<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tiểu Phẩm II &#8211; Thiền Vipassana Do Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Phương Thuốc Chữa Bệnh Phiền Não Của Chúng Sinh</title>
	<atom:link href="https://thienvipassana.net/tag/tieu-pham-ii/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://thienvipassana.net</link>
	<description>Tổng Hợp Chia Sẻ Các Bài Pháp Về Thiền Vipassana (Thiền Tứ Niệm Xứ) Theo Phương Pháp Ngài Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Các Tài Liệu Dhamma, Trợ Duyên Ai Đó Hữu Duyên Được Vững Vàng Trên Con Đường Tu Tập Giải Thoát Khổ, Được An Lạc Thực Sự, Hoà Hợp Thực Sự, Hạnh Phúc Thực Sự. #vipassana #dhamma #goenka #thienvipassana #buddha #phatphap #phatgiao #thiền</description>
	<lastBuildDate>Sun, 10 May 2020 01:39:52 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9.4</generator>

<image>
	<url>https://thienvipassana.net/wp-content/uploads/2020/05/cropped-LOGO-PHÁP-BẢO-ORIGINAL-7-32x32.png</url>
	<title>Tiểu Phẩm II &#8211; Thiền Vipassana Do Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Phương Thuốc Chữa Bệnh Phiền Não Của Chúng Sinh</title>
	<link>https://thienvipassana.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG LIÊN QUAN BẢY TRĂM VỊ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-lien-quan-bay-tram-vi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 01:39:52 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=59749</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II Chương Liên Quan Bảy Trăm Vị Tụng Phẩm Thứ Nhất Vào lúc bấy giờ, khi đức Thế]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tiểu Phẩm II</strong></span></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong> Chương Liên Quan Bảy Trăm Vị</strong></span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Tụng Phẩm Thứ Nhất</strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, khi đức Thế Tôn Vô Dư Niết Bàn được một trăm năm, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli truyền bá trong thành Vesāli mười sự việc là: “Quy định cất giữ muối trong ống sừng là được phép, quy định hai ngón tay là được phép, quy định trong làng là được phép, quy định về chỗ trú ngụ là được phép, quy định về sự thỏa thuận là được phép, quy định theo tập quán là được phép, quy định chưa được khuấy là được phép, quy định uống nước trái cây lên men là được phép, quy định vật lót ngồi không có viền quanh là được phép, vàng bạc là được phép.”[3]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka trong khi du hành ở xứ Vajji đã đến trú tại Vesāli. Tại nơi đó ở Vesāli, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã trú tại Mahāvana, nơi giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli vào ngày Uposatha sau khi đổ đầy nước vào cái chậu đồng rồi đặt ở giữa hội chúng tỳ khưu và nói với các cư sĩ ở Vesāli đang đi qua lại như vầy: &#8211; “Này các đạo hữu, hãy bố thí đến hội chúng một kahāpaṇa, một nửa (kahāpaṇa), một pāda, một māsaka. Hội chúng sẽ có việc phải làm về vật dụng.” Khi được nói như vậy, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã nói với các cư sĩ ở Vesāli điều này: &#8211; “Này các đạo hữu, chớ có bố thí đến hội chúng một kahāpaṇa, một nửa (kahāpaṇa), một pāda, một māsaka. Vàng bạc không được cho phép đối với các Sa-môn Thích tử; các Sa-môn Thích tử không thích thú vàng bạc; các Sa-môn Thích tử không thọ nhận vàng bạc; các Sa-môn Thích tử đã từ bỏ ngọc ma-ṇi và vàng ròng, đã xa lìa vàng bạc.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi được đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka nói như vậy, các cư sĩ ở Vesāli vẫn bố thí đến hội chúng một kahāpaṇa, một nửa (kahāpaṇa), một pāda, một māsaka. Sau đó, vào cuối đêm ấy các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã xác định phần chia tùy theo số lượng tỳ khưu rồi đã phân chia số tiền vàng ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã nói với đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka điều này: &#8211; “Này đại đức Yasa, phần chia tiền vàng này thuộc về đại đức.” &#8211; “Này các đại đức, phần chia tiền vàng này không thuộc về tôi, tôi không thích thú tiền vàng.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli (bàn bạc rằng): “Này các đại đức, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka này quở trách, chê bai, làm giảm đức tin các cư sĩ có niềm tin đã mộ đạo, vậy chúng ta hãy thực hiện hành sự hòa giải đến vị ấy.” Họ đã thực hiện hành sự hòa giải đến vị ấy. Khi ấy, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã nói với các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli điều này: &#8211; “Này các đại đức, đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Vị sứ giả cùng đi nên được ban đến vị tỳ khưu thực hiện hành sự hòa giải.’ Này các đại đức, hãy cho tôi vị tỳ khưu làm sứ giả cùng đi.” Khi ấy, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã chỉ định một vị tỳ khưu và cho làm sứ giả cùng đi với đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka cùng với vị tỳ khưu là sứ giả cùng đi đã vào thành Vesāli và đã nói với các cư sĩ ở Vesāli điều này: &#8211; “Nghe nói tôi quở trách, chê bai, làm giảm đức tin quý vị là những cư sĩ có niềm tin đã mộ đạo (trong việc) tôi đây nói phi Pháp là: ‘Phi Pháp,’ Pháp là: ‘Pháp,’ phi Luật là: ‘Phi Luật,’ Luật là: ‘Luật.’’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các đạo hữu, vào một thuở nọ, đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Này các đạo hữu, ở nơi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; ‘Này các tỳ khưu, đây là bốn vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. Khi bị ô nhiễm bởi những vật làm ô nhiễm này, mặt trăng và mặt trời không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi. Bốn vật ấy là gì? Này các tỳ khưu, mây là vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. Khi bị ô nhiễm bởi vật làm ô nhiễm này, mặt trăng và mặt trời không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi. Này các tỳ khưu, sương mù là vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. ―(như trên)― Này các tỳ khưu, khói bụi là vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. ―(như trên)― Này các tỳ khưu, Rāhu chúa loài Asura (hiện tượng nguyệt và nhật thực) là vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. Này các tỳ khưu, đây là bốn vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. Khi bị ô nhiễm bởi những vật làm ô nhiễm này, mặt trăng và mặt trời không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đây là bốn điều làm ô nhiễm đối với Sa-môn và Bà-la-môn. Khi bị ô nhiễm bởi những điều làm ô nhiễm này, các Sa-môn và Bà-la-môn không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi. Bốn điều ấy là gì? Này các tỳ khưu, có những Sa-môn và Bà-la-môn uống rượu, uống men say, không chừa bỏ việc uống rượu và men say. Này các tỳ khưu, đây là điều làm ô nhiễm thứ nhất đối với Sa-môn và Bà-la-môn. Khi bị ô nhiễm bởi điều làm ô nhiễm này, các Sa-môn và Bà-la-môn không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, có những Sa-môn và Bà-la-môn thực hiện việc đôi lứa, không chừa bỏ việc đôi lứa. Này các tỳ khưu, đây là điều làm ô nhiễm thứ nhì đối với Sa-môn và Bà-la-môn. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, có những Sa-môn và Bà-la-môn thích thú vàng bạc, không chừa bỏ việc thọ nhận vàng bạc. Này các tỳ khưu, đây là điều làm ô nhiễm thứ ba đối với Sa-môn và Bà-la-môn. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, có những Sa-môn và Bà-la-môn chấp nhận cuộc sống bằng sự nuôi mạng không chân chánh, không chừa bỏ sự nuôi mạng không chân chánh. Này các tỳ khưu, đây là điều làm ô nhiễm thứ tư đối với Sa-môn và Bà-la-môn. ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là bốn điều làm ô nhiễm đối với Sa-môn và Bà-la-môn. Khi bị ô nhiễm bởi những điều làm ô nhiễm này, các Sa-môn và Bà-la-môn không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi.’ Này các đạo hữu, đức Thế Tôn đã nói điều ấy, đấng Thiện Thệ đã nói điều ấy, rồi bậc Đạo Sư còn nói thêm điều này nữa:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn bị ô nhiễm bởi ái dục và sân, là những người bị che áng bởi vô minh, có sự thỏa thích ở các hình dáng đáng yêu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Họ uống rượu, men say, theo đuổi việc đôi lứa, thích thú bạc và vàng, họ là những kẻ ngu si tăm tối.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có những Sa-môn và Bà-la-môn sống bằng tà mạng. Những sự ô nhiễm này đã được nói lên bởi đức Phật, là vị thân quyến của mặt trời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Những Sa-môn và Bà-la-môn đã bị ô nhiễm bởi những ô nhiễm ấy thì không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi, không trong sạch, có nhiễm bụi, như là loài thú.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bị bao phủ bởi bóng đêm, họ là những nô lệ của tham ái, là những kẻ bị (tham ái) dẫn đi, họ làm tăng trưởng nghĩa địa kinh hoàng, họ bám lấy sự tái sanh lần nữa.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có lời nói như vầy: Nghe nói tôi quở trách, chỉ trích, làm giảm đức tin quý vị là những cư sĩ có niềm tin, mộ đạo (trong việc) tôi đây nói phi Pháp là: ‘Phi Pháp,’ Pháp là: ‘Pháp,’ phi Luật là: ‘Phi Luật,’ Luật là: ‘Luật.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các đạo hữu, vào một thuở nọ đức Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Này các đạo hữu, vào lúc bấy giờ, trong lúc các hầu cận của đức vua ngồi lại tụ họp với nhau ở nơi hậu cung, có câu chuyện qua lại này đã sanh khởi: ‘Vàng bạc được cho phép đối với các Sa-môn Thích tử; các Sa-môn Thích tử thích thú vàng bạc; các Sa-môn Thích tử thọ nhận vàng bạc.’ Này các đạo hữu, vào lúc bấy giờ vị thôn trưởng Maṇicūḷaka đang ngồi trong nhóm người ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các đạo hữu, khi ấy vị thôn trưởng Maṇicūḷaka đã nói với nhóm người ấy điều này: ‘Quý vị chớ có nói như thế. Vàng bạc không được cho phép đối với các Sa-môn Thích tử; các Sa-môn Thích tử không thích thú vàng bạc; các Sa-môn Thích tử không thọ nhận vàng bạc; các Sa-môn Thích tử đã từ bỏ ngọc ma-ṇi và vàng ròng, đã xa lìa vàng bạc.’ Này các đạo hữu, vị thôn trưởng Maṇicūḷaka đã có thể thuyết phục được nhóm người ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các đạo hữu, sau đó, khi đã thuyết phục được nhóm người ấy vị thôn trưởng Maṇicūḷaka đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Này các đạo hữu, khi đã ngồi xuống một bên vị thôn trưởng Maṇicūḷaka đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, ở đây trong lúc các hầu cận của đức vua ngồi lại tụ họp với nhau ở nơi hậu cung, có câu chuyện qua lại này đã sanh khởi: ‘Vàng bạc được cho phép đối với các Sa-môn Thích tử; các Sa-môn Thích tử thích thú vàng bạc; các Sa-môn Thích tử thọ nhận vàng bạc.’ Bạch ngài, được nói như vậy, con đã nói với nhóm người ấy điều này: ‘Quý vị chớ có nói như thế. Vàng bạc không được cho phép đối với các Sa-môn Thích tử; các Sa-môn Thích tử không thích thú vàng bạc; các Sa-môn Thích tử không thọ nhận vàng bạc; các Sa-môn Thích tử đã từ bỏ ngọc ma-ni và vàng ròng, đã xa lìa vàng bạc.’ Bạch ngài, con đã có thể thuyết phục được nhóm người ấy. Bạch ngài, trong khi nói như thế, có phải con là người đã nói đúng lời của đức Thế Tôn và con không vu khống đức Thế Tôn một cách sai trái? Có phải con đã nói theo lý lẽ của Giáo Pháp? Và có phải người nào có lời nói hợp với giáo lý, đúng theo Giáo Pháp, không rơi vào vị thế bị chê trách?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Thôn trưởng, đúng vậy. Trong khi nói như thế, ngươi là người đã nói đúng lời của ta và ngươi không vu khống ta một cách sai trái. Ngươi đã nói theo lý lẽ của Giáo Pháp và người nào có lời nói hợp với giáo lý, đúng theo Giáo Pháp, không rơi vào vị thế đáng bị chê trách. Này Thôn trưởng, bởi vì vàng bạc không được cho phép đối với các Sa-môn Thích tử, các Sa-môn Thích tử không thích thú vàng bạc, các Sa-môn Thích tử không thọ nhận vàng bạc, các Sa-môn Thích tử đã từ bỏ ngọc ma-ni và vàng ròng, đã xa lìa vàng bạc. Này Thôn trưởng, đối với kẻ nào vàng bạc là được phép thì đối với kẻ ấy năm phần dục lạc cũng là được phép. Này Thôn trưởng, đối với kẻ nào năm phần dục lạc là được phép thì ngươi có thể nắm chắc về điều này là: ‘Không phải là pháp của Sa-môn, không phải là pháp của Thích tử.’ Này Thôn trưởng, và ta còn nói như vầy: Người mong muốn cỏ thì tầm cầu cỏ, người mong muốn củi thì tầm cầu củi, người mong muốn xe cộ thì tầm cầu xe cộ, người mong muốn đàn ông thì tầm cầu đàn ông. Này Thôn trưởng, nhưng ta không có nói rằng: ‘Bằng bất cứ phương tiện gì, vàng bạc nên được thích thú, nên được tầm cầu.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có lời nói như vầy: Nghe nói tôi quở trách, chỉ trích, làm giảm đức tin quý vị là những cư sĩ có niềm tin, mộ đạo (trong việc) tôi đây nói phi Pháp là: ‘Phi Pháp,’ Pháp là: ‘Pháp,’ phi Luật là: ‘Phi Luật,’ Luật là: ‘Luật.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các đạo hữu, vào một thuở nọ, ở ngay chính nơi ấy tại thành Rājagaha đức Thế Tôn đã từ chối vàng bạc và quy định điều học có liên quan đến đại đức Upananda dòng dõi Sakya. Có lời nói như vầy: “Nghe nói tôi quở trách, chỉ trích, làm giảm đức tin quý vị là những cư sĩ có niềm tin, mộ đạo (trong việc) tôi đây nói phi Pháp là: ‘Phi Pháp,’ Pháp là: ‘Pháp,’ phi Luật là: ‘Phi Luật,’ Luật là: ‘Luật.’” Khi được nói như thế, các cư sĩ ở Vesāli đã nói với đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka điều này: &#8211; “Thưa ngài, chỉ có một mình ngài đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka là Sa-môn Thích tử, chính tất cả các vị kia đều không phải là Sa-môn, không phải là Thích tử. Thưa ngài, xin ngài đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka hãy ngụ tại Vesāli. Chúng tôi sẽ nỗ lực về vật dụng là y phục, đồ ăn khất thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh đối với ngài đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka.” Sau đó, khi đã khiến cho các cư sĩ ở Vesāli nhận thức được, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka với vị tỳ khưu sứ giả cùng đi đã trở về tu viện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã hỏi vị tỳ khưu sứ giả cùng đi rằng: &#8211; “Này sư đệ, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã yêu cầu các cư sĩ ở Vesāli thứ lỗi chưa vậy?” &#8211; “Chúng ta gặp điều xúi quẩy với các cư sĩ rồi. Chỉ một mình Yasa con trai của Kākaṇḍaka được xem là Sa-môn Thích tử. Còn chính tất cả chúng ta đã bị xem không phải là Sa-môn, không phải là Thích tử.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli (đã bàn bạc rằng): “Này các đại đức, Yasa con trai của Kākaṇḍaka này chưa được chúng ta chỉ định đã giảng giải cho hàng tại gia, vậy chúng ta hãy thực hiện hành sự án treo đối với vị ấy.” Họ đã tụ họp lại với ý định thực hiện hành sự án treo đối với vị ấy. Khi ấy, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã bay lên không trung và xuất hiện ở Kosambi. Sau đó, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu ở Pāvā, Avanti, và khu vực phía nam (nói rằng): “Xin các đại đức hãy đến, chúng ta cần nắm lấy sự tranh tụng này trước khi điều phi Pháp phát triển và Pháp bị bỏ quên, trước khi điều phi Luật phát triển và Luật bị bỏ quên, trước khi những kẻ nói về phi Pháp trở nên mạnh và những người nói về Pháp yếu đi, trước khi những kẻ nói về phi Luật trở nên mạnh và những người nói về Luật yếu đi.” Vào lúc bấy giờ, đại đức Sambhūta Sāṇavāsī đang ngụ tại núi Ahogaṅga. Khi ấy, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã đi đến núi Ahogaṅga gặp đại đức Sambhūta Sāṇavāsī, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Sambhūta Sāṇavāsī rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã nói với đại đức Sambhūta Sāṇavāsī điều này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, các tỳ khưu dòng dõi Vajji này ở Vesāli truyền bá trong thành Vesāli mười sự việc: ‘Quy định cất giữ muối trong ống sừng là được phép, quy định hai ngón tay là được phép, quy định trong làng là được phép, quy định về chỗ trú ngụ là được phép, quy định về sự thỏa thuận là được phép, quy định theo tập quán là được phép, quy định chưa được khuấy là được phép, quy định uống nước trái cây lên men là được phép, quy định vật lót ngồi không có viền quanh là được phép, vàng bạc là được phép.’ Thưa ngài, vậy chúng ta sẽ nắm lấy sự tranh tụng này trước khi điều phi Pháp phát triển và Pháp bị bỏ quên, trước khi điều phi Luật phát triển và Luật bị bỏ quên, trước khi những kẻ nói về phi Pháp trở nên mạnh và những người nói về Pháp yếu đi, trước khi những kẻ nói về phi Luật trở nên mạnh và những người nói về Luật yếu đi.” &#8211; “Này đại đức, đúng vậy.” Đại đức Sambhūta Sāṇavāsī đã trả lời đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các tỳ khưu ở Pāvā có số lượng sáu mươi vị tất cả là những vị sống trong rừng, tất cả là những vị hành hạnh khất thực, tất cả là những vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ, tất cả là những vị chỉ sử dụng ba y, chính tất cả các vị đều là A-la-hán đã tụ hội ở núi Ahogaṅga. Các tỳ khưu ở Avanti và khu vực phía nam có số lượng tám mươi tám vị, một số vị sống trong rừng, một số vị hành hạnh khất thực, một số vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ, một số vị chỉ sử dụng ba y, chính tất cả các vị đều là A-la-hán đã tụ hội ở núi Ahogaṅga.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, trong lúc các tỳ khưu trưởng lão hội ý, điều này đã khởi lên: “Tranh sự này quả là khó khăn và tế nhị. Làm thế nào chúng ta có thể đạt được nhóm, nhờ thế trong sự tranh tụng này chúng ta sẽ là lực lượng mạnh hơn?” Vào lúc bấy giờ, đại đức Revata ngụ tại Soreyya là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Khi ấy, các tỳ khưu trưởng lão đã khởi ý rằng: “Chính vị đại đức Revata này ngụ tại Soreyya là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Nếu chúng ta sẽ đạt được đại đức Revata chung nhóm, như thế trong sự tranh tụng này chúng ta sẽ là lực lượng mạnh hơn.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi các tỳ khưu trưởng lão đang hội ý, đại đức Revata nhờ vào Thiên nhĩ thông thanh tịnh vượt trội loài người đã nghe được, sau khi nghe được đã khởi ý điều này: “Tranh sự này quả là khó khăn và tế nhị. Điều không thích đáng cho ta là việc ta lại tránh né các sự tranh tụng như thế này. Và rồi đây, các vị tỳ khưu ấy sẽ đi đến, bị lấn cấn bởi các vị ấy, ta đây sẽ đi không thoải mái. Hay là ta nên đi trước?” Khi ấy, đại đức Revata từ Soreyya đã đi đến Saṅkassa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu trưởng lão đã đi đến Soreyya hỏi rằng: &#8211; “Đại đức Revata ở đâu?” Các người ấy đã nói như vầy: &#8211; “Vị đại đức Revata ấy đã đi Saṅkassa rồi.” Rồi đại đức Revata từ Saṅkassa đã đi Kaṇṇakujja. Sau đó, các tỳ khưu trưởng lão đã đi đến Saṅkassa hỏi rằng: &#8211; “Đại đức Revata ở đâu?” Các người ấy đã nói như vầy: &#8211; “Vị đại đức Revata ấy đã đi Kaṇṇakujja rồi.” Rồi đại đức Revata từ Kaṇṇakujja đã đi Udumbara. Sau đó, các tỳ khưu trưởng lão đã đi đến Kaṇṇakujja hỏi rằng: &#8211; “Đại đức Revata ở đâu?” Các người ấy đã nói như vầy: &#8211; “Vị đại đức Revata ấy đã đi Udumbara rồi.” Rồi đại đức Revata từ Udumbara đã đi thành phố Aggaḷa. Sau đó, các tỳ khưu trưởng lão đã đi đến Udumbara hỏi rằng: &#8211; “Đại đức Revata ở đâu?” Các người ấy đã nói như vầy: &#8211; “Vị đại đức Revata ấy đã đi thành phố Aggaḷa rồi.” Rồi đại đức Revata từ thành phố Aggaḷa đã đi Sahajāti. Sau đó, các tỳ khưu trưởng lão đã đi đến thành phố Aggaḷa hỏi rằng: &#8211; “Đại đức Revata ở đâu?” Các người ấy đã nói như vầy: &#8211; “Vị đại đức Revata ấy đã đi Sahajāti rồi.” Rồi các tỳ khưu trưởng lão đã gặp được đại đức Revata ở Sahajāti.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Sambhūta Sāṇavāsī đã nói với đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka điều này: &#8211; “Này sư đệ, đại đức Revata này là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Nếu chúng ta hỏi đại đức Revata câu hỏi, đại đức Revata có khả năng trình bày trọn đêm chỉ với một câu hỏi ấy. Và giờ đây, đại đức Revata sẽ gọi vị tỳ khưu đệ tử chuyên đọc tụng về âm từ. Khi chấm dứt phần đọc tụng về âm từ của vị tỳ khưu ấy, chính sư đệ nên đi đến gặp đại đức Revata và hỏi về mười sự việc ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, xin vâng.” Đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã trả lời đại đức Sambhūta Sāṇavāsī. Khi ấy, đại đức Revata đã gọi vị tỳ khưu đệ tử chuyên đọc tụng về âm từ. Vào lúc chấm dứt phần đọc tụng về âm từ của vị tỳ khưu ấy, khi ấy đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã đi đến gặp đại đức Revata, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Revata rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã nói với đại đức Revata điều này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">i. &#8211; “Thưa ngài, quy định cất giữ muối trong ống sừng là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, quy định cất giữ muối trong ống sừng ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài, là mang theo muối bằng ống sừng (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ thọ dụng vào trường hợp (thức ăn) thiếu muối,’ có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, quy định hai ngón tay là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, quy định hai ngón tay ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài, là thọ dụng vật thực sái giờ khi bóng nắng mặt trời (chiếu ở trên đất) đã quá hai ngón tay, có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">iii. &#8211; “Thưa ngài, quy định trong làng là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, quy định trong làng ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài, là vị đã ăn xong, đã ngăn vật thực (nghĩ rằng): ‘Bây giờ, ta sẽ đi vào trong làng’ rồi thọ dụng thức ăn không phải là còn thừa lại (từ bữa ăn), có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, quy định về chỗ trú ngụ là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, quy định về chỗ trú ngụ ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài, là nhiều trú xứ có chung ranh giới thực hiện lễ Uposatha riêng biệt, có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, quy định về sự thỏa thuận là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, quy định về sự thỏa thuận ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài là thực hiện hành sự với hội chúng không đủ số lượng (nghĩ rằng): ‘Chúng ta sẽ thuyết phục các tỳ khưu đi đến,’ có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, quy định theo tập quán là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, quy định theo tập quán ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài là (vị nghĩ rằng): ‘Điều này đã được thực hành bởi thầy tế độ của ta, điều này đã được thực hành bởi thầy giáo thọ của ta’ rồi thực hành theo, có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, quy định theo tập quán có điều được phép, có điều không được phép.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">vii. &#8211; “Thưa ngài, quy định chưa được khuấy là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, quy định chưa được khuấy ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài, có loại sữa đã qua khỏi trạng thái sữa nhưng chưa đạt đến trạng thái sữa đông, vị đã ăn xong, đã ngăn vật thực, uống loại sữa ấy không phải là còn thừa lại (từ bữa ăn), có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">viii. &#8211; “Thưa ngài, quy định uống nước trái cây lên men là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, nước trái cây lên men ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài, là loại rượu vừa mới lên men nhưng chưa đạt đến trạng thái rượu mạnh, uống loại ấy có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, quy định vật lót ngồi không có viền quanh là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, vàng bạc là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ấy ở Vesāli truyền bá trong thành Vesāli mười sự việc này. Thưa ngài, chúng ta hãy nắm lấy sự tranh tụng này trước khi điều phi Pháp phát triển và Pháp bị bỏ quên, trước khi điều phi Luật phát triển và Luật bị bỏ quên, trước khi những kẻ nói về phi Pháp trở nên mạnh và những người nói về Pháp yếu đi, trước khi những kẻ nói về phi Luật trở nên mạnh và những người nói về Luật yếu đi.” &#8211; “Này sư đệ, đúng vậy.” Đại đức Revata đã trả lời đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm thứ nhất</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tụng Phẩm Thứ Hai</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã nghe rằng: “Nghe nói Yasa con trai của Kākaṇḍaka có ý định nắm lấy sự tranh tụng này nên tầm cầu phe nhóm, và nghe nói đã đạt được phe nhóm.” Khi ấy, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã khởi ý điều này: “Tranh sự này quả là khó khăn và tế nhị. Người nào mà chúng ta có thể đạt được chung nhóm, nhờ thế chúng ta trong sự tranh tụng này sẽ là lực lượng mạnh hơn?” Rồi các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã khởi ý điều này: “Chính vị đại đức Revata này ngụ tại Soreyya là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Nếu chúng ta có thể đạt được đại đức Revata chung nhóm, như thế chúng ta trong sự tranh tụng này sẽ là lực lượng mạnh hơn.