộ tên Ghosita (Vin.A. iii, 574).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Channa (Xa-nặc) là người đánh xe hầu cận của thái tử Siddhattha (Sĩ-đạt-ta).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Chỉ có giác quan “thân” (<i>kāyindriyaṃ</i>) để nhận biết sự xúc chạm (<i>Sđd</i>. 575).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Dabba là con trai của vua xứ Malla (Vin.A. iii, 578).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Hai vị này là hai trong sáu vị đứng đầu nhóm Lục Sư. Thứ tự được trình bày là hai vị Paṇḍuka và Lohitaka ở Sāvatthī, Mettiya và Bhummajaka ở Rājagaha, Assaji và Punabbasuka ở vùng núi Kīṭā (VinA. iii, 614).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] <em>C</em>hung sự đọc tụng giới bổn <em>Pātimokkha</em> đang được hiện hành (Vin.A. iii, 608).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] <em>Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm</em>, TTPV tập 07, chương Kosambī thứ X.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Được gọi là “vị thường trú” (<i>āvāsika</i>) nghĩa là có chỗ trú ngụ (<i>āvāso</i>) thuộc về các vị ấy; chỗ trú ngụ được gọi trú xá (<i>vihāra</i>). Tại nơi ấy những vị thường trú nào có trách nhiệm làm mới, sửa chữa những chỗ cũ kỹ, v.v&#8230; thì được gọi là <i>āvāsika</i> còn vị chỉ thuần túy cư ngụ thôi thì gọi là <i>nevāsika.</i> Ở đây, các vị này là các vị <i>āvāsika</i> (VinA. iii, 613).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Ngài Buddhaghosa cho biết rằng hai tỳ khưu này (và luôn cả bốn vị còn lại đứng đầu nhóm Lục Sư) đều đã được xuất gia với hai vị Tối thượng Thinh Văn này, đã sống nương nhờ tròn đủ 5 năm, và có học thuộc lòng các tiêu đề <i>mātikā</i> (VinA. iii, 614).</span></p>
<blockquote><p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p></blockquote>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><em><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người dịch: Tỳ khưu Indacanda &#8211; Nguồn TamtangPaliViet.net</span></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA &#8211; ĐIỀU HỌC VỀ SỰ KHÓ DẠY</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-3-chuong-sa%e1%b9%85ghadisesa-dieu-hoc-ve-su-kho-day/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 03:13:57 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=20103</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 3: Saṅghādisesa Điều học về sự khó dạy Lúc bấy giờ, đức Phật]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></h2>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương 3: Saṅghādisesa</span></h3>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học về sự khó dạy</span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Kosambī, ở tu viện Ghosita. Vào lúc bấy giờ, đại đức Channa hành xử sai nguyên tắc. Các tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này đại đức Channa, chớ có làm điều như vậy. Việc ấy không được phép.” Vị ấy đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, điều gì khiến các ngươi nghĩ là tôi cần được dạy bảo? Chính tôi mới nên dạy bảo các ngươi. Đức Phật là của chúng tôi, Giáo Pháp là của chúng tôi, Giáo Pháp đã được thấu suốt bởi ngài thái tử của chúng tôi. Cũng giống như cơn gió mạnh thổi qua thì gom tụ cỏ, củi, lá cây, và rác rưởi đó đây chung lại thành đống; hoặc cũng giống như dòng sông phát xuất từ ngọn núi thì gom tụ các loại rong rêu chung lại thành đống; tương tợ như thế, các ngươi có tên khác nhau, có họ khác nhau, có dòng dõi khác nhau, có gia tộc khác nhau đã được xuất gia và quy tụ chung lại. Điều gì khiến các ngươi nghĩ là tôi cần được dạy bảo? Chính tôi mới nên dạy bảo các ngươi. Đức Phật là của chúng tôi, Giáo Pháp là của chúng tôi, Giáo Pháp đã được thấu suốt bởi ngài thái tử của chúng tôi.” Các tỳ khưu nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng theo Pháp, đại đức Channa lại tỏ ra ương ngạnh?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này Channa, nghe nói trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng theo Pháp, ngươi lại tỏ ra ương ngạnh, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, vì sao trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng theo Pháp, ngươi lại tỏ ra ương ngạnh vậy? ―(như trên)― Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Ngay cả vị tỳ khưu có bản tánh khó dạy, trong khi được dạy bảo bởi các tỳ khưu về các điều học thuộc về giới bổn lại tỏ ra ương ngạnh: ‘Các đại đức chớ có nói bất cứ điều gì đến tôi dầu là tốt hay là xấu; tôi cũng sẽ không nói bất cứ điều gì đến các đại đức dầu là tốt hay là xấu. Các đại đức hãy kềm chế lại việc đề cập đến tôi.’ Vị tỳ khưu ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như vầy: ‘Đại đức chớ tỏ ra ương ngạnh, đại đức hãy tỏ ra là người dễ dạy. Đại đức hãy dạy bảo các tỳ khưu đúng theo Pháp, các tỳ khưu cũng sẽ dạy bảo đại đức đúng theo Pháp; bởi vì như vậy hội chúng của đức Thế Tôn ấy được phát triển, tức là với sự dạy bảo lẫn nhau, với sự khích lệ lẫn nhau.’ Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu mà vị tỳ khưu ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ngay cả vị tỳ khưu có bản tánh khó dạy</b>: là vị khó dạy, là hội đủ các đức tính làm cho vị ấy trở thành khó dạy, không nhẫn nhịn, không nghiêm chỉnh thọ nhận sự giáo huấn.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Về các điều học thuộc về giới bổn</b>: về các điều học thuộc về giới bổn <i>Pātimokkha</i>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bởi các tỳ khưu</b>: là bởi các vị tỳ khưu khác.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đúng theo Pháp</b> nghĩa là điều học nào đã được đức Thế Tôn quy định, điều ấy nghĩa là đúng theo Pháp. Khi được dạy bảo với điều ấy, lại tỏ ra ương ngạnh: “Các đại đức chớ có nói bất cứ điều gì đến tôi dầu là tốt hay là xấu; tôi cũng sẽ không nói bất cứ điều gì đến các đại đức dầu là tốt hay là xấu. Các đại đức hãy kềm chế lại việc đề cập đến tôi.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị tỳ khưu ấy</b>: là vị tỳ khưu có bản tánh khó dạy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bởi các tỳ khưu</b>: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Đại đức chớ tỏ ra ương ngạnh, đại đức hãy tỏ ra là người dễ dạy. Đại đức hãy dạy bảo các tỳ khưu đúng theo Pháp, các tỳ khưu cũng sẽ dạy bảo đại đức đúng theo Pháp; bởi vì như vậy hội chúng của đức Thế Tôn ấy được phát triển, tức là với sự dạy bảo lẫn nhau, với sự khích lệ lẫn nhau.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Vị tỳ khưu ấy nên được kéo đến giữa hội chúng và nên được nói rằng: “Đại đức chớ tỏ ra ương ngạnh, đại đức hãy tỏ ra là người dễ dạy. Đại đức hãy dạy bảo các tỳ khưu đúng theo Pháp, các tỳ khưu cũng sẽ dạy bảo đại đức đúng theo Pháp; bởi vì như vậy hội chúng của đức Thế Tôn ấy được phát triển, tức là với sự dạy bảo lẫn nhau, với sự khích lệ lẫn nhau.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Vị tỳ khưu ấy nên được nhắc nhở. Và này các tỳ khưu, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng theo Pháp lại tỏ ra ương ngạnh. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng theo Pháp lại tỏ ra ương ngạnh. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. ―(như trên)― Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. ―(như trên)― Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy</i>.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tội <i>dukkaṭa</i> do lời đề nghị. Các tội <i>thullaccaya</i> do hai lời tuyên ngôn của hành sự. Khi chấm dứt tuyên ngôn của hành sự thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Đối với vị vi phạm tội <i>saṅghādisesa</i>, thì tội <i>dukkaṭa</i> do lời đề nghị và các tội <i>thullaccaya</i> do hai lời tuyên ngôn của hành sự hết hiệu lực.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b><i>saṅghādisesa</i></b>: ―(như trên)― cũng vì thế được gọi là “tội <i>saṅghādisesa</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Hành sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị không dứt bỏ thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Hành sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Hành sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, ―(như trên)― phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Hành sự sai Pháp, có sự hoài nghi, ―(như trên)― phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Hành sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, ―(như trên)― phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về sự khó dạy.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Tu viện này được cho xây dựng bởi người phú hộ tên Ghosita (Vin.A. iii, 574).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Channa (Xa-nặc) là người đánh xe hầu cận của thái tử Siddhattha (Sĩ-đạt-ta).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Chỉ có giác quan “thân” (<i>kāyindriyaṃ</i>) để nhận biết sự xúc chạm (<i>Sđd</i>. 575).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Dabba là con trai của vua xứ Malla (Vin.A. iii, 578).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Hai vị này là hai trong sáu vị đứng đầu nhóm Lục Sư. Thứ tự được trình bày là hai vị Paṇḍuka và Lohitaka ở Sāvatthī, Mettiya và Bhummajaka ở Rājagaha, Assaji và Punabbasuka ở vùng núi Kīṭā (VinA. iii, 614).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] <em>C</em>hung sự đọc tụng giới bổn <em>Pātimokkha</em> đang được hiện hành (Vin.A. iii, 608).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] <em>Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm</em>, TTPV tập 07, chương Kosambī thứ X.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Được gọi là “vị thường trú” (<i>āvāsika</i>) nghĩa là có chỗ trú ngụ (<i>āvāso</i>) thuộc về các vị ấy; chỗ trú ngụ được gọi trú xá (<i>vihāra</i>). Tại nơi ấy những vị thường trú nào có trách nhiệm làm mới, sửa chữa những chỗ cũ kỹ, v.v&#8230; thì được gọi là <i>āvāsika</i> còn vị chỉ thuần túy cư ngụ thôi thì gọi là <i>nevāsika.</i> Ở đây, các vị này là các vị <i>āvāsika</i> (VinA. iii, 613).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Ngài Buddhaghosa cho biết rằng hai tỳ khưu này (và luôn cả bốn vị còn lại đứng đầu nhóm Lục Sư) đều đã được xuất gia với hai vị Tối thượng Thinh Văn này, đã sống nương nhờ tròn đủ 5 năm, và có học thuộc lòng các tiêu đề <i>mātikā</i> (VinA. iii, 614).</span></p>
<blockquote><p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p></blockquote>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><em><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người dịch: Tỳ khưu Indacanda &#8211; Nguồn TamtangPaliViet.net</span></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA &#8211; ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT VÀ THỨ NHÌ VỀ CHIA RẼ HỘI CHÚNG</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-3-chuong-sa%e1%b9%85ghadisesa-dieu-hoc-thu-nhat-ve-chia-re-hoi-chung/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 03:10:57 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=20100</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 3: Saṅghādisesa Điều học thứ nhất về chia rẽ hội chúng Lúc bấy]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong><span style="font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></span></h2>
<h3 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Chương 3: Saṅghādisesa</span></h3>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học thứ nhất về chia rẽ hội chúng</span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, Devadatta đã đi đến gặp Kokālika, Kaṭamorakatissaka con trai của Khaṇḍadevī, và Samuddadatto; sau khi đến đã nói với Kokālika, Kaṭamorakatissaka con trai của Khaṇḍadevī, và Samuddadatto điều này: &#8211; “Này các đại đức, hãy đi. Chúng ta sẽ tiến hành việc chia rẽ hội chúng của Sa-môn Gotama, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo.” Khi được nói như thế, Kokālika đã nói với Devadatta điều này: &#8211; “Này đại đức, Sa-môn Gotama thật sự có đại thần lực, có đại oai lực. Làm thế nào chúng ta sẽ tiến hành việc chia rẽ hội chúng của Sa-môn Gotama, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo được?” &#8211; “Này các đại đức, hãy đi. Chúng ta sẽ đi đến gặp Sa-môn Gotama và yêu cầu năm sự việc:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ khước, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch ngài, lành thay các tỳ khưu nên là các vị sống ở rừng cho đến trọn đời; vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy phạm tội.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Cho đến trọn đời là các vị khất thực; vị nào hoan hỷ sự thỉnh mời thì vị ấy phạm tội.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cho đến trọn đời là các vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ, vị nào hoan hỷ y của gia chủ thì vị ấy phạm tội.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cho đến trọn đời là các vị sống ở gốc cây; vị nào đi đến mái che thì vị ấy phạm tội.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cho đến trọn đời không ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.’</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sa-môn Gotama sẽ không cho phép năm sự việc này. Và chúng ta đây sẽ công bố cho dân chúng biết về năm sự việc này.” &#8211; “Này đại đức, với năm sự việc này thì có thể tiến hành việc chia rẽ hội chúng của Sa-môn Gotama, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo. Này đại đức, bởi vì dân chúng có niềm tin với khổ hạnh.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, Devadatta cùng phe cánh đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Devadatta đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ khước, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch ngài, lành thay các tỳ khưu nên là các vị sống ở rừng cho đến trọn đời; vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị khất thực; vị nào hoan hỷ sự thỉnh mời thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ, vị nào hoan hỷ y của gia chủ thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị sống ở gốc cây; vị nào đi đến mái che thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời không ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.” &#8211; “Này Devadatta, thôi đi. Vị nào muốn thì hãy trở thành vị sống ở rừng; vị nào muốn thì cứ cư ngụ ở trong làng. Vị nào muốn thì hãy trở thành vị khất thực; vị nào muốn thì cứ hoan hỷ việc thỉnh mời. Vị nào muốn thì hãy là vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ; vị nào muốn thì cứ hoan hỷ y của gia chủ. Này Devadatta, Ta cho phép chỗ trú ngụ là gốc cây trong tám tháng. Cá thịt là thanh tịnh với ba điều kiện là: không thấy, không nghe, và không nghi ngờ.” Khi ấy, Devadatta (biết rằng): “Đức Thế Tôn không cho phép năm sự việc này,” trở nên mừng rỡ, phấn chấn, cùng phe cánh từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, Devadatta cùng phe cánh đã đi vào thành Rājagaha công bố cho dân chúng biết về năm sự việc: &#8211; “Này các đạo hữu, chúng tôi đã đi đến gặp Sa-môn Gotama và đã yêu cầu năm sự việc: ‘Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít ham muốn, ―(như trên)― Cho đến trọn đời không ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.’ Sa-môn Gotama không cho phép năm sự việc này. Còn chúng tôi sẽ thọ trì và thực hành năm sự việc này.” Ở nơi ấy, những người nào không có đức tin, không mộ đạo, kém sáng suốt, những người ấy đã nói như vầy: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này đúng là có sự từ khước, có sở hành đoạn trừ; còn Sa-môn Gotama là kẻ xa hoa nên nghĩ đến việc xa hoa.” Còn những người nào có đức tin, mộ đạo, sáng suốt, những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao Devadatta lại ra sức việc chia rẽ hội chúng của đức Thế Tôn, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo?”</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao Devadatta lại ra sức chia rẽ hội chúng của đức Thế Tôn, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này Devadatta, nghe nói ngươi ra sức chia rẽ hội chúng, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, ―(như trên)― Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại ra sức chia rẽ hội chúng, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> “<i>Vị tỳ khưu nào ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ, vị tỳ khưu ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như vầy: ‘Đại đức chớ có ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất, hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc</i>[6]<i> thì sống được an lạc.’ Và khi được các tỳ khưu nói như vậy mà vị tỳ khưu ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="5">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hội chúng hợp nhất</b> nghĩa là có sự đồng cộng trú được thiết lập trong cùng ranh giới.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Ra sức chia rẽ</b>: vị (nghĩ rằng): “Làm thế nào để những người này trở thành khác biệt, trở thành tách biệt, trở thành phe nhóm?” rồi tầm cầu phe cánh, kết hợp nhóm bọn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc là cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ</b>: là mười tám sự việc làm chia rẽ.[7]</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nắm lấy</b>: là chọn lấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Loan truyền</b>: là khơi lên.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chấp giữ</b>: là không chịu từ bỏ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị tỳ khưu ấy</b>: là vị tỳ khưu chia rẽ hội chúng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bởi các tỳ khưu</b>: là bởi các vị tỳ khưu khác.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Đại đức chớ có ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất, hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Vị tỳ khưu ấy nên được kéo đến giữa hội chúng rồi nên được nói rằng: “Đại đức chớ có ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất, hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Vị tỳ khưu ấy nên được nhắc nhở. Và này các tỳ khưu, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. </i>―(như trên)―</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.</i>”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tội <i>dukkaṭa</i> do lời đề nghị. Các tội <i>thullaccaya</i> do hai lời tuyên ngôn của hành sự. Khi chấm dứt tuyên ngôn của hành sự thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Đối với vị vi phạm tội <i>saṅghādisesa</i>, thì tội <i>dukkaṭa</i> do lời đề nghị và các tội <i>thullaccaya</i> do hai lời tuyên ngôn của hành sự hết hiệu lực.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b><i>saṅghādisesa</i></b><b>:</b> ―(như trên)― cũng vì thế được gọi là “tội <i>saṅghādisesa</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="6">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Hành sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị không dứt bỏ thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Hành sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Hành sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Hành sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Hành sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="7">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học thứ nhất về chia rẽ hội chúng. </b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<h4 style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học thứ nhì về chia rẽ hội chúng</span></h4>
<ol style="text-align: left;">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, Devadatta ra sức chia rẽ hội chúng, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo. Các tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Devadatta là người nói sai Pháp, Devadatta là người nói sai Luật. Vì sao Devadatta lại ra sức chia rẽ hội chúng, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo vậy?” Khi được nói như thế, Kokālika, Kaṭamorakatissaka con trai của Khaṇḍadevī, và Samuddadatto đã nói với các vị tỳ khưu ấy như vầy: &#8211; “Các đại đức chớ có nói như thế. Devadatta là người nói đúng Pháp. Devadatta là người nói đúng Luật. Devadatta nắm được và phát biểu về ước muốn và điều thích ý của chúng tôi, vị ấy hiểu và nói cho chúng tôi; hơn nữa điều ấy hợp ý chúng tôi.” Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao trong khi Devadatta ra sức chia rẽ hội chúng, các tỳ khưu lại là những kẻ ủng hộ tức là những kẻ tuyên bố ly khai?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói trong khi Devadatta ra sức chia rẽ hội chúng, các tỳ khưu lại là những kẻ ủng hộ tức là những kẻ tuyên bố ly khai, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này các tỳ khưu, vì sao trong khi Devadatta ra sức chia rẽ hội chúng, những kẻ rồ dại ấy lại là những kẻ ủng hộ tức là những kẻ tuyên bố ly khai vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Các tỳ khưu là những kẻ ủng hộ của chính vị tỳ khưu ấy tức là những kẻ tuyên bố ly khai dầu là một vị, hoặc hai vị, hoặc ba vị, và các vị ấy nói như vầy: ‘Các đại đức chớ có nói bất cứ điều gì về vị tỳ khưu này. Vị tỳ khưu này là người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu này là người nói đúng Luật. Vị tỳ khưu này nắm được rồi phát biểu về ước muốn và điều thích ý của chúng tôi, vị ấy hiểu và nói cho chúng tôi; hơn nữa điều ấy hợp ý chúng tôi.’</i> <i>Các vị tỳ khưu ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như vầy: ‘Các đại đức chớ có nói như thế. Vị tỳ khưu này không phải là người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu này không phải là người nói đúng Luật. Các đại đức chớ có thích ý về việc chia rẽ hội chúng. Các đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.’ Và khi được các tỳ khưu nói như vậy mà các vị tỳ khưu ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì các vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.</i>”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="2">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Của chính vị ấy</b>: là của chính vị tỳ khưu chia rẽ hội chúng.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Các tỳ khưu là</b>: Các vị tỳ khưu khác là.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Những kẻ ủng hộ</b>: (Vị chia rẽ hội chúng) có quan điểm gì, có điều mong mỏi gì, có sự thích ý gì thì các vị ấy cũng có quan điểm ấy, có điều mong mỏi ấy, có sự thích ý ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Những kẻ tuyên bố ly khai</b>: là những vị đứng trong phe, trong nhóm của vị ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Một vị, hoặc hai vị, hoặc ba vị</b>: là một vị, hoặc hai vị, hoặc ba vị, và các vị ấy nói như vầy: &#8211; “Các đại đức chớ có nói bất cứ điều gì về vị tỳ khưu này. Vị tỳ khưu này là người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu này là người nói đúng Luật. Vị tỳ khưu này nắm được rồi phát biểu về ước muốn và điều thích ý của chúng tôi, vị ấy hiểu và nói cho chúng tôi; hơn nữa điều ấy hợp ý chúng tôi.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Các vị tỳ khưu ấy</b>: các vị tỳ khưu là những kẻ ủng hộ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bởi các tỳ khưu</b>: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Các đại đức chớ có nói như thế. Vị tỳ khưu này không phải là người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu này không phải là người nói đúng Luật. Các đại đức chớ có thích ý về việc chia rẽ hội chúng. Các đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (các vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị tỳ khưu ấy nên được kéo đến giữa hội chúng và nên được nói rằng: “Các đại đức chớ có nói như thế. Vị tỳ khưu này không phải là người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu này không phải là người nói đúng Luật. Các đại đức chớ có thích ý về việc chia rẽ hội chúng. Các đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (các vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Các vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở. Và này các tỳ khưu, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) là những kẻ ủng hộ của tỳ khưu tên (như vầy) đang ra sức chia rẽ hội chúng, tức là những kẻ tuyên bố ly khai. Các vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) là những kẻ ủng hộ của tỳ khưu tên (như vầy) đang ra sức chia rẽ hội chúng, tức là những kẻ tuyên bố ly khai. Các vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</i></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì.</i> ―(như trên)―</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba.</i> ―(như trên)―</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i> Các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.</i>”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tội <i>dukkaṭa</i> do lời đề nghị. Các tội <i>thullaccaya</i> do hai lời tuyên ngôn của hành sự. Khi chấm dứt tuyên ngôn của hành sự thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Đối với các vị vi phạm tội <i>saṅghādisesa</i>, thì tội <i>dukkaṭa</i> do lời đề nghị và các tội <i>thullaccaya</i> do hai lời tuyên ngôn của hành sự hết hiệu lực. Hai ba vị nên được nhắc nhở chung (một lượt), không nên nhắc nhở nhiều hơn số lượng đó.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b><i>saṅghādisesa</i></b><b>:</b> ―(như trên)― cũng vì thế được gọi là “tội <i>saṅghādisesa</i>.”</span></p>