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã chuẩn bị nhiều vật dụng cần thiết cho Sa-môn là bình bát, y phục, vật lót ngồi, ống đựng kim, dây thắt lưng, đồ lược nước, và đồ lọc nước thông thường. Sau đó, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã mang theo vật dụng cần thiết cho Sa-môn ấy đáp thuyền ngược giòng đi Sahajāti. Sau khi rời thuyền, họ thực hiện việc chia phần thức ăn ở gốc cây nọ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Sāḷha trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng đã có tư tưởng suy tầm khởi lên như vầy: “Những ai là người nói đúng Pháp, các tỳ khưu ở về hướng Đông hay là các tỳ khưu ở Pāvā?” Sau đó, đại đức Sāḷha trong khi quán xét về Pháp và Luật đã khởi ý điều này: “Các tỳ khưu ở về hướng Đông là các vị nói phi Pháp, các tỳ khưu ở Pāvā là các vị nói đúng Pháp.” Khi ấy, có vị Trời nọ ở cõi Tịnh Cư dùng tâm biết được tư tưởng suy tầm của đại đức Sāḷha, rồi giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại, hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ y như thế, vị ấy đã biến mất giữa chư Thiên ở cõi Tịnh Cư và hiện ra trước mặt đại đức Sāḷha. Khi ấy, vị Trời ấy đã nói với đại đức Sāḷha điều này: &#8211; “Thưa ngài Sāḷha, đúng vậy. Các tỳ khưu ở về hướng Đông là các vị nói phi Pháp, các tỳ khưu ở Pāvā là các vị nói đúng Pháp. Thưa ngài Sāḷha, chính vì điều ấy ngài hãy duy trì theo đúng Pháp.” &#8211; “Này vị Trời, ngay cả trước đây và bây giờ ta luôn duy trì theo đúng Pháp; nhưng ta không bộc lộ quan điểm cho đến khi ấy, có lẽ (hội chúng) sẽ chỉ định ta trong sự tranh tụng này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli sau khi cầm lấy số vật dụng cần thiết cho Sa-môn ấy đã đi đến gặp đại đức Revata, sau khi đến đã nói với đại đức Revata điều này: &#8211; “Thưa ngài, xin trưởng lão hãy nhận lấy vật dụng cần thiết cho Sa-môn là bình bát, y phục, vật lót ngồi, ống đựng kim, dây thắt lưng, đồ lược nước, và đồ lọc nước thông thường.” &#8211; “Này các đại đức, thôi đi. Ta đã đầy đủ ba y.” Và đã không muốn thọ nhận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu được hai mươi năm tên Uttara là thị giả của đại đức Revata. Khi ấy, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã đi đến gặp đại đức Uttara, sau khi đến đã nói với đại đức Uttara điều này: &#8211; “Xin đại đức Uttara hãy nhận lấy vật dụng cần thiết cho Sa-môn là bình bát, y phục, vật lót ngồi, ống đựng kim, dây thắt lưng, đồ lược nước, và đồ lọc nước thông thường.” &#8211; “Này các đại đức, thôi đi. Ta đã đầy đủ ba y.” Và đã không muốn thọ nhận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này đại đức Uttara, dân chúng thường dâng vật dụng cần thiết cho Sa-môn đến đức Thế Tôn. Nếu đức Thế Tôn thọ nhận, chính vì điều ấy họ trở nên hoan hỷ. Nếu đức Thế tôn không thọ nhận, họ dâng đến đại đức Ānanda: ‘Thưa ngài, xin trưởng lão hãy nhận lấy vật dụng cần thiết cho Sa-môn là bình bát, y phục, vật lót ngồi, ống đựng kim, dây thắt lưng, đồ lọc nước, và bình đựng nước. Như thế sẽ xem như vật ấy đã được đức Thế Tôn thọ lãnh.’ Xin đại đức Uttara hãy nhận lấy vật dụng cần thiết cho Sa-môn; như thế sẽ xem như vật ấy đã được ngài trưởng lão thọ lãnh.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Uttara bị ép buộc bởi các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã nhận lấy một y (nói rằng): &#8211; “Này các đại đức, hãy nói lý do về việc này.” &#8211; “Xin đại đức Uttara hãy nói với ngài trưởng lão chỉ có một điều này: ‘Thưa ngài, xin ngài trưởng lão hãy nói giữa hội chúng chỉ có một điều này: Chư Phật Thế Tôn đều sanh lên trong các xứ sở ở hướng đông. Các tỳ khưu ở về hướng Đông là các vị nói đúng Pháp, còn các tỳ khưu ở Pāvā là các vị nói phi Pháp.’” &#8211; “Này các đại đức, được rồi.” Rồi đại đức Uttara nghe theo các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã đi đến gặp đại đức Revata, sau khi đến đã nói với đại đức Revata điều này: &#8211; “Thưa ngài, xin ngài trưởng lão hãy nói giữa hội chúng chỉ có một điều này: ‘Chư Phật Thế Tôn đều sanh lên trong các xứ sở ở hướng đông. Các tỳ khưu ở về hướng Đông là các vị nói đúng Pháp, còn các tỳ khưu ở Pāvā là các vị nói phi Pháp.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này tỳ khưu, ngươi đã xúi giục ta trong việc phi Pháp.” Vị trưởng lão đã đuổi đại đức Uttara đi. Khi ấy, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã nói với đại đức Uttara điều này: &#8211; “Này đại đức Uttara, ngài trưởng lão đã nói gì?” &#8211; “Này các đại đức, chúng ta đã làm điều tầm bậy. Ngài trưởng lão đã đuổi tôi đi (nói rằng): ‘Này tỳ khưu, ngươi đã xúi giục ta trong việc phi Pháp.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này đại đức Uttara, không phải đại đức đã thâm niên hai mươi năm rồi hay sao?” &#8211; “Này các đại đức, đúng vậy. Tuy nhiên, chúng tôi còn giữ sự nương nhờ với vị thầy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, hội chúng có ý muốn phân xử sự tranh tụng ấy đã tụ hội lại. Khi ấy, đại đức Revata đã thông báo đến hội chúng rằng: &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu chúng ta giải quyết sự tranh tụng này ở nơi đây, các tỳ khưu là những vị khởi sự có thể nêu lại vấn đề một lần nữa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên giải quyết sự tranh tụng này ở ngay tại nơi mà sự tranh tụng này đã sanh khởi.” Sau đó, các tỳ khưu trưởng lão có ý muốn phân xử sự tranh tụng ấy đã đi đến Vesāli.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, vị trưởng lão của hội chúng trên trái đất có tên Sabbakāmī đã tu lên bậc trên được một trăm hai mươi năm, là đệ tử của đại đức Ānanda, đang trú ở Vesāli. Khi ấy, đại đức Revata đã nói với đại đức Sambhūta Sāṇavāsī điều này: &#8211; “Này sư đệ, tôi sẽ đi đến trú xá nơi trưởng lão Sabbakāmī đang trú ngụ; sư đệ đây nên đi đến gặp đại đức Sabbakāmī vào đúng lúc để hỏi về mười sự việc ấy.” &#8211; “Thưa ngài, xin vâng.” Đại đức Sambhūta Sāṇavāsī đã đáp lại đại đức Revata. Sau đó, đại đức Revata đã đi đến trú xá nơi trưởng lão Sabbakāmī đang trú ngụ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chỗ nằm ngồi của đại đức Sabbakāmī là được sếp đặt ở phòng trong, còn của đại đức Revata ở mặt tiền của phòng trong. Khi ấy, đại đức Revata (nghĩ rằng): ‘Vị trưởng lão cao niên này không nằm’ nên không nằm xuống. Đại đức Sabbakāmī (nghĩ rằng): ‘Vị tỳ khưu vãng lai này đang mệt vẫn không nằm’ rồi đã không nằm xuống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, trong đêm vào lúc hừng sáng, đại đức Sabbakāmī sau khi đứng dậy đã nói với đại đức Revata điều này: &#8211; “Này sư đệ mến, hiện nay ngươi thường xuyên an trú với sự an trú nào?” &#8211; “Thưa ngài, hiện nay tôi thường xuyên an trú với sự an trú tâm từ.” &#8211; “Này sư đệ mến, nghe nói hiện nay ngươi thường xuyên an trú với sự an trú còn nông cạn. Này sư đệ mến, sự an trú còn nông cạn ấy tức là tâm từ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, trước đây khi tôi còn là người tại gia, tâm từ đã được thực hành. Vì thế, hiện nay tôi thường xuyên an trú với sự an trú tâm từ, hơn nữa tôi đã chứng đạt phẩm vị A-la-hán lâu nay. Thưa ngài, hiện nay ngài trưởng lão thường xuyên an trú với sự an trú nào?” &#8211; “Này sư đệ mến, hiện nay ta thường xuyên an trú với sự an trú trạng thái không?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, nghe nói hiện nay ngài trưởng lão thường xuyên an trú với sự an trú của bậc đại nhân. Thưa ngài, sự an trú của bậc đại nhân ấy tức là trạng thái không.” &#8211; “Này sư đệ mến, trước đây khi ta còn là người tại gia, trạng thái không đã được thực hành. Vì thế, ngay cả bây giờ ta thường xuyên an trú với sự an trú trạng thái không, hơn nữa ta đã chứng đạt phẩm vị A-la-hán lâu nay.” Lúc bấy giờ, cuộc nói chuyện trao đổi này của hai vị tỳ khưu trưởng lão là chưa chấm dứt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rồi đại đức Sambhūta Sāṇavāsī đã ngự đến nơi ấy. Khi ấy, đại đức Sambhūta Sāṇavāsī đã đi đến gặp đại đức Sabbakāmī, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Sabbakāmī rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Sambhūta Sāṇavāsī đã nói với đại đức Sabbakāmī điều này: &#8211; “Thưa ngài, các tỳ khưu dòng dõi Vajji này ở Vesāli truyền bá trong thành Vesāli mười sự việc: ‘Quy định cất giữ muối trong ống sừng là được phép, quy định hai ngón tay là được phép, quy định trong làng là được phép, quy định về chỗ trú ngụ là được phép, quy định về sự thỏa thuận là được phép, quy định theo tập quán là được phép, quy định chưa được khuấy là được phép, quy định uống nước trái cây lên men là được phép, quy định vật lót ngồi không có viền quanh là được phép, vàng bạc là được phép.’ Thưa ngài, ngài trưởng lão đã học tập được nhiều Pháp và Luật ở chân của thầy tế độ; thưa ngài, khi ngài trưởng lão quán xét về Pháp và Luật thì khởi ý thế nào? Những ai là người nói đúng Pháp, các tỳ khưu ở về hướng Đông hay là các tỳ khưu ở Pāvā?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này sư đệ, ngươi cũng đã học tập được nhiều Pháp và Luật ở nguồn gốc của thầy tế độ; này sư đệ, khi ngươi quán xét về Pháp và Luật thì khởi ý thế nào? Những ai là người nói đúng Pháp, là các tỳ khưu ở về hướng Đông hay là các tỳ khưu ở Pāvā?” &#8211; “Thưa ngài, khi tôi quán xét về Pháp và Luật thì khởi ý như vầy: ‘Các tỳ khưu ở về hướng Đông là các vị nói phi Pháp, các tỳ khưu ở Pāvā là các vị nói đúng Pháp;’ tuy nhiên tôi không bộc lộ quan điểm cho đến khi ấy, có lẽ (hội chúng) sẽ chỉ định tôi trong sự tranh tụng này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này đệ, ngay cả ta khi quán xét về Pháp và Luật cũng khởi ý như vầy: ‘Các tỳ khưu ở về hướng Đông là các vị nói phi Pháp, các tỳ khưu ở Pāvā là các vị nói đúng Pháp;’ tuy nhiên ta không bộc lộ quan điểm cho đến khi ấy, có lẽ (hội chúng) sẽ chỉ định ta trong sự tranh tụng này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, hội chúng có ý muốn phân xử sự tranh tụng ấy đã tụ hội lại. Trong khi sự tranh tụng ấy đang được phân xử, các lời bàn cãi vô bổ được sanh lên, và không một lời phát biểu nào được xem là có ý nghĩa. Khi ấy, đại đức Revata đã thông báo đến hội chúng rằng: &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Trong khi sự tranh tụng này của chúng ta đang được xem xét, các lời bàn cãi vô bổ được sanh lên, và không một lời phát biểu nào được xem là có ý nghĩa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên giải quyết sự tranh tụng này bằng đại biểu. Hội chúng đã chọn bốn vị tỳ khưu ở hướng Đông, bốn vị tỳ khưu ở Pāvā: Đại đức Sabbakāmī, đại đức Sāḷha, đại đức Ujjasobhita, đại đức Vāsabhagāmika là (đại biểu) của các tỳ khưu ở hướng Đông, đại đức Revata, đại đức Sambhūta Sāṇavāsī, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka, và đại đức Sumana là (đại biểu) của các tỳ khưu ở Pāvā.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Revata đã thông báo đến hội chúng rằng: &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Trong khi sự tranh tụng này của chúng ta đang được xem xét, các lời bàn cãi vô bổ được sanh lên, và không một lời phát biểu nào được xem là có ý nghĩa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định bốn vị tỳ khưu ở hướng Đông, bốn vị tỳ khưu ở Pāvā để giải quyết sự tranh tụng này bằng đại biểu. Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Trong khi sự tranh tụng này của chúng ta đang được xem xét, các lời bàn cãi vô bổ được sanh lên, và không một lời phát biểu nào được xem là có ý nghĩa. Hội chúng chỉ định bốn vị tỳ khưu ở hướng Đông, bốn vị tỳ khưu ở Pāvā để giải quyết sự tranh tụng này bằng đại biểu. Đại đức nào thỏa thuận sự chỉ định bốn vị tỳ khưu ở hướng Đông, bốn vị tỳ khưu ở Pāvā để giải quyết sự tranh tụng này bằng đại biểu xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bốn vị tỳ khưu ở hướng Đông, bốn vị tỳ khưu ở Pāvā đã được hội chúng chỉ định để giải quyết sự tranh tụng này bằng đại biểu. Hội chúng thỏa thuận nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu tên Ajita, được mười năm, là vị đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi ấy, hội chúng cũng đã chỉ định đại đức Ajita là vị sắp xếp chỗ ngồi cho các tỳ khưu trưởng lão. Khi ấy, các tỳ khưu trưởng lão đã khởi ý điều này: “Chúng ta nên giải quyết sự tranh tụng này ở đâu?” Khi ấy, các tỳ khưu trưởng lão đã khởi ý điều này: “Tu viện Vālika này xinh xắn ít tiếng động, ít ồn ào; hay là chúng ta nên giải quyết sự tranh tụng này ở tu viện Vālika?” Sau đó, các tỳ khưu trưởng lão có ý muốn phân xử sự tranh tụng ấy đã đi đến tu viện Vālika. Sau đó, đại đức Revata đã thông báo đến hội chúng rằng: &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ hỏi đại đức Sabbakāmī về Luật.” Đại đức Sabbakāmī đã thông báo đến hội chúng rằng: &#8211; “Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, khi được vị Revata hỏi về Luật, tôi sẽ trả lời.” Sau đó, đại đức Revata đã hỏi đại đức Sabbakāmī điều này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, quy định cất giữ muối trong ống sừng là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, quy định cất giữ muối trong ống sừng ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài, là mang theo muối bằng ống sừng (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ thọ dụng vào trường hợp (thức ăn) thiếu muối,’ có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.” &#8211; “(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?” &#8211; “Ở Sāvatthi, trong Suttavibhaṅga (Phân Tích Giới Bổn).” &#8211; “(Làm việc ấy) phạm tội gì?” &#8211; “Phạm tội pācittiyavề vật thực đã được tích trữ.”[4] &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ nhất này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ nhất này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, quy định hai ngón tay là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, quy định hai ngón tay ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài, là ăn vật thực sái giờ khi bóng nắng mặt trời (chiếu ở trên đất) đã quá hai ngón tay, có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.” &#8211; “(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?” &#8211; “Ở thành Rājagaha, trong Suttavibhaṅga.” &#8211; “(Làm việc ấy) phạm tội gì?” &#8211; “Phạm tội pācittiya về vật thực sái giờ.”[5] &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ nhì này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ nhì này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">iii. &#8211; “Thưa ngài, quy định trong làng là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, quy định trong làng ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài, là vị đã ăn xong, đã ngăn vật thực (nghĩ rằng): ‘Bây giờ, ta sẽ đi vào trong làng’ rồi thọ dụng thức ăn không phải là còn thừa lại (từ bữa ăn), có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.” &#8211; “(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?” &#8211; “Ở Sāvatthi, trong Suttavibhaṅga.” &#8211; “(Làm việc ấy) phạm tội gì?” &#8211; “Phạm tội pācittiya về vật thực không phải là còn thừa.”[6] &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ ba này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ ba này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, quy định về chỗ trú ngụ là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, quy định về chỗ trú ngụ ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài là nhiều trú xứ có chung ranh giới thực hiện lễ Uposatha riêng biệt, có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.” &#8211; “(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?” &#8211; “Ở Rājagaha, trong phần liên quan đến lễ Uposatha.” &#8211; “(Làm việc ấy) phạm tội gì?” &#8211; “Phạm tội dukkaṭa về việc vượt quá Luật.” &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ tư này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ tư này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, quy định về sự thỏa thuận là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, quy định về sự thỏa thuận ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài là thực hiện hành sự với hội chúng không đủ số lượng (nghĩ rằng): ‘Chúng ta sẽ thuyết phục các tỳ khưu đi đến,’ có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.” &#8211; “(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?” &#8211; “Ở trong câu chuyện về Luật của các vị ở Campā.” &#8211; “(Làm việc ấy) phạm tội gì?” &#8211; “Phạm tội dukkaṭa về việc vượt quá Luật.” &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ năm này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ năm này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, quy định theo tập quán là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, quy định theo tập quán ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài là (vị nghĩ rằng): ‘Điều này đã được thực hành bởi thầy tế độ của ta, điều này đã được thực hành bởi thầy giáo thọ của ta’ rồi thực hành theo, có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, quy định theo tập quán có điều được phép, có điều không được phép.” &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ sáu này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ sáu này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">vii. &#8211; “Thưa ngài, quy định chưa được khuấy là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, quy định chưa được khuấy ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài, có loại sữa đã qua khỏi trạng thái sữa nhưng chưa đạt đến trạng thái sữa đông, vị đã ăn xong, đã ngăn vật thực, uống loại sữa ấy không phải là còn thừa lại (từ bữa ăn), có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.” &#8211; “(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?” &#8211; “Ở Sāvatthi, trong Suttavibhaṅga.” &#8211; “(Làm việc ấy) phạm tội gì?” &#8211; “Phạm tội pācittiya về vật thực không phải là còn thừa.”[7] &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ bảy này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ bảy này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">viii. &#8211; “Thưa ngài, quy định uống nước trái cây lên men là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, nước trái cây lên men ấy là gì?” &#8211; “Thưa ngài, là uống loại rượu vừa mới lên men nhưng chưa đạt đến trạng thái rượu mạnh, uống loại ấy có được phép không?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.” &#8211; “(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?” &#8211; “Ở Kosambi, trong Suttavibhaṅga.” &#8211; “(Làm việc ấy) phạm tội gì?” &#8211; “Phạm tội pācittiya về việc uống rượu và chất say.”[8] &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ tám này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ tám này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, quy định vật lót ngồi không có viền quanh là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.” &#8211; “(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?” &#8211; “Ở Sāvatthi, trong Suttavibhaṅga.” &#8211; “(Làm việc ấy) phạm tội gì?” &#8211; “Phạm tội pācittiya về vật cần được cắt bỏ.”[9] &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ chín này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ chín này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, vàng bạc là được phép?” &#8211; “Này sư đệ, không được phép.” &#8211; “(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?” &#8211; “Ở Rājagaha, trong Suttavibhaṅga.” &#8211; “(Làm việc ấy) phạm tội gì?” &#8211; “Phạm tội pācittiya về việc thọ nhận vàng bạc.”[10] &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ mười này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ mười này.”  </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, mười vấn đề này đã được hội chúng xác định. Như thế, mười sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư.” &#8211; “Này sư đệ, sự tranh tụng này đã được kết thúc, đã được yên lặng, đã được giải quyết, đã được giải quyết tốt đẹp. Này sư đệ, tuy nhiên sư đệ nên hỏi ta về mười sự việc này ở ngay giữa hội chúng để các tỳ khưu ấy cùng nhau hiểu rõ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Revata đã hỏi đại đức Sabbakāmi về mười sự việc ấy ở ngay giữa hội chúng. Mỗi khi được hỏi, đại đức Sabbakāmi đã trả lời. Trong cuộc kết tập về Luật này đã hiện diện bảy trăm vị tỳ khưu không thiếu không dư. Do đó, cuộc kết tập về Luật này được gọi là ‘Liên quan bảy trăm vị.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chương Liên Quan Bảy Trăm Vị</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong chương này có hai mươi lăm sự việc</b>.</span></p>
<p><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tóm lược chương này</span></strong></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mười sự việc, sau khi đổ đầy, hành sự, cùng với sứ giả, vị đã đi vào, bốn (vật làm ô nhiễm), còn nữa, và vàng, Kosambi, và vị ở Pāvā.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đường đi, Soreyya, Saṅkassa, Kaṇṇakujja, Udumbara, Aggaḷa, và Sahajāti, vị đã nghe, người nào mà chúng ta?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bình bát, bằng thuyền, đã đi ngược giòng, vị ở nơi thanh vắng, dâng đến, vị thầy, và hội chúng, thành Vesāli, tâm từ, hội chúng, các đại biểu.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành sự, và hình phạt parivāsa, tích lũy (tội), và luôn cả dàn xếp, các tiểu sự, và sàng tọa, chia rẽ (hội chúng), phận sự, (đình chỉ) lễ Uposatha, tỳ khưu ni, năm trăm, bảy trăm, là các chương ở Tiểu Phẩm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[<b>Mười hai chương đã được đề cập đến</b>]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>TIỂU PHẨM ĐƯỢC CHẤM DỨT</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Mười sự việc này có ý nghĩa như sau: Được phép cất giữ muối trong ống sừng, được phép ăn khi bóng mặt trời đã hai ngón tay, được phép đi vào làng rồi ăn thêm lần nữa, được phép hành lễ Uposathariêng rẽ, được phép hành sự không đủ tỳ khưu, được phép thực hành theo tập quán, được phép uống sữa chua lúc quá ngọ, được phép uống nước trái cây lên men, được phép sử dụng vật lót ngồi không có viền quanh, được phép tích trữ vàng bạc (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Điều học pācittiya 38. </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Điều học pācittiya 37.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Điều học pācittiya 35.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Điều học pācittiya 35.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Điều học pācittiya 51.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[9] Điều học pācittiya 89.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[10] Điều học nissaggiya pācittiya 18.</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG LIÊN QUAN NĂM TRĂM VỊ: PHẦN GIẢNG VỀ HÌNH PHẠT PHẠM THIÊN</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-xi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 01:36:47 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=11666</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II  Chương Liên Quan Năm Trăm Vị Phần giảng về hình phạt Phạm Thiên Sau đó, đại đức]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tiểu Phẩm II </span></strong></span></h2>