<ol style="text-align: left;" start="3">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, các vị không dứt bỏ thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>. Hành sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, các vị không dứt bỏ thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Hành sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, các vị không dứt bỏ thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Hành sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội<i>dukkaṭa</i>. Hành sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Hành sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></li>
</ol>
<ol style="text-align: left;" start="4">
<li><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị chưa được nhắc nhở, các vị dứt bỏ, các vị có tâm bị rối loạn, các vị bị thọ khổ hành hạ, các vị bị điên, các vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></li>
</ol>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học thứ nhì về chia rẽ hội chúng.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Tu viện này được cho xây dựng bởi người phú hộ tên Ghosita (Vin.A. iii, 574).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Channa (Xa-nặc) là người đánh xe hầu cận của thái tử Siddhattha (Sĩ-đạt-ta).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Chỉ có giác quan “thân” (<i>kāyindriyaṃ</i>) để nhận biết sự xúc chạm (<i>Sđd</i>. 575).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Dabba là con trai của vua xứ Malla (Vin.A. iii, 578).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Hai vị này là hai trong sáu vị đứng đầu nhóm Lục Sư. Thứ tự được trình bày là hai vị Paṇḍuka và Lohitaka ở Sāvatthī, Mettiya và Bhummajaka ở Rājagaha, Assaji và Punabbasuka ở vùng núi Kīṭā (VinA. iii, 614).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] <em>C</em>hung sự đọc tụng giới bổn <em>Pātimokkha</em> đang được hiện hành (Vin.A. iii, 608).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] <em>Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm</em>, TTPV tập 07, chương Kosambī thứ X.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Được gọi là “vị thường trú” (<i>āvāsika</i>) nghĩa là có chỗ trú ngụ (<i>āvāso</i>) thuộc về các vị ấy; chỗ trú ngụ được gọi trú xá (<i>vihāra</i>). Tại nơi ấy những vị thường trú nào có trách nhiệm làm mới, sửa chữa những chỗ cũ kỹ, v.v&#8230; thì được gọi là <i>āvāsika</i> còn vị chỉ thuần túy cư ngụ thôi thì gọi là <i>nevāsika.</i> Ở đây, các vị này là các vị <i>āvāsika</i> (VinA. iii, 613).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Ngài Buddhaghosa cho biết rằng hai tỳ khưu này (và luôn cả bốn vị còn lại đứng đầu nhóm Lục Sư) đều đã được xuất gia với hai vị Tối thượng Thinh Văn này, đã sống nương nhờ tròn đủ 5 năm, và có học thuộc lòng các tiêu đề <i>mātikā</i> (VinA. iii, 614).</span></p>
<blockquote><p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p></blockquote>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><em><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người dịch: Tỳ khưu Indacanda &#8211; Nguồn TamtangPaliViet.net</span></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA &#8211; ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ VỀ VỊ XẤU XA SÂN HẬN</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-3-chuong-sa%e1%b9%85ghadisesa-dieu-hoc-thu-nhi-ve-vi-xau-xa-san-han/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 03:06:06 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=20097</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 3: Saṅghādisesa Điều học thứ nhì về vị xấu xa sân hận Lúc]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I </span></strong></span></h2>
<h3><span style="font-size: 14pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương 3: Saṅghādisesa</span></strong></span></h3>
<h4><span style="font-size: 14pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Điều học thứ nhì về vị xấu xa sân hận</span></strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka trong lúc đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa đã nhìn thấy con dê đực đang tình tự với con dê cái, sau khi nhìn thấy đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, giờ chúng ta đặt tên con dê đực này là Dabba Mallaputta và đặt tên con dê cái này là tỳ khưu ni Mettiyā, rồi chúng ta sẽ phát biểu như vầy: ‘Này các đại đức, trước đây chúng tôi đã nói về Dabba Mallaputta từ điều đã được nghe; giờ đây chúng tôi đã đích thân thấy được đương sự đang tình tự với tỳ khưu ni Mettiyā.’” Các vị ấy đã đặt tên con dê đực ấy là Dabba Mallaputta và đã đặt tên con dê cái ấy là tỳ khưu ni Mettiyā.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các đại đức, trước đây chúng tôi đã nói về Dabba Mallaputta từ điều đã được nghe; giờ đây chúng tôi đã đích thân thấy được đương sự đang tình tự với tỳ khưu ni Mettiyā.” Các tỳ khưu đã nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, chớ có nói như thế. Đại đức Dabba Mallaputta sẽ không làm như thế.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Dabba Mallaputta rằng: &#8211; “Này Dabba, ngươi có nhớ ngươi là kẻ đã hành động giống như điều các tỳ khưu này đã nói không?” &#8211; “Bạch ngài, con như thế nào thì đức Thế Tôn biết mà.” Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn ―(như trên)― Đến lần thứ ba, đức Thế Tôn đã hỏi đại đức Dabba Mallaputta rằng: &#8211; “Này Dabba, ngươi có nhớ ngươi là kẻ đã hành động giống như điều các tỳ khưu này đã nói không?” &#8211; “Bạch ngài, con như thế nào thì đức Thế Tôn biết mà.” &#8211; “Này Dabba, các vị (dòng dõi) Dabba không phủ nhận như thế. Nếu ngươi có làm, hãy nói: ‘Có làm;’ nếu ngươi không làm, hãy nói: ‘Không làm.’” &#8211; “Bạch ngài, từ khi con được sanh ra, con không bao giờ thấy mình là kẻ tầm cầu việc đôi lứa ngay cả trong lúc ngủ mơ, huống gì là tỉnh thức.” Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, như vậy thì các ngươi hãy tra hỏi các tỳ khưu này.” Nói xong điều ấy, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào trú xá.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các tỳ khưu ấy đã tra hỏi các vị tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka: &#8211; “Này các đại đức, có phải các vị nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt rồi bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta về tội <i>pārājika</i>?” &#8211; “Này các đại đức, đúng vậy.” Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka lại nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt rồi bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta về tội <i>pārājika</i>?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt rồi bôi nhọ Dabba Mallaputta về tội <i>pārājika</i>, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt rồi bôi nhọ Dabba Mallaputta về tội <i>pārājika</i> vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào xấu xa, sân hận, bất bình vị tỳ khưu (khác) rồi nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt và bôi nhọ về tội pārājika (nghĩ rằng): ‘Chắc là ta có thể loại vị ấy ra khỏi Phạm hạnh này.’ Sau đó vào lúc khác, trong khi được hỏi hay trong khi không được hỏi, và cuộc tranh tụng ấy là có quan hệ khác biệt hẳn, sự kiện nhỏ nhặt nào đó đã được nắm lấy, và vị tỳ khưu (dầu có) thú nhận lỗi lầm (cũng) phạm tội saṅghādisesa.</i>”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị tỳ khưu</b>: là vị tỳ khưu khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Xấu xa, sân hận</b>: bị nổi giận, không được hài lòng, không được thỏa mãn, có tâm giận dữ, nảy sanh lòng cay cú.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bất bình</b>: là bị bất bình do sự nổi giận ấy, do sự sân hận ấy, do sự không được hài lòng ấy, do sự không được thỏa mãn ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt</b>: có quan hệ khác biệt về tội hoặc là có quan hệ khác biệt về tranh tụng. Thế nào là cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng? Cuộc tranh tụng liên quan đến tranh cãi là có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến khiển trách, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ. Cuộc tranh tụng liên quan đến khiển trách là có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tranh cãi. Cuộc tranh tụng liên quan đến tội là có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tranh cãi, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến khiển trách. Cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ là có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tranh cãi, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến khiển trách, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội. Như thế là cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là cuộc tranh tụng có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng? Cuộc tranh tụng liên quan đến tranh cãi là có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tranh cãi. Cuộc tranh tụng liên quan đến khiển trách là có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng liên quan đến khiển trách. Cuộc tranh tụng liên quan đến tội có thể là có cùng quan hệ, có thể là có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là cuộc tranh tụng liên quan đến tội có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội? Tội <i>pārājika</i> về việc đôi lứa là có quan hệ khác biệt đối với tội <i>pārājika</i> về trộm cắp, đối với tội <i>pārājika</i> về giết người, đối với tội <i>pārājika</i> về pháp thượng nhân. Tội <i>pārājika</i> về trộm cắp là có quan hệ khác biệt đối với tội <i>pārājika</i> về giết người, đối với tội <i>pārājika</i> về pháp thượng nhân, đối với tội <i>pārājika</i> về việc đôi lứa. Tội <i>pārājika</i> về giết người là có quan hệ khác biệt đối với tội <i>pārājika</i> về pháp thượng nhân, đối với tội <i>pārājika</i>về việc đôi lứa, đối với tội <i>pārājika</i> về trộm cắp. Tội <i>pārājika</i> về pháp thượng nhân là có quan hệ khác biệt đối với tội <i>pārājika</i> về việc đôi lứa, đối với tội <i>pārājika</i> về trộm cắp, đối với tội <i>pārājika</i> về giết người. Như thế là cuộc tranh tụng liên quan đến tội có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là cuộc tranh tụng liên quan đến tội có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội? Tội <i>pārājika</i> về việc đôi lứa là có cùng quan hệ đối với tội <i>pārājika</i> về việc đôi lứa. Tội <i>pārājika</i> về trộm cắp là có cùng quan hệ đối với tội <i>pārājika</i> về trộm cắp. Tội <i>pārājika</i> về giết người là có cùng quan hệ đối với tội <i>pārājika</i> về giết người. Tội <i>pārājika</i> về pháp thượng nhân là có cùng quan hệ đối với tội <i>pārājika</i> về pháp thượng nhân. Như thế là cuộc tranh tụng liên quan đến tội có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ là có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ. Như thế là cuộc tranh tụng có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt nào đó</b>: nhỏ nhặt nghĩa là mười điều nhỏ nhặt: điều nhỏ nhặt về sự xuất thân, điều nhỏ nhặt về tên gọi, điều nhỏ nhặt về dòng họ, điều nhỏ nhặt về đặc điểm, điều nhỏ nhặt về tội vi phạm, điều nhỏ nhặt về bình bát, điều nhỏ nhặt về y phục, điều nhỏ nhặt về thầy tế độ, điều nhỏ nhặt về thầy dạy học, điều nhỏ nhặt về chỗ trú ngụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều nhỏ nhặt về sự xuất thân</b> nghĩa là có vị (xuất thân) Sát-đế-lỵ được thấy là đang phạm tội <i>pārājika</i>, sau khi nhìn thấy vị (xuất thân) Sát-đế-lỵ khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị (xuất thân) Sát-đế-lỵ phạm tội<i> pārājika </i>đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ<i> Uposatha, </i>lễ<i> Pavāraṇā, </i>hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói. Có vị (xuất thân) Bà-la-môn được thấy ―(như trên)― Có vị (xuất thân) thương buôn được thấy ―(như trên)― Có vị (xuất thân) hạng cùng đinh được thấy là đang phạm tội <i>pārājika</i>, sau khi nhìn thấy vị (xuất thân) hạng cùng đinh khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị (xuất thân) hạng cùng đinh phạm tội <i>pārājika</i> đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ―(như trên)― thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều nhỏ nhặt về tên gọi</b> nghĩa là có vị tên Buddharakkhita được thấy ―(như trên)― Có vị tên Dhammarakkhita được thấy ―(như trên)― Có vị tên Saṅgharakkhita được thấy là đang phạm tội <i>pārājika</i>, sau khi nhìn thấy vị tên Saṅgharakkhita khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị tên Saṅgharakkhita phạm tội <i>pārājika</i> đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ―(như trên)― thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều nhỏ nhặt về dòng họ</b> nghĩa là có vị họ Gotama được thấy ―(như trên)― Có vị họ Moggallāna được thấy ―(như trên)― Có vị họ Kaccāyana được thấy ―(như trên)― Có vị họ Vāsiṭṭha được thấy là đang phạm tội <i>pārājika</i>, sau khi nhìn thấy vị họ Vāsiṭṭha khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị họ Vāsiṭṭha phạm tội <i>pārājika</i> đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ―(như trên)― thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều nhỏ nhặt về đặc điểm</b> nghĩa là có vị cao được thấy ―(như trên)― Có vị lùn được thấy ―(như trên)― Có vị đen được thấy ―(như trên)― Có vị trắng được thấy là đang phạm tội <i>pārājika</i>, sau khi nhìn thấy vị trắng khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị trắng phạm tội<i>pārājika</i> đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ―(như trên)― thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều nhỏ nhặt về tội vi phạm</b> nghĩa là có vị được thấy là đang vi phạm tội nhẹ, nếu buộc tội vị ấy về tội <i>pārājika</i> rằng: “Ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ―(như trên)― thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều nhỏ nhặt về bình bát</b> nghĩa là có vị mang bình bát đồng được thấy ―(như trên)― Có vị mang bình bát đất được thấy ―(như trên)― Có vị mang bình bát tráng men được thấy ―(như trên)― Có vị mang bình bát đất loại bình thường được thấy là đang phạm tội <i>pārājika</i>, sau khi nhìn thấy vị khác (cũng) mang bình bát đất loại bình thường lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị mang bình bát đất loại bình thường phạm tội <i>pārājika</i> đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ―(như trên)― thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Điều nhỏ nhặt về y phục</b> nghĩa là có vị mặc y <i>paṃsukūla</i> được thấy ―(như trên)― Có vị mặc y của gia chủ được thấy là đang phạm tội <i>pārājika</i>, sau khi nhìn thấy vị khác (cũng) mặc y của gia chủ lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị mặc y của gia chủ phạm tội <i>pārājika</i> đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ―(như trên)― thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều nhỏ nhặt về thầy tế độ</b> nghĩa là có người đệ tử của vị tên (như vầy) được thấy là đang phạm tội <i>pārājika</i>, sau khi nhìn thấy người đệ tử khác của vị tên (như vầy) lại buộc tội rằng: “Ngươi là đệ tử của vị tên (như vầy) phạm tội <i>pārājika</i> đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ―(như trên)― thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều nhỏ nhặt về thầy dạy học</b> nghĩa là có người học trò của vị tên (như vầy) được thấy là đang phạm tội <i>pārājika</i>, sau khi nhìn thấy người học trò khác của vị tên (như vầy) lại buộc tội rằng: “Ngươi là học trò của vị tên (như vầy) phạm tội <i>pārājika</i> đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ―(như trên)― thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Điều nhỏ nhặt về chỗ trú ngụ</b> nghĩa là có vị ngụ ở chỗ trú ngụ của người tên (như vầy) được thấy là đang phạm tội <i>pārājika</i>, sau khi nhìn thấy vị khác (cũng) ngụ ở chỗ trú ngụ của người tên (như vầy) lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị ngụ ở chỗ trú ngụ của người tên (như vầy) phạm tội <i>pārājika</i> đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ<i> Uposatha, </i>lễ<i> Pavāraṇā, </i>hay là hành sự của hội chúng nữa,” thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Về tội </b><b><i>pārājika</i></b>: về bất cứ điều nào thuộc về bốn điều.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bôi nhọ</b>: hoặc là buộc tội, hoặc là cho người buộc tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chắc là ta có thể loại trừ vị ấy ra khỏi Phạm hạnh này</b>: Ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi trạng thái tỳ khưu, ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi pháp Sa-môn, ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi giới uẩn, ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi đức tính khắc khổ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sau đó vào lúc khác</b>: đã bôi nhọ trong giây phút nào, thì khi đã trải qua giây phút ấy, khoảng thời gian ấy, thời điểm ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong khi được hỏi</b>: đã bôi nhọ với sự việc nào, thì đang được hỏi về sự việc ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong khi không được hỏi</b>: không được bất cứ ai đề cập đến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự tranh tụng</b> nghĩa là có bốn sự tranh tụng: Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự kiện nhỏ nhặt nào đó đã được nắm lấy</b>: điều nhỏ nhặt nào đó trong mười điều nhỏ nhặt ấy đã được nắm lấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Và vị tỳ khưu (dầu có) thú nhận lỗi lầm</b>: Tôi đã nói điều rỗng không, tôi đã nói điều dối trá, tôi đã nói điều không thật, tôi đã nói điều tôi không biết.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b><i>saṅghādisesa</i></b>: ―(như trên)― cũng vì thế được gọi là “tội <i>saṅghādisesa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu đang phạm tội <i>saṅghādisesa</i> bị nhìn thấy. (Nguyên cáo) dựa trên (cơ sở) tội <i>saṅghādisesa </i>có sự ghi nhận là tội <i>saṅghādisesa</i>. Nếu buộc tội vị ấy với tội <i>pārājika</i> (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ<i>Uposatha, </i>lễ<i> Pavāraṇā, </i>hay là hành sự của hội chúng nữa,” như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu đang phạm tội <i>saṅghādisesa</i> bị nhìn thấy. (Nguyên cáo) dựa trên (cơ sở) tội <i>saṅghādisesa</i> có sự ghi nhận là tội <i>thullaccaya</i> ―(như trên)― có sự ghi nhận là tội <i>pācittiya</i>―(như trên)― có sự ghi nhận là tội <i>pāṭidesanīya</i> ―(như trên)― có sự ghi nhận là tội <i>dukkaṭa</i>―(như trên)― có sự ghi nhận là tội <i>dubbhāsita</i>. Nếu buộc tội vị ấy với tội <i>pārājika</i> (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ―(như trên)― như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu đang phạm tội <i>thullaccaya</i> ―(như trên)― tội <i>pācittiya</i> ―(như trên)― tội<i>pāṭidesanīya</i> ―(như trên)― tội <i>dukkaṭa</i> ―(như trên)― tội <i>dubbhāsita</i> bị nhìn thấy. (Nguyên cáo) dựa trên (cơ sở) tội <i>dubbhāsita</i> có sự ghi nhận là tội <i>dubbhāsita</i>. Nếu buộc tội vị ấy với tội <i>pārājika</i> (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ―(như trên)― như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu đang phạm tội dubbhāsita bị nhìn thấy. (Nguyên cáo) dựa trên (cơ sở) tội <i>dubbhāsita</i> có sự ghi nhận là tội <i>saṅghādisesa</i>, ―(như trên)― dựa trên (cơ sở) tội <i>dubbhāsita</i>có sự ghi nhận là tội <i>thullaccaya</i>, tội <i>pācittiya</i>, tội <i>pāṭidesanīya</i>, tội <i>dukkaṭa</i>. Nếu buộc tội vị ấy với tội <i>pārājika</i> (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ<i> Uposatha, </i>lễ<i> Pavāraṇā, </i>hay là hành sự của hội chúng nữa,” như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi thực hiện cho mỗi một nhân tố nên thành lập sự luân phiên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu đang phạm tội <i>saṅghādisesa</i> bị nhìn thấy. (Nguyên cáo) dựa trên (cơ sở) tội <i>saṅghādisesa </i>có sự ghi nhận là tội <i>saṅghādisesa</i>. Nếu cho người buộc tội vị ấy với tội <i>pārājika</i> (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ<i> Uposatha, </i>lễ<i> Pavāraṇā, </i>hay là hành sự của hội chúng nữa,” như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu đang phạm tội <i>saṅghādisesa</i> bị nhìn thấy. (Nguyên cáo) trên (cơ sở) tội <i>saṅghādisesa</i> có sự ghi nhận là tội <i>thullaccaya</i> &#8230; có sự ghi nhận là tội <i>pācittiya</i> &#8230; có sự ghi nhận là tội <i>pāṭidesanīya</i> &#8230; có sự ghi nhận là tội <i>dukkaṭa</i> &#8230; có sự ghi nhận là tội <i>dubbhāsita</i>. Nếu cho người buộc tội vị ấy với tội <i>pārājika</i> (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa-môn,ngươi không phải là Thích tử, ―(như trên)― như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu đang phạm tội <i>thullaccaya</i> bị nhìn thấy. (Nguyên cáo) dựa rên (cơ sở) tội <i>thullaccaya</i> có sự ghi nhận là tội <i>thullaccaya</i> &#8230; có sự ghi nhận là tội <i>pācittiya</i> &#8230; có sự ghi nhận là tội <i>pāṭidesanīya</i> &#8230; có sự ghi nhận là tội <i>dukkaṭa</i> &#8230; có sự ghi nhận là tội <i>dubbhāsita</i> &#8230; có sự ghi nhận là tội <i>saṅghādisesa.</i> Nếu cho người buộc tội vị ấy với tội <i>pārājika</i> (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ―(như trên)― như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu đang phạm tội <i>pācittiya</i> &#8230; tội <i>pāṭidesanīya</i> &#8230; tội <i>dukkaṭa</i> &#8230; tội <i>dubbhāsita</i> bị nhìn thấy. (Nguyên cáo) dựa trên (cơ sở) tội <i>dubbhāsita </i>có sự ghi nhận là tội <i>dubbhāsita</i>―(như trên)― dựa trên (cơ sở) tội <i>dubbhāsita</i> có sự ghi nhận là tội <i>saṅghādisesa</i> &#8230; có sự ghi nhận là tội <i>thullaccaya</i> &#8230; có sự ghi nhận là tội <i>pācittiya</i> &#8230; có sự ghi nhận là tội <i>pāṭidesanīya</i>&#8230; có sự ghi nhận là tội <i>dukkaṭa</i>. Nếu cho người buộc tội vị ấy với tội <i>pārājika</i> (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ<i>Uposatha, </i>lễ<i> Pavāraṇā, </i>hay là hành sự của hội chúng nữa,” như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội <i>saṅghādisesa</i> theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị buộc tội hoặc bảo (người khác) buộc tội theo như sự nhận biết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học thứ nhì về vị xấu xa sân hận</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Tu viện này được cho xây dựng bởi người phú hộ tên Ghosita (Vin.A. iii, 574).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Channa (Xa-nặc) là người đánh xe hầu cận của thái tử Siddhattha (Sĩ-đạt-ta).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Chỉ có giác quan “thân” (<i>kāyindriyaṃ</i>) để nhận biết sự xúc chạm (<i>Sđd</i>. 575).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Dabba là con trai của vua xứ Malla (Vin.A. iii, 578).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Hai vị này là hai trong sáu vị đứng đầu nhóm Lục Sư. Thứ tự được trình bày là hai vị Paṇḍuka và Lohitaka ở Sāvatthī, Mettiya và Bhummajaka ở Rājagaha, Assaji và Punabbasuka ở vùng núi Kīṭā (VinA. iii, 614).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] <em>C</em>hung sự đọc tụng giới bổn <em>Pātimokkha</em> đang được hiện hành (Vin.A. iii, 608).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] <em>Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm</em>, TTPV tập 07, chương Kosambī thứ X.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Được gọi là “vị thường trú” (<i>āvāsika</i>) nghĩa là có chỗ trú ngụ (<i>āvāso</i>) thuộc về các vị ấy; chỗ trú ngụ được gọi trú xá (<i>vihāra</i>). Tại nơi ấy những vị thường trú nào có trách nhiệm làm mới, sửa chữa những chỗ cũ kỹ, v.v&#8230; thì được gọi là <i>āvāsika</i> còn vị chỉ thuần túy cư ngụ thôi thì gọi là <i>nevāsika.</i> Ở đây, các vị này là các vị <i>āvāsika</i> (VinA. iii, 613).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Ngài Buddhaghosa cho biết rằng hai tỳ khưu này (và luôn cả bốn vị còn lại đứng đầu nhóm Lục Sư) đều đã được xuất gia với hai vị Tối thượng Thinh Văn này, đã sống nương nhờ tròn đủ 5 năm, và có học thuộc lòng các tiêu đề <i>mātikā</i> (VinA. iii, 614).</span></p>