<h3><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"> Chương Liên Quan Năm Trăm Vị</span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;">Phần giảng về hình phạt Phạm Thiên </span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Ānanda đã nói với các vị tỳ khưu trưởng lão điều này: &#8211; “Thưa các ngài, vào thời điểm Vô Dư Niết Bàn đức Thế Tôn đã nói với tôi như vầy: ‘Này Ānanda, chính vì điều ấy khi ta không còn, hội chúng hãy áp đặt hình phạt Phạm Thiên[2] đối với tỳ khưu Channa.’” &#8211; “Này sư đệ Ānanda, vậy ngươi có hỏi đức Thế Tôn: ‘Bạch ngài, vậy hình phạt Phạm Thiên là như thế nào’ không?” &#8211; “Thưa các ngài, quả tôi đã hỏi đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, vậy hình phạt Phạm Thiên là như thế nào?’ ‘Này Ānanda, tỳ khưu Channa muốn điều gì thì có thể nói điều ấy, còn các tỳ khưu không được nói chuyện, không được nhắc nhở, không được chỉ dạy tỳ khưu Channa.’” &#8211; “Này sư đệ Ānanda, chính vì điều ấy chính sư đệ hãy áp đặt hình phạt Phạm Thiên đối với tỳ khưu Channa.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa các ngài, làm thế nào tôi áp đặt hình phạt Phạm Thiên đối với tỳ khưu Channa được? Vị tỳ khưu ấy dữ tợn và thô lỗ.” &#8211; “Này sư đệ Ānanda, chính vì điều ấy ngươi hãy đi cùng với nhiều vị tỳ khưu.” &#8211; “Thưa các ngài, xin vâng.” Rồi đại đức Ānanda ngheo theo các tỳ khưu trưởng lão đã cùng với đại chúng tỳ khưu có số lượng năm trăm vị tỳ khưu đáp thuyền ngược giòng nước đi Kosambi. Sau khi rời thuyền, đại đức Ānanda đã ngồi xuống ở gốc cây nọ không xa vườn thượng uyển của đức vua Udena.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, đức vua Udena đi dạo quanh tại công viên cùng với đám hầu thiếp. Đám hầu thiếp của đức vua Udena đã nghe rằng: “Nghe nói giáo thọ sư của chúng ta là ngài Ānanda đang ngồi ở gốc cây nọ không xa công viên lắm.” Khi ấy, đám hầu thiếp của đức vua Udena đã tâu với đức vua Udena điều này: &#8211; “Tâu chúa thượng, nghe nói giáo thọ sư của chúng tôi là ngài Ānanda đang ngồi ở gốc cây nọ không xa công viên lắm. Tâu chúa thượng, chúng tôi muốn viếng thăm ngài Ānanda.” ­- “Chính vì điều ấy, các khanh hãy thăm viếng Sa-môn Ānanda.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đám hầu thiếp của đức vua Udena đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Khi đám hầu thiếp ấy đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đám hầu thiếp của đức vua Udena bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đại đức Ānanda chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đám hầu thiếp của đức vua Udena đã dâng lên đại đức Ānanda năm trăm thượng y. Sau đó, khi đã được hài lòng và hoan hỷ với lời dạy của đại đức Ānanda, đám hầu thiếp của đức vua Udena đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đại đức Ānanda, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi trở về lại đức vua Udena.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức vua Udena đã nhìn thấy đám hầu thiếp đang đi lại từ đàng xa, sau khi nhìn thấy đã nói với đám hầu thiếp điều này: &#8211; “Thế các khanh có viếng thăm Sa-môn Ānanda không vậy?” &#8211; “Tâu chúa thượng, chúng tôi đã viếng thăm ngài Ānanda.” &#8211; “Thế các khanh đã dâng vật gì cho Sa-môn Ānanda vậy?” &#8211; “Tâu chúa thượng, chúng tôi đã dâng cho ngài Ānanda năm trăm thượng y.” Đức vua Udena phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao Sa-môn Ānanda lại thọ lãnh quá nhiều y như vậy? Không lẽ Sa-môn Ānanda sẽ làm nhà buôn vải hay bày ra gian hàng tơ lụa?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức vua Udena đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã bày tỏ sự thân thiện với đại đức Ānanda, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện đã ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Udena đã nói với đại đức Ānanda điều này: &#8211; “Thưa ngài Ānanda, có phải đám hầu thiếp của chúng tôi đã đến đây?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Tâu đại vương, đám hầu thiếp của ngài đã đến đây.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Vậy chớ họ đã dâng vật gì đến ngài Ānanda?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Tâu đại vương, họ đã dâng đến tôi năm trăm thượng y.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Vậy chớ ngài Ānanda sẽ làm gì với nhiều y đến thế?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Tâu đại vương, các vị tỳ khưu nào có y bị tàn tạ tôi sẽ chia sẻ với các vị ấy.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài Ānanda, vậy các vị sẽ làm gì với những y cũ và tàn tạ?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Tâu đại vương, chúng tôi sẽ dùng chúng làm khăn trải.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài Ānanda, vậy các vị sẽ làm gì với những khăn trải bị cũ đi?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Tâu đại vương, chúng tôi sẽ dùng chúng làm vải bọc nệm.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài Ānanda, vậy các vị sẽ làm gì với những vải bọc nệm bị cũ đi?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Tâu đại vương, chúng tôi sẽ dùng chúng làm thảm lót sàn.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài Ānanda, vậy các vị sẽ làm gì với những thảm lót sàn bị cũ đi?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Tâu đại vương, chúng tôi sẽ dùng chúng làm giẻ chùi chân.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài Ānanda, vậy các vị sẽ làm gì với những giẻ chùi chân bị cũ đi?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Tâu đại vương, chúng tôi sẽ dùng chúng làm giẻ lau bụi.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài Ānanda, vậy các vị sẽ làm gì với những giẻ lau bụi bị cũ đi?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Tâu đại vương, chúng tôi sẽ nghiền nhỏ chúng ra trộn với bùn đất rồi trét làm bục nền xung quanh.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy đức vua Udena (khởi ý rằng): ‘Chính tất cả các Sa-môn Thích tử này xử sự hợp lý, không phung phí kiểu trưởng giả’ rồi đã dâng lên đại đức Ānanda năm trăm xấp vải khác nữa. Như vậy, đây là lần đầu tiên vật thí về y đã phát sanh đến đại đức Ānanda một ngàn y.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến tu viện Ghosita, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, đại đức Channa đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Khi đại đức Channa đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã nói với đại đức Channa điều này: &#8211; “Này sư đệ Channa, hội chúng đã áp đặt hình phạt Phạm Thiên đối với sư đệ.” &#8211; “Thưa sư huynh Ānanda, vậy hình phạt Phạm Thiên là như thế nào?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này sư đệ Channa, điều gì sư đệ muốn với các tỳ khưu thì sư đệ có thể nói điều ấy. Còn các tỳ khưu chẳng những không được nói chuyện, còn không được nhắc nhở, không được giảng dạy sư đệ.” &#8211; “Thưa sư huynh Ānanda, như vậy không phải sư đệ đã bị giết chết hay sao, bởi vì các tỳ khưu chẳng những không được nói chuyện, còn không được nhắc nhở, không được giảng dạy sư đệ nữa?” rồi bị ngất xỉu ngã xuống ngay tại chỗ ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, trong khi bị dằn vặt bởi hình phạt Phạm Thiên, trong khi bị khổ sở, trong khi bị hổ thẹn, trong khi chán ghét, đại đức Channa một mình đã tách riêng, rồi trong khi sống không bị xao lãng, có sự nỗ lực, có sự quyết tâm nên chẳng bao lâu sau, ngay trong kiếp hiện tại này, nhờ vào thắng trí của mình đã chứng ngộ, đã đạt đến, và an trú vào mục đích tối thượng ấy của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà xuất gia một cách chân chánh sống không nhà. Vị ấy đã biết rõ rằng: “Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa.” Và thêm một vị nữa là đại đức Channa đã trở thành vị A-la-hán.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã chứng đạt phẩm vị A-la-hán đại đức Channa đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã nói với đại đức Ānanda điều này: &#8211; “Thưa sư huynh Ānanda, hôm nay xin hãy thu hồi hình phạt Phạm Thiên cho đệ.” &#8211; “Này sư đệ Channa, kể từ khi sư đệ chứng ngộ phẩm vị A-la-hán, kể từ thời điểm ấy hình phạt Phạm Thiên của sư đệ đã được thu hồi.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong cuộc kết tập về Luật này đã hiện diện năm trăm vị tỳ khưu, không thiếu không dư. Do đó, cuộc kết tập về Luật này được gọi là “Liên quan năm trăm vị.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chương Liên Quan Năm Trăm Vị là thứ mười một</b>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong chương này gồm có hai mươi ba sự kiện</b>.</span></p>
<h3 style="text-align: left;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tóm lược chương này</span></strong></h3>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi đấng Toàn Giác đã Vô Dư Niết Bàn, vị trưởng lão tên Kassapa, người bảo vệ chánh Pháp, đã bảo với nhóm tỳ khưu rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong cuộc hành trình đường xa từ Pāvā, có điều đã được phát biểu bởi Subhadda. Chúng ta hãy trùng tụng Chánh Pháp trước khi phi Pháp phát triển.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm trăm còn thiếu một, và vị ấy đã chọn cả Ānanda, cuộc kết tập về Pháp và Luật, trong khi cư trú ở hang động tối thượng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị ấy đã hỏi Upāli về Luật, (đã hỏi) bậc trí Ānanda về Kinh. Các vị đệ tử của đấng Chiến Thắng đã thực hiện việc kết tập Tam Tạng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng, nhiều loại, sự thực hành theo như sự quy định, vị đã không hỏi, và đã đạp lên, đã cho đảnh lễ, và đã không cầu khẩn, việc xuất gia cho người nữ, các tội dukkaṭa của tôi là vì niềm tin.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị Purāṇa, và hình phạt Phạm Thiên, các hầu thiếp cùng với đức vua Udena, như vậy quá nhiều, và bị tàn tạ, các khăn trải, và vải bọc nệm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các thảm lót sàn, các giẻ chùi chân, lau bụi, trộn với bùn đất, vị đã phát sanh một ngàn y lần đầu có tên gọi là Ānanda.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bị sợ hãi bởi hình phạt Phạm Thiên, vị đã đạt được bốn Chân Lý, các vị có năng lực là năm trăm, vì thế gọi là “Năm Trăm Vị.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Brahmadaṇḍa (hình phạt Phạm Thiên): từ này đã được dịch âm là Phạm Đàn (ND).</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p></blockquote>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG LIÊN QUAN NĂM TRĂM VỊ: PHẦN GIẢNG VỀ CÁC ĐIỀU HỌC NHỎ NHẶT VÀ ÍT QUAN TRỌNG</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-lien-quan-nam-tram-vi-phan-giang-ve-cac-dieu-hoc-nho-nhat-va-it-quan-trong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 01:33:44 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=59747</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II Chương Liên Quan Năm Trăm Vị Phần giảng về các điều học nhỏ nhặt và ít quan]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tiểu Phẩm II</strong></span></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong> Chương Liên Quan Năm Trăm Vị</strong></span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Phần giảng về các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng </strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Ānanda đã nói với các tỳ khưu trưởng lão điều này: &#8211; “Thưa các ngài, vào thời điểm Vô Dư Niết Bàn đức Thế Tôn đã nói với tôi như vầy: ‘Này Ānanda, khi ta không còn, hội chúng nếu muốn có thể bỏ đi các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.’” &#8211; “Này sư đệ Ānanda, vậy ngươi có hỏi đức Thế Tôn: ‘Bạch ngài, vậy các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng là các điều nào?’ không?” &#8211; “Thưa các ngài, tôi đã không hỏi đức Thế Tôn: ‘Bạch ngài, vậy các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng là các điều nào?’”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một số trưởng lão đã nói như vầy: &#8211; “Giữ lại bốn điều pārājika, các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.” Một số trưởng lão đã nói như vầy: &#8211; “Giữ lại bốn điều pārājika, giữ lại mười ba điều saṅghādisesa, các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.” Một số trưởng lão đã nói như vầy: &#8211; “Giữ lại bốn điều pārājika, giữ lại mười ba điều saṅghādisesa, giữ lại hai điều aniyata, các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.” Một số trưởng lão đã nói như vầy: &#8211; “Giữ lại bốn điều pārājika, giữ lại mười ba điều saṅghādisesa, giữ lại hai điều aniyata, giữ lại ba mươi điều nissaggiya pācittiya, các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.” Một số trưởng lão đã nói như vầy: &#8211; “Giữ lại bốn điều pārājika, giữ lại mười ba điều saṅghādisesa, giữ lại hai điều aniyata, giữ lại ba mươi điều nissaggiya pācittiya, giữ lại chín mươi hai điều pācittiya, các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.” Một số trưởng lão đã nói như vầy: &#8211; “Giữ lại bốn điều pārājika, giữ lại mười ba điều saṅghādisesa, giữ lại hai điều aniyata, giữ lại ba mươi điều nissaggiya pācittiya, giữ lại chín mươi hai điều pācittiya, giữ lại bốn điều pāṭidesanīya, các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã thông báo đến hội chúng rằng: &#8211; “Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Có các điều học của chúng ta có liên quan đến hàng tại gia và hàng tại gia cũng biết rằng: ‘Điều này là được phép đối với các Sa-môn Thích tử, điều này là không được phép.’ Nếu chúng ta bỏ đi các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng, sẽ có những người nói rằng: ‘Các điều học đã được Sa-môn Gotama quy định cho các đệ tử đến lúc người được hỏa táng. Khi nào bậc Đạo Sư của họ còn tồn tại khi ấy họ còn học tập các điều học. Bởi vì bậc Đạo Sư của họ đã Vô Dư Niết Bàn nên giờ đây họ không còn học tập các điều học nữa.’ Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng không nên quy định thêm điều chưa được quy định, không nên bỏ đi điều đã được quy định, nên thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định. Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Có các điều học của chúng ta có liên quan đến hàng tại gia và hàng tại gia cũng biết rằng: ‘Điều này là được phép đối với các Sa-môn Thích tử, điều này là không được phép.’ Nếu chúng ta bỏ đi các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng, sẽ có những người nói rằng: ‘Các điều học đã được Sa-môn Gotama quy định cho các đệ tử đến lúc người được hỏa táng. Khi nào bậc Đạo Sư của họ còn tồn tại khi ấy họ còn học tập các điều học. Bởi vì bậc Đạo Sư của họ đã Vô Dư Niết Bàn nên giờ đây họ không còn học tập các điều học nữa.’ Hội chúng không quy định thêm điều chưa được quy định, không bỏ đi điều đã được quy định, thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định. Đại đức nào đồng ý việc không quy định thêm điều chưa được quy định, không bỏ đi điều đã được quy định, thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hội chúng không quy định thêm điều chưa được quy định, không bỏ đi điều đã được quy định, thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu trưởng lão đã nói với đại đức Ānanda điều này: &#8211; “Này sư đệ Ānanda, đây là tội dukkaṭa cho ngươi về việc ngươi đã không hỏi đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, vậy các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng là các điều nào?’ Ngươi hãy trình báo tộidukkaṭa ấy.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa các ngài, vì không lưu ý nên tôi đã không hỏi đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, vậy các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng là các điều nào?’ Tôi không nhìn thấy tội dukkaṭa ấy, nhưng vì niềm tin đối với các đại đức tôi xin trình báo tội dukkaṭa ấy.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này sư đệ Ānanda, đây cũng là tội dukkaṭa cho ngươi về việc ngươi đạp lên y tắm mưa của đức Thế Tôn rồi may. Ngươi hãy trình báo tội dukkaṭa ấy.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa các ngài, không phải vì không kính trọng mà tôi đã đạp lên y tắm mưa của đức Thế Tôn rồi may. Tôi không nhìn thấy tội dukkaṭa ấy, nhưng vì niềm tin đối với các đại đức tôi xin trình báo tội dukkaṭa ấy.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này sư đệ Ānanda, đây cũng là tội dukkaṭa cho ngươi về việc ngươi cho phép phụ nữ đảnh lễ nhục thân của đức Thế Tôn trước tiên; trong khi họ khóc lóc nhục thân của đức Thế Tôn đã bị lấm lem bởi nước mắt. Ngươi hãy trình báo tội dukkaṭa ấy.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa các ngài, (nghĩ rằng): ‘Những người nữ này không nên ở lại vào ban đêm,’ nên tôi đã cho phép phụ nữ đảnh lễ nhục thân của đức Thế Tôn trước tiên. Tôi không nhìn thấy tộidukkaṭa ấy, nhưng vì niềm tin đối với các đại đức tôi xin trình báo tội dukkaṭa ấy.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này sư đệ Ānanda, đây cũng là tội dukkaṭa cho ngươi về việc trong khi được ra dấu hiệu rõ ràng, trong khi được làm biểu hiện rõ rệt bởi đức Thế Tôn, ngươi đã không cầu khẩn đức Thế Tôn rằng: ‘Xin đức Thế Tôn hãy tồn tại trọn kiếp, xin đấng Thiện Thệ hãy tồn tại trọn kiếp vì sự lợi ích cho nhiều người, vì sự an lạc cho nhiều người, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tấn hoá, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của chư Thiên và nhân loại.’ Ngươi hãy trình báo tội dukkaṭa ấy.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa các ngài, vì tâm đã bị Ma Vương ám ảnh nên tôi đã không cầu khẩn đức Thế Tôn rằng: ‘Xin đức Thế Tôn hãy tồn tại trọn kiếp, xin đấng Thiện Thệ Tôn hãy tồn tại trọn kiếp vì sự lợi ích cho nhiều người, vì sự an lạc cho nhiều người, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tấn hoá, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của chư Thiên và nhân loại.’ Tôi không nhìn thấy tội dukkaṭa ấy, nhưng vì niềm tin đối với các đại đức tôi xin trình báo tội dukkaṭa ấy.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này sư đệ Ānanda, đây cũng là tội dukkaṭa cho ngươi về việc ngươi đã nỗ lực cho sự xuất gia của phụ nữ trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố. Ngươi hãy trình báo tội dukkaṭa ấy.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa các ngài, (nghĩ rằng): ‘Bà Mahāpajāpatī Gotamī này là dì ruột của đức Thế Tôn, là người chăm sóc, là người nuôi dưỡng, là người cho sữa, khi người mẹ ruột qua đời bà đã cho đức Thế Tôn bú sữa’ nên tôi đã nỗ lực cho sự xuất gia của phụ nữ trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố. Tôi không nhìn thấy tội dukkaṭa ấy, nhưng vì niềm tin đối với các đại đức tôi xin trình báo tội dukkaṭa ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, đại đức Purāṇa đi du hành ở Dakkhiṇāgiri[1] cùng với đại chúng tỳ khưu có số lượng năm trăm vị tỳ khưu. Khi ấy, trong lúc Pháp và Luật đang được trùng tụng bởi các tỳ khưu trưởng lão, đại đức Purāṇa sau khi trú ở Dakkhiṇāgiri theo như ý thích đã đi đến thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc, chỗ các tỳ khưu trưởng lão, sau khi đến đã thân thiện chào hỏi các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống một bên. Khi đại đức Purāṇa đã ngồi xuống một bên, các tỳ khưu trưởng lão đã nói với đại đức Purāṇa điều này: &#8211; “Này đại đức Purāṇa, Pháp và Luật đã được trùng tụng bởi các vị trưởng lão. Ngươi hãy hành theo sự trùng tụng ấy.” &#8211; “Này các đại đức, Pháp và Luật đã được các vị trưởng lão trùng tụng một cách tốt đẹp. Tuy nhiên, tôi chỉ ghi nhận chính những gì tôi đã được nghe từ miệng và đã được thọ lãnh từ miệng của đức Thế Tôn thôi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Dakkhiṇāgiri là tên của ngọn núi ở phía nam thành Rājagaha và cũng có nghĩa Việt là ‘ngọn núi ở phía nam’ (ND).</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG LIÊN QUAN NĂM TRĂM VỊ: DUYÊN KHỞI CỦA VIỆC KẾT TẬP</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-lien-quan-nam-tram-vi-duyen-khoi-cua-viec-ket-tap/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 01:30:35 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=59744</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II Chương Liên Quan Năm Trăm Vị Duyên khởi của việc kết tập Khi ấy, đại đức Mahākassapa]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tiểu Phẩm II</span></strong></span></h2>
<h3><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Chương Liên Quan Năm Trăm Vị</span></strong></h3>
<h4><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Duyên khởi của việc kết tập</span></strong></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các sư đệ, vào lúc ấy ta đang thực hiện cuộc hành trình đường xa từ Pāvā đi Kusinārā cùng với đại chúng tỳ khưu có số lượng năm trăm vị tỳ khưu. Này các sư đệ, khi ấy ta đã rời đường lộ rồi ngồi xuống ở gốc cây nọ. Vào lúc bấy giờ, có đạo sĩ lõa thể nọ sau khi nhận được bông hoa Mandārava ở Kusinārā đang thực hiện cuộc hành trình đường xa đi Pāvā. Này các sư đệ, ta đã nhìn thấy vị đạo sĩ lõa thể ấy đang đi lại từ đàng xa, sau khi nhìn thấy ta đã nói với vị đạo sĩ lõa thể ấy điều này: ‘Này đạo hữu, đạo hữu có biết bậc Đạo Sư của chúng tôi không?’ ‘Ồ đạo hữu, đúng vậy, tôi có biết. Hôm nay Sa-môn Gotama đã Vô Dư Niết Bàn được bảy ngày rồi. Do đó, tôi mới có được bông hoa Mandārava này.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các sư đệ, tại nơi ấy những tỳ khưu nào chưa đoạn tận ái dục, một số các vị đưa tay lên khóc than. Như thân cây bị đốn gãy, các vị ngã xuống lăn qua lăn lại (than rằng): “Đức Thế Tôn Vô Dư Niết Bàn quá sớm, đấng Thiện Thệ Vô Dư Niết Bàn quá sớm, bậc Hữu Nhãn biến mất ở thế gian quá sớm.” Còn những tỳ khưu nào có ái dục đã được đoạn tận, các vị ấy có niệm, có sự tỉnh giác thời chấp nhận: “Các Pháp hữu vi là vô thường, bởi vì điều ấy có thể xảy ra ở đây.” Này các sư đệ, khi ấy ta đã nói với các tỳ khưu điều này: “Này các sư đệ, thôi đi! Chớ có buồn rầu, chớ có than vãn nữa. Này các sư đệ, không phải điều ấy đã được đức Thế Tôn khuyến cáo là ngay với tất cả các vật thân yêu vừa ý đều có bản chất đa dạng, có bản chất không thật, có bản chất thay đổi? Này các sư đệ, bởi vì điều ấy có thể xảy ra ở đây, nghĩa là vật gì được sanh lên, tồn tại, rồi bị biến đổi thuận theo pháp thế gian, (nếu nghĩ rằng): ‘Mong sao vật ấy chớ có bị hư hoại,’ sự kiện này không thể có được!”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các sư đệ, vào lúc bấy giờ có vị xuất gia lúc đã già tên Subhadda đang ngồi trong tập thể ấy. Này các sư đệ, khi ấy vị xuất gia lúc đã già Subhadda đã nói với các tỳ khưu ấy điều này: “Này các vị, thôi đi! Chớ có buồn rầu, chớ có than vãn nữa. Chúng ta được hoàn toàn thoát khỏi vị đại Sa-môn ấy rồi. Và chúng ta đã bị làm khó khăn rằng: ‘Điều này được phép cho các ngươi, điều này không được phép cho các ngươi.’ Giờ đây, điều gì chúng ta thích chúng ta sẽ làm điều ấy, điều gì chúng ta không thích chúng ta sẽ không làm điều ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các sư đệ, vậy chúng ta hãy trùng tụng Pháp và Luật trước khi điều phi Pháp phát triển và Pháp bị bỏ quên, trước khi điều phi Luật phát triển và Luật bị bỏ quên, trước khi những kẻ nói về phi Pháp trở nên mạnh và những người nói về Pháp yếu đi, trước khi những kẻ nói về phi Luật trở nên mạnh và những người nói về Luật yếu đi.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa ngài, chính vì điều ấy xin vị trưởng lão hãy tuyển chọn các tỳ khưu.” Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã tuyển chọn bốn trăm chín mươi chín vị A-la-hán. Các vị tỳ khưu đã nói với đại đức Mahākassapa điều này: &#8211; “Thưa ngài, vị đại đức Ānanda này tuy còn là bậc Hữu Học nhưng không thể nào bị chi phối bởi tham, bởi sân, bởi si mê, bởi sợ hãi. Và vị này thuộc lòng nhiều Pháp và Luật từ đức Thế Tôn. Thưa ngài, chính vì điều ấy xin vị trưởng lão hãy tuyển chọn luôn cả đại đức Ānanda.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã tuyển chọn luôn cả đại đức Ānanda. Sau đó, các vị tỳ khưu trưởng lão đã khởi ý điều này: &#8211; “Vậy chúng ta có thể trùng tụng Pháp và Luật ở nơi nào?” Khi ấy, các vị tỳ khưu trưởng lão đã khởi ý điều này: “Thành Rājagaha quả là có khu vực khất thực rộng lớn, có nhiều chỗ trú ngụ; hay là chúng ta nên trùng tụng Pháp và Luật trong khi an cư mùa mưa ở thành Rājagaha, các tỳ khưu khác không được đi đến an cư mùa mưa ở thành Rājagaha?” Sau đó, đại đức Mahākassapa đã thông báo đến hội chúng rằng: &#8211; “Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định năm trăm vị tỳ khưu này để trùng tụng Pháp và Luật trong khi an cư mùa mưa ở thành Rājagaha, ‘các tỳ khưu khác không được an cư mùa mưa ở thành Rājagaha.’ Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định năm trăm vị tỳ khưu này để trùng tụng Pháp và Luật trong khi an cư mùa mưa ở thành Rājagaha, ‘các tỳ khưu khác không được an cư mùa mưa ở thành Rājagaha.’ Vị nào đồng ý việc chỉ định năm trăm vị tỳ khưu này để trùng tụng Pháp và Luật trong khi an cư mùa mưa ở thành Rājagaha, ‘các tỳ khưu khác không được an cư mùa mưa ở thành Rājagaha’ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm trăm vị tỳ khưu này đã được hội chúng chỉ định để trùng tụng Pháp và Luật trong khi an cư mùa mưa ở thành Rājagaha, ‘các tỳ khưu khác không được an cư mùa mưa ở thành Rājagaha.’ Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các tỳ khưu trưởng lão đã đi đến thành Rājagaha để trùng tụng Pháp và Luật. Khi ấy, các tỳ khưu trưởng lão đã bàn bạc điều này: &#8211; “Này các đại đức, việc sửa chữa chỗ bị hư hỏng đã được đức Thế Tôn khen ngợi. Này các đại đức, vậy vào tháng thứ nhất chúng ta hãy sửa chữa những nơi bị hư hỏng; vào tháng giữa, chúng ta sẽ tụ họp lại rồi trùng tụng Pháp và Luật.” Sau đó vào tháng thứ nhất, các tỳ khưu trưởng lão đã sửa chữa chỗ bị hư hỏng. Khi ấy, đại đức Ānanda (nghĩ rằng): “Ngày mai là đại hội, việc ta sẽ đi đến đại hội khi còn là bậc Hữu Học thật là không thích đáng cho ta!” rồi đã trải qua gần trọn đêm với niệm trú ở thân, và trong đêm vào lúc hừng sáng (mới khởi ý rằng): “Ta sẽ nằm xuống” rồi nghiêng thân hình. Và vào lúc đầu chưa chạm gối, hai chân vừa mới giở lên khỏi mặt đất, và trong khoảng thời gian ấy tâm đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ. Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến đại hội, trong khi (đã) là vị A-la-hán.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã thông báo đến hội chúng rằng: &#8211; “Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ hỏi đại đức Upāli về Luật.” Đại đức Upāli cũng đã thông báo đến hội chúng rằng: &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, khi được đại đức Mahākassapa hỏi về Luật tôi sẽ trả lời.” Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Upāli điều này: &#8211; “Này sư đệ Upāli, điều <i>pārājika</i> thứ nhất đã được quy định ở đâu?” &#8211; “Thưa ngài, ở Vesāli.” &#8211; “Liên quan đến ai?” &#8211; “Liên quan đến Sudinna con trai của Kalanda.” &#8211; “Về sự việc gì?” &#8211; “Về việc (thực hiện việc) đôi lứa.” Rồi đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Upāli về câu chuyện, đã hỏi về nguyên do, đã hỏi về nhân sự, đã hỏi về sự quy định, đã hỏi về sự quy định thêm, đã hỏi về sự phạm tội, và đã hỏi về sự không phạm tội của điều <i>pārājika</i> thứ nhất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này sư đệ Upāli, điều <i>pārājika</i> thứ nhì đã được quy định ở đâu?” &#8211; “Thưa ngài, ở Rājagaha.” &#8211; “Liên quan đến ai?” &#8211; “Liên quan đến Dhaniya con trai người thợ đồ gốm.” &#8211; “Về sự việc gì?” &#8211; “Về việc lấy vật không được cho.” Rồi đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Upāli về câu chuyện, đã hỏi về nguyên do, đã hỏi về nhân sự, đã hỏi về sự quy định, đã hỏi về sự quy định thêm, đã hỏi về sự phạm tội, và đã hỏi về sự không phạm tội của điều<i>pārājika</i> thứ nhì.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này sư đệ Upāli, điều <i>pārājika</i> thứ ba đã được quy định ở đâu?” &#8211; “Thưa ngài, ở Vesāli.” &#8211; “Liên quan đến ai?” &#8211; “Liên quan đến nhiều vị tỳ khưu.” &#8211; “Về sự việc gì?” &#8211; “Về việc tước đoạt mạng người.” Rồi đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Upāli về câu chuyện, đã hỏi về nguyên do, đã hỏi về nhân sự, đã hỏi về sự quy định, đã hỏi về sự quy định thêm, đã hỏi về sự phạm tội, và đã hỏi về sự không phạm tội của điều <i>pārājika</i> thứ ba.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này sư đệ Upāli, điều <i>pārājika</i> thứ tư đã được quy định ở đâu?” &#8211; “Thưa ngài, ở Vesāli.” &#8211; “Liên quan đến ai?” &#8211; “Liên quan đến các tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā.” &#8211; “Về sự việc gì?” &#8211; “Về pháp thượng nhân.” Rồi đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Upāli về câu chuyện, đã hỏi về nguyên do, đã hỏi về nhân sự, đã hỏi về sự quy định, đã hỏi về sự quy định thêm, đã hỏi về sự phạm tội, và đã hỏi về sự không phạm tội của điều <i>pārājika</i> thứ tư. Bằng chính phương thức ấy, (đại đức Mahākassapa) đã hỏi về phần Luật Phân Tích của cả hai phái (tỳ khưu và tỳ khưu ni). Mỗi khi được hỏi, đại đức Upāli đã trả lời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Mahākassapa đã thông báo đến hội chúng rằng: &#8211; “Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ hỏi Ānanda về Pháp.” Khi ấy, đại đức Ānanda đã thông báo đến hội chúng rằng: &#8211; “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, khi được đại đức Mahākassapa hỏi về Pháp tôi sẽ trả lời.” Rồi đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Ānanda điều này: &#8211; “Này sư đệ Ānanda, kinh <i>Brahmajāla</i> (Phạm Võng) đã được thuyết ở đâu?” &#8211; “Thưa ngài, ở nhà nghỉ của vua tại Ambalaṭṭhikā, ở khoảng giữa Rājagaha và Nālanda.” &#8211; “Liên quan đến ai?” &#8211; “Đến du sĩ ngoại đạo Suppiya và thanh niên Brahmadatta.” Rồi đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Ānanda về duyên khởi, đã hỏi về nhân sự của kinh Brahmajāla.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này sư đệ Ānanda, kinh <i>Sāmaññaphala</i> (Sa-môn Quả) đã được thuyết ở đâu?” &#8211; “Thưa ngài, ở Rājagaha nơi vườn xoài của Jīvaka.” &#8211; “Với ai?” &#8211; “Với Ajātasattu con trai của Videhi.” Rồi đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Ānanda về duyên khởi, đã hỏi về nhân sự của kinh <i>Sāmaññaphala</i>. Bằng chính phương thức ấy, (đại đức Mahākassapa) đã hỏi về năm bộ Kinh. Mỗi khi được hỏi, đại đức Ānanda đã trả lời.</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG TỲ KHƯU NI: TỤNG PHẨM THỨ BA</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-x/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 01:16:06 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=11664</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II Chương Tỳ Khưu Ni Tụng Phẩm Thứ Ba Vào lúc bấy giờ, các người nữ đã tu]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;"><strong>Tiểu Phẩm II</strong></span></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Chương Tỳ Khưu Ni</strong></span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Tụng Phẩm Thứ Ba</strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các người nữ đã tu lên bậc trên được thấy là: không có hiện tướng (người nữ), khiếm khuyết hiện tướng (người nữ), không có kinh nguyệt, bị băng huyết, thường xuyên mang vải lót, bị rong kinh, bị dị căn, người nữ vô căn, bị lại đực, tiêu tiểu chung một khiếu, người nữ lưỡng căn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đang cho tu lên bậc trên được hỏi về hai mươi bốn pháp chướng ngại. Và này các tỳ khưu, nên hỏi như vầy: ‘Cô không phải là người không có hiện tướng (người nữ)? Cô không phải là người khiếm khuyết hiện tướng (người nữ)? Cô không phải là người không có kinh nguyệt? Cô không phải là người bị băng huyết? Cô không phải là người thường xuyên mang vải lót? Cô không phải là người bị rong kinh? Cô không phải là người bị dị căn? Cô không phải là người nữ vô căn? Cô không phải là người bị lại đực? Cô không phải là người tiêu tiểu chung một khiếu? Cô không phải là người nữ lưỡng căn? Cô có các bệnh như thế này không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Cô là loài người? Cô là người nữ? Cô là người được tự do (không phải nô lệ)? Cô không bị thiếu nợ? Cô không phải là lính của vua? Cô đã được cho phép bởi cha mẹ, bởi người chồng? Cô đã tròn hai mươi tuổi? Cô có đầy đủ y bát không? Cô tên gì? Ni sư tế độ tên gì?’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu hỏi các pháp chướng ngại của các tỳ khưu ni. Các cô có ý muốn tu lên bậc trên bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép sự tu lên bậc trên ở hội chúng tỳ khưu đến người nữ đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, (và) được trong sạch.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni hỏi các pháp chướng ngại đến các cô có ý muốn tu lên bậc trên chưa được giảng dạy trước. Các cô có ý muốn tu lên bậc trên bị bối rối, trở nên mắc cở, không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép giảng dạy trước rồi hỏi các pháp chướng ngại sau.” Các vị giảng dạy ngay tại chổ ấy, ở giữa hội chúng. Như thế ấy, các cô có ý muốn tu lên bậc trên bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép giảng dạy ở một góc rồi hỏi các pháp chướng ngại ở giữa hội chúng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, nên giảng dạy như vầy: Trước tiên, nên bảo chọn vị thầy tế độ. Sau khi đã bảo chọn vị thầy tế độ rồi nên chỉ dẫn về y bát: ‘Đây là bình bát của cô, đây là y hai lớp, đây là thượng y, đây là y nội, đây là áo lót, đây là vải choàng tắm. Hãy đi đến đứng ở chỗ trống đàng kia.’ Các vị ni ngu dốt, thiếu kinh nghiệm giảng dạy. Được giảng dạy tồi, các cô có ý muốn tu lên bậc trên bị bối rối, trở nên mắc cở, không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, vị ni ngu dốt thiếu kinh nghiệm không nên giảng dạy; vị ni nào giảng dạy thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực được giảng dạy.” Các vị ni chưa được chỉ định vẫn giảng dạy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, vị ni chưa được chỉ định không nên giảng dạy; vị ni nào giảng dạy thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép giảng dạy đối với vị ni đã được chỉ định.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Tự mình chỉ định cho chính mình, hoặc người khác chỉ định cho người khác. Và thế nào là tự mình chỉ định cho chính mình? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ giảng dạy cho cô ni tên (như vầy).’ Như vậy là tự mình chỉ định cho chính mình. Và thế nào là người khác chỉ định cho người khác? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, vị ni tên (như vầy) sẽ giảng dạy cho cô ni tên (như vầy).’ Như vậy là người khác chỉ định cho người khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu ni đã được chỉ định ấy nên đi đến gần cô có ý muốn tu lên bậc trên và nên nói như vầy: &#8211; ‘Này cô tên (như vầy), hãy lắng nghe. Đối với cô, bây giờ là thời điểm của sự thật, là thời điểm của bản chất. Trong khi được hỏi ở giữa hội chúng, điều gì được đề cập đến, nếu điều ấy là đúng thì nên nói: ‘Đúng;’ nếu không đúng, nên nói: ‘Không đúng.’ Chớ nên bối rối, chớ nên mắc cở. Các vị sẽ hỏi cô như vầy: ‘Cô không phải là người không có hiện tướng (người nữ)? Cô không phải là người khiếm khuyết hiện tướng (người nữ)? Cô không phải là người không có kinh nguyệt? Cô không phải là người bị băng huyết? Cô không phải là người thường xuyên mang vải lót? Cô không phải là người bị rong kinh? Cô không phải là người bị dị căn? Cô không phải là người nữ vô căn? Cô không phải là người bị lại đực? Cô không phải là người tiêu tiểu chung một khiếu? Cô không phải là người nữ lưỡng căn? Cô có bị các bệnh như thế này hay không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Cô là loài người? Cô là người nữ? Cô là người được tự do (không phải nô lệ)? Cô không bị thiếu nợ? Cô không phải là lính của vua? Cô đã được cho phép bởi cha mẹ, bởi người chồng? Cô đã tròn hai mươi tuổi? Cô có đầy đủ y bát không? Cô tên gì? Ni sư tế độ tên gì?’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Họ đi đến chung (cùng một lúc). &#8211; “Không nên đi đến chung (cùng một lúc). Vị ni giảng dạy nên đi đến trước và thông báo cho hội chúng: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Tôi đã giảng dạy cho cô ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, cô tên (như vầy) có thể đi đến.’ Và nên nói rằng: ‘Cô hãy đi đến.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên bảo (cô ấy) đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các tỳ khưu ni, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và bảo thỉnh cầu sự tu lên bậc trên: ‘Bạch chư đại đức ni, tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch chư đại đức ni, lần thứ nhì tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch chư đại đức ni, lần thứ ba tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hội chúng nên được thông báo bởi vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ hỏi cô ni tên (như vầy) về các pháp chướng ngại. Này cô tên (như vầy), hãy lắng nghe. Đối với cô, bây giờ là thời điểm của sự thật, là thời điểm của bản chất. Trong khi được hỏi ở giữa hội chúng, điều gì được đề cập đến, nếu điều ấy là đúng thì nên nói: Đúng; nếu không đúng, nên nói: Không đúng. Cô không phải là người không có hiện tướng (người nữ)? Cô không phải là người khiếm khuyết hiện tướng (người nữ)? ―(như trên)― Cô tên gì? Ni sư tế độ tên gì?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hội chúng nên được thông báo bởi vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy) là người trong sạch về các pháp chướng ngại. Cô này có đầy đủ y bát. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy) là người trong sạch về các pháp chướng ngại. Cô này có đầy đủ y bát. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Hội chúng cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đại đức ni nào đồng ý sự tu lên bậc trên của cô ni tên (như vầy) với đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ xin im lặng; vị ni nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. ―(như trên)― Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy) là người trong sạch về các pháp chướng ngại. Cô này có đầy đủ y bát. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Hội chúng cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đại đức ni nào đồng ý sự tu lên bậc trên của cô ni tên (như vầy) với đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ xin im lặng; vị ni nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cô ni tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ngay sau khi hoàn tất việc ấy, nên đưa (cô ni ấy) đi đến hội chúng tỳ khưu, nên bảo (cô ấy) đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các tỳ khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và bảo thỉnh cầu sự tu lên bậc trên: ‘Bạch chư đại đức, tôi tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Tôi đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Bạch chư đại đức, tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch chư đại đức, tôi tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Tôi đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Bạch chư đại đức, lần thứ nhì tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch chư đại đức, tôi tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Tôi đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Bạch chư đại đức, lần thứ ba tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy). Cô này đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy). Cô này đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Hội chúng cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của cô ni tên (như vầy) với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. ―(như trên)― Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Cô này đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Hội chúng cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của cô ni tên (như vầy) với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cô ni tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ngay khi ấy, bóng nắng cần được đo đạc, việc xác định mùa tiết nên được chỉ dạy, việc phân chia ngày (giờ) nên được chỉ dạy, điều đã được kết tập lại nên được chỉ dạy, các tỳ khưu ni nên được nói rằng: &#8211; ‘Nên chỉ dạy cô ni này ba điều nương nhờ[4] và tám điều không nên làm.’” [5]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni trong khi xác định chỗ ngồi trong nhà ăn đã bị quá giờ (thọ thực). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép (chỗ ngồi) của tám tỳ khưu ni tính theo thâm niên, (chỗ ngồi) của các vị còn lại tính theo thứ tự đi đến.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn đã cho phép (chỗ ngồi) của tám tỳ khưu ni tính theo thâm niên, (chỗ ngồi) của các vị còn lại tính theo thứ tự đi đến’ nên ở khắp mọi nơi chừa lại đúng tám chỗ cho các tỳ khưu ni tính theo thâm niên, các chỗ còn lại thì theo thứ tự đi đến. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép trong nhà ăn (chỗ ngồi của) tám tỳ khưu ni tính theo thâm niên và (chỗ ngồi) của các vị còn lại tính theo thứ tự đi đến, còn ở những nơi khác không nên chừa lại theo thứ tự thâm niên; vị nào chừa lại thì phạm tội dukkaṭa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni không hành lễ Pavāraṇā. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên không hành lễ Pavāraṇā; vị ni nào không hành lễ Pavāraṇā nên được hành xử theo Pháp.”[6] Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni sau khi hành lễ Pavāraṇā nơi hội chúng tỳ khưu ni rồi không hành lễ Pavāraṇā nơi hội chúng tỳ khưu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni sau khi hành lễ Pavāraṇā nơi hội chúng tỳ khưu ni rồi không nên không hành lễ Pavāraṇā nơi hội chúng tỳ khưu; vị ni nào không hành lễ Pavāraṇā nên được hành xử theo Pháp.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni trong khi hành lễ Pavāraṇā chỉ một phía với các tỳ khưu đã tạo nên sự lộn xộn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên hành lễ Pavāraṇā chỉ một phía với các tỳ khưu; vị ni nào hành lễPavāraṇā (chỉ một phía) thì phạm tội dukkaṭa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni trong khi hành lễ Pavāraṇā trước bữa thọ trai nên đã bị quá giờ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép tỳ khưu ni hành lễ Pavāraṇā sau bữa thọ trai.” Sau bữa thọ trai, các vị trong khi còn hành lễ Pavāraṇāđã bị trời tối. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép hành lễ Pavāraṇā nơi hội chúng tỳ khưu ni ngày hôm nay và hành lễ Pavāraṇā nơi hội chúng tỳ khưu vào ngày kế.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, toàn bộ hội chúng tỳ khưu ni trong lúc hành lễ Pavāraṇā đã gây nên sự lộn xộn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định một vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực để thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu vì lợi ích của hội chúng tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu, nên được chỉ định như vầy: Trước tiên, vị tỳ khưu ni nên được yêu cầu; sau khi yêu cầu hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) để thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu vì lợi ích của hội chúng tỳ khưu ni. Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) để thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu vì lợi ích của hội chúng tỳ khưu ni. Đại đức ni nào đồng ý việc chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) để thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu vì lợi ích của hội chúng tỳ khưu ni xin im lặng; vị ni nào không đồng ý có thể nói lên. Tỳ khưu ni tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định để thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu vì lợi ích của hội chúng tỳ khưu ni. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu ni đã được chỉ định ấy nên đưa hội chúng tỳ khưu ni đi đến gặp hội chúng tỳ khưu, nên đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, hội chúng tỳ khưu ni xin thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu do được thấy, hoặc do được nghe, hoặc vì nghi ngờ. Bạch các ngài, vì lòng thương xót đối với hội chúng tỳ khưu ni xin hội chúng tỳ khưu hãy nói lên; khi thấy (lỗi) rồi sẽ sửa đổi. Đến lần thứ nhì, bạch các ngài, hội chúng tỳ khưu ni xin thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu do được thấy, hoặc do được nghe, hoặc vì nghi ngờ. Bạch các ngài, vì lòng thương xót đối với hội chúng tỳ khưu ni xin hội chúng tỳ khưu hãy nói lên; khi thấy (lỗi) rồi sẽ sửa đổi. Đến lần thứ ba, bạch các ngài, hội chúng tỳ khưu ni xin thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu do được thấy, hoặc do được nghe, hoặc vì nghi ngờ. Bạch các ngài, vì lòng thương xót đối với hội chúng tỳ khưu ni xin hội chúng tỳ khưu hãy nói lên; khi thấy (lỗi) rồi sẽ sửa đổi.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni đình chỉ lễ Uposatha, đình chỉ lễ Pavāraṇā, làm công việc khuyên bảo, khởi xướng việc cáo tội, thỉnh ý (để buộc tội), quở trách, nhắc nhở đối với các tỳ khưu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên đình chỉ lễ Uposatha của tỳ khưu, dầu đã bị đình chỉ cũng như không bị đình chỉ; vị ni đình chỉ phạm tội dukkaṭa. Không nên đình chỉ lễ Pavāraṇā, dầu đã bị đình chỉ cũng như không bị đình chỉ; vị ni đình chỉ phạm tội dukkaṭa. Không nên làm công việc khuyên bảo, dầu đã được làm cũng như không được làm; vị ni làm phạm tội dukkaṭa. Không nên khởi xướng việc cáo tội, dầu đã được khởi xướng cũng như không được khởi xướng; vị ni khởi xướng (việc cáo tội) phạm tội dukkaṭa. Không nên thỉnh ý (để buộc tội), dầu đã được thỉnh ý cũng như không được thỉnh ý, vị ni thỉnh ý phạm tội dukkaṭa. Không nên quở trách, dầu đã được quở trách cũng như không được quở trách, vị ni quở trách phạm tội dukkaṭa. Không nên nhắc nhở, dầu đã được nhắc nhở cũng như không được nhắc nhở, vị ni nhắc nhở phạm tội dukkaṭa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đình chỉ lễ Uposatha đình chỉ lễ Pavāraṇā, làm công việc khuyên bảo, khởi xướng việc cáo tội, thỉnh ý (để buộc tội), quở trách, nhắc nhở đối với các tỳ khưu ni. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép tỳ khưu được đình chỉ lễ Uposatha của tỳ khưu ni, khi đã đình chỉ thì đã đình chỉ đúng đắn; vị đình chỉ vô tội. Được đình chỉ lễ Pavāraṇā; khi đã đình chỉ thì đã đình chỉ đúng đắn; vị đình chỉ vô tội. Được làm công việc khuyên bảo, khi đã làm thì đã làm đúng đắn; vị làm vô tội. Được khởi xướng việc cáo tội, khi đã khởi xướng thì đã khởi xướng đúng đắn; vị khởi xướng vô tội. Được thỉnh ý (để buộc tội), khi đã thỉnh ý thì đã thỉnh ý đúng đắn; vị thỉnh ý vô tội. Được quở trách, khi đã quở trách thì đã quở trách đúng đắn; vị quở trách vô tội. Được nhắc nhở, khi đã nhắc nhở thì đã nhắc nhở đúng đắn; vị nhắc nhở vô tội.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư di chuyển bằng xe được kéo bởi các con bò cái với người nam đánh xe ngồi ở giữa, hoặc được kéo bởi các con bò đực với người nữ đánh xe ngồi ở giữa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như lễ hội ở vùng Gaṅgā và Mahī vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên di chuyển bằng xe; vị ni nào di chuyển nên được hành xử theo Pháp.”[7]Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ bị bệnh, không thể bước đi bằng chân được. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) xe đối với vị ni bị bệnh.” Khi ấy, các tỳ khưu ni đã khởi ý điều này: “Vậy được kéo bởi con cái, hay được kéo bởi con đực?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) toa xe được kéo bởi con cái, được kéo bởi con đực, (và cho phép) xe kéo bằng tay.” Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ đã bị khó chịu dữ dội vì xe bị dằn xóc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) kiệu khiêng, ghế khiêng.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, cô kỹ nữ Aḍḍhakāsī đã xuất gia nơi các tỳ khưu ni. Cô ấy có ý định đi đến Sāvatthi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ tu lên bậc trên trong sự chứng minh của đức Thế Tôn.’ Những kẻ bất lương đã nghe rằng: “Nghe nói kỹ nữ Aḍḍhakāsī có ý định đi đến Sāvatthi.” Bọn họ đã bao vây các ngõ đường. Cô kỹ nữ Aḍḍhakāsī đã nghe rằng: “Nghe nói những kẻ bất lương đã bao vây các ngõ đường” nên đã phái sứ giả đến gặp đức Thế Tôn (thưa rằng): “Bởi vì con có ước muốn tu lên bậc trên, con nên tiến hành như thế nào?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện.” Các vị cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là tỳ khưu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là tỳ khưu; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.” Các vị cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là cô ni tu tập sự. ―(như trên)― Các vị cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là sa di. ―(như trên)― Các vị cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là sa di ni. ―(như trên)― Các vị cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là cô ni ngu dốt thiếu kinh nghiệm. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là cô ni ngu dốt thiếu kinh nghiệm; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực. Vị tỳ khưu ni đại diện ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, rồi nên nói như vầy:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Bạch các ngài, cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Cô ấy đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ấy không đi đến chính vì có sự chướng ngại. Bạch các ngài, cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ cô ấy vì lòng thương xót.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Cô ấy đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ấy không đi đến chính vì có sự chướng ngại. Bạch các ngài, lần thứ nhì cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ cô ấy vì lòng thương xót.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch các ngài, cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Cô ấy đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ni không đi đến chính vì có sự chướng ngại. Bạch các ngài, lần thứ ba cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ cô ấy vì lòng thương xót.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy). Cô ấy đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ấy không đi đến chính vì có sự nguy hiểm. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy). Cô ấy đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ấy không đi đến chính vì có sự nguy hiểm. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Hội chúng cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của cô ni tên (như vầy) với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. ―(như trên)― Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy). Cô ấy đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ấy không đi đến chính vì có sự nguy hiểm. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Hội chúng cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của cô ni tên (như vầy) với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cô ni tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ngay khi ấy, bóng râm cần được đo đạc, việc xác định mùa tiết nên được chỉ dạy, việc phân chia ngày (giờ) nên được chỉ dạy, điều đã được kết tập lại nên được chỉ dạy. Các tỳ khưu ni nên được nói rằng: &#8211; ‘Hãy chỉ dạy cô ni này ba điều nương nhờ và tám điều không nên làm.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni cư ngụ ở trong rừng. Những kẻ bất lương làm nhơ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên cư ngụ ở trong rừng; vị ni nào cư ngụ thì phạm tội dukkaṭa.” Vào lúc bấy giờ, kho chứa đồ đạc đã được nam cư sĩ nọ dâng đến hội chúng tỳ khưu ni. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) kho chứa đồ đạc. Kho chứa đồ không đáp ứng (nhu cầu). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) căn nhà. Căn nhà không đáp ứng (nhu cầu). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép (xây dựng) công trình mới.” Công trình mới không đáp ứng (nhu cầu). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép xây dựng theo cá nhân.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, một người phụ nữ nọ, có bào thai đã đậu, xuất gia nơi các tỳ khưu ni. Khi cô ấy đã xuất gia, cái thai đã chào đời. Khi ấy, vị tỳ khưu ni ấy đã khởi ý điều này: “Ta nên thực hành như thế nào liên quan đến đứa bé trai này?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép nuôi dưỡng cho đến khi đứa bé trai ấy đạt được sự hiểu biết.”[8]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, vị tỳ khưu ni ấy đã khởi ý điều này: “Ta không thể sống mỗi một mình, và tỳ khưu ni khác không thể sống với đứa bé trai, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định một tỳ khưu ni và cho làm người cộng sự với tỳ khưu ni kia. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước tiên, vị tỳ khưu ni cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy). Đại đức ni nào đồng ý sự chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy) xin im lặng; vị ni nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tỳ khưu ni tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, tỳ khưu ni cộng sự ấy đã khởi ý điều này: “Ta nên thực hành như thế nào liên quan đến đứa bé trai này?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hành liên quan đến đứa bé trai này tương tợ như là thực hành liên quan đến người đàn ông khác ngoại trừ việc ngụ chung nhà.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ bị phạm tội nặng và là vị đang thực hành hình phạt mānatta. Khi ấy, tỳ khưu ni ấy đã khởi ý điều này: “Ta không thể sống mỗi một mình, và vị tỳ khưu ni khác không thể sống với ta, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định một tỳ khưu ni và cho làm người cộng sự với tỳ khưu ni kia. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước tiên, vị tỳ khưu ni cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy). Đại đức ni nào đồng ý việc chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy) xin im lặng; vị ni nào không đồng ý có thể nói lên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tỳ khưu ni tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ sau khi xả bỏ sự học tập đã hoàn tục. Cô ấy đã quay trở lại và thỉnh cầu các tỳ khưu ni sự tu lên bậc trên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không có việc xả bỏ sự học tập đối với tỳ khưu ni; chính khi cô ấy hoàn tục thì chính khi ấy cô ấy không còn là tỳ khưu ni nữa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ vẫn mang y ca-sa đã chuyển sang (tu tập ở) lãnh vực của ngoại đạo. Cô ấy đã quay trở lại và thỉnh cầu các tỳ khưu ni sự tu lên bậc trên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni nào mang y ca-sa chuyển sang (tu tập ở) lãnh vực của ngoại đạo, khi cô ấy quay trở lại thì không nên cho tu lên bậc trên nữa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni trong khi ngần ngại không ưng thuận việc đảnh lễ, việc cạo tóc, việc cắt móng, việc băng bó vết thương bởi những người nam. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép ưng thuận (những việc ấy).”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni ngồi kiết già. Các vị ưa thích sự xúc chạm của gót chân. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên ngồi kiết già; vị ni nào ngồi thì phạm tội dukkaṭa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ bị bệnh. Không xếp chân thế kiết già, vị ni ấy không được thoải mái. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thế bán già đối với tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni đại tiện ở nhà vệ sinh. Các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư trục bỏ bào thai ngay tại chỗ ấy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên thực hiện việc đại tiện ở trong nhà vệ sinh; vị ni nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện việc đại tiện ở chỗ trống trải phần bên dưới và che kín phần bên trên.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni tắm với bột phấn thoa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên tắm với bột phấn thoa; vị ni nào tắm thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cám thô, đất sét.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni tắm với đất sét có mùi thơm. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên tắm với đất sét có mùi thơm; vị ni nào tắm thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) đất sét loại bình thường.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư trong khi tắm ở nhà tắm hơi đã gây nên sự lộn xộn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên tắm ở nhà tắm hơi; vị ni nào tắm thì phạm tội dukkaṭa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni tắm ở luồng nước chảy, ưa thích sự xúc chạm của giòng nước. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên tắm ở luồng nước chảy; vị ni nào tắm thì phạm tội dukkaṭa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni tắm ở chỗ không phải là bãi tắm. Những kẻ bất lương làm nhơ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên tắm ở chỗ không phải là bãi tắm; vị ni nào tắm thì phạm tội dukkaṭa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni tắm ở bãi tắm dành cho người nam. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên tắm ở bãi tắm dành cho người nam; vị ni nào tắm thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép tắm ở bãi tắm dành cho phụ nữ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tụng phẩm thứ ba</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chương Tỳ Khưu Ni là thứ mười</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong chương này có một trăm lẻ sáu sự việc</b>.</span></p>
<p><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tóm lược chương này</span></strong></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bà Gotamī đã thỉnh cầu việc xuất gia, đức Như Lai đã không cho phép. Vị Lãnh Đạo đã rời Kapilavatthu đi đến Vesāli.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với (thân hình) phủ đầy bụi, ở cổng ra vào, bà đã cho vị Ānanda biết, vị đã yêu cầu bằng cách thức: ‘Có khả năng không?’ Là người mẹ,’ và ‘Là người nuôi dưỡng.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một trăm năm, và vào ngày hôm ấy, (nơi) không có tỳ khưu, sự mong mỏi, lễ Pavāraṇā, các tội nghiêm trọng, hai năm, việc không được mắng nhiếc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bị ngăn cấm, và tám pháp, việc hành theo cho đến trọn đời, việc thọ nhận tám Trọng Pháp, chính điều ấy là sự tu lên bậc trên đối với bà.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một ngàn năm chỉ còn năm trăm, với các ví dụ về kẻ trộm, bệnh mốc trắng, bệnh rệp cây, các việc làm tổn hại Chánh Pháp là tương tợ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với các ví dụ về người nên củng cố bờ đê, hơn nữa là sự tồn tại của Chánh Pháp, được ban phép tu lên bậc trên, bà (chưa được tu lên bậc trên), việc đảnh lễ tính theo thâm niên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các (ngoại đạo) không thực hành, điều gì vậy, (được quy định) chung và không (được quy định) chung, việc giáo giới, và giới bổn pātimokkha, bởi vị nào, ni viện.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị ni không biết, và đã chỉ dạy, và các vị ni không làm, bởi các tỳ khưu, được ghi nhận tội bởi các tỳ khưu, việc ghi nhận tội bởi các tỳ khưu ni.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị đã chỉ dẫn, hành sự, bởi các tỳ khưu, họ phàn nàn, hoặc bởi các tỳ khưu ni, được chỉ dạy, và sự xung đột, sau khi bàn giao lại, và vị Uppalavaṇṇā.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở thành Sāvatthi, nước bùn, không đảnh lễ, (phô bày) thân, và đùi, và chỗ kín, việc trò chuyện, các vị giao lưu, các vị nhóm Lục Sư.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nên đảnh lễ, hình phạt, các vị tỳ khưu ni cũng tương tợ, và việc ngăn cấm, việc giáo giới, được phép không, vị đã ra đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị ngu dốt, (không có) sự việc, sự phán xét, việc giáo giới, hội chúng, với năm vị ni, hai vị ni, ba vị ni, không nhận lãnh, các vị ngu dốt, các vị bị bệnh, và các vị xuất hành.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị ở rừng, các vị không thông báo, và các vị không đi đến, (dây thắt lưng) dài, (sợi) tre chẻ mỏng, và da thú, vải dệt tết đuôi sam, và thắt bím, vải coḷa tết đuôi sam, và thắt bím, chỉ tết đuôi sam, và thắt bím.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khúc xương đùi, với xương hàm con bò, mu bàn tay, bàn chân là tương tợ, phần đùi, khuôn mặt, nướu răng, việc thoa dầu, chà xát, và đánh phấn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đắp (ở mặt), và việc tô màu ở cơ thể, việc tô màu ở mặt, hai việc là tương tợ, việc kẻ mí mắt, làm dấu ở trán, (nhìn) qua cửa sổ, (đứng) tựa cửa, và với việc nhảy múa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Gái điếm, quán bán rượu, tiệm bán thịt, cửa hiệu, lấy lãi, việc thương mãi, trong khi nuôi tôi trai, tớ gái, trai làm mướn, gái làm thuê.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Nuôi) thú vật, (buôn bán) rau xanh, các vị tự mang mảnh da mài dao cạo, các y màu xanh đậm, màu vàng, màu đỏ (máu), màu tím, màu đen.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Màu đỏ tía, màu hồng, không được cắt, và (đường viền) quá rộng, (có vẽ) bông hoa, trái cây, và áo choàng, và các vị đã mặc vải dệt bằng sợi vỏ cây tirīṭaka.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Về việc từ trần của tỳ khưu ni, của vị ni tu tập sự, của vị sa di ni, về các vật dụng được để lại, các tỳ khưu ni là người chủ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Của vị tỳ khưu, của vị sa di, của nam cư sĩ, của nữ cư sĩ, và của những người khác, về vật dụng được để lại, các tỳ khưu là người chủ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị ni người xứ Malla, cái bào thai, phần dưới của bình bát, vật biểu tượng (nam tánh), và với vật thực, và được dồi dào, nhiều hơn trước nữa, vật thực được làm để tích trữ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với các vị tỳ khưu, phần tương tợ bên dưới, nên thực hiện như vậy đối với các tỳ khưu ni, sàng tọa, các vị có kinh nguyệt, bị lấm lem, mảnh vải và kim gài.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chúng bị đứt, vào mọi lúc, các vị ni được thấy là không có hiện tướng (người nữ), v.v&#8230; và còn (khiếm khuyết) hiện tướng, không có kinh nguyệt nữa, tương tợ y như thế là vị bị băng huyết.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thường xuyên mang vải lót, bị rong kinh, bị dị căn, người nữ vô căn, và bị lại đực, (tiêu tiểu) chung một khiếu, và cả người nữ lưỡng căn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khởi đầu từ không có hiện tướng, sau khi đã thực hiện, và cô nào là người nữ lưỡng căn, điều này là từ phần giản lược ở bên dưới, bệnh cùi, bệnh mụt nhọt, bệnh chàm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bệnh lao phổi, bệnh động kinh, cô là loài người, cô là người nữ, và cô là người được tự do, không thiếu nợ, không là lính của vua, đã được cho phép và hai mươi (tuổi).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và đầy đủ (y bát), cô tên gì, ni sư tế độ của cô tên gì, sau khi hỏi về hai mươi bốn pháp chướng ngại, là việc tu lên bậc trên.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các cô bị bối rối, khi chưa được giảng dạy, và tương tợ y như thế ở giữa hội chúng, việc chọn vị thầy tế độ, y hai lớp, thượng y, và y nội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Áo lót, và vải choàng tắm, sau khi được chỉ dạy, nên bảo đứng (ở chỗ kia), vị ni ngu dốt, chưa được chỉ định, (đi đến) chung, và nếu đã hỏi các pháp chướng ngại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cô ni đã được tu lên bậc trên ở một phía, ở hội chúng tỳ khưu như thế một lần nữa, bóng nắng, mùa tiết, và (phân chia) ngày, việc kết tập, ba sự nương nhờ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tám điều không nên làm, (bị quá) giờ, ở mọi nơi, (đúng) tám chỗ, các tỳ khưu ni không hành lễ Pavāraṇā, và tương tợ y như thế nơi hội chúng tỳ khưu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự lộn xộn, trước bữa ăn, và lúc tối trời, sự lộn xộn, (đình chỉ) lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, việc khuyên bảo, việc cáo tội.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thỉnh ý (để buộc tội), quở trách, nhắc nhở đã bị ngăn cấm bởi vị Đại Ẩn Sĩ, tương tợ y như thế tỳ khưu (đối với) tỳ khưu ni được cho phép bởi vị Đại Ẩn Sĩ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Xe, bị bệnh, và được kéo, bị dằn xóc bởi xe, chuyện Aḍḍhakāsī, vị tỳ khưu, vị ni tu tập sự, vị sa di, vị sa di ni, và vị ni ngu dốt.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở trong rừng, bởi vị nam cư sĩ, kho chứa đồ, căn nhà, không đáp ứng (nhu cầu), công trình mới, có bào thai đã hình thành, mỗi một mình.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và việc ngụ chung nhà, tội nặng, sau khi xả bỏ (sự học tập), và đã chuyển sang, việc đảnh lễ, (cạo) tóc, và các móng, việc băng bó vết thương.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Với thế kiết già, và vị ni bị bệnh, việc đại tiện, với bột tắm, được tẩm hương, ở nhà tắm hơi, ở luồng nước chảy, ở nơi không phải là bãi tắm, và (tắm) với người nam.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bà Mahāgotamī đã thỉnh cầu, và cả vị Ānanda khôn khéo, mà có được tứ chúng, việc xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhằm sự lợi ích của việc sanh khởi sự động tâm và sự phát triển của Chánh Pháp, ví như thuốc men đối với người bị bệnh, lời đã được đức Phật thuyết giảng là như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Được hướng dẫn như thế về Chánh Pháp, luôn cả các người nữ khác, các cô ấy cũng đạt đến vị thế Bất Tử, là nơi sau khi đi đến thì không sầu khổ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/07/07_06.html#_ftnref2" name="_ftn2" rel="nofollow noopener" target="_blank"></a></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Tỳ khưu ni không được ngụ ở rừng nên không có điều nương vào chỗ trú ngụ là gốc cây, trong khi tỳ khưu có bốn điều (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[5] Là tám điều pārājika, trong khi tỳ khưu chỉ có bốn điều (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[6] Liên quan đến tám Trọng Pháp và tội pācittiya 57 của tỳ khưu ni (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[7] Liên quan đến tội pācittiya 85 của tỳ khưu ni (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[8] Cho đến khi đứa bé trai ấy đạt được sự hiểu biết nghĩa là cho đến khi đứa bé có thể nhai, ăn, tắm, và trang phục đúng cách cho bản thân (VinA. vi, 1295).</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG TỲ KHƯU NI: TỤNG PHẨM THỨ NHÌ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-ty-khuu-ni-tung-pham-thu-nhi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 01:13:54 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=59740</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II Chương Tỳ Khưu Ni Tụng Phẩm Thứ Nhì Sau đó, khi đã đã ngự tại Vesāli theo]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;"><strong>Tiểu Phẩm II</strong></span></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Chương Tỳ Khưu Ni</strong></span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Tụng Phẩm Thứ Nhì</strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã đã ngự tại Vesāli theo như ý thích đức Thế Tôn đã lên đường du hành về phía Sāvatthi. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến Sāvatthi. Tại nơi đó ở Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư rắc nước bùn lên các tỳ khưu ni (nghĩ rằng): ‘Có lẽ họ sẽ lưu tâm đến chúng ta.’ Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu không nên rắc nước bùn lên các tỳ khưu ni; vị nào rắc thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hình phạt đối với vị tỳ khưu ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Hình phạt gì nên được thực hiện?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu ni không cần thực hiện việc đảnh lễ đối với vị tỳ khưu ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư vén hở thân rồi phô bày cho các tỳ khưu ni thấy, vén hở đùi rồi phô bày cho các tỳ khưu ni thấy, vén hở chỗ kín rồi phô bày cho các tỳ khưu ni thấy, trò chuyện với các tỳ khưu ni, giao lưu với các tỳ khưu ni (nghĩ rằng): ‘Có lẽ họ sẽ lưu tâm đến chúng ta.’ Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu không nên vén hở thân rồi phô bày cho các tỳ khưu ni thấy, không nên vén hở đùi rồi phô bày cho các tỳ khưu ni thấy, không nên vén hở chỗ kín rồi phô bày cho các tỳ khưu ni thấy, không nên trò chuyện với các tỳ khưu ni, không nên giao lưu với các tỳ khưu ni; vị nào giao lưu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hình phạt đối với vị tỳ khưu ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Hình phạt gì nên được thực hiện?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu ni không cần thực hiện việc đảnh lễ đối với vị tỳ khưu ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư rắc nước bùn lên các tỳ khưu (nghĩ rằng): ‘Có lẽ họ sẽ lưu tâm đến chúng ta.’ Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên rắc nước bùn lên các tỳ khưu; vị ni nào rắc thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hình phạt đối với tỳ khưu ni ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Hình phạt gì nên được thực hiện?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện việc ngăn cấm (đi vào trú xứ của tỳ khưu).”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi việc ngăn cấm được thực hiện, họ không chấp hành. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép đình chỉ việc giáo giới.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư vén hở thân rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, vén hở ngực rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, vén hở đùi rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, vén hở chổ kín rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, trò chuyện với các tỳ khưu, giao lưu với các tỳ khưu (nghĩ rằng): ‘Có lẽ họ sẽ lưu tâm đến chúng ta.’ Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên vén hở thân rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, không nên vén hở ngực rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, không nên vén hở đùi rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, không nên vén hở chổ kín rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, không nên trò chuyện với các tỳ khưu, không nên giao lưu với các tỳ khưu; vị ni nào giao lưu thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hình phạt đối với vị tỳ khưu ni ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Hình phạt gì nên được thực hiện?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện việc ngăn cấm (đi vào trú xứ của tỳ khưu).” Khi việc ngăn cấm được thực hiện, họ không chấp hành. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép đình chỉ việc giáo giới.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Lễ<i> Uposatha </i>được phép thực hiện với tỳ khưu ni bị đình chỉ giáo giới hay không được phép?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, lễ<i> Uposatha</i> không nên thực hiện với tỳ khưu ni bị đình chỉ giáo giới cho đến khi nào sự tranh tụng ấy còn chưa được giải quyết.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi sau khi đình chỉ việc giáo giới đã ra đi du hành. Các tỳ khưu ni phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao ngài đại đức Udāyi sau khi đình chỉ việc giáo giới lại ra đi du hành?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, sau khi đình chỉ việc giáo giới rồi không nên ra đi du hành; vị nào ra đi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ngu dốt không có kinh nghiệm đình chỉ việc giáo giới. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, việc giáo giới không nên bị đình chỉ bởi vị ngu dốt, không có kinh nghiệm; vị nào đình chỉ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đình chỉ việc giáo giới không có sự việc, không có nguyên do. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, việc giáo giới không nên bị đình chỉ không có sự việc, không có nguyên do; vị nào đình chỉ thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sau khi đình chỉ việc giáo giới không đưa ra sự phán xét. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, sau khi đình chỉ việc giáo giới, không nên không đưa ra sự phán xét; vị nào không đưa ra thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni không đi (để nghe) giáo giới. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên không đi (để nghe) giáo giới; vị ni nào không đi nên được hành xử theo Pháp.”[2]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, toàn bộ hội chúng tỳ khưu ni đều đi (để nghe) giáo giới. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Những bà này là vợ của những ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Bây giờ những ông này sẽ hưởng lạc với những bà này.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên đi (để nghe) giáo giới toàn bộ hội chúng tỳ khưu ni. Nếu đi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép đi (để nghe) giáo giới bốn hay năm tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, bốn hay năm tỳ khưu ni đi (để nghe) giáo giới. Dân chúng tương tợ y như thế phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Những bà này là vợ của những ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Bây giờ những ông này này sẽ hưởng lạc với những bà này.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên đi (để nghe) giáo giới bốn hay năm tỳ khưu ni. Nếu các vị đi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép đi (để nghe) giáo giới hai hay ba tỳ khưu ni. Nên đi đến gặp một vị tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, rồi nên nói như vầy: ‘Thưa ngài đại đức, hội chúng tỳ khưu ni đảnh lễ ở chân của hội chúng tỳ khưu và thỉnh cầu việc đến gần (để nghe) giáo giới. Thưa ngài, mong rằng hội chúng tỳ khưu ni đạt được việc đến gần (để nghe) giáo giới.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu ấy nên đi đến gặp vị đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> và nên nói như vầy: ‘Thưa ngài, hội chúng tỳ khưu ni đảnh lễ ở chân của hội chúng tỳ khưu và thỉnh cầu việc đến gần (để nghe) giáo giới. Thưa ngài, mong rằng hội chúng tỳ khưu ni đạt được việc đến gần (để nghe) giáo giới.’ Vị đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên nói rằng: ‘Có vị tỳ khưu nào đó đã được chỉ định là vị giáo giới tỳ khưu ni?’ Nếu có vị tỳ khưu nào đó đã được chỉ định là vị giáo giới tỳ khưu ni, vị đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên nói rằng: ‘Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được chỉ định là vị giáo giới tỳ khưu ni, hội chúng tỳ khưu ni hãy đi đến gặp vị ấy.’ Nếu không có vị tỳ khưu nào đã được chỉ định là vị giáo giới tỳ khưu ni, vị đọc tụng giới bổn<i>Pātimokkha</i> nên nói rằng: ‘Vị đại đức nào đủ khả năng để giáo giới tỳ khưu ni?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu có vị nào đó đủ khả năng để giáo giới tỳ khưu ni và vị ấy có tám yếu tố,[3] sau khi chỉ định xong nên nói rằng: ‘Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được chỉ định là vị giáo giới tỳ khưu ni, hội chúng tỳ khưu ni hãy đi đến gặp vị ấy.’ Nếu không có vị nào đủ khả năng để giáo giới tỳ khưu ni, vị đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên nói rằng: ‘Không có tỳ khưu nào được chỉ định là vị giáo giới tỳ khưu ni, mong rằng hội chúng tỳ khưu ni được thành đạt với sự hoan hỷ.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu không nhận lãnh việc giáo giới. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không thể không nhận lãnh việc giáo giới; vị nào không nhận lãnh thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ là ngu dốt. Các tỳ khưu ni đã đi đến gặp vị ấy và đã nói điều này: &#8211; “Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các chị gái, bởi vì tôi ngu dốt, làm sao tôi nhận lãnh việc giáo giới được?” &#8211; “Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: ‘Các tỳ khưu nên nhận lãnh việc giáo giới cho các tỳ khưu ni.’” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép trừ ra vị ngu dốt các vị còn lại nhận lãnh việc giáo giới.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu ni đã đi đến gặp vị ấy và đã nói điều này: &#8211; “Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới.” &#8211; “Này các chị gái, bởi vì tôi bị bệnh, làm sao tôi nhận lãnh việc giáo giới được?” &#8211; “Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới, bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: ‘Trừ ra vị ngu dốt, các vị còn lại nên nhận lãnh việc giáo giới.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép trừ ra vị ngu dốt, trừ ra vị bị bệnh, các vị còn lại nhận lãnh việc giáo giới.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ là vị xuất hành. Các tỳ khưu ni đã đi đến gặp vị ấy và đã nói điều này: &#8211; “Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới.” &#8211; “Này các chị gái, bởi vì tôi là vị xuất hành, làm sao tôi nhận lãnh việc giáo giới được?” &#8211; “Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới, bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: ‘Trừ ra vị ngu dốt, trừ ra vị bị bệnh, các vị còn lại nên nhận lãnh việc giáo giới.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép trừ ra vị ngu dốt, trừ ra vị bị bệnh, trừ ra vị xuất hành, các vị còn lại nhận lãnh việc giáo giới.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ cư ngụ ở trong rừng. Các tỳ khưu ni đã đi đến gặp vị ấy và đã nói điều này: &#8211; “Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới.” &#8211; “Này các chị gái, bởi tôi cư ngụ ở trong rừng, làm sao tôi nhận lãnh việc giáo giới được?” &#8211; “Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới, bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: ‘Trừ ra vị ngu dốt, trừ ra vị bị bệnh, trừ ra vị xuất hành, các vị còn lại nên nhận lãnh việc giáo giới.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép tỳ khưu là vị ngụ ở rừng nhận lãnh việc giáo giới và (cho phép) quy định điểm hẹn: ‘Tôi sẽ thực hiện ở chỗ kia.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, sau khi nhận lãnh việc giáo giới các tỳ khưu không thông báo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không thể không thông báo việc giáo giới; vị nào không thông báo thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, sau khi nhận lãnh việc giáo giới các tỳ khưu không thực hiện. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, việc giáo giới không thể không thực hiện; vị nào không thực hiện thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni không đi đến điểm hẹn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên không đi đến điểm hẹn; vị ni nào không đi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni mang dây thắt lưng loại dài, lại còn bó thắt eo bằng chúng nữa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên mang dây thắt lưng loại dài; vị ni nào mang thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép tỳ khưu ni (sử dụng) dây thắt lưng được thực hiện một vòng, và không nên bó thắt eo bằng dây thắt lưng; vị ni nào bó thắt (eo) thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni buộc (dây thắt lưng) thành dải tua bằng sợi tre chẻ mỏng, buộc thành dải tua bằng sợi da thú, buộc thành dải tua bằng sợi vải dệt, buộc thành dải tua bằng vải dệt tết đuôi sam, buộc thành dải tua bằng vải dệt thắt bím, buộc thành dải tua bằng sợi vải <i>coḷa</i>, buộc thành dải tua bằng vải <i>coḷa</i> tết đuôi sam, buộc thành dải tua bằng vải <i>coḷa</i> thắt bím, buộc thành dải tua bằng chỉ tết đuôi sam, buộc thành dải tua bằng chỉ thắt bím. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên buộc (dây thắt lưng) thành dải tua bằng sợi tre chẻ mỏng, không nên buộc thành dải tua bằng sợi da thú, không nên buộc thành dải tua bằng sợi vải dệt, không nên buộc thành dải tua bằng vải dệt tết đuôi sam, không nên buộc thành dải tua bằng vải dệt thắt bím, không nên buộc thành dải tua bằng sợi vải <i>coḷa</i>, không nên buộc thành dải tua bằng vải <i>coḷa</i> tết đuôi sam, không nên buộc thành dải tua bằng vải <i>coḷa</i> thắt bím, không nên buộc thành dải tua bằng chỉ tết đuôi sam, không nên buộc thành dải tua bằng chỉ thắt bím; vị ni nào buộc thì phạm tội<i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni bảo đập vỗ vùng hông với khúc xương đùi, bảo đấm bóp vùng hông với xương hàm con bò, bảo đấm bóp bàn tay, bảo đấm bóp mu bàn tay, bảo đấm bóp bàn chân, bảo đấm bóp mu bàn chân, bảo đấm bóp đùi, bảo đấm bóp mặt, bảo đấm bóp nướu răng. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên bảo đập vỗ vùng hông với khúc xương đùi, ―(như trên)― không nên bảo đấm bóp nướu răng; vị ni nào bảo đấm bóp thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư thoa dầu ở mặt, chà xát mặt, đánh phấn ở mặt, đắp mặt bằng phấn đỏ, tô màu ở cơ thể, tô màu ở mặt, tô màu ở mặt và ở cơ thể. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên thoa dầu ở mặt, không nên chà xát mặt, không nên đánh phấn ở mặt, không nên đắp mặt bằng phấn đỏ, không nên tô màu ở cơ thể, không nên tô màu ở mặt, không nên tô màu ở mặt và ở cơ thể; vị ni nào làm thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư kẻ mí mắt, làm dấu ở trán, nhìn qua cửa sổ (xuống đường phố), đứng tựa cửa lớn (khoe phần thân trên), tổ chức nhảy múa, hỗ trợ gái điếm, lập quán bán rượu, lập tiệm bán thịt, trưng bày cửa hiệu, tiến hành việc cho vay lấy lãi, tiến hành việc thương mãi, nuôi tôi trai, nuôi tớ gái, nuôi trai làm mướn, nuôi gái làm thuê, nuôi thú vật, buôn bán rau xanh, mang mảnh da mài dao cạo. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên kẻ mí mắt, ―(như trên)― không nên mang mảnh da mài dao cạo; vị ni nào mang thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư mặc các y toàn màu xanh đậm, mặc các y toàn màu vàng, mặc các y toàn màu đỏ (máu), mặc các y toàn màu tím, mặc các y toàn màu đen, mặc các y nhuộm toàn màu đỏ tía, mặc các y nhuộm toàn màu hồng, mặc các y không cắt đường viền, mặc các y có đường viền rộng, mặc các y có đường viền vẽ bông hoa, mặc các y có đường viền có vẽ trái cây, mặc áo choàng, mặc loại vải dệt bằng sợi vỏ cây <i>tirīṭaka</i>. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên mặc các y toàn màu xanh đậm, ―(như trên)― không nên mặc loại vải dệt bằng sợi vỏ cây <i>tirīṭaka</i>; vị ni nào mặc thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ trong khi lâm chung đã nói như vầy: &#8211; “Sau khi tôi từ trần, vật dụng của tôi hãy thuộc về hội chúng.” Ở nơi ấy, các tỳ khưu và các tỳ khưu ni tranh cãi rằng: &#8211; “Thuộc về chúng tôi, thuộc về chúng tôi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu ni trong trong khi lâm chung nói như vầy: ‘Sau khi tôi từ trần, vật dụng của tôi hãy thuộc về hội chúng,’ trong trường hợp này, hội chúng tỳ khưu không phải là người chủ, vật dụng ấy thuộc về riêng hội chúng tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, nếu vị ni tu tập sự, ―(như trên)― Này các tỳ khưu, nếu vị sa di ni trong khi lâm chung nói như vầy: ‘Sau khi tôi từ trần, vật dụng của tôi hãy thuộc về hội chúng,’ trong trường hợp này, hội chúng tỳ khưu không phải là người chủ, vật dụng ấy thuộc về riêng hội chúng tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu trong khi lâm chung nói như vầy: ‘Sau khi tôi từ trần, vật dụng của tôi hãy thuộc về hội chúng,’ trong trường hợp này, hội chúng tỳ khưu ni không phải là người chủ, vật dụng ấy thuộc về riêng hội chúng tỳ khưu. Này các tỳ khưu, nếu vị sa di, ―(như trên)― Này các tỳ khưu, nếu nam cư sĩ, ―(như trên)― Này các tỳ khưu, nếu nữ cư sĩ, ―(như trên)― Này các tỳ khưu, nếu người nào khác trong khi lâm chung nói như vầy: ‘Sau khi tôi từ trần, vật dụng của tôi hãy thuộc về hội chúng,’ trong trường hợp này, hội chúng tỳ khưu ni không phải là người chủ, vật dụng ấy thuộc về riêng hội chúng tỳ khưu.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có phụ nữ nọ trước đây là người xứ Malla đã xuất gia nơi các tỳ khưu ni. Cô ni ấy sau khi gặp vị tỳ khưu yếu đuối trên đường đã cho cái thúc bằng bả vai rồi tiếp tục đi. Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao tỳ khưu ni lại cho vị tỳ khưu cái thúc?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên cho vị tỳ khưu cái thúc; vị ni nào cho thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép tỳ khưu ni bước sang (một bên) nhường lối đi khi nhìn thấy vị tỳ khưu, ngay khi (vị ấy) còn ở đàng xa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khi chồng đi vắng bị có thai với tình nhân. Cô ấy đã làm cho sẩy thai rồi đã nói với vị tỳ khưu ni thường đi đến nhà điều này: &#8211; “Thưa ni sư, xin hãy dùng bình bát mang đi cái bào thai này.” Khi ấy, vị tỳ khưu ni ấy đã bỏ cái bào thai ấy vào trong bình bát, che kín bằng y hai lớp, rồi ra đi. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi khất thực đã lập dự tính rằng: “Khi chưa dâng phần vật thực ta sẽ thọ lãnh đầu tiên đến vị tỳ khưu hoặc tỳ khưu ni thì ta sẽ không thọ thực.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã nhìn thấy vị tỳ khưu ni ấy và đã nói điều này: &#8211; “Này chị gái, hãy nhận lãnh phần vật thực.” &#8211; “Thưa ngài, thôi đi.” Đến lần thứ nhì, vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu ni ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, hãy nhận lãnh phần vật thực.” &#8211; “Thưa ngài, thôi đi.” Đến lần thứ ba, vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu ni ấy điều này: &#8211; “Này chị gái, hãy nhận lãnh phần vật thực.” &#8211; “Thưa ngài, thôi đi.” &#8211; “Này chị gái, tôi đã lập dự tính rằng: ‘Khi chưa dâng phần vật thực ta sẽ thọ lãnh đầu tiên đến vị tỳ khưu hoặc tỳ khưu ni thì ta sẽ không thọ thực.’ Này chị gái, hãy nhận lãnh phần vật thực.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, vị tỳ khưu ni ấy trong lúc bị quấy rầy bởi vị tỳ khưu ấy đã đưa bình bát ra cho xem: &#8211; “Thưa ngài, hãy nhìn cái bào thai trong bình bát nè. Và chớ có nói với bất cứ ai.” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Tại sao tỳ khưu ni lại dùng bình bát mang đi cái bào thai vậy?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao tỳ khưu ni lại dùng bình bát mang đi cái bào thai vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên dùng bình bát mang đi bào thai; vị ni nào mang đi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép tỳ khưu ni khi gặp vị tỳ khưu thì lấy bình bát ra và đưa cho xem.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, khi gặp vị tỳ khưu các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư xoay tròn (bình bát) và cho xem phần dưới của bình bát. Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao khi gặp vị tỳ khưu các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư xoay tròn (bình bát) và cho xem phần dưới của bình bát?” Sau đó, các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, khi gặp vị tỳ khưu tỳ khưu ni không nên xoay tròn (bình bát) và cho xem phần dưới của bình bát; vị nào cho xem thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, khi gặp vị tỳ khưu ta cho phép tỳ khưu ni lật ngửa bình bát rồi đưa cho xem. Và vật thực nào có trong bình bát, nên thỉnh mời vị tỳ khưu với vật ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, trên đường phố ở thành Sāvatthi có vật biểu tượng nam tánh bị quăng bỏ. Các tỳ khưu ni đã nhìn chăm chú vào vật ấy. Dân chúng đã la ầm lên. Các tỳ khưu ni ấy đã bị xấu hổ. Sau đó, các tỳ khưu ni ấy đã đi đến ni viện và đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu ni lại nhìn chăm chú vào vật biểu tượng nam tánh?” Sau đó, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên nhìn chăm chú vào vật biểu tượng nam tánh; vị nào nhìn chăm chú thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, dân chúng thường dâng vật thực cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu cho đến các tỳ khưu ni. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các ngài đại đức lại cho những người khác vật thí dành để thọ dụng cho bản thân, không lẽ chúng tôi không biết cho vật thí hay sao?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên cho những người khác vật thí dành để thọ dụng cho bản thân; vị nào cho thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu có được vật thực dồi dào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép dâng đến hội chúng.” Còn dồi dào nhiều hơn trước nữa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép dâng luôn cả vật dành riêng cho cá nhân.” Vào lúc bấy giờ, vật thực được làm để tích trữ của các tỳ khưu được dồi dào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu ni thọ dụng vật tích trữ của các tỳ khưu sau khi đã được các tỳ khưu trao cho.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, dân chúng thường dâng vật thực cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni cho đến các tỳ khưu. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu ni lại cho những người khác vật thí dành để thọ dụng cho bản thân? Không lẽ chúng tôi không biết cho vật thí hay sao?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên cho những người khác vật thí dành để thọ dụng cho bản thân; vị ni nào cho thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni có được vật thực dồi dào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép dâng đến hội chúng.” Còn dồi dào nhiều hơn trước nữa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép dâng luôn cả vật dành riêng cho cá nhân.” Vào lúc bấy giờ, vật thực được làm để tích trữ của các tỳ khưu ni được dồi dào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu thọ dụng vật tích trữ của các tỳ khưu ni sau khi đã được các tỳ khưu ni trao cho.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, sàng tọa của các tỳ khưu thì dồi dào, của các tỳ khưu ni thì không có. Các tỳ khưu ni đã phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu: &#8211; “Thưa các ngài, lành thay các ngài hãy cho chúng tôi (mượn) sàng tọa trong một thời gian.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép cho các tỳ khưu ni (mượn) sàng tọa trong một thời gian.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni có kinh nguyệt ngồi và nằm trên giường được bọc nệm, trên ghế được bọc nệm. Chỗ nằm ngồi bị lấm lem bởi máu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên ngồi hoặc nằm trên giường được bọc nệm, trên ghế được bọc nệm; vị ni nào ngồi hoặc nằm thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) y nội trợ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Y nội trợ bị lấm lem bởi máu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) kim gài và mảnh vải.” Mảnh vải bị rơi xuống Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép khâu lại bằng chỉ và buộc ở đùi.” Chỉ bị đứt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) váy, băng vải buộc ở hông.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư mang băng vải buộc ở hông vào mọi lúc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên mang băng vải buộc ở hông vào mọi lúc; vị ni nào mang thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) băng vải buộc ở hông đối với vị ni có kinh nguyệt.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tụng phẩm thứ nhì</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Liên quan đến tám Trọng Pháp và tội <em>pācittiya</em> 58 của tỳ khưu ni (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Xem tám yếu tố ở điều học <i>pācittiya</i> 21 (TTPV 02, trang 153).</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG TỲ KHƯU NI: TỤNG PHẨM THỨ NHẤT</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-ty-khuu-ni-tung-pham-thu-nhat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 01:09:28 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=59735</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II Chương Tỳ Khưu Ni Tụng Phẩm Thứ Nhất Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự trong]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;"><strong>Tiểu Phẩm II</strong></span></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Chương Tỳ Khưu Ni</strong></span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Tụng Phẩm Thứ Nhất</strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự trong lãnh thổ của dòng Sakya ở thành Kapilavatthu, tu viện Nigrodha. Khi ấy, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Gotamī, thôi đi! Bà chớ có quan tâm đến việc người nữ xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố nữa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đến lần thứ nhì, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia ―(như trên)―.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> &#8211; “Này Gotamī, thôi đi! Bà chớ có quan tâm đến việc người nữ xuất gia ―(như trên)―.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đến lần thứ ba, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Gotamī, thôi đi! Bà chớ có quan tâm đến việc người nữ xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố nữa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, bà Mahāpajāpatī Gotamī (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn không cho phép người nữ việc xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố’ nên khổ sở, buồn rầu, mặt đầm đìa nước mắt, trong khi khóc lóc, đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã ngự tại thành Kapilavatthu theo như ý thích đức Thế Tôn đã ra đi du hành đi về phía thành Vesāli. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến Vesāli. Tại nơi đó, ở Vesāli, đức Thế Tôn ngự tại Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nhờ người cạo tóc, khoác y phục màu ca-sa cùng với nhiều người nữ dòng Sakya đã ra đi về hướng Vesāli, tuần tự đã đi đến Vesāli, Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Khi ấy, bà Mahāpajāpatī Gotamī với hai bàn chân sưng vù, thân hình phủ đầy bụi bặm, khổ sở, buồn rầu, mặt đầm đìa nước mắt, đang khóc lóc, đứng ở bên ngoài cổng ra vào. Đại đức Ānanda đã nhìn thấy bà Mahāpajāpatī Gotamī với hai bàn chân sưng vù, thân hình phủ đầy bụi bặm, khổ sở, buồn rầu, mặt đầm đìa nước mắt, đang khóc lóc, đứng ở bên ngoài cổng ra vào, sau khi nhìn thấy đã nói với bà Mahāpajāpatī Gotamī điều này: &#8211; “Này bà Gotamī, tại sao bà lại có hai bàn chân sưng vù, thân hình phủ đầy bụi bặm, khổ sở, buồn rầu, mặt đầm đìa nước mắt, đang khóc lóc, đứng ở bên ngoài cổng ra vào vậy?” &#8211; “Thưa ngài Ānanda, như thế này bởi vì đức Thế Tôn không cho phép người nữ việc xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này bà Gotamī, chính vì điều ấy nên bà hãy ở ngay tại đây trong chốc lát chờ tôi thỉnh cầu đức Thế Tôn về việc người nữ xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, bà Mahāpajāpatī Gotamī này với hai bàn chân sưng vù, thân hình phủ đầy bụi bặm, khổ sở, buồn rầu, mặt đầm đìa nước mắt, đang khóc lóc, đứng ở bên ngoài cổng ra vào (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn không cho phép người nữ việc xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.’ Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Ānanda, thôi đi! Ngươi chớ có quan tâm đến việc người nữ xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố nữa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đến lần thứ nhì, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia ―(như trên)―.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Ānanda, thôi đi! Ngươi chớ có quan tâm đến việc người nữ xuất gia ―(như trên)―.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đến lần thứ ba, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia ―(như trên)―.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Ānanda, thôi đi! Ngươi chớ có quan tâm đến việc người nữ xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố nữa.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Ānanda (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn không cho phép việc người nữ xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố; có lẽ ta nên thỉnh cầu đức Thế Tôn việc người nữ xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố bằng một phương thức khác?’ Sau đó, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, người nữ sau khi xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố, có khả năng chứng ngộ quả vị Nhập Lưu, hoặc quả vị Nhất Lai, hoặc quả vị Bất Lai, hoặc phẩm vị A-la-hán hay không?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Ānanda, người nữ sau khi xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố, có khả năng chứng ngộ quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, luôn cả phẩm vị A-la-hán.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch ngài, nếu người nữ ―(như trên)― có khả năng chứng ngộ ―(như trên)― luôn cả phẩm vị A-la-hán nữa; bạch ngài, bà Mahāpajāpatī Gotamī có nhiều công đức đối với đức Thế Tôn, là dì ruột, là người chăm sóc, là người nuôi dưỡng, là người cho sữa, bà đã cho đức Thế Tôn bú sữa khi người mẹ ruột qua đời. Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Ānanda, nếu bà Mahāpajāpatī Gotamī thọ nhận tám Trọng Pháp, hãy xem chính điều ấy là sự tu lên bậc trên đối với bà:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tỳ khưu ni đã tu lên bậc trên một trăm năm nên thực hiện sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến vị tỳ khưu vừa tu lên bậc trên vào ngày hôm ấy. Đây cũng là pháp cần được trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường, không được vi phạm cho đến trọn đời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tỳ khưu ni không nên an cư mùa mưa ở trú xứ không có tỳ khưu. Đây cũng là pháp cần được trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường, không được vi phạm cho đến trọn đời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tỳ khưu ni vào mỗi nửa tháng nên mong mỏi hai việc từ hội chúng tỳ khưu là việc hỏi ngày lễ<i> Uposatha</i> và việc đi đến (để nghe) giáo giới. Đây cũng là pháp ―(như trên)― không được vi phạm cho đến trọn đời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tỳ khưu ni đã trải qua mùa (an cư) mưa nên hành lễ <i>Pavāraṇā</i> ở cả hai hội chúng dựa trên ba yếu tố: do được thấy, hoặc do được nghe, hoặc vì nghi ngờ. Đây cũng là pháp ―(như trên)― không được vi phạm cho đến trọn đời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tỳ khưu ni vi phạm tội nghiêm trọng nên thực hành hình phạt <i>mānatta</i> nửa tháng ở cả hai hội chúng. Đây cũng là pháp ―(như trên)― không được vi phạm cho đến trọn đời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cô ni tu tập sự đã thực hành sự học tập về sáu pháp trong hai năm nên tầm cầu sự tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng. Đây cũng là pháp ―(như trên)― không được vi phạm cho đến trọn đời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"> Tỳ khưu ni không vì bất cứ nguyên do gì được phép mắng nhiếc gièm pha tỳ khưu. Đây cũng là pháp ―(như trên)― không được vi phạm cho đến trọn đời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Kể từ hôm nay, việc khuyên bảo của các tỳ khưu ni đến các tỳ khưu bị ngăn cấm, việc khuyên bảo của các tỳ khưu đến các tỳ khưu ni không bị ngăn cấm. Đây cũng là pháp cần được trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường, không được vi phạm cho đến trọn đời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Ānanda, nếu bà Mahāpajāpatī Gotamī thọ nhận tám Trọng Pháp, chính điều ấy là sự tu lên bậc trên đối với bà.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Ānanda đã học tám Trọng Pháp từ đức Thế Tôn rồi đã đi đến gặp bà Mahāpajāpati Gotamī, sau khi đến đã nói với bà Mahāpajāpatī Gotamī điều này: &#8211; “Này bà Gotamī, nếu bà có thể thọ nhận tám Trọng Pháp thì chính điều ấy sẽ là sự tu lên bậc trên đối với bà:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tỳ khưu ni đã tu lên bậc trên một trăm năm nên thực hiện sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến vị tỳ khưu vừa tu lên bậc trên vào ngày hôm ấy. ―(như trên)― Kể từ hôm nay, việc khuyên bảo của các tỳ khưu ni đến các tỳ khưu bị ngăn cấm, việc khuyên bảo của các tỳ khưu đến các tỳ khưu ni không bị ngăn cấm. Đây cũng là pháp cần được trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường, không được vi phạm cho đến trọn đời.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này bà Gotamī, nếu bà có thể thọ nhận tám Trọng Pháp này thì chính điều ấy sẽ là sự tu lên bậc trên đối với bà.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Thưa đại đức Ānanda, cũng giống như người nữ hoặc người nam còn trẻ, ở tuổi thanh niên, ưa thích trang điểm, vừa mới gội đầu, sau khi nhận được tràng hoa sen, hoặc tràng hoa nhài, hoặc tràng hoa đủ loại nên thọ lãnh bằng hai tay rồi đặt lên ở đỉnh đầu; thưa đại đức Ānanda, cũng tương tợ như vậy, tôi thọ nhận tám Trọng Pháp này cho đến trọn đời không vi phạm.