<p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><em><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Người dịch: Tỳ khưu Indacanda &#8211; Nguồn TamtangPaliViet.net</span></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA &#8211; ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT VỀ VỊ XẤU XA SÂN HẬN</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-3-chuong-sa%e1%b9%85ghadisesa-dieu-hoc-thu-nhat-ve-vi-xau-xa-san-han/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 03:03:34 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=20094</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 3: Saṅghādisesa Điều học thứ nhất về vị xấu xa sân hận Lúc]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></span></h2>
<h3><span style="font-size: 14pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương 3: Saṅghādisesa</span></strong></span></h3>
<h4><span style="font-size: 14pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học thứ nhất về vị xấu xa sân hận </span></strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, phẩm vị A-la-hán đã được đại đức Dabba Mallaputta[4] chứng ngộ vào lúc bảy tuổi. Vị ấy đã đạt được tất cả những gì vị đệ tử cần phải đạt đến. Và đối với vị ấy, không có bất cứ việc gì cao thượng hơn cần phải làm hoặc sự tích lũy thêm đối với việc đã làm. Khi ấy, đại đức Dabba Mallaputta trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã khởi lên: “Phẩm vị A-la-hán đã được ta chứng ngộ vào lúc bảy tuổi. Ta đã đạt được tất cả những gì vị đệ tử cần phải đạt đến. Và đối với ta, không có bất cứ việc gì cao thượng hơn cần phải làm hoặc sự tích lũy thêm đối với việc đã làm. Vậy ta nên thực hiện việc phục vụ gì cho hội chúng?” Rồi điều này đã khởi đến cho đại đức Dabba Mallaputta: “Hay là ta nên phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các bữa ăn cho hội chúng?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó vào buổi tối, đại đức Dabba Mallaputta đã xuất khỏi thiền tịnh và đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Dabba Mallaputta đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, trường hợp con trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã khởi lên: ‘Phẩm vị A-la-hán đã được ta chứng ngộ vào lúc bảy tuổi. Ta đã đạt được tất cả những gì vị đệ tử cần phải đạt đến. Và đối với ta, không có bất cứ việc gì cao thượng hơn cần phải làm hoặc sự tích lũy thêm đối với việc đã làm. Vậy ta nên thực hiện việc phục vụ gì cho hội chúng?’ Bạch ngài, rồi điều này đã khởi đến cho con: ‘Hay là ta nên phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các bữa ăn cho hội chúng?’ Bạch ngài, con muốn phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các bữa ăn cho hội chúng.” &#8211; “Này Dabba, tốt lắm, tốt lắm! Chính vì điều ấy ngươi hãy phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các bữa ăn cho hội chúng.” &#8211; “Bạch ngài, xin vâng.” Đại đức Dabba Mallaputta đã đáp lại đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các vị tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy chỉ định Dabba Mallaputta là vị phân bố chỗ trú ngụ và là vị sắp xếp các bữa ăn. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, Dabba cần được yêu cầu. Sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định đại đức Dabba Mallaputta là vị phân bố chỗ trú ngụ và là vị sắp xếp các bữa ăn. Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định đại đức Dabba Mallaputta là vị phân bố chỗ trú ngụ và là vị sắp xếp các bữa ăn. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định đại đức Dabba Mallaputta là vị phân bố chỗ trú ngụ và là vị sắp xếp các bữa ăn xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đại đức Dabba Mallaputta đã được hội chúng chỉ định là vị phân bố chỗ trú ngụ và là vị sắp xếp các bữa ăn. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và khi đã được chỉ định, đại đức Dabba Mallaputta phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ khưu có cùng sở hành. Vị ấy phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ khưu chuyên về Kinh (nghĩ rằng): “Các vị sẽ tụng đọc Kinh với nhau.” Vị ấy phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ khưu rành rẽ về Luật (nghĩ rằng): “Các vị sẽ xác định về Luật với nhau.” Vị ấy phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ khưu chuyên giảng Pháp (nghĩ rằng): “Các vị sẽ thảo luận về Pháp với nhau.” Vị ấy phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ khưu chuyên về thiền (nghĩ rằng): “Các vị sẽ không quấy rầy lẫn nhau.” Vị ấy phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ khưu chuyên nói chuyện thế tục, sinh hoạt có nhiều sự năng động về thân (nghĩ rằng): “Các đại đức này cũng sẽ yên ổn với thú vui ấy.” Còn các tỳ khưu đi đến vào buổi tối, vị ấy thể nhập vào hỏa giới và phân bố chỗ trú ngụ cho các vị ấy bằng chính ánh sáng ấy. Cho nên, các tỳ khưu cố ý đi đến vào buổi tối (nghĩ rằng): “Chúng ta sẽ chứng kiến sự kỳ diệu về thần thông của đại đức Dabba Mallaputta.” Sau khi đi đến gặp đại đức Dabba Mallaputta, các vị ấy nói như vầy: &#8211; “Này đại đức Dabba, hãy phân bố chỗ trú ngụ cho chúng tôi.” Đại đức Dabba Mallaputta nói với các vị ấy như vầy: &#8211; “Các đại đức thích chỗ nào? Tôi sẽ phân bố chỗ nào?” Các vị ấy cố ý đề cập các chỗ xa xôi: &#8211; “Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở Corapapāta (khe núi Kẻ Cướp). Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở sườn núi Isigili, chỗ tảng đá Đen. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở sườn núi Vebhāra, hang Sattapaṇṇa (Thất Diệp). Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở Sītavana (Hàn Lâm), động Sappasoṇḍika. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở hẻm núi Gotama. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở hẻm núi Tinduka. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở hẻm núi Tapoda. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở khu vườn Tapoda. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở vườn xoài của Jīvaka. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở Maddakucchi, nơi vườn nai.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với các vị ấy, đại đức Dabba Mallaputta đã thể nhập vào hỏa giới và đi ở phía trước với ngón tay đang được thắp sáng. Chính nhờ ánh sáng ấy, các vị ấy đi theo sát ở phía sau đại đức Dabba Mallaputta. Đại đức Dabba Mallaputta phân bố chỗ trú ngụ cho các vị ấy như vầy: &#8211; “Đây là giường, đây là ghế, đây là nệm, đây là gối, đây là chỗ tiêu, đây là chỗ tiểu, đây là nước uống, đây là nước rửa, đây là gậy chống, đây là qui định của hội chúng: ‘Giờ này có thể đi vào. Giờ này có thể đi ra.’” Sau khi đã phân bố chỗ trú ngụ cho các vị ấy, đại đức Daba Mallaputta quay trở về lại Veḷuvana.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka[5] chỉ là các vị mới tu và phước báu ít ỏi. Các vị ấy thường nhận được những chỗ trú ngụ kém thuộc về hội chúng và những bữa ăn tồi. Vào lúc bấy giờ, dân chúng ở Rājagaha mong muốn cúng dường đến các tỳ khưu trưởng lão thức ăn được chuẩn bị hoàn hảo gồm có bơ lỏng, dầu ăn, phần ăn thượng hạng, và thường dâng đến các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka vật bình thường theo khả năng gồm có cơm tấm và món thứ hai là cháo chua. Các vị ấy khi đi thọ thực về sau bữa ăn thường hỏi các tỳ khưu trưởng lão rằng: &#8211; “Này các đại đức, các vị đã có thức gì ở tại nhà ăn? Các vị đã có thức gì?” Một số trưởng lão trả lời như vầy: &#8211; “Này các đại đức, chúng tôi có bơ lỏng, có dầu ăn, có phần ăn thượng hạng.” Các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka nói như vầy: &#8211; “Này các đại đức, chúng tôi đã không được gì cả, chỉ là vật bình thường theo khả năng gồm có cơm tấm và món thứ hai là cháo chua.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị gia chủ là người có bữa ăn ngon thường cúng dường đến hội chúng bữa ăn gồm bốn phần là bữa ăn thường lệ. Vị ấy cùng vợ và các con thường hiện diện và phục vụ ở nhà ăn. Họ dâng các vị này cơm, dâng các vị kia canh, dâng các vị nọ dầu ăn, và dâng các vị khác phần ăn thượng hạng. Vào lúc bấy giờ, bữa ăn vào ngày hôm sau của vị gia chủ có bữa ăn ngon đã được sắp xếp cho các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka. Hôm ấy, vị gia chủ có bữa ăn ngon đã đi đến tu viện bởi công việc cần làm nào đó. Vị ấy đã đi đến đại đức Dabba Mallaputta, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Dabba Mallaputta rồi ngồi xuống ở một bên. Đại đức Dabba Mallaputta đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho vị gia chủ có bữa ăn ngon đang ngồi một bên bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đại đức Dabba Mallaputta chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, vị gia chủ có bữa ăn ngon đã nói với đại đức Dabba Mallaputta điều này: &#8211; “Thưa ngài, bữa ăn vào ngày mai ở nhà chúng tôi đã được sắp xếp cho vị nào?” &#8211; “Này gia chủ, bữa ăn vào ngày mai ở nhà gia chủ đã được sắp xếp cho các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, vị gia chủ có bữa ăn ngon đã không được hài lòng (nghĩ rằng): “Tại sao các tỳ khưu tồi lại thọ thực ở nhà của chúng ta?” rồi đã đi về nhà và dặn dò người tớ gái rằng: &#8211; “Này con, hãy xếp đặt chỗ ngồi ở nhà kho cho các vị đến thọ thực vào ngày mai và hãy phục vụ các vị ấy với cơm tấm và món thứ hai là cháo chua.” &#8211; “Thưa ông chủ, xin vâng.” Người tớ gái ấy đã đáp lại vị gia chủ có bữa ăn ngon.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka (bàn bạc rằng): &#8211; “Này các đại đức, hôm qua bữa ăn của vị gia chủ là người có bữa ăn ngon đã được sắp xếp cho chúng ta. Vào ngày mai, vị gia chủ có bữa ăn ngon cùng vợ và các con sẽ hiện diện và phục vụ chúng ta. Họ sẽ dâng các vị này cơm, sẽ dâng các vị kia canh, sẽ dâng các vị nọ dầu ăn, và sẽ dâng các vị khác phần ăn thượng hạng.” Do chính tâm vui mừng ấy, ban đêm các vị đã không ngủ được như ý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó vào buổi sáng, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã mặc y, cầm y bát, đi đến nhà của vị gia chủ có bữa ăn ngon. Cô tớ gái ấy đã nhìn thấy các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã xếp đặt chỗ ngồi ở nhà kho và nói với các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka điều này: ­- “Thưa các ngài, xin hãy ngồi.” Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka khởi ý điều này: ‘Chắn hẳn đến giờ này bữa ăn vẫn chưa hoàn tất nên chúng ta mới được cho ngồi ở nhà kho như thế này!’ Sau đó, cô tớ gái ấy đã trở lại với cơm tấm và món thứ hai là cháo chua (nói rằng): &#8211; “Thưa các ngài, xin hãy thọ thực.” &#8211; “Này chị gái, chúng tôi là các vị thọ nhận bữa ăn thường lệ.” &#8211; “Tôi biết các ngài đại đức là các vị thọ nhận bữa ăn thường lệ. Tuy nhiên, chính ngày hôm qua tôi đã được vị gia chủ dặn dò rằng: ‘Hãy xếp đặt chỗ ngồi ở nhà kho cho các vị đến thọ thực vào ngày mai và hãy phục vụ các vị ấy với cơm tấm và món thứ hai là cháo chua.’ Thưa các ngài, xin hãy thọ thực.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka (bàn bạc rằng): &#8211; “Này các đại đức, hôm qua vị gia chủ có bữa ăn ngon đã đi đến tu viện gặp Dabba Mallaputta. Chắc chắn rằng chúng ta đã bị Dabba Mallaputta ly gián với vị gia chủ!” Chính vì tâm bực bội ấy, các vị ấy đã không thọ thực được như ý. Sau đó, khi trở về từ chỗ thọ thực sau bữa ăn, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã đi đến tu viện, bỏ bê y bát, rồi ngồi xuống ôm đầu gối bằng y hai lớp ở phía bên ngoài cổng ra vào của tu viện, im lặng, xấu hổ, rút vai lại, mặt cúi xuống, trầm ngâm, không nói năng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, tỳ khưu ni Mettiyā đã đi đến gặp các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka, sau khi đến đã nói với các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka điều này: &#8211; “Tôi xin chào các ngài đại đức.” Khi được nói như thế, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã không đáp lại. Đến lần thứ nhì, ―(như trên)― Đến lần thứ ba, tỳ khưu ni Mettiyā đã nói với các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka điều này: &#8211; “Tôi xin chào các ngài đại đức.” Đến lần thứ ba, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã không đáp lại. &#8211; “Có phải tôi làm phật lòng các ngài đại đức? Tại sao các ngài đại đức không nói chuyện với tôi?” &#8211; “Này cô ni, bởi vì cô vẫn dửng dưng như thế trong khi chúng tôi bị Dabba Mallaputta làm tổn hại.” &#8211; “Thưa các ngài đại đức, tôi làm được điều gì?” &#8211; “Này cô ni, nếu cô chịu làm thì ngay trong ngày hôm nay đức Thế Tôn có thể trục xuất Dabba Mallaputta.” &#8211; “Thưa các ngài đại đức, tôi làm được điều gì? Tôi có thể làm điều gì?” &#8211; “Này cô ni, cô hãy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến hãy nói với đức Thế Tôn như vầy: ‘Bạch ngài, điều này là không đúng đắn, không hợp lý. Bạch ngài, chính ở quốc độ nào không có sự sợ hãi, không có tai họa, không có sầu khổ thì chính ở quốc độ ấy có sự sợ hãi, có tai họa, và có sầu khổ. Từ nơi nào gió lặng đi thì từ nơi ấy có bão tố. Con nghĩ rằng nước đã bùng cháy lên rồi; con đã bị ô nhục bởi ngài đại đức Dabba Mallaputta.’” &#8211; “Thưa các ngài đại đức, xin vâng.” Rồi tỳ khưu ni Mettiyā nghe theo các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên, tỳ khưu ni Mettiyā đã nói với đức Thế Tôn điều này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch ngài, điều này là không đúng đắn, không hợp lý. Bạch ngài, chính ở quốc độ nào không có sự sợ hãi, không có tai họa, không có sầu khổ thì chính ở quốc độ ấy có sự sợ hãi, có tai họa, và có sầu khổ. Từ nơi nào gió lặng đi thì từ nơi ấy có bão tố. Con nghĩ rằng nước đã bùng cháy lên rồi; con đã bị ô nhục bởi ngài đại đức Dabba Mallaputta.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Dabba Mallaputta rằng: &#8211; “Này Dabba, ngươi có nhớ ngươi là kẻ đã làm việc như thế, giống như điều tỳ khưu ni này vừa nói không?” &#8211; “Bạch ngài, con như thế nào thì đức Thế Tôn biết mà.” Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn ―(như trên)― Đến lần thứ ba, đức Thế Tôn đã hỏi đại đức Dabba Mallaputta rằng: &#8211; “Này Dabba, ngươi có nhớ ngươi là kẻ đã làm việc như thế, giống như điều tỳ khưu ni này vừa nói không?” &#8211; “Bạch ngài, con như thế nào thì đức Thế Tôn biết mà.” &#8211; “Này Dabba, các vị (dòng dõi) Dabba không phủ nhận như thế. Nếu ngươi có làm, hãy nói: ‘Có làm;’ nếu ngươi không làm, hãy nói: ‘Không làm.’” &#8211; “Bạch ngài, từ khi con được sanh ra, con không bao giờ nhận thấy mình là kẻ tầm cầu việc đôi lứa ngay cả trong lúc ngủ mơ, huống gì là tỉnh thức.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, chính vì việc ấy các ngươi hãy trục xuất tỳ khưu ni Mettiyā và hãy tra hỏi các tỳ khưu này.” Nói xong điều ấy, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào trú xá.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trục xuất tỳ khưu ni Mettiyā. Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã nói với các tỳ khưu ấy điều này: &#8211; “Này các đại đức, chớ có trục xuất tỳ khưu ni Mettiyā, cô ta không làm sai điều gì. Vì chúng tôi nổi giận, không hài lòng, có ý định loại trừ nên xúi giục cô ta thôi.” &#8211; “Này các đại đức, có phải các vị bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta về tội pārājika không có nguyên cớ?” &#8211; “Này các đại đức, đúng vậy.” Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka lại bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta về tội pārājika không có nguyên cớ?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi bôi nhọ Dabba Mallaputta về tội pārājika không có nguyên cớ, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng ―(như trên)― “Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại bôi nhọ Dabba Mallaputta về tội pārājika không có nguyên cớ vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Vị tỳ khưu nào xấu xa, sân hận, bất bình vị tỳ khưu (khác) rồi bôi nhọ về tội pārājika không có nguyên cớ (nghĩ rằng): ‘Chắc là ta có thể loại vị ấy ra khỏi Phạm hạnh này.’ Sau đó vào lúc khác, trong khi được hỏi hay trong khi không được hỏi và sự tranh tụng ấy thật sự không có nguyên cớ, vị tỳ khưu (dầu có) thú nhận lỗi lầm (cũng) phạm tội saṅghādisesa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị tỳ khưu</b>: là vị tỳ khưu khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Xấu xa, sân hận</b>: bị nổi giận, không được hài lòng, không được thỏa mãn, có tâm giận dữ, nảy sanh lòng cay cú.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bị bất bình</b>: là bị bất bình do sự nổi giận ấy, do sự sân hận ấy, do sự không được hài lòng ấy, do sự không được thỏa mãn ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Không có nguyên cớ</b> nghĩa là không được thấy, không được nghe, không bị nghi ngờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Về tội </b><b>pārājika</b>: về bất cứ điều nào thuộc về bốn điều.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bôi nhọ</b>: hoặc là buộc tội, hoặc là bảo người buộc tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chắc là ta có thể loại trừ vị ấy ra khỏi Phạm hạnh này</b>: Ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi trạng thái tỳ khưu, ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi pháp Sa-môn, ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi giới uẩn, ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi đức tính khắc khổ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sau đó vào lúc khác</b>: đã bôi nhọ trong giây phút nào, thì khi đã trải qua giây phút ấy, khoảng thời gian ấy, thời điểm ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong khi được hỏi</b>: đã bôi nhọ với sự việc nào thì đang được hỏi về sự việc ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong khi không được hỏi</b>: không được bất cứ ai đề cập đến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự tranh tụng</b> nghĩa là có bốn sự tranh tụng: Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Và vị tỳ khưu (dầu có) thú nhận lỗi lầm</b>: Tôi đã nói điều rỗng không, tôi đã nói điều dối trá, tôi đã nói điều không thật, tôi đã nói điều tôi không biết.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b>saṅghādisesa</b>: ―(như trên)― cũng vì thế được gọi là ‘tội saṅghādisesa.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa,” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã không nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa,” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã không nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa,” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy và đã nghe ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa,” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy và đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ―(như trên)― thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy, đã nghe, và đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, ―(như trên)― thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã không nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe và đã nghi ngờ ―(như trên)― “Ta đã nghe và đã thấy ―(như trên)― “Ta đã nghe, đã nghi ngờ, và đã thấy ngươi phạm tội pārājika, ―(như trên)― thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã không nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ và đã thấy ―(như trên)― “Ta đã nghi ngờ và đã nghe ―(như trên)― “Ta đã nghi ngờ, đã thấy, và đã nghe ngươi phạm tội pārājika, ―(như trên)― thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe ngươi phạm tội pārājika, ―(như trên)― thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, ―(như trên)― nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe và đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, ―(như trên)― thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ ―(như trên)― “Ta đã thấy ―(như trên)― “Ta đã nghi ngờ và đã thấy ngươi phạm tội pārājika, ―(như trên)― thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy ngươi phạm tội pārājika, ―(như trên)― “Ta đã nghe ngươi phạm tộipārājika, ―(như trên)― “Ta đã thấy và đã nghe ngươi phạm tội pārājika, ―(như trên)― thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, (nhưng) hoài nghi về việc đã thấy, không tin việc đã thấy, không nhớ việc đã thấy, quên đi việc đã thấy, ―(như trên)― (nhưng) hoài nghi về việc đã nghe, không tin việc đã nghe, không nhớ việc đã nghe, quên đi việc đã nghe, ―(như trên)― (nhưng) hoài nghi về việc đã nghi ngờ, không tin việc đã nghi ngờ, không nhớ việc đã nghi ngờ, quên đi việc đã nghi ngờ, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ và đã thấy ―(như trên)― Ta đã nghi ngờ và đã nghe ―(như trên)― Ta đã nghi ngờ, đã thấy, và đã nghe ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa,” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị thấy là đã phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa,” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã không nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” ―(như trên)― Đối với vị đã không nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghi ngờ là đã phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ―(như trên)― thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị thấy và đã bị nghe ―(như trên)― Ngươi đã bị thấy và đã bị nghi ngờ ―(như trên)― Ngươi đã bị thấy, đã bị nghe, và đã bị nghi ngờ là đã phạm tội pārājika,―(như trên)― Đối với vị đã không nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghe và đã bị nghi ngờ ―(như trên)― Ngươi đã bị nghe và đã bị thấy ―(như trên)― Ngươi đã bị nghe, đã bị nghi ngờ, và đã bị thấy ―(như trên)― Đối với vị đã không nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghi ngờ và đã bị thấy ―(như trên)― Ngươi đã bị nghi ngờ và đã bị nghe ―(như trên)― Ngươi đã bị nghi ngờ, đã bị thấy, và đã bị nghe là đã phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ―(như trên)― thì phạm tội saṅghādisesatheo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghe ―(như trên)― nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghi ngờ ―(như trên)― nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghe và đã bị nghi ngờ là đã phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ―(như trên)― thì phạm tộisaṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” ―(như trên)― Đối với vị đã nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị thấy ―(như trên)― nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghe ―(như trên)― nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị thấy và đã bị nghe là đã phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ―(như trên)― thì phạm tội saṅghādisesatheo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị đã thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, (nhưng) hoài nghi về việc đã thấy, không tin việc đã thấy, không nhớ việc đã thấy, quên đi việc đã thấy; ―(như trên)― (nhưng) hoài nghi về việc đã nghe, không tin việc đã nghe, không nhớ việc đã nghe, quên đi việc đã nghe; ―(như trên)― (nhưng) hoài nghi về việc đã nghi ngờ, không tin việc đã nghi ngờ, không nhớ việc đã nghi ngờ, quên đi việc đã nghi ngờ, nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghi ngờ và đã bị thấy ―(như trên)― “Ngươi đã bị nghi ngờ và đã bị nghe ―(như trên)― “Ngươi đã bị nghi ngờ, đã bị thấy, và đã bị nghe là đã phạm tội pārājika,ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễPavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa,” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có sự ghi nhận là trong sạch về vị không trong sạch. Có sự ghi nhận là không trong sạch về vị trong sạch.Có sự ghi nhận là không trong sạch về vị không trong sạch. Có sự ghi nhận là trong sạch về vị trong sạch.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội dukkaṭa với tội nói lời mắng nhiếc (tội pācittiya thứ nhì).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội dukkaṭa với tội nói lời mắng nhiếc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội dukkaṭa. ―(như trên)― khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì vô tội. ―(như trên)― khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội dukkaṭa với tội nói lời mắng nhiếc. ―(như trên)― khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ―(như trên)― khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội saṅghādisesa. ―(như trên)― khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội dukkaṭa với tội nói lời mắng nhiếc. ―(như trên)― khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị có sự ghi nhận là không trong sạch về vị trong sạch, vị có sự ghi nhận là không trong sạch về vị không trong sạch, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học thứ nhất về vị xấu xa sân hận. </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Tu viện này được cho xây dựng bởi người phú hộ tên Ghosita (Vin.A. iii, 574).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Channa (Xa-nặc) là người đánh xe hầu cận của thái tử Siddhattha (Sĩ-đạt-ta).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Chỉ có giác quan “thân” (kāyindriyaṃ) để nhận biết sự xúc chạm (Sđd. 575).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Dabba là con trai của vua xứ Malla (Vin.A. iii, 578).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Hai vị này là hai trong sáu vị đứng đầu nhóm Lục Sư. Thứ tự được trình bày là hai vị Paṇḍuka và Lohitaka ở Sāvatthī, Mettiya và Bhummajaka ở Rājagaha, Assaji và Punabbasuka ở vùng núi Kīṭā (VinA. iii, 614).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Chung sự đọc tụng giới bổn Pātimokkha đang được hiện hành (Vin.A. iii, 608).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm, TTPV tập 07, chương Kosambī thứ X.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Được gọi là “vị thường trú” (āvāsika) nghĩa là có chỗ trú ngụ (āvāso) thuộc về các vị ấy; chỗ trú ngụ được gọi trú xá (vihāra). Tại nơi ấy những vị thường trú nào có trách nhiệm làm mới, sửa chữa những chỗ cũ kỹ, v.v&#8230; thì được gọi là āvāsika còn vị chỉ thuần túy cư ngụ thôi thì gọi là nevāsika. Ở đây, các vị này là các vị āvāsika (VinA. iii, 613).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Ngài Buddhaghosa cho biết rằng hai tỳ khưu này (và luôn cả bốn vị còn lại đứng đầu nhóm Lục Sư) đều đã được xuất gia với hai vị Tối thượng Thinh Văn này, đã sống nương nhờ tròn đủ 5 năm, và có học thuộc lòng các tiêu đề mātikā (VinA. iii, 614).</span></p>
<p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA &#8211; ĐIỀU HỌC VỀ LÀM TRÚ XÁ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-3-chuong-sa%e1%b9%85ghadisesa-dieu-hoc-ve-lam-tru-xa/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 03:00:54 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=11544</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 3: Saṅghādisesa Điều học về làm trú xá Lúc bấy giờ, đức Phật]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-size: 14pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I </span></strong></span></h2>
<h3><span style="font-size: 14pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chương 3: Saṅghādisesa</span></strong></span></h3>
<h4><span style="font-size: 14pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học về làm trú xá</span></strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Kosambī, tu viện của Ghosita.[1] Vào lúc bấy giờ, người gia chủ hộ độ cho đại đức Channa[2] đã nói với đại đức Channa điều này: &#8211; “Thưa ngài, hãy tìm kiếm khu đất của trú xá. Tôi muốn cho xây dựng trú xá cho ngài.” Sau đó, trong khi dọn sạch khu đất của trú xá, đại đức Channa đã cho người đốn cội cây nọ vốn là nơi thờ phượng được làng mạc tôn kính, được thị trấn tôn kính, được thành phố tôn kính, được xứ sở tôn kính, được lãnh thổ tôn kính. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các Sa-môn Thích tử lại cho chặt cội cây vốn là nơi thờ phượng được làng mạc tôn kính, được thị trấn tôn kính, được thành phố tôn kính, được xứ sở tôn kính, được lãnh thổ tôn kính? Các Sa-môn Thích tử làm hại cuộc sống của loài có một giác quan?”[3] Các tỳ khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Channa lại cho chặt cội cây vốn là nơi thờ phượng được làng mạc tôn kính, ―(như trên)― được lãnh thổ tôn kính?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã khiển trách đại đức Channa bằng nhiều phương thức, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này Channa, nghe nói ngươi cho chặt cội cây vốn là nơi thờ phượng được làng mạc tôn kính, ―(như trên)― được lãnh thổ tôn kính, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “―(như trên)― Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại cho chặt cội cây vốn là nơi thờ phượng được làng mạc tôn kính, được thị trấn tôn kính, được thành phố tôn kính, được xứ sở tôn kính, được lãnh thổ tôn kính vậy? Này kẻ rồ dại, bởi vì có những chúng sanh có tâm thức là các hạng người ở trên cây cối. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Vị tỳ khưu trong khi cho xây dựng trú xá lớn có thí chủ, dành cho bản thân, nên dẫn các tỳ khưu đến để xác định khu đất. Các vị tỳ khưu ấy nên xác định khu đất là không có điều chướng ngại, có lối đi vòng quanh. Nếu vị tỳ khưu cho xây dựng trú xá lớn dành cho bản thân ở khu đất có điều chướng ngại, không có lối đi vòng quanh, hoặc không dẫn các tỳ khưu đến để xác định khu đất thì phạm tội saṅghādisesa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trú xá lớn</b> nghĩa là có thí chủ được đề cập đến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trú xá</b> nghĩa là được tô ở bên trong, hoặc được tô ở bên ngoài, hoặc được tô bên trong lẫn bên ngoài.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong khi cho xây dựng</b>: là đang làm hoặc đang bảo người làm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có thí chủ</b>: có người nào khác là sở hữu chủ: hoặc là người nữ, hoặc người nam, hoặc người tại gia, hoặc vị xuất gia.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dành cho bản thân</b>: vì nhu cầu của bản thân.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nên dẫn các tỳ khưu đến để xác định khu đất</b>: Vị tỳ khưu là người làm trú xá nên dọn sạch khu đất làm trú xá, nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: &#8211; “Bạch các ngài, tôi có ý định làm trú xá lớn, có thí chủ, dành cho bản thân. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng việc xem xét khu đất làm trú xá.” Nên được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần thứ ba. Nếu toàn thể hội chúng có thể xem xét khu đất làm trú xá thì (khu đất) nên được xem xét bởi toàn thể hội chúng. Nếu toàn thể hội chúng không có thể xem xét khu đất làm trú xá thì tại nơi ấy, các vị tỳ khưu nào có kinh nghiệm, đủ năng lực để biết được có điều chướng ngại hoặc không có điều chướng ngại, có lối đi vòng quanh hay không có lối đi vòng quanh, các vị ấy nên được thỉnh cầu và nên được chỉ định. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm trú xá lớn, có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xem xét khu đất làm trú xá. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để xem xét khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm trú xá lớn, có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xem xét khu đất làm trú xá. Hội chúng chỉ định các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để xem xét khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc chỉ định các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để xem xét khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định để xem xét khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị tỳ khưu đã được chỉ định ấy sau khi đi đến nơi ấy nên xem xét khu đất làm trú xá và nên nhận biết là có điều chướng ngại hoặc không có điều chướng ngại, có lối đi vòng quanh hay không có lối đi vòng quanh. Nếu có điều chướng ngại và không có lối đi vòng quanh thì nên nói rằng: “Chớ làm ở đây.” Nếu không có điều chướng ngại và có lối đi vòng quanh thì nên thông báo với hội chúng rằng: “Không có điều chướng ngại và có lối đi vòng quanh.” Vị tỳ khưu là người làm trú xá nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: &#8211; “Bạch các ngài, tôi có ý định làm trú xá lớn, có thí chủ, dành cho bản thân. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng việc xác định khu đất làm trú xá.” Nên được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần thứ ba. Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm trú xá lớn, có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xác định khu đất làm trú xá. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên xác định khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm trú xá lớn, có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xác định khu đất làm trú xá. Hội chúng xác định khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc xác định khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng xác định. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có điều chướng ngại</b> nghĩa là có tổ kiến, ―(như trên)― hoặc kề cận chỗ qua lại; điều này nghĩa là có điều chướng ngại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Không có lối đi vòng quanh</b> nghĩa là không thể đi vòng với chiếc xe hàng được móc vào hoặc (không thể) đi vòng xung quanh với cái thang; điều này nghĩa là không có lối đi vòng quanh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Không có điều chướng ngại</b> nghĩa là không có tổ kiến, ―(như trên)― hoặc không kề cận chỗ qua lại; điều này nghĩa là không có điều chướng ngại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có lối đi vòng quanh</b> nghĩa là có thể đi vòng với chiếc xe hàng được móc vào hoặc (có thể) đi vòng xung quanh với cái thang; điều này nghĩa là có lối đi vòng quanh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trú xá lớn</b> nghĩa là có thí chủ được đề cập đến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trú xá</b> nghĩa là được tô ở bên trong, hoặc được tô ở bên ngoài, hoặc được tô bên trong lẫn bên ngoài.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Cho xây dựng</b>: là (tự mình) làm hoặc bảo người làm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc không dẫn các tỳ khưu đến để xác định khu đất</b>: sau khi không cho xác định khu đất làm trú xá bằng hành sự với lời thông báo đến lần thứ nhì rồi (tự) làm hoặc bảo người làm thì tội dukkaṭa cho mỗi thao tác. Khi còn chưa đến cục (vữa tô) cuối cùng thì phạm tội thullaccaya. Khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b>saṅghādisesa</b>: ―(như trên)― cũng vì thế được gọi là ‘tội saṅghādisesa.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất không được xác định, không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất không được xác định, không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất đã được xác định, không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất đã được xác định, không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tộisaṅghādisesa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói trú xá được làm cho ta ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; “Phải là khu đất được xác định và không có chướng ngại.” &#8230; “Phải là khu đất được xác định và có lối đi quanh.” &#8230; “Phải là khu đất được xác định.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói trú xá được làm cho ta ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là không có chướng ngại và có lối đi quanh.” &#8230; “Phải là không có chướng ngại.” &#8230; “Phải là có lối đi quanh,” thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm ba tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi. Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho trú xá ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì phạm hai tội dukkaṭa với tộisaṅghādisesa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi. Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho trú xá ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì vị ấy phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh &#8230; thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh &#8230; thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa. Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa. Vị tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa. Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vô tội trong trường hợp hang núi, hang nhân tạo, chòi cỏ, vì nhu cầu của vị khác, trong mọi trường hợp ngoại trừ nhà ở, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về làm trú xá.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Tu viện này được cho xây dựng bởi người phú hộ tên Ghosita (Vin.A. iii, 574).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Channa (Xa-nặc) là người đánh xe hầu cận của thái tử Siddhattha (Sĩ-đạt-ta).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Chỉ có giác quan “thân” (kāyindriyaṃ) để nhận biết sự xúc chạm (Sđd. 575).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Dabba là con trai của vua xứ Malla (Vin.A. iii, 578).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Hai vị này là hai trong sáu vị đứng đầu nhóm Lục Sư. Thứ tự được trình bày là hai vị Paṇḍuka và Lohitaka ở Sāvatthī, Mettiya và Bhummajaka ở Rājagaha, Assaji và Punabbasuka ở vùng núi Kīṭā (VinA. iii, 614).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Chung sự đọc tụng giới bổn Pātimokkha đang được hiện hành (Vin.A. iii, 608).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Mahāvagga &#8211; Đại Phẩm, TTPV tập 07, chương Kosambī thứ X.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Được gọi là “vị thường trú” (āvāsika) nghĩa là có chỗ trú ngụ (āvāso) thuộc về các vị ấy; chỗ trú ngụ được gọi trú xá (vihāra). Tại nơi ấy những vị thường trú nào có trách nhiệm làm mới, sửa chữa những chỗ cũ kỹ, v.v&#8230; thì được gọi là āvāsika còn vị chỉ thuần túy cư ngụ thôi thì gọi là nevāsika. Ở đây, các vị này là các vị āvāsika (VinA. iii, 613).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Ngài Buddhaghosa cho biết rằng hai tỳ khưu này (và luôn cả bốn vị còn lại đứng đầu nhóm Lục Sư) đều đã được xuất gia với hai vị Tối thượng Thinh Văn này, đã sống nương nhờ tròn đủ 5 năm, và có học thuộc lòng các tiêu đề mātikā (VinA. iii, 614).</span></p>
<p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG 3: SAṄGHĀDISESA &#8211; ĐIỀU HỌC VỀ LÀM CỐC LIÊU</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-3-chuong-sa%e1%b9%85ghadisesa-dieu-hoc-ve-lam-coc-lieu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:58:18 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=20089</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương 3: Saṅghādisesa Điều học về làm cốc liêu Lúc bấy giờ, đức Phật]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></span></h2>
<h3><span style="font-size: 14pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Chương 3: Saṅghādisesa</span></strong></span></h3>
<h4><span style="font-size: 14pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Điều học về làm cốc liêu </span></strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở thành Āḷavi tự xin (vật liệu) rồi cho xây dựng các cốc liêu không có thí chủ, dành cho bản thân, không theo kích thước, và các cốc liêu ấy chưa đạt được sự hoàn tất. Các vị ấy sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: “Các người hãy bố thí người nam, hãy bố thí nhân công, hãy bố thí bò, hãy bố thí xe kéo, hãy bố thí rìu, hãy bố thí búa, hãy bố thí cuốc, hãy bố thí xẻng, hãy bố thí lưỡi đục, hãy bố thí dây leo, hãy bố thí tre, hãy bố thí cỏ muñja, hãy bố thí cỏ pabbaja, hãy bố thí cỏ tiṇa, hãy bố thí đất sét.” Dân chúng bực mình vì sự van xin, bực mình vì sự yêu cầu, khi thấy các tỳ khưu thì hốt hoảng, lo sợ, tránh né, bỏ đi đường khác, quay mặt hướng khác, đóng cửa lại; ngay cả khi thấy con bò cái họ cũng tránh đi, (lầm) tưởng là các vị tỳ khưu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Mahākassapa, trải qua mùa (an cư) mưa ở thành Rājagaha, đã ra đi về phía thành Āḷavi, theo tuần tự đã ngự đến thành Āḷavi. Tại nơi ấy trong thành Āḷavi, đại đức Mahākassapa ngụ tại tháp thờ Aggāḷava. Sau đó vào buổi sáng, đại đức Mahākassapa đã mặc y, cầm y bát, đi vào thành Āḷavi để khất thực. Dân chúng sau khi nhìn thấy đại đức Mahākassapa cũng trở nên hốt hoảng, lo sợ, tránh né, bỏ đi đường khác, quay mặt hướng khác, đóng cửa lại. Sau đó, khi đã đi khất thực trong thành Āḷavi, sau bữa ăn trong khi đang đi khất thực trở về, đại đức Mahākassapa đã bảo các tỳ khưu rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các đại đức, thành Āḷavi này trước đây vật thực dồi dào, đồ khất thực nhận được mau chóng, dễ dàng sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Hiện nay, thành Āḷavi này quả thật có sự khó khăn về vật thực, đồ khất thực nhận được khó khăn, không dễ dàng sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Này các đại đức, do nhân gì, do duyên gì khiến thành Āḷavi này lại có sự khó khăn về vật thực, đồ khất thực nhận được khó khăn, không dễ dàng sinh sống bằng sự ra sức khất thực? Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho đại đức Mahākassapa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích đã ra đi du hành về phía thành Āḷavi, trong khi tuần tự du hành đã ngự đến thành Āḷavi. Tại nơi ấy trong thành Āḷavi, đức Thế Tôn ngụ tại tháp thờ Aggāḷava. Sau đó, đại đức Mahākassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Mahākassapa đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu ở thành Āḷavi rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi tự xin (vật liệu) rồi cho xây dựng các cốc liêu không có thí chủ, dành cho bản thân, không theo kích thước, và các cốc liêu ấy chưa đạt được sự hoàn tất. Các ngươi đây sống có nhiều van xin, có nhiều sự yêu cầu: ‘Các người hãy bố thí người nam, hãy bố thí nhân công, hãy bố thí bò, hãy bố thí xe kéo, hãy bố thí rìu, hãy bố thí búa, hãy bố thí cuốc, hãy bố thí xẻng, hãy bố thí lưỡi đục, hãy bố thí dây leo, hãy bố thí tre, hãy bố thí cỏ muñja, hãy bố thí cỏ pabbaja, hãy bố thí cỏ tiṇa, hãy bố thí đất sét.’ Dân chúng bực mình vì sự van xin, bực mình vì sự yêu cầu, khi thấy các tỳ khưu thì hốt hoảng, lo sợ, tránh né, bỏ đi đường khác, quay mặt hướng khác, đóng cửa lại; ngay cả khi thấy con bò cái họ (lầm) tưởng là các vị tỳ khưu rồi cũng tránh đi, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại tự xin (vật liệu) rồi cho xây dựng các cốc liêu không có thí chủ, dành cho bản thân, không theo kích thước, và các cốc liêu ấy chưa đạt được sự hoàn tất. Các ngươi đây sống có nhiều van xin, có nhiều sự yêu cầu: ‘Các người hãy bố thí người nam, hãy bố thí nhân công, ―(như trên)― hãy bố thí cỏ tiṇa, hãy bố thí đất sét’ vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Sau đó, khi đã khiển trách đức Thế Tôn đã nói Pháp thoại rồi đã bảo các tỳ khưu rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Này các tỳ khưu, thời trước đây có hai anh em ẩn sĩ đã sống nương tựa sông Gaṅgā. Này các tỳ khưu, khi ấy rồng chúa Maṇikaṇṭha[11] đã vượt qua sông Gaṅgā và đến gần vị ẩn sĩ trẻ tuổi, sau khi đến đã dùng các phần thân thể quấn quanh vị ẩn sĩ trẻ tuổi bảy vòng rồi phồng lớn mang ở trên đầu (vị ấy) và giữ nguyên. Này các tỳ khưu, rồi do sự khiếp sợ con rồng ấy vị ẩn sĩ trẻ tuổi đã trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Này các tỳ khưu, vị ẩn sĩ lớn tuổi đã nhìn thấy vị ẩn sĩ trẻ tuổi bị ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân, sau khi nhìn thấy đã nói với vị ẩn sĩ trẻ tuổi điều này: &#8211; “Này đệ, vì sao đệ lại trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân vậy?” &#8211; “Thưa huynh, ở đây rồng chúa Maṇikaṇṭha đã vượt qua sông Gaṅgā và đến gần đệ, sau khi đến đã dùng các phần thân thể quấn quanh đệ bảy vòng rồi phồng lớn mang ở trên đầu (đệ) và giữ nguyên. Thưa huynh, do sự khiếp sợ con rồng ấy đệ trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân.” &#8211; “Này đệ, vậy đệ có muốn con rồng ấy không đến nữa?” &#8211; “Thưa huynh, đệ muốn con rồng ấy không đến nữa.” &#8211; “Này đệ, vậy đệ thấy con rồng ấy có vật gì?” &#8211; “Thưa huynh, đệ thấy viên ngọc ma-ni là vật trang điểm ở cổ của nó.” &#8211; “Này đệ, như thế thì đệ hãy xin con rồng ấy viên ngọc ma-ni: ‘Rồng ơi, hãy cho ta ngọc ma-ni, ta cần ngọc ma-ni.