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã thọ nhận tám Trọng Pháp. Người dì của đức Thế Tôn đã được tu lên bậc trên.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Ānanda, nếu người nữ không đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố, này Ānanda, Phạm hạnh có thể sẽ được tồn tại lâu dài, Thánh Pháp có thể tồn tại một ngàn năm. Này Ānanda, bởi vì người nữ đã xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố, này Ānanda, giờ đây Phạm hạnh sẽ không tồn tại lâu dài, này Ānanda, giờ đây Thánh Pháp sẽ tồn tại chỉ còn năm trăm năm.<a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/07/07_06.html#_ftn1" name="_ftnref1" rel="nofollow noopener" target="_blank">[1]</a></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Ānanda, cũng giống như những gia đình có nhiều người nữ, ít người nam thường dễ bị các kẻ cướp, các kẻ trộm đột nhập; này Ānanda, cũng tương tợ như thế, trong Pháp và Luật nào người nữ đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà, Phạm hạnh ấy không được tồn tại lâu dài.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Ānanda, cũng giống như trong thửa ruộng lúa đang phát triển, có loại bệnh gọi là mốc trắng xuất hiện, như thế ruộng lúa ấy không tồn tại lâu dài; này Ānanda, cũng tương tợ như thế, trong Pháp và Luật nào người nữ đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà, Phạm hạnh ấy không được tồn tại lâu dài.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Ānanda, cũng giống như trong ruộng mía đường đang phát triển, có loại bệnh gọi là rệp cây xuất hiện, như thế ruộng mía ấy không tồn tại lâu dài; này Ānanda, cũng tương tợ như thế, trong Pháp và Luật nào người nữ đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà, Phạm hạnh ấy không được tồn tại lâu dài.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Ānanda, cũng giống như người đàn ông chính vì phòng xa nên củng cố bờ đê của cái hồ lớn để không có sự tràn ra của nước; này Ānanda, cũng tương tợ như thế, tám Trọng Pháp do ta chính vì phòng xa đã quy định cho các tỳ khưu ni cho đến trọn đời không được vi phạm.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tám Trọng Pháp của các tỳ khưu ni</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã ở đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, con thực hành như thế nào đối với các người nữ dòng Sakya này?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho bà Mahāpajāpatī Gotamī bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu được ban phép tu lên bậc trên đến các tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các tỳ khưu ni ấy đã nói với bà Mahāpajāpatī Gotamī điều này: &#8211; “Bà chưa được tu lên bậc trên, chúng tôi đã được tu lên bậc trên; bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như thế này: ‘Các tỳ khưu ni nên được cho tu lên bậc trên bởi các tỳ khưu.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Ānanda rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đại đức Ānanda điều này: &#8211; “Thưa đại đức Ānanda, các tỳ khưu ni này đã nói với tôi như vầy: ‘Bà chưa được tu lên bậc trên, chúng tôi đã được tu lên bậc trên; bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như thế này: ‘Các tỳ khưu ni nên được cho tu lên bậc trên bởi các tỳ khưu.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói như vầy: ‘Thưa đại đức Ānanda, các tỳ khưu ni này đã nói với tôi như vầy: Bà chưa được tu lên bậc trên, chúng tôi đã được tu lên bậc trên; bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như thế này: Các tỳ khưu ni nên được cho tu lên bậc trên bởi các tỳ khưu.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Ānanda, kể từ lúc bà Mahāpajāpatī Gotamī thọ nhận tám Trọng Pháp, chính vào lúc ấy bà đã được tu lên bậc trên.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Ānanda rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đại đức Ānanda điều này: &#8211; “Thưa đại đức Ānanda, con thỉnh cầu đức Thế Tôn một điều ước muốn. Thưa đại đức, tốt đẹp thay đức Thế Tôn có thể cho phép sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp là tính theo thâm niên đối với các tỳ khưu và các tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói như vầy: ‘Thưa đại đức Ānanda, con thỉnh cầu đức Thế Tôn một điều ước muốn. Thưa đại đức, tốt đẹp thay đức Thế Tôn có thể cho phép sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp là tính theo thâm niên đối với các tỳ khưu và các tỳ khưu ni.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Ānanda, việc đức Như Lai có thể cho phép sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến người nữ là điều không có cơ sở và không hợp lý. Này Ānanda, bởi vì các ngoại đạo này có giáo lý được thuyết giảng tồi còn không thực hành sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến người nữ; vậy điều gì khiến Như Lai lại cho phép sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến người nữ?” Sau đó, đức Thế tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên thực hiện sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến người nữ; vị nào thực hiện thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, có những điều học của các tỳ khưu ni là (được quy định) chung với các tỳ khưu, bạch ngài, chúng con thực hành những điều học ấy như thế nào?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Gotamī, những điều học nào của các tỳ khưu ni là (được quy định) chung với các tỳ khưu, các tỳ khưu học tập như thế nào các ngươi hãy học tập những điều học ấy như thế ấy.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch ngài, có những điều học của các tỳ khưu ni là không (được quy định) chung với các tỳ khưu, bạch ngài, chúng con thực hành những điều học ấy như thế nào?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Gotamī, những điều học nào của các tỳ khưu ni là không (được quy định) chung với các tỳ khưu, các ngươi hãy học tập những điều học ấy như đã được quy định.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, lành thay xin đức Thế Tôn hãy thuyết giảng Pháp một cách vắn tắt để con sau khi nghe Pháp ấy có thể sống một mình, cách ly, không bị xao lãng, có sự nỗ lực, có sự quyết tâm.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Và này Gotamī, các Pháp nào mà bà có thể biết rằng các pháp này đưa đến tham ái mà không đưa đến sự xa lìa tham ái, đưa đến sự ràng buộc mà không đưa đến sự thoát khỏi ràng buộc, đưa đến sự tích lũy mà không đưa đến sự không tích lũy, đưa đến sự ham muốn nhiều mà không đưa đến sự ham muốn ít, đưa đến sự bực bội mà không đưa đến sự hoan hỷ, đưa đến sự tụ hội mà không đưa đến sự đơn độc, đưa đến sự biếng nhác mà không đưa đến sự khởi công tinh tấn, đưa đến sự khó nuôi dưỡng mà không đưa đến sự dễ nuôi dưỡng; này Gotamī, bà có thể xác định dứt khoát rằng: ‘Điều này không phải là Pháp, điều này không phải là Luật, điều này không phải là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Gotamī, các Pháp nào mà bà có thể biết rằng các pháp này đưa đến sự xa lìa tham ái mà không đưa đến tham ái, đưa đến sự thoát khỏi ràng buộc mà không đưa đến sự ràng buộc, đưa đến sự không tích lũy mà không đưa đến sự tích lũy, đưa đến sự ham muốn ít mà không đưa đến sự ham muốn nhiều, đưa đến sự hoan hỷ mà không đưa đến sự bực bội, đưa đến sự đơn độc mà không đưa đến sự tụ hội, đưa đến sự khởi công tinh tấn mà không đưa đến sự biếng nhác, đưa đến sự dễ nuôi dưỡng mà không đưa đến sự khó nuôi dưỡng; này Gotamī, bà có thể xác định dứt khoát rằng: ‘Điều này là Pháp, điều này là Luật, điều này là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, giới bổn <i>Pātimokkha</i> không được đọc tụng cho các tỳ khưu ni. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> cho các tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Ai sẽ đọc giới bổn <i>Pātimokkha</i> cho các tỳ khưu ni?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> cho các tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi đến chỗ ngụ của các tỳ khưu ni và đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> cho các tỳ khưu ni. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Những bà này là vợ của những ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Bây giờ những ông này sẽ hưởng lạc với những bà này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, các tỳ khưu không nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> cho các tỳ khưu ni; vị nào đọc tụng thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu ni đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> cho các tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu ni không biết: “Giới bổn <i>Pātimokkha</i> nên được đọc tụng như vầy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu chỉ dẫn các tỳ khưu ni: ‘Các vị nên đọc tụng giới bổn <i>Pātimokkha</i> như vầy.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni không sửa chữa tội đã vi phạm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên không sửa chữa tội đã vi phạm; vị ni nào không sửa chữa thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu ni không biết: “Tội đã vi phạm nên được sửa chữa như vầy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu chỉ dẫn các tỳ khưu ni: ‘Các vị nên sửa chữa tội đã vi phạm như vầy.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Ai sẽ ghi nhận tội cho các tỳ khưu ni?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu ghi nhận tội cho các tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, khi nhìn thấy vị tỳ khưu trên đường đi, ở ngõ cụt, nơi giao lộ, các tỳ khưu ni để xuống bình bát ở mặt đất, đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, rồi sửa chữa tội đã vi phạm. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Những bà này là vợ của những ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Sau khi đã làm mích lòng hồi đêm, giờ đây họ xin lỗi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, các tỳ khưu không nên ghi nhận tội cho các tỳ khưu ni; vị nào ghi nhận thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu ni ghi nhận tội cho các tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu ni không biết: “Tội nên được ghi nhận như vầy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu chỉ dẫn các tỳ khưu ni: ‘Các vị nên ghi nhận tội như vầy.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, hành sự cho các tỳ khưu ni đã không được thực hiện. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hành sự cho các tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Ai sẽ thực hiện hành sự cho các tỳ khưu ni?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu thực hiện hành sự cho các tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, khi gặp vị tỳ khưu trên đường đi, ở ngõ cụt, nơi giao lộ, các tỳ khưu ni có hành sự đã được hoàn tất để xuống bình bát ở mặt đất, đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, bày tỏ sự hối lỗi, trong khi nghĩ rằng: ‘Chắc là nên được thực hiện như vầy.’ Dân chúng tương tợ y như thế phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Những bà này là vợ của những ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Sau khi đã làm mích lòng hồi đêm, giờ đây họ xin lỗi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, các tỳ khưu không nên thực hiện hành sự cho các tỳ khưu ni; vị nào thực thi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu ni thực hiện hành sự cho các tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu ni không biết: “Hành sự nên được thực hiện như vầy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu chỉ dẫn các tỳ khưu ni: ‘Các vị nên thực hiện hành sự như vầy.’”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni ở giữa hội chúng đã nảy sinh ra xung đột, đã nảy sinh ra gây gỗ, đã đưa đến tranh cãi, sống châm chích lẫn nhau bằng các vũ khí mồm miệng. Họ không thể giải quyết sự tranh tụng ấy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu giải quyết sự tranh tụng của các tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu giải quyết sự tranh tụng của các tỳ khưu ni. Trong khi sự tranh tụng ấy đang được xét xử, các vị được biết rằng các tỳ khưu ni cần thiết cho hành sự cũng có vi phạm tội. Các tỳ khưu ni đã nói như vầy: &#8211; “Thưa các đại đức, tốt lành thay chính các ngài đại đức hãy thực hiện hành sự cho các tỳ khưu ni, chính các ngài đại đức hãy ghi nhận tội cho các tỳ khưu ni, bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: ‘Các tỳ khưu nên giải quyết sự tranh tụng của các tỳ khưu ni.’” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu xác định hành sự của các tỳ khưu ni rồi bàn giao lại cho các tỳ khưu ni, và các tỳ khưu ni được thực hiện hành sự cho các tỳ khưu ni; (cho phép) các tỳ khưu xác định tội của các tỳ khưu ni rồi bàn giao lại cho các tỳ khưu ni, và các tỳ khưu ni được ghi nhận tội cho các tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, vị tỳ khưu ni học trò của tỳ khưu ni Uppalavanṇṇā trong khi học tập về Luật đã theo đức Thế tôn bảy năm. Cô ấy có trí nhớ bị lộn xộn nên càng học càng quên. Rồi vị tỳ khưu ni ấy đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn có ý định đi đến thành Sāvatthi.” Khi ấy, vị tỳ khưu ni ấy đã khởi ý điều này: “Trong khi học tập về Luật, ta đã theo đức Thế Tôn bảy năm. Ta có trí nhớ bị lộn xộn nên càng học càng quên. Thật khó khăn cho người nữ để đi theo bậc Đạo Sư cho đến trọn đời; vậy ta nên thực hành như thế nào?” Sau đó, vị tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu giảng về Luật cho các tỳ khưu ni.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tụng phẩm thứ nhất</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Về vấn đề Thánh Pháp (<i>saddhamma</i>) có thể tồn tại một ngàn năm, ngài Buddhaghosa giải thích như sau: “Nói đến 1000 năm là đề cập đến sự diệt tận các lậu hoặc với sự thành đạt về bốn Tuệ Phân Tích. Từ đó về sau là 1000 năm của sự diệt tận các lậu hoặc do thuần túy Minh Sát, 1000 năm của đạo quả Bất Lai, 1000 năm của đạo quả Nhất Lai, 1000 năm của đạo quả Nhập Lưu. Như vậy, Pháp Thành sẽ tồn tại 5000 năm” (<i>Sđd</i>. 1291).</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG ĐÌNH CHỈ GIỚI BỔN PĀTIMOKKHA: TỤNG PHẨM THỨ NHÌ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-ix/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 01:06:29 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=11662</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II: Chương Đình Chỉ Giới Bổn Pātimokkha  Tụng Phẩm Thứ Nhì Các yếu tố của việc đích thân]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;"><strong>Tiểu Phẩm II: Chương Đình Chỉ Giới Bổn Pātimokkha </strong></span></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Tụng Phẩm Thứ Nhì</strong></span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Các yếu tố của việc đích thân khởi tố</strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Upāli đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Upāli đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, vị tỳ khưu có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố nên áp dụng việc đích thân khởi tố khi có bao nhiêu yếu tố?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Upāli, vị tỳ khưu có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố nên áp dụng việc đích thân khởi tố khi có năm yếu tố: Này Upāli, vị tỳ khưu có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố nên quán xét như sau: ‘Việc ta có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố này là đúng thời điểm để áp dụng việc đích thân khởi tố này hay không đúng (thời điểm)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Sái thời điểm để áp dụng việc đích thân khởi tố này, không phải đúng thời điểm.’ Này Upāli, không nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Đúng thời điểm để áp dụng việc đích thân khởi tố này, không phải sái thời điểm;’ này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm rằng: ‘Việc ta có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố này, nhưng việc đích thân khởi tố này là đúng đắn hay không (đúng đắn)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Việc đích thân khởi tố này là sai trái, không đúng đắn;’ này Upāli, không nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Việc đích thân khởi tố này là đúng đắn, không phải sai trái;’ này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm rằng: ‘Việc ta có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố này, nhưng việc đích thân khởi tố này có đem lại sự lợi ích hay không (đem lại sự lợi ích)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Việc đích thân khởi tố này đem lại sự vô ích, không đem lại sự lợi ích;’ này Upāli, không nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Việc đích thân khởi tố này đem lại sự lợi ích, không phải đem lại sự vô ích;’ này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm rằng: ‘Trong khi áp dụng việc đích thân khởi tố này, ta sẽ đạt được các tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết ở trong phe theo đúng Pháp theo đúng Luật hay sẽ không (đạt được)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Trong khi áp dụng việc đích thân khởi tố này, ta sẽ không đạt được các tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết ở trong phe theo đúng Pháp theo đúng Luật;’ này Upāli, không nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Trong khi áp dụng việc đích thân khởi tố này, ta sẽ đạt được các tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết ở trong phe theo đúng Pháp, theo đúng Luật;’ này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm rằng: ‘Khi việc đích thân khởi tố này của ta được áp dụng, do nguyên nhân ấy đối với hội chúng sẽ xảy ra sự tranh cãi, sự cãi cọ, sự xung đột, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân loại trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng hay sẽ không (xảy ra)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Khi việc đích thân khởi tố này của ta được áp dụng, do nguyên nhân ấy đối với hội chúng sẽ xảy ra sự tranh cãi, ―(như trên)― việc làm khác biệt trong hội chúng;’ này Upāli, không nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Upāli nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Khi việc đích thân khởi tố này của ta được áp dụng, do nguyên nhân ấy đối với hội chúng sẽ không xảy ra sự tranh cãi, ―(như trên)― việc làm khác biệt trong hội chúng;’ này Upāli, nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy. Này Upāli, việc đích thân khởi tố có năm yếu tố như thế được áp dụng sẽ không đem lại sự ân hận sau này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“Bạch ngài, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét bản thân bao nhiêu pháp rồi mới nên khiển trách vị khác?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét bản thân năm pháp rồi mới nên khiển trách vị khác. Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét như vầy: ‘Ta có sở hành về thân trong sạch không? Ta có sở hành về thân trong sạch, không sai sót, không lỗi lầm không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không có sở hành về thân trong sạch, không thành tựu sở hành về thân trong sạch, không sai sót, không lỗi lầm, có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này, đến lúc đại đức nên rèn luyện điều liên quan đến thân;’ có những người nói với vị này như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét như vầy: ‘Ta có sở hành về khẩu trong sạch không? Ta có sở hành về khẩu trong sạch, không sai sót, không lỗi lầm không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không có sở hành về khẩu trong sạch, không thành tựu sở hành về khẩu trong sạch, không sai sót, không lỗi lầm, có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này, đến lúc đại đức nên rèn luyện điều liên quan đến khẩu;’ có những người nói với vị này như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét như vầy: ‘Tâm từ của ta tức là tâm không ác cảm đối với các vị đồng Phạm hạnh có hiện khởi không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?’ Này Upāli, nếu tâm từ của vị tỳ khưu là tâm không ác cảm đối với các vị đồng Phạm hạnh không có hiện khởi, có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này, đến lúc đại đức nên thể hiện tâm từ đến các vị đồng Phạm hạnh;’ có những người nói với vị này như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét như vầy: ‘Ta có phải là vị nghe nhiều, nắm giữ điều đã được nghe, tích lũy điều đã được nghe? Các pháp nào là tốt đẹp phần đầu, tốt đẹp phần giữa, tốt đẹp phần cuối, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ, các pháp có hình thức như thế được ta nghe nhiều, ghi nhớ, ôn đọc ra lời, dùng trí quán sát, dùng tri kiến phân tích không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không phải là vị nghe nhiều, không phải là vị nắm giữ điều đã nghe, không tích lũy điều đã nghe. Những Pháp nào có sự tốt đẹp phần đầu, tốt đẹp phần giữa, tốt đẹp phần cuối, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ, các pháp có hình thức như thế không được vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ, ôn đọc ra lời, dùng trí quán sát, dùng tri kiến phân tích, có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này, đến lúc đại đức nên học tập kinh điển;’ có những người nói với vị này như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét như vầy: ‘Hai bộ giới bổn Pātimokkha có được truyền lại đến ta một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo được áp dụng, khéo được xác định theo từng điều học hoặc từng từ ngữ không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?’ Này Upāli, nếu hai bộ giới bổn Pātimokkha không được truyền lại đến vị tỳ khưu một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo được áp dụng, không khéo được xác định theo từng điều học hoặc từng từ ngữ, khi được hỏi như vầy: ‘Này đại đức, điều này đã được đức Thế Tôn nói ở đâu?’ mà không đáp được, có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này, đến lúc đại đức nên học tập về Luật;’ có những người nói với vị này như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét bản thân năm pháp này rồi mới nên khiển trách vị khác.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch ngài, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên khơi dậy ở nội tâm bao nhiêu pháp rồi mới nên khiển trách vị khác?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên khơi dậy ở nội tâm năm pháp rồi mới nên khiển trách vị khác: ‘Ta sẽ nói hợp thời, không phải sái thời; ta sẽ nói với sự thật, không phải với sự sai trái; ta sẽ nói với sự mềm mỏng, không phải bằng cách thô lỗ; ta sẽ nói có liên hệ đến lợi ích, không phải không liên hệ đến lợi ích; ta sẽ nói với tâm từ, không phải với nội tâm có sân hận.’ Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên khơi dậy ở nội tâm năm pháp này rồi mới nên khiển trách vị khác.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch ngài, sự ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách không đúng Pháp với bao nhiêu hình thức?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Upāli, sự ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách không đúng Pháp với năm hình thức. (Ai đó có thể nói rằng): ‘Đại đức khiển trách sái thời, không hợp thời, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách với sự sai trái, không phải với sự thật, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách bằng cách thô lỗ, không phải với sự mềm mỏng, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách không liên hệ đến lợi ích, không phải có liên hệ đến lợi ích, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách với nội tâm có sân hận, không phải với tâm từ, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài.’ Này Upāli, sự ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách không đúng Pháp với năm hình thức này. Lý do của điều ấy là gì? Là vì không có vị tỳ khưu nào khác có thể nghĩ đến là nên khiển trách với việc sai trái như thế.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch ngài, sự không có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách không đúng Pháp với bao nhiêu hình thức?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Upāli, sự không có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách không đúng Pháp với năm hình thức. (Ai đó có thể nói rằng): ‘Đại đức bị khiển trách sái thời, không hợp thời, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách với sự sai trái, không phải với sự thật, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách bằng cách thô lỗ, không phải với sự mềm mỏng, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách không liên hệ đến lợi ích, không phải có liên hệ đến lợi ích, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách bởi nội tâm có sân hận, không phải bởi tâm từ, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài.’ Này Upāli, sự không có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách không đúng Pháp với năm hình thức này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch ngài, sự không có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách đúng Pháp với bao nhiêu hình thức?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Upāli, sự không có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách đúng Pháp với năm hình thức. (Ai đó có thể nói rằng): ‘Đại đức khiển trách hợp thời, không sái thời, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách với sự thật, không phải với sự sai trái, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách với sự mềm mỏng, không phải bằng cách thô lỗ, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách có liên hệ đến lợi ích, không phải không liên hệ đến lợi ích, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách với tâm từ, không phải với nội tâm có sân hận, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài.’ Này Upāli, sự không có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách đúng Pháp với năm hình thức này. Lý do của điều ấy là gì? Là vì cũng có vị tỳ khưu khác sẽ nghĩ đến nên khiển trách với sự thật như thế.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch ngài, sự có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách đúng Pháp với bao nhiêu hình thức?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Upāli, sự có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách đúng Pháp với năm hình thức. (Ai đó có thể nói rằng): ‘Đại đức bị khiển trách hợp thời, không sái thời, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách với sự thật, không phải với sự sai trái, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách với sự mềm mỏng, không phải bằng cách thô lỗ, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách có liên hệ đến lợi ích, không phải không liên hệ đến lợi ích, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách bởi từ tâm, không phải bởi nội tâm có sân hận, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài.’ Này Upāli, sự có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách đúng Pháp với năm hình thức này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch ngài, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên tác ý nội tâm bao nhiêu pháp rồi mới nên khiển trách vị khác?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên tác ý nội tâm năm pháp rồi mới nên khiển trách vị khác: ‘Lòng bi mẫn, sự tầm cầu lợi ích, lòng thương xót, sự thoát khỏi tội, sự tôn trọng Luật.’ Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên tác ý nội tâm năm pháp này rồi mới nên khiển trách vị khác.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch ngài, vị tỳ khưu bị khiển trách nên an trú trong bao nhiêu pháp?”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Upāli, vị tỳ khưu bị khiển trách nên an trú trong hai pháp: chân thật và không nổi giận.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tụng phẩm thứ nhì</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chương Đình Chỉ Giới Bổn </b><b>Pātimokkha</b><b> là thứ chín</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong chương này có ba mươi sự việc</b>.</span></p>