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, rồi rồng chúa Maṇikaṇṭha đã vượt qua sông Gaṅgā và đến gần vị ẩn sĩ trẻ tuổi, sau khi đến đã đứng ở một bên. Này các tỳ khưu, vị ẩn sĩ trẻ tuổi đã nói với rồng chúa Maṇikaṇṭha đang đứng một bên điều này: &#8211; “Rồng ơi, hãy cho ta ngọc ma-ni, ta cần ngọc ma-ni.” Này các tỳ khưu, khi ấy rồng chúa Maṇikaṇṭha (nghĩ rằng): ‘Vị tỳ khưu xin ngọc ma-ni, vị tỳ khưu cần ngọc ma-ni’ rồi đã bỏ đi ngay lập tức. Này các tỳ khưu, đến lần thứ nhì rồng chúa Maṇikaṇṭha đã vượt qua sông Gaṅgā và đến gần vị ẩn sĩ trẻ tuổi. Này các tỳ khưu, vị ẩn sĩ trẻ tuổi đã nhìn thấy rồng chúa Maṇikaṇṭha từ ở đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với rồng chúa Maṇikaṇṭha điều này: &#8211; “Rồng ơi, hãy cho ta ngọc ma-ni, ta cần ngọc ma-ni.” Này các tỳ khưu, khi ấy rồng chúa Maṇikaṇṭha (nghĩ rằng): ‘Vị tỳ khưu xin viên ngọc ma-ni, vị tỳ khưu cần viên ngọc ma-ni’ rồi ngay từ nơi ấy quay trở lui. Này các tỳ khưu, đến lần thứ ba rồng chúa Maṇikaṇṭha đang vượt qua sông Gaṅgā. Này các tỳ khưu, vị ẩn sĩ trẻ tuổi đã nhìn thấy rồng chúa Maṇikaṇṭha đang vượt qua sông Gaṅgā, sau khi nhìn thấy đã nói với rồng chúa Maṇikaṇṭha điều này: &#8211; “Rồng ơi, hãy cho ta ngọc ma-ni, ta cần ngọc ma-ni.” Này các tỳ khưu, khi ấy rồng chúa Maṇikaṇṭha đã thốt lên với vị ẩn sĩ trẻ tuổi bằng những lời kệ rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> “Cơm và nước của ta được dồi dào, tuyệt hảo được sanh lên do nhân của viên ngọc ma-ni này. Ngươi kẻ xin quá lố, ta không cho vật ấy, và ta cũng sẽ không đến khu ẩn cư của ngươi nữa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Như là những đứa trẻ tay cầm dao mài bén, ngươi làm ta run rẩy trong khi cầu xin viên ngọc. Ngươi kẻ xin quá lố, ta không cho vật ấy, và ta cũng sẽ không đến khu ẩn cư của ngươi nữa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, khi ấy rồng chúa Maṇikaṇṭha (nghĩ rằng): ‘Vị tỳ khưu xin ngọc ma-ni, vị tỳ khưu cần ngọc ma-ni’ rồi bỏ đi, trong khi bỏ đi như thế rồi đã không quay lại nữa. Này các tỳ khưu, sau đó vị ẩn sĩ trẻ tuổi do việc không còn nhìn thấy con rồng xinh xắn ấy nữa càng trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân thêm hơn nữa. Này các tỳ khưu, rồi vị ẩn sĩ lớn tuổi đã nhìn thấy vị ẩn sĩ trẻ tuổi càng trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân thêm hơn nữa; sau khi nhìn thấy đã nói với vị ẩn sĩ trẻ tuổi điều này: &#8211; “Này đệ, vì sao đệ lại càng trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân thêm hơn nữa vậy?” &#8211; “Thưa huynh, đệ càng trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân thêm hơn nữa là do việc không còn nhìn thấy con rồng xinh xắn ấy nữa. Này các tỳ khưu, khi ấy vị ẩn sĩ lớn tuổi đã thốt lên với vị ẩn sĩ trẻ tuổi bằng lời kệ rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> “Dầu mong được vật yêu quý của người, chớ van xin vật ấy. Do cầu xin quá đáng trở thành bị ghét bỏ. Con rồng bị người Bà-la-môn cầu xin ngọc ma-ni không còn xuất hiện nữa, bởi rồng đã hiểu được điều ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, bởi vì việc van xin còn không được hoan hỷ, việc yêu cầu còn không được hoan hỷ đối với những chúng sanh là các loài thú ấy, thì sẽ là điều gì đối với loài người?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vào thời trước đây có vị tỳ khưu nọ sống trong khu rừng rậm nọ ở sườn núi của dãy Hi-mã-lạp-sơn. Này các tỳ khưu, không xa khu rừng rậm ấy có đầm nước lớn và sâu thẳm. Này các tỳ khưu, có bầy chim lớn vào ban ngày đi kiếm ăn ở trong đầm nước ấy và ban đêm đi đến ngụ ở khu rừng rậm ấy. Này các tỳ khưu, khi ấy vị tỳ khưu ấy bị quấy rầy bởi tiếng động của bầy chim ấy đã đi đến gặp Ta, sau khi đến đã đảnh lễ Ta rồi ngồi xuống ở một bên. Này các tỳ khưu, rồi Ta đã nói với vị tỳ khưu ấy đang ngồi một bên điều này: &#8211; “Này tỳ khưu, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Ngươi đi đến đường xa có được ít mệt nhọc không? Và này tỳ khưu, ngươi từ đâu đi đến?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, sức khoẻ khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc được tốt đẹp. Và bạch ngài, con đi đến đường xa ít mệt nhọc. Bạch ngài, có khu rừng rậm lớn ở sườn núi của dãy Hi-mã-lạp-sơn. Bạch ngài, không xa khu rừng rậm ấy có đầm nước lớn và sâu thẳm. Bạch ngài, rồi có bầy chim lớn vào ban ngày đi kiếm ăn ở trong đầm nước ấy và ban đêm đi đến ngụ ở khu rừng rậm ấy. Bạch Thế Tôn, con từ nơi đó đi đến vì bị quấy rầy bởi tiếng động của bầy chim ấy.” &#8211; “Này tỳ khưu, vậy ngươi có muốn bầy chim ấy không đến nữa?” &#8211; “Bạch ngài, con muốn bầy chim ấy không đến nữa.” &#8211; “Này tỳ khưu, như thế thì ngươi hãy về lại nơi ấy và đi vào khu rừng rậm ấy rồi vào canh đầu của đêm hãy nói lớn lời này ba lần: ‘Hỡi toàn bộ các ngài chim đã đến ngụ ở khu rừng rậm này, xin hãy lắng nghe tôi. Tôi cần lông chim. Hỡi các ngài, hãy cho tôi mỗi một ngài một lông chim.’ Rồi vào canh giữa của đêm ―(như trên)― Rồi vào canh cuối của đêm hãy nói lớn lời này ba lần: ‘Hỡi toàn bộ các ngài chim đã đến ngụ ở khu rừng rậm này, xin hãy lắng nghe tôi. Tôi cần lông chim. Hỡi các ngài, hãy cho tôi mỗi một ngài một lông chim.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, sau đó vị tỳ khưu ấy đã về lại nơi ấy và đi vào khu rừng rậm ấy, rồi vào canh đầu của đêm đã nói lớn lời này ba lần: ‘Hỡi toàn bộ các ngài chim đã đến ngụ ở khu rừng rậm này, xin hãy lắng nghe tôi. Tôi cần lông chim. Hỡi các ngài, hãy cho tôi mỗi một ngài một lông chim.’ Rồi vào canh giữa của đêm ―(như trên)― Rồi vào canh cuối của đêm đã nói lớn lời này ba lần: ‘Hỡi toàn bộ các ngài chim đã đến ngụ ở khu rừng rậm này, xin hãy lắng nghe tôi. Tôi cần lông chim. Hỡi các ngài, hãy cho tôi mỗi một ngài một lông chim.’ Này các tỳ khưu, khi ấy bầy chim ấy (nghĩ rằng): ‘Vị tỳ khưu xin lông chim, vị tỳ khưu cần lông chim’ nên đã rời bỏ khu rừng rậm ấy, trong khi bỏ đi như thế rồi đã không quay lại nữa. Này các tỳ khưu, bởi vì việc van xin còn không được hoan hỷ, việc yêu cầu còn không được hoan hỷ đối với những chúng sanh là các loài thú ấy, thì sẽ là điều gì đối với loài người?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, trước đây cha của Raṭṭhapāla con trai nhà danh giá đã thốt lên với Raṭṭhapāla con trai nhà danh giá bằng lời kệ rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Raṭṭhapāla, có rất là nhiều người dầu ta không biết họ, họ vẫn đi đến gặp và cầu xin ta, sao con lại không xin ta?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Kẻ xin không được ưa thích, kẻ không cho khi được xin cũng không được ưa thích; chính vì lý do ấy tôi không cầu xin ông, chớ có ghét bỏ tôi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, chính Raṭṭhapāla con trai nhà danh giá ấy còn nói với cha của mình như thế, thì người với người sẽ còn nói điều gì nữa? Này các tỳ khưu, đối với người tại gia các của cải kiếm được khó khăn, các vật tích lũy được bảo quản khó khăn. Này những kẻ rồ dại, thế mà ở nơi ấy các ngươi lại sống có nhiều van xin, có nhiều sự yêu cầu đối với các của cải kiếm được khó khăn, đối với các vật tích lũy được bảo quản khó khăn như thế (nói rằng): ‘Các người hãy bố thí người nam, hãy bố thí nhân công, hãy bố thí bò, hãy bố thí xe kéo, hãy bố thí rìu, hãy bố thí búa, hãy bố thí cuốc, hãy bố thí xẻng, hãy bố thí lưỡi đục, hãy bố thí dây leo, hãy bố thí tre, hãy bố thí cỏ muñja, hãy bố thí cỏ pabbaja, hãy bố thí cỏ tiṇa, hãy bố thí đất sét.’ Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu tự xin (vật liệu) rồi trong khi cho xây dựng cốc liêu không có thí chủ, dành cho bản thân thì nên cho làm theo kích thước. Ở đây, kích thước này là chiều dài mười hai gang theo gang tay của đức Thiện Thệ,[12] chiều ngang bảy gang ở bên trong, và nên dẫn các tỳ khưu đến để xác định khu đất. Các vị tỳ khưu ấy nên xác định khu đất là không có điều chướng ngại, có lối đi vòng quanh. Nếu vị tỳ khưu tự xin (vật liệu) rồi cho xây dựng cốc liêu dành cho bản thân ở khu đất có điều chướng ngại, không có lối đi vòng quanh, hoặc không dẫn các tỳ khưu đến để xác định khu đất, hoặc vượt quá kích thước thì tội saṅghādisesa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tự xin (vật liệu)</b> nghĩa là sau khi tự mình yêu cầu người nam, nhân công, bò, xe kéo, rìu, búa, cuốc, xẻng, lưỡi đục, ―(như trên)― cỏ tiṇa, đất sét.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Cốc liêu</b> nghĩa là được tô ở bên trong, hoặc được tô ở bên ngoài, hoặc được tô bên trong lẫn bên ngoài.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong khi cho xây dựng</b>: là đang làm hoặc đang bảo người làm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Không có thí chủ</b>: không có người nào khác là sở hữu chủ: hoặc là người nữ, hoặc người nam, hoặc người tại gia, hoặc vị xuất gia.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dành cho bản thân</b>: vì nhu cầu của bản thân.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nên cho làm theo kích thước. Ở đây, kích thước này là chiều dài mười hai gang theo gang tay của đức Thiện thệ</b>: theo cách đo ở bên ngoài.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chiều ngang bảy gang ở bên trong</b>: theo cách đo ở bên trong.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nên dẫn các tỳ khưu đến để xác định khu đất</b>: Vị tỳ khưu là người làm cốc liêu ấy nên dọn sạch khu đất làm cốc liêu, nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: &#8211; “Bạch các ngài, tôi có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng việc xem xét khu đất làm cốc liêu. Nên được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần thứ ba. Nếu toàn thể hội chúng có thể xem xét khu đất làm cốc liêu thì (khu đất) nên được xem xét bởi toàn thể hội chúng. Nếu toàn thể hội chúng không thể xem xét khu đất làm cốc liêu thì tại nơi ấy, các tỳ khưu nào có kinh nghiệm, đủ năng lực để biết được có điều chướng ngại hoặc không có điều chướng ngại, có lối đi vòng quanh hay không có lối đi vòng quanh, các vị ấy nên được thỉnh cầu và nên được chỉ định. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xem xét khu đất làm cốc liêu. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định các vị tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để xem xét khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xem xét khu đất làm cốc liêu. Hội chúng chỉ định các vị tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để xem xét khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc chỉ định các vị tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để xem xét khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định để xem xét khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Các vị tỳ khưu đã được chỉ định ấy sau khi đi đến nơi đó nên xem xét khu đất làm cốc liêu và nên nhận biết là có điều chướng ngại hoặc không có điều chướng ngại, có lối đi vòng quanh hay không có lối đi vòng quanh. Nếu có điều chướng ngại và không có lối đi vòng quanh thì nên nói rằng: ‘Chớ làm ở đây.’ Nếu không có điều chướng ngại và có lối đi vòng quanh thì nên thông báo với hội chúng rằng: ‘Không có điều chướng ngại và có lối đi vòng quanh.’ Vị tỳ khưu là người làm cốc liêu nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: &#8211; “Bạch các ngài, tôi có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng việc xác định khu đất làm cốc liêu.”Nên được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần thứ ba. Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xác định khu đất làm cốc liêu. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên xác định khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xác định khu đất làm cốc liêu. Hội chúng xác định khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc xác định khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng xác định. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có điều chướng ngại</b> nghĩa là có tổ kiến, hoặc là có tổ mối, hoặc là có ổ chuột, hoặc là có ổ rắn, hoặc là có ổ bọ cạp, hoặc là có ổ rết, hoặc là chỗ ở của bầy voi, hoặc là chỗ ở của bầy ngựa, hoặc là chỗ ở của bầy sư tử, hoặc là chỗ ở của bầy cọp, hoặc là chỗ ở của bầy beo, hoặc là chỗ ở của bầy gấu, hoặc là chỗ ở của bầy chó sói, hoặc là chỗ ở của bất cứ các loài thú hoặc các loài sinh vật nào, hoặc kề cận ruộng trồng thóc lúa, hoặc kề cận ruộng trồng rau cải, hoặc kề cận nơi tra trấn, hoặc kề cận nơi xử trảm, hoặc kề cận mộ địa, hoặc kề cận vườn hoa, hoặc kề cận đất của đức vua, hoặc kề cận chuồng voi, hoặc kề cận chuồng ngựa, hoặc kề cận trại giam, hoặc kề cận quán rượu, hoặc kề cận nhà đồ tể, hoặc kề cận đường vận chuyển, hoặc kề cận giao lộ, hoặc kề cận nơi hội họp, hoặc kề cận chỗ qua lại; điều này nghĩa là có điều chướng ngại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Không có lối đi vòng quanh</b> nghĩa là không thể đi vòng với chiếc xe hàng được móc vào hoặc (không thể) đi vòng xung quanh với cái thang; điều này nghĩa là không có lối đi vòng quanh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Không có điều chướng ngại</b> nghĩa là không có tổ kiến, ―(như trên)― hoặc không kề cận chỗ qua lại; điều này nghĩa là không có điều chướng ngại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có lối đi vòng quanh</b> nghĩa là có thể đi vòng với chiếc xe hàng được móc vào hoặc (có thể) đi vòng xung quanh với cái thang; điều này nghĩa là có lối đi vòng quanh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tự xin (vật liệu)</b> nghĩa là sau khi tự mình yêu cầu về người nam, nhân công, ―(như trên)― đất sét.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Cốc liêu</b> nghĩa là được tô ở bên trong, hoặc được tô ở bên ngoài, hoặc được tô bên trong lẫn bên ngoài.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Cho xây dựng</b>: là (tự) làm hoặc bảo người làm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc không dẫn các tỳ khưu đến để xác định khu đất, hoặc vượt quá kích thước</b>: hoặc là sau khi không cho xác định khu đất làm cốc liêu bằng hành sự với lời thông báo đến lần thứ nhì, hoặc là sau khi vượt quá chiều dài hoặc chiều rộng cho dù chỉ bằng sợi tóc rồi (tự) làm hay bảo người làm thì tội dukkaṭa cho mỗi thao tác. Khi còn chưa đến cục (vữa tô) cuối cùng thì phạm tội thullaccaya. Khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b>saṅghādisesa</b>: ―(như trên)― cũng vì thế được gọi là ‘tội saṅghādisesa.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, không có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, không có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, không có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, không có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu vượt quá kích thước, không có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu vượt quá kích thước, không có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu theo kích thước, có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu theo kích thước, có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tộidukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu theo kích thước, không có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu theo kích thước, không có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, không có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, không có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, không có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, không có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì (vị ấy) phạm hai tội dukkaṭa với tộisaṅghādisesa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì (vị ấy) phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi.” Họ làm cốc cho vị ấy vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi.” Họ làm cốc cho vị ấy theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tộisaṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì (vị ấy) phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, có lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, có lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là khu đất được xác định và không có chướng ngại.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, không có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất không được xác định, không có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là khu đất được xác định và có lối đi quanh.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, không có chướng ngại, có lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất không được xác định, không có chướng ngại, có lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là khu đất được xác định.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là không có chướng ngại và có lối đi quanh.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, có lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, có lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là không có chướng ngại.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, không có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất đã được xác định, không có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là có lối đi quanh.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” &#8230; “Phải theo kích thước và không có chướng ngại.” &#8230; “Phải theo kích thước và có lối đi quanh.” &#8230; “Phải theo kích thước.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta là theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là không có chướng ngại và có lối đi quanh.” &#8230; “Phải là không có chướng ngại.” &#8230; “Phải là có lối đi quanh.” &#8230; thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” &#8230; “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, và không có chướng ngại.” &#8230; “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, và có lối đi quanh.” &#8230; “Phải là khu đất được xác định và theo kích thước.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là không có chướng ngại và có lối đi quanh.” &#8230; “Phải là không có chướng ngại.” &#8230; “Phải là có lối đi quanh.” &#8230; thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm ba tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm ba tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm bốn tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm ba tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm ba tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi. Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh &#8230; thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh &#8230; thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh &#8230; thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi. Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì vị ấy phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh &#8230; thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh &#8230; thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi. Họ làm cốc cho vị ấy vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh &#8230; thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh &#8230; thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh &#8230; thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi. Họ làm cốc cho vị ấy theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì vị ấy phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh &#8230; thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh &#8230; thì phạm tộidukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi. Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì vị ấy phạm hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh &#8230; thì phạm hai tộidukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh &#8230; thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. &#8230; không có chướng ngại, có lối đi quanh &#8230; thì phạm hai tộisaṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi. Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì vị ấy phạm hai tội dukkaṭa. &#8230; có chướng ngại, có lối đi quanh &#8230; thì phạm tội dukkaṭa. &#8230; không có chướng ngại, không lối đi quanh &#8230; thì phạm tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi. Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa. Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa. Vị tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa. Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vô tội trong trường hợp hang núi, hang nhân tạo, chòi cỏ, vì nhu cầu của vị khác, trong mọi trường hợp ngoại trừ nhà ở,[13] vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về làm cốc liêu.</b></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Phỏng dịch theo chú giải (Vin.A. iii, 555). Dịch sát từ là ‘người nữ mang bát nước.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Bảo hộ: không cho phép đi đến bất cứ nơi đâu. Canh giữ: giữ nàng ở nơi kín đáo, không để các người khác nhìn thấy. Thể hiện sự lãnh đạo: cấm đoán nàng sống ở chỗ theo ý thích. Vận hành sự quản lý: nói rằng: “Hãy làm điều này, chớ có làm điều kia” (VinA. iii, 555).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Sớ Giải (Ṭīkā) giải thích là sasāmikā nghĩa là cô ấy đã có chồng, đã có sở hữu chủ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: Vợ sống chung vì y phục: đề cập đến người đàn bà nghèo trở thành vợ sau khi nhận lấy y phục cho dầu chỉ là tấm áo choàng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Vợ được cưới theo nghi thức: Sau khi cả hai người nhúng hai tay vào trong một bát nước nói rằng: “Hãy gắn bó như là nước này, đừng có chia lìa” thì nàng được chấp nhận là vợ theo phong tục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Vợ do nâng đỡ gánh nặng: Nàng là người kiếm củi, v.v&#8230; Sau khi lấy xuống từ đầu của nàng tấm đệm lót để đội vật nặng rồi đem về sống ở trong nhà.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Vợ hạng nữ tỳ: Nàng được thuê làm việc trong nhà. Người đàn ông không hài lòng với vợ của mình rồi san sẽ cuộc sống gia đình với nàng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Vợ hạng tù binh: Khi đoàn quân dương cờ đi đến chiếm cứ một khu vực và nàng bị bắt đem lại, một người nào đó nhận nàng làm vợ nên được gọi là dhajāhaṭā (VinA. iii, 555).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Người học trò khi quay trở về không báo cho thầy biết (đứng ở bên ngoài) và đích thân đem lại hồi báo cho người đàn ông. Người thầy bản thân nhận lời và bản thân bảo học trò thông báo nên phạm tộithullaccaya vì hai phần ấy; còn người học trò bản thân thông báo và bản thân đem lại (hồi báo) nên phạm tội thullaccaya vì hai phần ấy (VinA. iii, 559).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[10] Ngài Buddhaghosa giải thích alaṃvacanīyā là pariccattā (bị từ bỏ). Theo như trong một số quốc độ người đàn bà bị mất đi tính chất làm vợ thì gọi là alaṃvacanīyā. Ý nghĩa của các từ được ghi như sau: alaṃ: vừa đủ, xứng đáng; vacanīya: nên được nói, cần phải nói; alaṃvacanīyā: được nói đủ rồi, hết nước nói, không còn gì để nói (VinA. iii, 561).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[11] Maṇikaṇṭha nghĩa là “cổ có ngọc ma-ni.” Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Nghe nói con rồng chúa ấy khi đi có trang điểm ở cổ một viên ngọc ma-ni lớn vĩ đại (có thể) ban cho tất cả các điều mong ước; vì thế được biết đến với tên Maṇikaṇṭha” (VinA. iii, 565).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[12] Sugatavidatthi (gang tay của đức Thiện Thệ): được ngài Buddhaghosa giải thích bằng ba lần gang tay của người bậc trung, với bàn tay của người thợ nề thì bằng một gang rưỡi (VinA. iii, 567). Cũng vậy, HT. Bửu Chơn ghi rằng 1 gang của người bậc trung là 0,25 mét và tính ra diện tích là 9,00 mét x 5,20 mét (Tứ Thanh Tịnh Giới, trang 33, ở phần chú thích). Trong tài liệu Vinayamukha, ngài Mahāsamaṇa Chao đề nghị rằng sugatavidatthi, tức là gang tay của đức Thiện Thệ, nên được tính theo kích thước trung bình là 0,25 mét; như vậy diện tích sẽ là 3,00 mét x 1,75 mét. Vì đây là kuṭi (cốc) nên chúng tôi nghĩ rằng kích thước thứ hai hợp lý hơn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[13] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: Ngoại trừ nhà ở cho mục đích trú ngụ của vị ấy (thì phạm tội). Nếu vị ấy cho xây dựng bảo rằng: “Sẽ là nhà làm lễ Uposatha, nhà tắm hơi, nhà ăn, nhà đốt lửa khác nữa,” trong mọi trường hợp thì vô tội. Tuy nhiên, nếu vị ấy nghĩ rằng: “Sẽ là nhà làm lễ Uposatha và ta sẽ trú ngụ,” hoặc “Sẽ là nhà tắm hơi, nhà ăn, nhà đốt lửa và ta sẽ trú ngụ,” trong khi được cho làm thì vị ấy phạm tội (VinA. iii, 574).</span></p>
<p><strong><span style="font-size: 18pt;">Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></span></strong></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA &#8211; ĐIỀU HỌC VỀ VIỆC MAI MỐI</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-3-sa%e1%b9%85ghadisesa-dieu-hoc-ve-viec-mai-moi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:55:30 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58071</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương Saṅghādisesa Điều học về việc mai mối Lúc bấy giờ, đức Phật Thế]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> Chương Saṅghādisesa </span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Điều học về việc mai mối</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi ở thành Sāvatthī là vị thường tới lui với các gia đình và đi đến nhiều gia đình. Tại nơi nào vị ấy nhìn thấy thanh niên chưa vợ hoặc thanh nữ chưa chồng thì vị ấy nói lời khen ngợi về cô con gái trước mặt cha mẹ của người con trai rằng: &#8211; “Cô con gái của gia đình kia là đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái, có học thức, khôn ngoan, thông minh, giỏi giang, siêng năng. Cô gái ấy thì xứng đôi với người con trai này.” Các người ấy nói như vầy: &#8211; “Thưa ngài, những người này không biết chúng tôi: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Thưa ngài, nếu ngài có thể bảo họ cho cưới thì chúng tôi có thể rước cô con gái ấy về cho người con trai này.” Rồi vị ấy nói lời khen ngợi về cậu con trai trước mặt cha mẹ của người con gái rằng: &#8211; “Cậu con trai của gia đình kia là đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái, có học thức, khôn ngoan, thông minh, giỏi giang, siêng năng. Cậu trai ấy thì xứng đôi với người con gái này.” Các người ấy nói như vầy: &#8211; “Thưa ngài, những người này không biết chúng tôi: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Thật xấu hổ khi rêu rao về con gái! Thưa ngài, nếu ngài có thể bảo họ xin cưới thì chúng tôi có thể gả cô con gái này cho người con trai ấy.” Bằng chính phương thức ấy, vị ấy cho người thực hiện các đoàn đi rước dâu, cho người thực hiện các đoàn đi đưa dâu, và cho người tiến hành các vụ cưới hỏi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ trước đây (chồng) làm nghề thầy bói có cô con gái đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái. Các đệ tử đạo lõa thể ở ngôi làng khác đã đi đến và nói với bà vợ người thầy bói ấy rằng: &#8211; “Thưa bà, hãy gả cô con gái này cho con trai của chúng tôi.” Bà ấy đã nói như vầy: &#8211; “Thưa các ông, quả thật tôi không biết các ông: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Và đây là đứa con gái duy nhất của tôi, không thể đi đến ngôi làng khác. Tôi sẽ không gả.” Dân chúng đã nói với các đệ tử đạo lõa thể ấy điều này: &#8211; “Thưa các ông, vì sao các ông đã đi đến?” &#8211; “Thưa các ông, ở đây chúng tôi đã xin bà vợ người thầy bói kia gả cô con gái cho người con trai của chúng tôi, bà ấy đã nói như vầy: &#8211; “Thưa các ông, quả thật tôi không biết các ông: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Và đây là đứa con gái duy nhất của tôi, không thể đi đến ngôi làng khác. Tôi sẽ không gả.” &#8211; “Thưa các ông, vì sao các ông lại xin bà vợ người thầy bói ấy gả cô con gái? Sao không nói với ngài Udāyi? Ngài Udāyi sẽ bảo người ta gả cho” Khi ấy, các đệ tử đạo lõa thể ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này: &#8211; “Thưa ngài, ở đây chúng tôi đã xin bà vợ người thầy bói kia gả cô con gái cho người con trai của chúng tôi, bà ấy đã nói như vầy: ‘Thưa các ông, quả thật tôi không biết các ông: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Và đây là đứa con gái duy nhất của tôi, không thể đi đến ngôi làng khác. Tôi sẽ không gả.’ Thưa ngài, tốt thay ngài hãy bảo bà vợ người thầy bói ấy gả cô con gái cho người con trai của chúng tôi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Udāyi đã đi đến gặp bà vợ người thầy bói ấy, sau khi đến đã nói với bà vợ người thầy bói ấy điều này: &#8211; “Sao bà lại không gả cô con gái cho những người này?” &#8211; “Thưa ngài, quả thật tôi không biết các người này: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Và đây là đứa con gái duy nhất của tôi, không thể đi đến ngôi làng khác. Tôi sẽ không gả.” &#8211; “Hãy gả cho những người này. Tôi biết những người này.” &#8211; “Thưa ngài, nếu ngài biết thì tôi sẽ gả.” Sau đó, bà vợ người thầy bói ấy đã gả cô con gái cho các đệ tử ngoại đạo ấy. Khi ấy, các đệ tử ngoại đạo ấy đã dẫn cô con gái ấy đi và đã đối xử như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Sau đó, cô con gái ấy đã phái người đưa tin đi đến gặp người mẹ (nhắn rằng): &#8211; “Vì bị đọa đày nên con bị khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử con như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Mẹ của con hãy đến và hãy dẫn con đi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, bà vợ người thầy bói ấy đã đi đến gặp các đệ tử ngoại đạo ấy, sau khi đến đã nói với các đệ tử ngoại đạo ấy điều này: &#8211; “Thưa các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.” Các người ấy đã nói như vầy: &#8211; “Chúng tôi không có cưới hỏi gì với bà; chúng tôi chỉ có cưới hỏi với vị Sa-môn thôi. Bà hãy đi, chúng tôi không biết bà.” Khi ấy, bà vợ người thầy bói ấy bị trách mắng bởi các đệ tử ngoại đạo ấy nên đã quay trở về lại thành Sāvatthī. Đến lần thứ nhì, cô con gái ấy đã phái người đưa tin đi đến gặp người mẹ (nhắn rằng): &#8211; “Vì bị đọa đày nên con bị khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử con như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Mẹ của con hãy đến và hãy dẫn con đi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, bà vợ người thầy bói ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này: &#8211; “Thưa ngài, nghe nói người con gái ấy bị đọa đày, bị khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử cô ấy như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Thưa ngài, ngài nên nói rằng: ‘Này các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.” Sau đó, đại đức Udāyi đã đi đến gặp các đệ tử ngoại đạo ấy, sau khi đến đã nói với các đệ tử ngoại đạo ấy điều này: &#8211; “Này các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.” Các người ấy đã nói như vầy: &#8211; “Chúng tôi không có cưới hỏi gì với ngài; chúng tôi chỉ có cưới hỏi với bà vợ người thầy bói thôi. Vị Sa-môn thì không nên vướng bận công việc. Là Sa-môn thì nên là vị Sa-môn tốt. Ngài hãy đi, chúng tôi không biết ngài.” Khi ấy, đại đức Udāyi bị trách mắng bởi các đệ tử ngoại đạo ấy nên đã quay trở về lại thành Sāvatthī. Đến lần thứ ba, cô con gái ấy đã phái người đưa tin đi đến gặp người mẹ (nhắn rằng): &#8211; “Vì bị đọa đày nên con bị khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử con như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Mẹ của con hãy đến và hãy dẫn con đi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đến lần thứ nhì, bà vợ người thầy bói ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này: &#8211; “Thưa ngài, nghe nói người con gái ấy bị đọa đày, bị khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử cô ấy như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Thưa ngài, ngài nên nói rằng: ‘Này các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.’” &#8211; “Lần trước, tôi đã bị các đệ tử ngoại đạo ấy trách mắng. Bà hãy đi, tôi sẽ không đi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, bà vợ người thầy bói ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Ngài Udāyi hãy bị đọa đày như vầy! Ngài Udāyi hãy bị khổ sở như vầy! Ngài Udāyi chớ được yên ổn như vầy, giống như cô con gái của tôi bị đọa đày, khổ sở, không được yên ổn với bà gia tồi, với ông gia tồi, với người chồng tồi.” Và cô con gái ấy cũng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Ngài Udāyi hãy bị đọa đày như vầy! Ngài Udāyi hãy bị khổ sở như vầy! Ngài Udāyi chớ được yên ổn như vầy, giống như tôi bị đọa đày, khổ sở, không được yên ổn với bà gia tồi, với ông gia tồi, với người chồng tồi.” Những người nữ khác không được thuận thảo với các bà gia, hoặc với các ông gia, hoặc với những người chồng, các cô ấy nguyền rủa như vầy: &#8211; “Ngài Udāyi hãy bị đọa đày như vầy! Ngài Udāyi hãy bị khổ sở như vầy! Ngài Udāyi chớ được yên ổn như vầy, giống như chúng tôi bị đọa đày, khổ sở, không được yên ổn với các bà gia tồi, với các ông gia tồi, với những người chồng tồi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trái lại, những người nữ nào được thuận thảo với các bà gia, hoặc với các ông gia, hoặc với những người chồng, các cô ấy cầu khẩn như vầy: &#8211; “Ngài Udāyi hãy được yên ổn như vầy! Ngài Udāyi hãy được chiều chuộng như vầy! Ngài Udāyi hãy đạt được sự an lạc như vầy, giống như chúng tôi được yên ổn, được chiều chuộng, và đạt được sự an lạc với các bà gia tốt, với các ông gia tốt, với những người chồng tốt.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được một số người đàn bà thì đang nguyền rủa, một số người đàn bà thì đang cầu khẩn. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Udāyi lại tiến hành việc mai mối?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Udāyi rằng: &#8211; “Này Udāyi, nghe nói ngươi tiến hành việc mai mối, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại tiến hành việc mai mối vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào tiến hành việc mai mối ý định của người nam đến người nữ, hoặc ý định của người nữ đến người nam về việc trở thành vợ chồng, hoặc về việc trở thành nhân tình, thì tội saṅghādisesa.</i>”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Sự quy định căn bản</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có nhiều kẻ vô lại trong khi dạo chơi ở vườn hoa đã phái người đưa tin đi đến gặp cô kỷ nữ nọ (nói rằng): &#8211; “Hãy đến, chúng ta sẽ dạo chơi ở vườn hoa.” Cô ấy đã nói như vầy: &#8211; “Thưa các ông, quả thật tôi không biết các ông: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Vả lại, tôi có nhiều đồ đạc, có nhiều vật dụng, và tôi sẽ không đi ngoại thành cho dù là nên đi.” Sau đó, người đưa tin ấy đã kể lại sự việc ấy cho những kẻ vô lại ấy. Khi được nói như thế, có người đàn ông nọ đã nói với những kẻ vô lại ấy điều này: &#8211; “Này các ông, tại sao các ông lại nài nỉ cô kỷ nữ ấy? Sao không nói với ngài Udāyi? Ngài Udāyi sẽ tác hợp cho.” Khi được nói như thế, có nam cư sĩ nọ đã nói với người đàn ông ấy điều này: &#8211; “Thưa ông, chớ có nói như thế. Các Sa-môn Thích tử không được phép để làm việc như thế. Ngài Udāyi sẽ không làm như vậy. Khi được nói như thế, họ đã đánh cá với nhau rằng: “Sẽ làm! Sẽ không làm!” Sau đó, những kẻ vô lại ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này: &#8211; “Thưa ngài, ở đây chúng tôi trong khi dạo chơi ở vườn hoa đã phái người đưa tin đi đến gặp cô kỷ nữ kia (nói rằng): ‘Hãy đến, chúng ta sẽ dạo chơi ở vườn hoa.’ Cô ấy đã nói như vầy: ‘Thưa các ông, quả thật tôi không biết các ông: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Vả lại, tôi có nhiều đồ đạc, có nhiều vật dụng, và tôi sẽ không đi ngoại thành cho dù là nên đi.’ Thưa ngài, tốt thay xin ngài hãy tác hợp cô kỷ nữ ấy cho.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Udāyi đã đi đến gặp cô kỷ nữ ấy, sau khi đến đã nói với cô kỷ nữ ấy điều này: &#8211; “Sao cô không đi cho những người này?” &#8211; “Thưa ngài, quả thật tôi không biết những người này: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Vả lại, tôi có nhiều đồ đạc, có nhiều vật dụng, và tôi sẽ không đi ngoại thành cho dù là nên đi.” &#8211; “Cô hãy đi cho họ. Tôi biết họ.” &#8211; “Thưa ngài, nếu ngài biết thì tôi sẽ đi.” Sau đó, những kẻ vô lại ấy đã dắt cô kỷ nữ ấy đi đến vườn hoa. Khi ấy, vị nam cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao ngài Udāyi lại tiến hành việc mai mối cho cuộc tình phút chốc?” Các tỳ khưu đã nghe được nam cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Udāyi lại tiến hành việc mai mối cho cuộc tình phút chốc?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Udāyi rằng: &#8211; “Này Udāyi, nghe nói ngươi tiến hành việc mai mối cho cuộc tình phút chốc, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: ―(như trên)― Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại tiến hành việc mai mối cho cuộc tình phút chốc vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào tiến hành việc mai mối hoặc là ý định của người nam đến người nữ, hoặc là ý định của người nữ đến người nam trong việc trở thành vợ chồng, hoặc trong việc trở thành nhân tình, thậm chí chỉ là cuộc tình phút chốc thì phạm tội saṅghādisesa.</i>”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Quy định lần hai</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tiến hành việc mai mối</b>: Hoặc là đi đến gặp người nam do người nữ phái đi, hoặc là đi đến gặp người nữ do người nam phái đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc là ý định của người nam đến người nữ</b>: Hoặc là thông báo ý định của người nam đến người nữ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc là ý định của người nữ đến người nam</b>: Hoặc là thông báo ý định của người nữ đến người nam.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc trong việc trở thành vợ chồng</b>: Cô sẽ trở thành người vợ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hoặc trong việc trở thành nhân tình</b>: Cô sẽ trở thành nhân tình.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Cho dầu chỉ là cuộc tình phút chốc</b>: Cô sẽ là người vợ trong giây lát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b><i>saṅghādisesa</i></b>: ―(như trên)― cũng vì thế được gọi là ‘tội<i> saṅghādisesa</i>.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có mười hạng người nữ: người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, người nữ được mẹ cha bảo hộ, người nữ được anh (em) trai bảo hộ, người nữ được chị (em) gái bảo hộ, người nữ được thân quyến bảo hộ, người nữ được dòng họ bảo hộ, người nữ được luân lý bảo hộ, người nữ có sự gìn giữ, người nữ bị quy định hình phạt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có mười hạng vợ: vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức,[1] vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, vợ trong giây lát.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ được mẹ bảo hộ</b> nghĩa là có mẹ bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.[2]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ được cha bảo hộ</b> nghĩa là có cha bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ được mẹ cha bảo hộ</b> nghĩa là có mẹ cha bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ được anh (em) trai bảo hộ</b> nghĩa là có anh (em) trai bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ được chị (em) gái bảo hộ</b> nghĩa là có chị (em) gái bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ được thân quyến bảo hộ</b> nghĩa là có thân quyến bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ được dòng họ bảo hộ</b> nghĩa là có dòng họ bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Người nữ được luân lý bảo hộ</b> nghĩa là có các đồng đạo bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ có sự gìn giữ</b> nghĩa là được giữ lại ngay ở trong phòng: ‘Cô ấy là của ta;’ thậm chí còn được đặt quanh bằng các bó hoa.[3]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ bị quy định hình phạt </b>nghĩa là có những người nào đó quy định hình phạt rằng: ‘Ai đến với người đàn bà tên như vầy phải chịu phạt tới mức này.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ được mua bằng của cải</b> nghĩa là sau khi mua bằng của cải, (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ sống chung do tự nguyện</b> nghĩa là người yêu giữ người yêu sống chung.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ sống chung vì tài vật</b> nghĩa là sau khi biếu xén tài vật, (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ sống chung vì y phục</b> nghĩa là sau khi biếu xén y phục, (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).[4]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ được cưới theo nghi thức</b> nghĩa là sau khi chạm vào bát nước, (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).[5]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ do nâng đỡ gánh nặng</b> nghĩa là sau khi lấy xuống tấm đệm lót ở đầu (để mang vác), (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).[6]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ hạng nữ tỳ</b> nghĩa là vừa là nữ tỳ vừa là vợ.[7]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ hạng nhân công</b> nghĩa là vừa là nhân công vừa là vợ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ hạng tù binh</b> nghĩa là (nàng) được đem lại như tù binh.[8]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vợ trong giây lát</b> nghĩa là đề cập đến cuộc tình phút chốc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Nghe nói cô hãy là vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ &#8230; nói với người nữ được mẹ cha bảo hộ &#8230; nói với người nữ được anh (em) trai bảo hộ &#8230; nói với người nữ được chị (em) gái bảo hộ &#8230; nói với người nữ được thân quyến bảo hộ &#8230; nói với người nữ được dòng họ bảo hộ &#8230; nói với người nữ được luân lý bảo hộ &#8230; nói với người nữ có sự gìn giữ &#8230; nói với người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Nghe nói cô hãy là vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ ―(như trên)― người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ &#8230; người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ &#8230; người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ &#8230; người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ &#8230; người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ &#8230; người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ &#8230; người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ &#8230; người nữ được cha bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ &#8230; người nữ được cha bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ &#8230; người nữ được cha bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ &#8230; người nữ được cha bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ &#8230; người nữ được cha bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ &#8230; người nữ được cha bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ và người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp. </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố đã được tóm lược</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i></i> Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được cha bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được mẹ cha bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được anh (em) trai bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được chị (em) gái bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được thân quyến bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được dòng họ bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được luân lý bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ có sự gìn giữ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần liên quan đến hai nhân tố, phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân tố nên được thực hiện y như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>ĐÂY LÀ PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, người nữ được mẹ cha bảo hộ, người nữ được anh (em) trai bảo hộ, người nữ được chị (em) gái bảo hộ, người nữ được thân quyến bảo hộ, người nữ được dòng họ bảo hộ, người nữ được luân lý bảo hộ, người nữ có sự gìn giữ, và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên của ‘Vợ được mua bằng của cải.’</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ hạng nhân công &#8230; vợ hạng tù binh &#8230; vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ &#8230; người nữ được mẹ cha bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được anh (em) trai bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được chị (em) gái bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được thân quyến bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được dòng họ bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được luân lý bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ có sự gìn giữ nói rằng &#8230; người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ ―(như trên)― người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ &#8230; người nữ được cha bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ và người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố đã được tóm lược.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được cha bảo hộ &#8230; người nữ bị quy định hình phạt và người nữ có sự gìn giữ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần liên quan đến hai nhân tố, phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân tố nên được thực hiện y như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>ĐÂY LÀ PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, người nữ được mẹ cha bảo hộ, người nữ được anh (em) trai bảo hộ, người nữ được chị (em) gái bảo hộ, người nữ được thân quyến bảo hộ, người nữ được dòng họ bảo hộ, người nữ được luân lý bảo hộ, người nữ có sự gìn giữ, và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên của ‘Hạng vợ trong giây lát.’</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ hạng nhân công &#8230; vợ hạng tù binh &#8230; vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung do tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ hạng nhân công &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ hạng tù binh &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ sống chung do tự nguyện và vợ sống chung vì tài vật ―(như trên)― vợ sống chung do tự nguyện và vợ trong giây lát ―(như trên)― vợ sống chung do tự nguyện và vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố đã được tóm lược.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">28 Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là vợ trong giây lát và vợ được mua bằng của cải ―(như trên)― vợ trong giây lát và vợ sống chung do tự nguyện ―(như trên)― vợ trong giây lát và vợ hạng tù binh của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần hai nhân tố cho đến phần chín nhân tố nên được thực hiện như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức, vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên của “Người nữ được mẹ bảo hộ.”</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được cha bảo hộ &#8230; người nữ được mẹ cha bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được anh (em) trai bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được chị (em) gái bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được thân quyến bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được dòng họ bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ được luân lý bảo hộ nói rằng &#8230; người nữ có sự gìn giữ nói rằng &#8230; người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ hạng nhân công &#8230; vợ hạng tù binh &#8230; vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung do tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ sống chung do tự nguyện và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ trong giây lát &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố được tóm tắt.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là vợ trong giây lát và vợ được mua bằng của cải &#8230; vợ trong giây lát và vợ hạng tù binh của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần hai nhân tố cho đến phần chín nhân tố nên được thực hiện y như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>ĐÂY LÀ PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức, vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên của “Người nữ bị quy định hình phạt.”</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung do tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, và người nữ được mẹ cha bảo hộ tên như vầy rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, và vợ sống chung vì tài vật của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự triển khai cả hai phần nên được thực hiện như thế.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, người nữ được mẹ cha bảo hộ, người nữ được anh (em) trai bảo hộ, người nữ được chị (em) gái bảo hộ, người nữ được thân quyến bảo hộ, người nữ được dòng họ bảo hộ, người nữ được luân lý bảo hộ, người nữ có sự gìn giữ, và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức, vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự triển khai cả hai phần. </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)― Cha của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)― Mẹ cha của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)― Anh (em) trai của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)― Chị (em) gái của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)― Thân quyến của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)― Dòng họ của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)― Các đồng đạo của người nam phái vị tỳ khưu đi ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự giản lược về người nam nên được giải chi tiết.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần triển khai cả hai của hai nhân tố nên được giải chi tiết</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">giống như cách thức về người nam.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ hạng nhân công &#8230; vợ hạng tù binh &#8230; vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ sống chung do tự nguyện và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ trong giây lát &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố đã được tóm lược.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là vợ trong giây lát và vợ được mua bằng của cải &#8230; vợ trong giây lát và vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ trong giây lát và vợ hạng tù binh của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần hai nhân tố cho đến chín nhân tố nên được thực hiện như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> ĐÂY LÀ PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức, vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên của “Người mẹ.”</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người cha của người nữ được cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Mẹ cha của người nữ được mẹ cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Anh (em) trai của người nữ được anh (em) trai bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Chị (em) gái của người nữ được chị (em) gái bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Thân quyến của người nữ được thân quyến bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Dòng họ của người nữ được dòng họ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Các đồng đạo của người nữ được luân lý bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Sở hữu chủ của người nữ có sự gìn giữ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ hạng nhân công &#8230; vợ hạng tù binh &#8230; vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ sống chung do tự nguyện và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ trong giây lát &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố đã được tóm lược.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là vợ trong giây lát và vợ được mua bằng của cải &#8230; vợ trong giây lát và vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ trong giây lát và vợ hạng tù binh của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Phần hai nhân tố, ba nhân tố cho đến chín nhân tố</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">nên được thực hiện y như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>ĐÂY LÀ PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức, vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt sự luân phiên của “Người nữ bị quy định hình phạt.”</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ hạng nhân công &#8230; vợ hạng tù binh &#8230; vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung do tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ được mua bằng của cải và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ sống chung do tự nguyện và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ trong giây lát &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố được tóm tắt.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là vợ trong giây lát và vợ được mua bằng của cải &#8230; vợ trong giây lát và vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ trong giây lát và vợ hạng tù binh của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các phần hai nhân tố, v.v&#8230; nên được thực hiện y như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>ĐÂY LÀ PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức, vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt</b> <b>sự luân phiên thứ nhì của ‘Người nữ được mẹ bảo hộ.’</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ được cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ được mẹ cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ được anh (em) trai bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ được chị (em) gái bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ được thân quyến bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ được dòng họ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ được luân lý bảo hộ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ có sự gìn giữ phái vị tỳ khưu đi &#8230; Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải &#8230; vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung vì y phục &#8230; vợ được cưới theo nghi thức &#8230; vợ do nâng đỡ gánh nặng &#8230; vợ hạng nữ tỳ &#8230; vợ hạng nhân công &#8230; vợ hạng tù binh &#8230; vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự liệt kê và các từ ngữ.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải và vợ sống chung do tự nguyện ―(như trên)― vợ được mua bằng của cải và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên từng phần.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ sống chung do tự nguyện và vợ sống chung vì tài vật &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ trong giây lát &#8230; vợ sống chung do tự nguyện và vợ được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên kết hợp.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Phần nhân tố đã được tóm lược.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là vợ trong giây lát và vợ được mua bằng của cải &#8230; vợ trong giây lát và vợ sống chung do tự nguyện &#8230; vợ trong giây lát và vợ hạng tù binh của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt phần một nhân tố.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các phần hai nhân tố. v.v&#8230; nên được thực hiện y như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>ĐÂY LÀ PHẦN MƯỜI NHÂN TỐ</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi: “Thưa ngài, hãy đi đến và nói với người có tên như vầy rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ được mua bằng của cải, vợ sống chung do tự nguyện, vợ sống chung vì tài vật, vợ sống chung vì y phục, vợ được cưới theo nghi thức, vợ do nâng đỡ gánh nặng, vợ hạng nữ tỳ, vợ hạng nhân công, vợ hạng tù binh, và vợ trong giây lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Sự luân phiên của “Người nữ bị quy định hình phạt.”</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tất cả các phần giản lược theo sự luân phiên.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> </b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận lời, thông báo, không hồi báo thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận lời, không thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhận lời, không thông báo, không hồi báo thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nhận lời, thông báo, không hồi báo thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nhận lời, không thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nhận lời, không thông báo, không hồi báo thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, tất cả thông báo, tất cả hồi báo thì tất cả phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, tất cả thông báo, rồi bảo một vị hồi báo thì tất cả phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, rồi bảo một vị thông báo, tất cả hồi báo thì tất cả phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, sau khi bảo một vị thông báo, rồi bảo một vị hồi báo thì tất cả phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị nhận lời, thông báo, hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị nhận lời, thông báo, bảo người học trò hồi báo thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị nhận lời, bảo người học trò thông báo, đích thân hồi báo thì phạm tội<i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nam bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị nhận lời, bảo người học trò thông báo, người học trò sau khi thông báo (trở về) đứng ở bên ngoài rồi (đi) hồi báo thì cả hai phạm tội <i>thullaccaya</i>.[9]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi đi làm hoàn tất, khi trở về làm trái lời dặn thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. Khi đi làm trái lời dặn, khi trở về làm hoàn tất thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. Khi đi làm hoàn tất, khi trở về làm hoàn tất thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. Khi đi làm trái lời dặn, khi trở về làm trái lời dặn thì vô tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị đi vì công việc cần thiết của hội chúng hoặc của bảo tháp hoặc của người bệnh, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chuyện dẫn giải kệ ngôn tóm lược </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ đã ngủ, đã chết, và đã đi khỏi, không phải người nữ, người nữ vô căn, sau khi gây gỗ, vị đã khuyên giải, và việc mai mối cho người vô căn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> *****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bảo vị tỳ khưu nọ rằng: “Thưa ngài, hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị ấy đã đi và đã hỏi mọi người rằng: &#8211; “Cô gái tên như vầy ở đâu?” &#8211; “Thưa ngài, cô ta đã ngủ.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bảo vị tỳ khưu nọ rằng: “Thưa ngài, hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị ấy đã đi và đã hỏi mọi người rằng: &#8211; “Cô gái tên như vầy ở đâu?” &#8211; “Thưa ngài, cô ta đã chết.” ―(như trên)― “Thưa ngài, cô ta đã đi khỏi.” ―(như trên)― “Thưa ngài, cô ta không phải là người nữ.” ―(như trên)― “Thưa ngài, cô ta là người nữ vô căn.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (2-5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ sau khi gây gỗ với chồng đã đi về nhà mẹ. Có vị tỳ khưu nọ thường tới lui với các gia đình đã làm công việc hòa giải. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, có phải cô ta đã bị chồng bỏ?”[10] &#8211; “Bạch Thế Tôn, cô ta không bị chồng bỏ.” &#8211; “Này tỳ khưu, trường hợp không bị chồng bỏ thì vô tội.” (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã tiến hành việc mai mối cho người vô căn. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.” (7)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về việc mai mối.</b></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> [1] Phỏng dịch theo chú giải (Vin.A. iii, 555). Dịch sát từ là ‘người nữ mang bát nước.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] <i>Bảo hộ</i>: không cho phép đi đến bất cứ nơi đâu. <i>Canh giữ</i>: giữ nàng ở nơi kín đáo, không để các người khác nhìn thấy. <i>Thể hiện sự lãnh đạo</i>: cấm đoán nàng sống ở chỗ theo ý thích. <i>Vận hành sự quản lý</i>: nói rằng: “Hãy làm điều này, chớ có làm điều kia” (VinA. iii, 555).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Sớ Giải (<em>Ṭīkā</em>) giải thích là <em>sasāmikā</em> nghĩa là cô ấy đã có chồng, đã có sở hữu chủ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: <i>Vợ sống chung vì y phục</i>: đề cập đến người đàn bà nghèo trở thành vợ sau khi nhận lấy y phục cho dầu chỉ là tấm áo choàng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] <i>Vợ được cưới theo nghi thức</i>: Sau khi cả hai người nhúng hai tay vào trong một bát nước nói rằng: “Hãy gắn bó như là nước này, đừng có chia lìa” thì nàng được chấp nhận là vợ theo phong tục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] <i>Vợ do nâng đỡ gánh nặng</i>: Nàng là người kiếm củi, v.v&#8230; Sau khi lấy xuống từ đầu của nàng tấm đệm lót để đội vật nặng rồi đem về sống ở trong nhà.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] <i>Vợ hạng nữ tỳ</i>: Nàng được thuê làm việc trong nhà. Người đàn ông không hài lòng với vợ của mình rồi san sẽ cuộc sống gia đình với nàng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] <i>Vợ hạng tù binh</i>: Khi đoàn quân dương cờ đi đến chiếm cứ một khu vực và nàng bị bắt đem lại, một người nào đó nhận nàng làm vợ nên được gọi là <i>dhajāhaṭā</i> (VinA. iii, 555).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Người học trò khi quay trở về không báo cho thầy biết (đứng ở bên ngoài) và đích thân đem lại hồi báo cho người đàn ông. Người thầy bản thân nhận lời và bản thân bảo học trò thông báo nên phạm tội<i>thullaccaya</i> vì hai phần ấy; còn người học trò bản thân thông báo và bản thân đem lại (hồi báo) nên phạm tội <i>thullaccaya</i> vì hai phần ấy (VinA. iii, 559).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[10] Ngài Buddhaghosa giải thích <i>alaṃvacanīyā</i> là <i>pariccattā </i>(bị từ bỏ). Theo như trong một số quốc độ người đàn bà bị mất đi tính chất làm vợ thì gọi là <i>alaṃvacanīyā</i>. Ý nghĩa của các từ được ghi như sau: <i>alaṃ</i>: vừa đủ, xứng đáng; <i>vacanīya</i>: nên được nói, cần phải nói; <i>alaṃvacanīyā</i>: được nói đủ rồi, hết nước nói, không còn gì để nói (VinA. iii, 561).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[11] <i>Maṇikaṇṭha</i> nghĩa là “cổ có ngọc ma-ni.” Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Nghe nói con rồng chúa ấy khi đi có trang điểm ở cổ một viên ngọc ma-ni lớn vĩ đại (có thể) ban cho tất cả các điều mong ước; vì thế được biết đến với tên <i>Maṇikaṇṭha</i>” (VinA. iii, 565).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[12] <i>Sugatavidatthi</i> (gang tay của đức Thiện Thệ): được ngài Buddhaghosa giải thích bằng ba lần gang tay của người bậc trung, với bàn tay của người thợ nề thì bằng một gang rưỡi (VinA. iii, 567). Cũng vậy, HT. Bửu Chơn ghi rằng 1 gang của người bậc trung là 0,25 mét và tính ra diện tích là 9,00 mét x 5,20 mét (<i>Tứ Thanh Tịnh Giới</i>, trang 33, ở phần chú thích). Trong tài liệu <i>Vinayamukha</i>, ngài Mahāsamaṇa Chao đề nghị rằng <i>sugatavidatthi</i>, tức là gang tay của đức Thiện Thệ, nên được tính theo kích thước trung bình là 0,25 mét; như vậy diện tích sẽ là 3,00 mét x 1,75 mét. Vì đây là <i>kuṭi</i> (cốc) nên chúng tôi nghĩ rằng kích thước thứ hai hợp lý hơn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[13] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: Ngoại trừ nhà ở cho mục đích trú ngụ của vị ấy (thì phạm tội). Nếu vị ấy cho xây dựng bảo rằng: “Sẽ là nhà làm lễ <i>Uposatha</i>, nhà tắm hơi, nhà ăn, nhà đốt lửa khác nữa,” trong mọi trường hợp thì vô tội. Tuy nhiên, nếu vị ấy nghĩ rằng: “Sẽ là nhà làm lễ <i>Uposatha</i> và ta sẽ trú ngụ,” hoặc “Sẽ là nhà tắm hơi, nhà ăn, nhà đốt lửa và ta sẽ trú ngụ,” trong khi được cho làm thì vị ấy phạm tội (VinA. iii, 574).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA &#8211; ĐIỀU HỌC VỀ SỰ HẦU HẠ TÌNH DỤC CHO BẢN THÂN</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-3-sa%e1%b9%85ghadisesa-dieu-hoc-ve-su-hau-ha-tinh-duc-cho-ban-than/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:53:48 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58067</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương Saṅghādisesa Điều học về sự hầu hạ tình dục cho bản thân Lúc]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I </span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương Saṅghādisesa </span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Điều học về sự hầu hạ tình dục cho bản thân</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi ở thành Sāvatthī là vị thường tới lui với các gia đình và đi đến nhiều gia đình . Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ là góa chồng, đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái. Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Udāyi đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư gia của người đàn bà ấy, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, người đàn bà ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Udāyi rồi ngồi xuống ở một bên. Đại đức Udāyi đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người đàn bà ấy đang ngồi ở một bên bằng bài Pháp thoại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã được đại đức Udāyi chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, người đàn bà ấy đã nói với đại đức Udāyi điều này: &#8211; “Thưa ngài, xin ngài cứ nói ra nhu cầu. Chúng tôi có khả năng để dâng đến ngài vật dụng tức là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh.” &#8211; “Này em gái, đối với chúng tôi những thứ ấy tức là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh thì đạt được không khó. Vậy hãy dâng cho chúng tôi điều mà chúng tôi khó đạt được.” &#8211; “Thưa ngài, điều gì vậy?” &#8211; “Việc đôi lứa.” &#8211; “Thưa ngài, là điều cần thiết?” &#8211; “Này em gái, là điều cần thiết.” &#8211; “Thưa ngài, hãy đi đến” rồi đã đi vào phòng trong, cởi bỏ y phục, và nằm ngửa ra trên chiếc giường nhỏ. Sau đó, đại đức Udāyi đã đi đến gặp người đàn bà ấy, sau khi đến (đã nói rằng): “Ai mà sờ vào vật hạ tiện hôi thối này?” rồi đã nhổ bãi nước miếng và bỏ đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, người đàn bà ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, giới hạnh xấu xa, nói láo. Chính các vị này làm ra vẻ là có sự thực hành Pháp, có thực hành sự an tịnh, có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Các vị này không có Sa-môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh! Sa-môn hạnh của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị này đã bị hư hỏng! Sa-môn hạnh của các vị này đâu rồi? Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa-môn hạnh của các vị này đã không còn! Phạm hạnh của các vị này đã không còn! Vì sao Sa-môn Udāyi sau khi đích thân cầu xin tôi việc đôi lứa (lại nói rằng): ‘Ai mà sờ vào vật hạ tiện hôi thối này?’ rồi nhổ bãi nước miếng và bỏ đi? Tôi có điều gì xấu? Tôi có mùi hôi gì? Tôi thua kém với ai, vì điều gì?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các người đàn bà khác cũng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Các Sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, ―(như trên)― Vì sao Sa-môn Udāyi sau khi đích thân cầu xin cô ấy việc đôi lứa (lại nói rằng): ‘Ai mà sờ vào vật hạ tiện hôi thối này?’ rồi nhổ bãi nước miếng và bỏ đi? Cô ấy có điều gì xấu? Cô ấy có mùi hôi gì? Cô ấy thua kém với ai, vì điều gì?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được những người đàn bà ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Udāyi lại ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Udāyi rằng: &#8211; “Này Udāyi, nghe nói ngươi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ vậy? Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, ―(như trên)― đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào bị khởi dục, do tâm bị thay đổi, rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ rằng: </i>‘<i>Này em gái, đây là việc đứng đầu trong các sự hầu hạ là việc người nữ nên hầu hạ đến người có giới, có thiện pháp, có Phạm hạnh như là ta bằng việc ấy</i>’<i> là việc có tính chất đôi lứa, thì tội saṅghādisesa.</i>”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bị khởi dục</b> nghĩa là có bị nhiễm dục vọng, có sự khao khát, có tâm say đắm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bị thay đổi</b>: Tâm bị nhiễm dục vọng là (tâm) bị thay đổi, tâm giận hờn là (tâm) bị thay đổi, tâm mê muội là (tâm) bị thay đổi. Tâm bị nhiễm dục vọng là (tâm) ‘bị thay đổi’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ</b> nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ Dạ-xoa, không phải ma nữ, không phải loài thú cái, có trí suy xét, có khả năng nhận biết lời nói tốt và lời nói xấu, là (lời nói) thô tục và không thô tục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong sự hiện diện của người nữ</b>: xung quanh người nữ, không xa người nữ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tình dục cho bản thân</b>: là tình dục của chính bản thân, có nguyên nhân của bản thân, có ý định cho bản thân, là sự phục vụ cho bản thân.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Đây là việc đứng đầu</b>: điều này là tột đỉnh, điều này là hạng nhất, điều này là dẫn đầu, điều này là tối thượng, điều này là quý báu nhất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ</b>: là người nữ dòng vua chúa, hoặc là người nữ Bà-la-môn, hoặc là người nữ thương buôn, hoặc là người nữ nô lệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Như là ta</b>: là người dòng vua chúa, hoặc là Bà-la-môn, hoặc là thương buôn, hoặc là nô lệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b> Người có giới</b>: người có sự tránh xa việc sát sanh, có sự tránh xa việc trộm cắp, có sự tránh xa việc nói dối.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có Phạm hạnh</b>: có sự tránh xa việc đôi lứa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có thiện pháp</b> nghĩa là với giới ấy và với Phạm hạnh ấy là (người) có thiện pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bằng việc ấy</b>: bằng việc đôi lứa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nên hầu hạ</b>: nên làm cho thích thú.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có tính chất đôi lứa</b>: là có liên quan đến việc hành dâm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b><i>saṅghādisesa</i></b>: ―(như trên)― cũng vì thế được gọi là ‘tội <i>saṅghādisesa</i>.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ ấy thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[Là người nữ, có sự hoài nghi ―(như trên)― (lầm) tưởng là người vô căn ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nam ―(như trên)― (lầm) tưởng là loài thú và bị khởi dục, vị tỳ khưu ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người vô căn, nhận biết là người vô căn và bị khởi dục, vị tỳ khưu ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người vô căn ấy thì phạm tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người vô căn, có sự hoài nghi ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nam ―(như trên)― (lầm) tưởng là loài thú ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người vô căn ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nam ―(như trên)― Là loài thú, nhận biết là loài thú ―(như trên)― có sự hoài nghi ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nữ ―(như trên)― (lầm) tưởng là người vô căn ―(như trên)― (lầm) tưởng là người nam và bị khởi dục, vị tỳ khưu ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của loài thú ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>].</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người nữ ấy thì phạm hai tội<i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị nói rằng: “Hãy hộ độ với vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh,” vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chuyện dẫn giải kệ ngôn tóm lược</span></strong></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Làm sao bà hiếm muộn (sanh con)? (Làm sao) tôi đạt được đứa con trai? Được yêu quý? Và có thể may mắn? Tôi nên dâng vật gì? Tôi có thể hộ độ bằng thứ gì? Làm sao tôi có thể đi đến cõi trời?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà không sanh sản nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, làm sao tôi có thể sanh con?” &#8211; “Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?” &#8211; “Là việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà còn sanh sản nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, làm sao tôi có thể đạt được con trai?” &#8211; “Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?” &#8211; “Là việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, làm sao tôi có thể được chồng yêu quý?” &#8211; “Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?” &#8211; “Là việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, làm sao tôi có thể được may mắn?” &#8211; “Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?” &#8211; “Là việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, tôi nên dâng ngài vật gì?” &#8211; “Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?” &#8211; “Là việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, tôi hộ độ ngài bằng vật gì?” &#8211; “Này em gái, bằng vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?” &#8211; “Là việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này: &#8211; “Thưa ngài, làm sao tôi có thể đi đến cõi trời?” &#8211; “Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?” &#8211; “Là việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (7)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về sự hầu hạ tình dục cho bản thân</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> [1] Phỏng dịch theo chú giải (Vin.A. iii, 555). Dịch sát từ là ‘người nữ mang bát nước.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] <i>Bảo hộ</i>: không cho phép đi đến bất cứ nơi đâu. <i>Canh giữ</i>: giữ nàng ở nơi kín đáo, không để các người khác nhìn thấy. <i>Thể hiện sự lãnh đạo</i>: cấm đoán nàng sống ở chỗ theo ý thích. <i>Vận hành sự quản lý</i>: nói rằng: “Hãy làm điều này, chớ có làm điều kia” (VinA. iii, 555).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Sớ Giải (<em>Ṭīkā</em>) giải thích là <em>sasāmikā</em> nghĩa là cô ấy đã có chồng, đã có sở hữu chủ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: <i>Vợ sống chung vì y phục</i>: đề cập đến người đàn bà nghèo trở thành vợ sau khi nhận lấy y phục cho dầu chỉ là tấm áo choàng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] <i>Vợ được cưới theo nghi thức</i>: Sau khi cả hai người nhúng hai tay vào trong một bát nước nói rằng: “Hãy gắn bó như là nước này, đừng có chia lìa” thì nàng được chấp nhận là vợ theo phong tục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] <i>Vợ do nâng đỡ gánh nặng</i>: Nàng là người kiếm củi, v.v&#8230; Sau khi lấy xuống từ đầu của nàng tấm đệm lót để đội vật nặng rồi đem về sống ở trong nhà.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] <i>Vợ hạng nữ tỳ</i>: Nàng được thuê làm việc trong nhà. Người đàn ông không hài lòng với vợ của mình rồi san sẽ cuộc sống gia đình với nàng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] <i>Vợ hạng tù binh</i>: Khi đoàn quân dương cờ đi đến chiếm cứ một khu vực và nàng bị bắt đem lại, một người nào đó nhận nàng làm vợ nên được gọi là <i>dhajāhaṭā</i> (VinA. iii, 555).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Người học trò khi quay trở về không báo cho thầy biết (đứng ở bên ngoài) và đích thân đem lại hồi báo cho người đàn ông. Người thầy bản thân nhận lời và bản thân bảo học trò thông báo nên phạm tội<i>thullaccaya</i> vì hai phần ấy; còn người học trò bản thân thông báo và bản thân đem lại (hồi báo) nên phạm tội <i>thullaccaya</i> vì hai phần ấy (VinA. iii, 559).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[10] Ngài Buddhaghosa giải thích <i>alaṃvacanīyā</i> là <i>pariccattā </i>(bị từ bỏ). Theo như trong một số quốc độ người đàn bà bị mất đi tính chất làm vợ thì gọi là <i>alaṃvacanīyā</i>. Ý nghĩa của các từ được ghi như sau: <i>alaṃ</i>: vừa đủ, xứng đáng; <i>vacanīya</i>: nên được nói, cần phải nói; <i>alaṃvacanīyā</i>: được nói đủ rồi, hết nước nói, không còn gì để nói (VinA. iii, 561).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[11] <i>Maṇikaṇṭha</i> nghĩa là “cổ có ngọc ma-ni.” Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Nghe nói con rồng chúa ấy khi đi có trang điểm ở cổ một viên ngọc ma-ni lớn vĩ đại (có thể) ban cho tất cả các điều mong ước; vì thế được biết đến với tên <i>Maṇikaṇṭha</i>” (VinA. iii, 565).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[12] <i>Sugatavidatthi</i> (gang tay của đức Thiện Thệ): được ngài Buddhaghosa giải thích bằng ba lần gang tay của người bậc trung, với bàn tay của người thợ nề thì bằng một gang rưỡi (VinA. iii, 567). Cũng vậy, HT. Bửu Chơn ghi rằng 1 gang của người bậc trung là 0,25 mét và tính ra diện tích là 9,00 mét x 5,20 mét (<i>Tứ Thanh Tịnh Giới</i>, trang 33, ở phần chú thích). Trong tài liệu <i>Vinayamukha</i>, ngài Mahāsamaṇa Chao đề nghị rằng <i>sugatavidatthi</i>, tức là gang tay của đức Thiện Thệ, nên được tính theo kích thước trung bình là 0,25 mét; như vậy diện tích sẽ là 3,00 mét x 1,75 mét. Vì đây là <i>kuṭi</i> (cốc) nên chúng tôi nghĩ rằng kích thước thứ hai hợp lý hơn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[13] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: Ngoại trừ nhà ở cho mục đích trú ngụ của vị ấy (thì phạm tội). Nếu vị ấy cho xây dựng bảo rằng: “Sẽ là nhà làm lễ <i>Uposatha</i>, nhà tắm hơi, nhà ăn, nhà đốt lửa khác nữa,” trong mọi trường hợp thì vô tội. Tuy nhiên, nếu vị ấy nghĩ rằng: “Sẽ là nhà làm lễ <i>Uposatha</i> và ta sẽ trú ngụ,” hoặc “Sẽ là nhà tắm hơi, nhà ăn, nhà đốt lửa và ta sẽ trú ngụ,” trong khi được cho làm thì vị ấy phạm tội (VinA. iii, 574).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I &#8211; CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA &#8211; ĐIỀU HỌC VỀ LỜI NÓI THÔ TỤC</title>
		<link>https://thienvipassana.net/phan-tich-gioi-ty-khuu-i-chuong-3-sa%e1%b9%85ghadisesa-dieu-hoc-ve-loi-noi-tho-tuc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 May 2020 02:50:59 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I]]></category>
		<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=58063</guid>

					<description><![CDATA[Phân Tích Giới Tỳ Khưu I Chương Saṅghādisesa Điều học về lời nói thô tục Lúc bấy giờ, đức Phật]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;">Phân Tích Giới Tỳ Khưu I</span></strong></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chương Saṅghādisesa</span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Điều học về lời nói thô tục</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi cư ngụ ở trong rừng. Trú xá của đại đức ấy đẹp đẽ, đáng nhìn, xinh xắn. Vào lúc bấy giờ, có nhiều người nữ đã đi đến tu viện với ý định nhìn ngắm trú xá. Khi ấy, những người nữ ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này: &#8211; “Thưa ngài, chúng tôi muốn nhìn ngắm trú xá của ngài.” Khi ấy, đại đức Udāyi sau khi cho những người nữ ấy nhìn ngắm trú xá rồi đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của những người nữ ấy, còn nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, yêu cầu, nài nỉ, hỏi han, chất vấn, chỉ bảo, dạy dỗ, và khinh bỉ nữa. Những người nữ nào thuộc hạng táo tợn, ranh mãnh, trơ trẽn, những người ấy cùng với đại đức Udāyi cười cợt, khoe khoang, cười vang, trêu chọc. Trái lại, những người nữ nào có sự hổ thẹn, những người ấy đi ra bên ngoài và phàn nàn với các tỳ khưu rằng: &#8211; “Thưa các ngài, điều này là không đúng đắn, không thích hợp. Chúng tôi dầu được chồng nói như thế còn không thích, huống hồ là ngài Udāyi!” Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao đại đức Udāyi lại nói với người nữ bằng những lời thô tục?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Udāyi rằng: &#8211; “Này Udāyi, nghe nói ngươi nói với người nữ bằng những lời thô tục, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại nói với người nữ bằng những lời thô tục? Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, ―(như trên)― đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Vị tỳ khưu nào bị khởi dục, do tâm bị thay đổi, rồi nói với người nữ bằng những lời thô tục như là việc người trai trẻ nói với cô gái bằng những lời có tính chất đôi lứa thì tội saṅghādisesa.</i>”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vị nào</b>: là bất cứ vị nào ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tỳ khưu</b> ―(như trên)― Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bị khởi dục</b> nghĩa là có bị nhiễm dục vọng, có sự khao khát, có tâm say đắm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Bị thay đổi</b>: Tâm bị nhiễm dục vọng là (tâm) bị thay đổi, tâm giận hờn là (tâm) bị thay đổi, tâm mê muội là (tâm) bị thay đổi. Tâm bị nhiễm dục vọng là (tâm) ‘bị thay đổi’ được đề cập trong ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Người nữ</b> nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ Dạ-xoa, không phải ma nữ, không phải loài thú cái, có trí suy xét, có khả năng nhận biết lời nói tốt và lời nói xấu, là (lời nói) thô tục và không thô tục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Lời nói thô tục</b> nghĩa là là lời nói liên quan đến đường tiêu, đường tiểu, và việc đôi lứa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nói</b>: là sự vi phạm được đề cập đến.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Như là việc người trai trẻ nói với cô gái</b>: là trai tơ với gái tơ, thanh niên với thanh nữ, người nam hưởng dục với người nữ hưởng dục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Có tính chất đôi lứa</b>: có liên quan đến việc hành dâm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tội </b><b><i>saṅghādisesa</i></b>: ―(như trên)― cũng vì thế được gọi là ‘tội <i>saṅghādisesa</i>.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, yêu cầu, nài nỉ, hỏi han, chất vấn, chỉ bảo, dạy dỗ, và khinh bỉ có liên hệ đến đến hai đường khiếu.[7]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nói lời ca ngợi</b> nghĩa là tán dương, khen ngợi, ca tụng về hai đường khiếu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nói lời chê bai</b> nghĩa là xỉ vả, khinh khi, chê bai về hai đường khiếu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Yêu cầu</b> nghĩa là (nói rằng): ‘Hãy dâng hiến cho tôi, cô là thích hợp để dâng hiến cho tôi.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Nài nỉ</b> nghĩa là (nói rằng): ‘Khi nào mẹ cô sẽ hoan hỷ? Khi nào cha cô sẽ hoan hỷ? Khi nào các Thiên nhân của cô sẽ hoan hỷ? Khi nào là thời khắc tốt, là thời giờ tốt, là thời điểm tốt? Khi nào tôi sẽ đạt được được việc đôi lứa với cô?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Hỏi han</b> nghĩa là (nói rằng): ‘Cô dâng hiến cho chồng như thế nào? Cô dâng hiến cho tình nhân như thế nào?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chất vấn</b> nghĩa là (nói rằng): ‘Nghe nói cô dâng hiến cho chồng như vầy, cô dâng hiến cho tình nhân như vầy.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chỉ bảo </b>nghĩa là khi được hỏi thì nói rằng: ‘Hãy dâng hiến như vầy, trong khi dâng hiến như vầy thì sẽ được chồng yêu quý và thương mến.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dạy dỗ</b> nghĩa là khi không được hỏi thì nói rằng: ‘Hãy dâng hiến như vầy, trong khi dâng hiến như vầy thì sẽ được chồng yêu quý và thương mến.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Khinh bỉ</b> nghĩa là (nói rằng): ‘Cô không có hiện tướng (người nữ), cô không có đủ hiện tướng (người nữ), cô không có kinh nguyệt, cô bị băng huyết, cô thường xuyên mang vải lót, cô bị rong kinh, cô là người nữ có dị căn, cô là người nữ vô căn, cô là người bị lại đực, cô là người nữ tiêu tiểu chung một khiếu, cô là người nữ lưỡng căn.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, yêu cầu, nài nỉ, hỏi han, chất vấn, chỉ bảo, dạy dỗ, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của người nữ ấy thì phạm tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người nữ ấy của thì phạm hai tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)―,và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>saṅghādisesa</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu của người nữ ấy thì phạm tội <i>thullaccaya</i>. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu của hai người nữ ấy thì phạm hai tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa </i>với tội <i>thullaccaya</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở lên và từ đầu gối trở xuống của người nữ ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở lên và từ đầu gối trở xuống của hai người nữ ấy thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở lên và từ đầu gối trở xuống của hai người ấy thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Là người nữ, nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến vật gắn liền với thân của người nữ ấy thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai người nữ, đối với hai người nữ nhận biết là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến vật gắn liền với thân của hai người nữ ấy thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người nữ và người vô căn, đối với cả hai (lầm) tưởng là người nữ và bị khởi dục, vị tỳ khưu nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, ―(như trên)― và khinh bỉ có đề cập đến vật gắn liền với thân của hai người ấy thì phạm hai tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi giảng giải về ý nghĩa của từ ngữ, khi đọc tụng Pháp, khi chỉ dạy Giáo Pháp,[8] vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Chuyện dẫn giải kệ ngôn tóm lược</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Màu đỏ, bị sần sùi, bị rối, thô dày, và lông dài, được gieo giống, phải chăng đạo lộ là thông suốt, đức tin, với vật thí, về công việc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len được nhuộm mới. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, của chị là màu đỏ.” Cô ấy đã không hiểu được. &#8211; “Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len được nhuộm mới.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (1)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len sần sùi (có lông rậm và ngắn). Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, của chị là sần sùi.” Cô ấy đã không hiểu được. &#8211; “Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len sần sùi.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (2)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len vừa mới dệt. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, của chị có lông bị rối.” Cô ấy đã không hiểu được. &#8211; “Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len vừa mới dệt.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (3)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len thô dày. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, của chị có lông rậm.” Cô ấy đã không hiểu được. &#8211; “Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len thô dày.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (4)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm áo choàng dài. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, của chị có lông dài.” Cô ấy đã không hiểu được. &#8211; “Thưa ngài, đúng vậy. Là tấm áo choàng.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (5)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ sau khi cho người gieo giống thửa ruộng rồi đi về. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, của chị đã được gieo giống.” Cô ấy đã không hiểu được. &#8211; “Thưa ngài, đúng vậy. Vẫn còn chưa được lấp kín.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>dukkaṭa</i>.” (6)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi nhìn thấy người nữ du sĩ ngoại đạo đi ngược chiều, bị khởi dục rồi đã nói với người nữ du sĩ ngoại đạo ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, phải chăng đạo lộ của chị là thông suốt?” Cô ấy đã không hiểu được. &#8211; “Này tỳ khưu, đúng vậy. Rồi ngươi sẽ theo vào.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội <i>thullaccaya</i>.”[9] (7)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà nọ điều này: &#8211; “Này em gái, cô có đức tin. Tuy nhiên, cô không dâng cho chúng tôi việc cô đã dâng cho chồng.” &#8211; “Thưa ngài, việc gì vậy?” &#8211; “Việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (8)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà nọ điều này: &#8211; “Này em gái, cô có đức tin. Tuy nhiên, cô không dâng cho chúng tôi vật thí hạng nhất.” &#8211; “Thưa ngài, việc gì vậy?” &#8211; “Việc đôi lứa.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội <i>saṅghādisesa</i>.” (9)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đang làm công việc. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này: &#8211; “Này em gái, cô hãy đứng, tôi sẽ làm.” ―(như trên)― “Này em gái, cô hãy ngồi xuống, tôi sẽ làm.” Cô ấy đã không hiểu được. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ―(như trên)― “Này tỳ khưu, không phạm tội <i>saṅghādisesa</i> mà phạm tội<i>dukkaṭa</i>.” (10-11-12)</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt điều học về nói lời thô tục</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng tâm vị ấy bị loạn động và đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa ái dục nhưng lại không muốn quay trở về làm người tại gia (VinA. iii, 517).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Đại đức Udāyi là thầy tế độ của đại đức Seyyasaka (VinA. iii, 517).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Ngài Buddhaghosa giải thích về ý nghĩa của từ <i>saṅghādisesa</i> (<i>saṅgha-ādi-sesa</i>) như sau: Hội chúng (<i>saṅgha</i>) là cần thiết từ lúc khởi đầu (<i>ādi</i>) và các phần còn lại (<i>sesa</i>). Khởi đầu là sự ban cho hành phạt <i>parivāsa</i>, các phần kế tiếp là sự ban cho hành phạt <i>mānatta</i> hoặc sự ban cho việc thực hành trở lại từ đầu (<i>mūlāya paṭikassanaṃ</i>), cuối cùng là hành sự giải tội (<i>abbhānakamma</i>), tất cả các việc này đều do hội chúng (<i>saṅgha</i>) thực hiện, cá nhân hoặc nhóm tỳ khưu đều không được (VinA. iii, 522). Xin xem thêm chi tiết ở <i>Cullavagga &#8211; Tiểu Phẩm</i>, TTPV 06, chương II.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng trú xá của đại đức Udāyi không phải ở trong một khu rừng riêng biệt mà ở trong Jetavana, thuộc về khu vực ở một bên, cuối cùng, sát ranh giới (VinA. iii, 532).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Khi (tâm) không ghi nhận (<em>asatiyā = </em>bị thất niệm): Vị ấy bị bận rộn về việc khác nên không biết rằng: ‘Ta chạm vào người nữ.’ Trong lúc không biết như thế, như trong khi co duỗi tay chân, v.v&#8230; vị có sự đụng chạm thì vô tội (VinA. iii, 541).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Trường hợp người nữ có ý muốn nắm lấy bàn chân rồi đảnh lễ thì vị tỳ khưu nên ngăn lại, hoặc hai bàn chân nên được che đậy, hoặc bất động. Vị không lay động, nếu tâm có ưng thuận thì cũng không phạm tội (VinA. iii, 546).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Hai đường khiếu là đường tiêu và đường tiểu. Từ <i>magga</i> theo ý nghĩa thông thường là “đường đi, con đường.” Tuy nhiên, trong văn cảnh này từ dịch được ghi là “khiếu, đường khiếu” như đã được các vị tiền bối sử dụng. Ngoài ra, ở điều <i>pārājika</i> thứ nhất còn có đề cập đến một đường khiếu khác nữa là đường miệng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Cả ba ý nghĩa được ghi lại căn cứ vào Chú Giải (Vin.A. iii, 549).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Trường hợp này vị tỳ khưu bị phạm tội <em>thullaccaya</em> vì đã ám chỉ ‘chỗ kín’ khi sử dụng từ ‘<em>magga</em>’ nhưng người nữ du sĩ hiểu theo nghĩa thông thường là ‘con đường.’ Nếu cô ấy hiểu được ý thô tục thì vị tỳ khưu ấy đã phạm tội <em>saṅghādisesa</em> (ND).</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Đọc sách ebook: <a href="https://theravada.vn/wp-content/uploads/2020/05/TẠNG-LUẬT-BỘ-PĀRĀJIKA-ttpv_01_Pr.pdf" rel="nofollow noopener" target="_blank">PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU I</a></strong></span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