<p><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tóm lược chương này</span></strong></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ngày lễ Uposatha, cho đến lần thứ ba vị ác tỳ khưu đã không đi ra, nhờ vị Moggallāna, đã bị lôi ra, điều kỳ diệu về Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Độ sâu, và sự học tập theo thứ lớp, có pháp ổn định, không vượt qua (điều học), xác chết, hội chúng loại trừ, và các dòng sông, từ bỏ (giai cấp).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các dòng nước trôi chảy, các bậc Vô Dư Niết Bàn, và một vị là giải thoát, có nhiều (vật quý), Pháp và Luật cũng vậy, các chúng sanh (to lớn) và tám hạng Thánh Nhân.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi dùng biển cả làm ví dụ, Ngài đã phô bày đặc điểm về Giáo Pháp, vào ngày Uposatha, giới bổn Pātimokkha, ‘không ai biết về chúng ta!’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Họ ra tay (đình chỉ) trước, các vị phê phán, một, hai, ba, bốn, năm, sáu, và bảy, tám, và chín, và mười trường hợp (đình chỉ) này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Về bốn phần là giới, hạnh kiểm, tri kiến, và nuôi mạng, các tội pārājika, và tội saṅghādisesa, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, ―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">―(và) tội dukkaṭa là thuộc về năm phần, và sự hư hỏng về giới, hạnh kiểm, chưa làm và đã làm, là thuộc về sáu phần theo như đường lối.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tội pārājika, và tội saṅghādisesa, và tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, luôn cả tội dukkaṭa, và tội dubbhāsita.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự hư về hỏng giới, hạnh kiểm, và sự hư hỏng về tri kiến, nuôi mạng, và các điều ấy là tám trong trường hợp đã làm và chưa làm. Với giới, hạnh kiểm, và tri kiến ấy, các điều này―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">― trong trường hợp chưa làm, cũng như đã làm, và luôn cả đã làm và chưa làm, như vậy là chín cách đã được nói đến, đúng với sự thật, theo phương pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị phạm tội pārājika, chưa được dứt điểm, vị đã xả bỏ (sự học tập), và tương tợ y như thê, vị phục tùng, vị bác bỏ, và sự thảo luận về việc bác bỏ ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và sự hư hỏng về giới, hạnh kiểm, giống như với sự hư hỏng về tri kiến do đã bị thấy bị nghe bị nghi ngờ, là mười trường hợp, nên biết rõ điều ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị tỳ khưu thấy rõ vị tỳ khưu, hay là vị khác đã nói điều ấy, và vị trong sạch khai báo đến vị ấy, vị ấy đình chỉ giới bổn Pātimokkha.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Hội chúng) giải tán vì nguy hiểm: từ đức vua, trộm cướp, hỏa hoạn, nước ngập, loài người, phi nhân, và thú dữ, rắn, mạng sống, Phạm hạnh.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chỉ với một (sự nguy hiểm) nào đó của mười, và tại trú xứ ấy hoặc tại các trú xứ nào khác, đúng Pháp và luôn cả sai Pháp, nên biết theo đường lối như thế ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Năm yếu tố nên hành xử) là đúng thời điểm, đúng đắn, đem lại sự lợi ích, ta sẽ đạt được, sẽ xảy ra (hay không?), (nên quán xét sở hành) về thân, về khẩu, tâm từ, sự học nhiều, hai bộ giới bổn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên khiển trách hợp thời, với sự thật, với sự mềm mỏng, có lợi ích, với tâm từ, có sự ân hận và không đúng Pháp, nên xua đi các lời nói như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lòng bi mẫn, sự (tầm cầu) lợi ích, lòng thương xót, sự thoát khỏi tội, sự tôn trọng (Luật) xua đi sự ân hận cho vị khiển trách đúng Pháp và cho vị bị khiển trách.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cách hành xử của vị khiển trách đã được đấng Toàn Giác giảng giải, và bản thể về sự chân thật và luôn cả sự không sân hận là dành cho vị bị khiển trách.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></span></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG ĐÌNH CHỈ GIỚI BỔN PĀTIMOKKHA: TỤNG PHẨM THỨ NHẤT</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-dinh-chi-gioi-bon-patimokkha-tung-pham-thu-nhat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 01:03:27 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=59731</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II: Chương Đình Chỉ Giới Bổn Pātimokkha  Tụng Phẩm Thứ Nhất Thỉnh cầu tuyên đọc giới bổn Pātimokkha ]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;"><strong>Tiểu Phẩm II: Chương Đình Chỉ Giới Bổn Pātimokkha </strong></span></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Tụng Phẩm Thứ Nhất</strong></span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Thỉnh cầu tuyên đọc giới bổn Pātimokkha </strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Sāvatthi, tu viện Pubba, ở tòa nhà dài của người mẹ của Migāra.[1] Vào lúc bấy giờ, nhằm ngày<i> Uposatha</i>, đức Thế Tôn đang ngồi, được vây quanh bởi hội chúng tỳ khưu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, lúc đêm đã khuya canh một đã tàn, đại đức Ānanda đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, đêm đã khuya canh một đã tàn, hội chúng tỳ khưu ngồi đã lâu. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn <i>Pātimokkha</i> cho các tỳ khưu.” Khi được nói như vậy, đức Thế Tôn đã im lặng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đến lần thứ nhì, lúc đêm đã khuya canh giữa đã tàn, đại đức Ānanda đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay lên hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, đêm đã khuya, canh giữa đã tàn, hội chúng tỳ khưu ngồi đã lâu. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn <i>Pātimokkha</i> cho các tỳ khưu.” Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã im lặng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đến lần thứ ba, lúc đêm đã khuya canh cuối đã tàn, bình minh đã rạng, trời đêm lộ vẻ rạng rỡ, đại đức Ānanda đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay lên hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, đêm đã khuya canh cuối đã tàn, bình minh đã rạng, trời đêm lộ vẻ rạng rỡ, hội chúng tỳ khưu ngồi đã lâu. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn <i>Pātimokkha</i> cho các tỳ khưu.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Ānanda, hội chúng không thanh tịnh.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna đã khởi ý điều này: “Liên quan đến nhân vật nào khiến đức Thế Tôn đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, hội chúng không thanh tịnh’?” Sau đó, đại đức Mahāmoggallāna đã tác ý dùng tâm biết được tâm của toàn thể hội chúng tỳ khưu. Đại đức Mahāmoggallāna đã nhìn thấy nhân vật ấy, kẻ có ác giới, có ác pháp, sở hành bất tịnh và đáng nghi ngờ, có hành động che giấu, không phải là Sa-môn, tự xưng là Sa-môn, không có Phạm hạnh, tự xưng là có Phạm hạnh, nội tâm thối nát, nhiễm dục vọng, có bản chất dơ bẩn, đang ngồi giữa hội chúng tỳ khưu.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi nhìn thấy đã đi đến gần nhân vật ấy, sau khi đến gần đã nói với nhân vật ấy điều này: &#8211; “Này ông bạn, hãy đứng dậy. Ngươi đã bị đức Thế Tôn nhìn thấy rồi. Việc cộng trú với các tỳ khưu là không có cho ngươi.” Được nói như vậy, nhân vật ấy đã im lặng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đến lần thứ nhì, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với nhân vật ấy điều này: &#8211; “Này ông bạn, hãy đứng dậy. Ngươi đã bị đức Thế Tôn nhìn thấy rồi. Việc cộng trú với các tỳ khưu là không có cho ngươi.” Đến lần thứ nhì, nhân vật ấy đã im lặng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đến lần thứ ba, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với nhân vật ấy điều này: &#8211; “Này ông bạn, hãy đứng dậy. Ngươi đã bị đức Thế Tôn nhìn thấy rồi. Việc cộng trú với các tỳ khưu là không có cho ngươi.” Đến lần thứ ba, nhân vật ấy đã im lặng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna đã nắm lấy nhân vật ấy ở cánh tay đẩy ra bên ngoài cánh cửa của cổng ra vào, gài chốt cửa lại, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này: &#8211; “Bạch ngài, nhân vật ấy đã bị con đẩy ra ngoài rồi; hội chúng được thanh tịnh. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn <i>Pātimokkha</i> cho các tỳ khưu.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này Moggallāna, thật là kỳ lạ! Này Moggallāna thật là bất thường! Gã rồ dại ấy lại chờ đợi cho đến lúc bị nắm lấy cánh tay.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tám pháp kỳ diệu về biển cả </span></strong></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, đây là tám pháp kỳ diệu phi thường về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét những pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả. Tám pháp ấy là gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, biển cả sâu xuống dần dần, có độ dốc xuống dần dần, có sự lõm xuống dần dần, không có vực sâu một cách đột ngột. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả sâu xuống dần dần, có độ dốc xuống dần dần, có sự lõm xuống dần dần, không có vực sâu một cách đột ngột, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, còn có điều này nữa, biển cả có pháp ổn định, không tràn qua khỏi bờ. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả có pháp ổn định, không tràn qua khỏi bờ, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ nhì về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, còn có điều này nữa, biển cả không sống chung với xác chết, nghĩa là khi ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy vào bờ hoặc hất lên đất liền. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả không sống chung với xác chết, nghĩa là khi ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy vào bờ hoặc hất lên đất liền, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ ba về biển cả, ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, còn có điều này nữa, các con sông lớn như là Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī khi đã ra đến biển cả thì từ bỏ các tên họ trước đây và đi đến tên gọi là ‘Biển cả.’ Này các tỳ khưu, sự việc các con sông lớn như là Gaṅgā, ―(như trên)― và đi đến tên gọi là ‘Biển cả,’ này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ tư về biển cả, ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, còn có điều này nữa, có các dòng nước ở trái đất đổ vào biển cả và các trận mưa từ không trung rơi xuống, nhưng không vì điều ấy mà biển cả được xem là vơi hay đầy. Này các tỳ khưu, sự việc có các dòng nước ở trái đất đổ vào biển cả và các trận mưa từ không trung rơi xuống nhưng không vì điều ấy mà biển cả được xem là vơi hay đầy, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ năm về biển cả, ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, còn có điều này nữa, biển cả có một vị là vị của muối. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả chỉ có một vị là vị của muối, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ sáu về biển cả, ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, còn có điều này nữa, biển cả có nhiều vật quý, có vô số vật quý. Ở đó, các vật quý ấy như là ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc bích, xà cừ, đá quý, san hô, bạc, vàng, ngọc ru-by, ngọc mắt mèo. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả có nhiều vật quý, có vô số vật quý; ở đó, các vật quý ấy ―(như trên)― này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ bảy về biển cả, ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, còn có điều này nữa, biển cả là nơi cư trú của các chúng sanh to lớn. Ở đó, các chúng sanh ấy là cá ông, cá voi, cá ông voi, các A-tu-la, các loài rồng, các Càn-thát-bà. Trong biển cả còn có những loài hữu hình lớn đến trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến hai trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến ba trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến bốn trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến năm trăm do tuần. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả là nơi cư trú của các chúng sanh to lớn; ở đó, các chúng sanh ấy là cá ông, ―(như trên)― Trong biển cả còn có những loài hữu hình lớn đến trăm do tuần, ―(như trên)― những loài hữu hình lớn đến năm trăm do tuần, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ tám về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả. Này các tỳ khưu, đây là tám pháp kỳ diệu phi thường về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế trong Pháp và Luật này có tám pháp kỳ diệu phi thường, sau khi thường xuyên xem xét những pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này. Tám pháp ấy là gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả sâu xuống dần dần, có độ dốc xuống dần dần, có sự lõm xuống dần dần, không có vực sâu một cách đột ngột, này các tỳ khưu, tương tợ như thế trong Pháp và Luật này có sự học tập theo thứ lớp, có sự thực hành theo thứ lớp, có sự tiến bộ theo thứ lớp, không có sự chứng ngộ đột ngột nào khác. Này các tỳ khưu, sự việc trong Pháp và Luật này có sự học tập theo thứ lớp, có sự thực hành theo thứ lớp, có sự tiến bộ theo thứ lớp, không có sự chứng ngộ đột ngột nào khác, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất trong Pháp và Luật này, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả có pháp ổn định, không tràn qua khỏi bờ, này các tỳ khưu, tương tợ như thế điều học nào đã được ta quy định cho các đệ tử của ta, các đệ tử của ta không vượt qua điều học ấy dù là nguyên nhân mạng sống. Này các tỳ khưu, sự việc điều học nào đã được ta quy định cho các đệ tử, các đệ tử của ta không vượt qua điều học ấy dù là nguyên nhân mạng sống, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ nhì trong Pháp và Luật này, ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả không sống chung với xác chết nghĩa là khi ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy vào bờ hoặc hất lên đất liền, này các tỳ khưu, tương tợ như thế nhân vật nào là kẻ có ác giới, có ác pháp, sở hành bất tịnh và đáng nghi ngờ, có hành động che giấu, phi Sa-môn, giả mạo Sa-môn, phi Phạm hạnh, giả mạo Phạm hạnh, nội tâm thối nát, nhiễm dục vọng, có bản chất dơ bẩn, hội chúng không sống chung với kẻ ấy mà tức thời tụ hội lại loại trừ kẻ ấy ra; cho dù kẻ ấy ngồi giữa hội chúng tỳ khưu nhưng kẻ ấy vẫn bị tách ly khỏi hội chúng và hội chúng vẫn được tách ly với kẻ ấy. Này các tỳ khưu, sự việc nhân vật nào là kẻ có ác giới, có ác pháp, ―(như trên)― hội chúng không sống chung với nhân vật ấy mà tức thời tụ hội lại loại trừ kẻ ấy ra; cho dù kẻ ấy ngồi giữa hội chúng tỳ khưu nhưng kẻ ấy vẫn bị tách ly khỏi hội chúng và hội chúng vẫn được tách ly với kẻ ấy, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ ba trong Pháp và Luật này, ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, cũng giống như các con sông lớn như là Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī khi đã ra đến biển cả thì từ bỏ các tên họ trước đây và đi đến tên gọi là ‘Biển cả,’ này các tỳ khưu, tương tợ như thế bốn loại giai cấp này là vua chúa, Bà-la-môn, thương buôn, và nô bộc, khi họ đã rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật được công bố bởi đức Như Lai thì từ bỏ các tên họ trước đây và đi đến tên gọi là ‘Các Sa-môn Thích tử.’ Này các tỳ khưu, sự việc bốn loại giai cấp này là vua chúa, ―(như trên)― và đi đến tên gọi là ‘Các Sa-môn Thích tử,’ này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ tư trong Pháp và Luật này, ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, cũng giống như các dòng nước ở trái đất đổ vào biển cả và các trận mưa từ không trung rơi xuống, nhưng không vì điều ấy mà biển cả được xem là vơi hay đầy, này các tỳ khưu, tương tợ như thế cho dù nhiều vị tỳ khưu Vô Dư Niết Bàn trong cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót, nhưng không vì điều ấy mà cảnh giới Niết Bàn được xem là vơi hay đầy. Này các tỳ khưu, sự việc cho dù nhiều vị tỳ khưu Vô Dư Niết Bàn trong cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót, nhưng không vì điều ấy mà cảnh giới Niết Bàn được xem là vơi hay đầy, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ năm trong Pháp và Luật này, ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả có một vị là vị của muối, này các tỳ khưu, tương tợ như thế Pháp và Luật này có một vị là vị của giải thoát. Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này có một vị là vị của giải thoát, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ sáu trong Pháp và Luật này, ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả có nhiều vật quý, có vô số vật quý; ở đó, các vật quý ấy như là ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc bích, xà cừ, đá quý, san hô, bạc, vàng, ngọc ru-by, ngọc mắt mèo, này các tỳ khưu, tương tợ y như thế Pháp và Luật này có nhiều vật quý, có vô số vật quý; ở đây, các vật quý ấy như là bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy pháp đưa đến giác ngộ, Thánh đạo tám ngành.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này có nhiều vật quý, có vô số vật quý; ở đây, các vật quý ấy như là bốn sự thiết lập niệm, ―(như trên)― này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ bảy trong Pháp và Luật này, ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả là nơi cư trú của các chúng sanh to lớn; ở đó, các chúng sanh ấy là cá ông, cá voi, cá ông voi, các A-tu-la, các loài rồng, các Càn-thát-bà. Trong biển cả còn có những loài hữu hình lớn đến trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến hai trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến ba trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến bốn trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến năm trăm do tuần. Này các tỳ khưu, tương tợ như thế Pháp và Luật này là nơi cư trú của các chúng sanh vĩ đại; ở đây, các chúng sanh ấy là vị Nhập Lưu, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Nhập Lưu, vị Nhất Lai, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Nhất Lai, vị Bất Lai, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Bất Lai, vị A-la-hán, vị đang thực hành để chứng ngộ quả A-la-hán. Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này là nơi cư trú của các chúng sanh vĩ đại; ở đây, các chúng sanh ấy là vị Nhập Lưu, ―(như trên)― này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ tám trong Pháp và Luật này, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này. Này các tỳ khưu đây là tám pháp kỳ diệu phi thường trong Pháp và Luật này, sau khi thường xuyên xem xét những pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, khi đã hiểu ra sự việc ấy, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">“<i>Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy, mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra. Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy, như vậy mưa không rơi nhiều ở vật ấy</i>.”[2]</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, giờ đây kể từ nay về sau ta sẽ không tiến hành lễ<i> Uposatha</i>, sẽ không tuyên đọc giới bổn. Này các tỳ khưu, giờ đây kể từ nay về sau chính các ngươi có thể tiến hành lễ<i> Uposatha</i>, có thể tụng đọc giới bổn <i>Pātimokkha</i>. Này các tỳ khưu, sự việc này không hợp lý không có cơ sở là việc đức Như Lai có thể tiến hành lễ<i> Uposatha</i>, có thể tuyên đọc giới bổn <i>Pātimokkha</i> ở hội chúng không thanh tịnh. Và này các tỳ khưu, vị phạm tội không nên nghe giới bổn <i>Pātimokkha</i>; vị nào nghe thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, vị nào phạm tội mà nghe giới bổn <i>Pātimokkha</i>, ta cho phép đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của vị ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Và này các tỳ khưu, nên đình chỉ như vầy: Vào ngày<i> Uposatha</i> là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) là vị phạm tội, tôi đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của vị ấy, giới bổn <i>Pātimokkha</i> không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Giới bổn <i>Pātimokkha</i> đã được đình chỉ.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư chính là những vị phạm tội mà vẫn nghe giới bổn <i>Pātimokkha</i> (nghĩ rằng): ‘Không ai biết về chúng ta!’ Các tỳ khưu trưởng lão biết được tâm của người khác nên báo cho các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các đại đức, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tên (như vầy) và tên (như vầy) chính là những vị phạm tội mà vẫn nghe giới bổn <i>Pātimokkha</i> (nghĩ rằng): ‘Không ai biết về chúng ta!’” Các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã nghe rằng: “Nghe nói các tỳ khưu trưởng lão biết được tâm của người khác nên báo cho các tỳ khưu về chúng ta rằng: ‘Này các đại đức, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tên (như vầy) và tên (như vầy) chính là những vị phạm tội mà vẫn nghe giới bổn <i>Pātimokkha</i> (nghĩ rằng): ‘Không ai biết về chúng ta!’” Các vị ấy (nghĩ rằng): ‘Trước hết, các tỳ khưu trong sạch sẽ đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của chúng ta’ nên ra tay trước đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của các tỳ khưu trong sạch không phạm tội khi không có cơ sở, không có nguyên nhân.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của các tỳ khưu trong sạch không có phạm tội khi không có cơ sở, không có nguyên nhân?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của các tỳ khưu trong sạch không có phạm tội khi không có cơ sở, không có nguyên nhân, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)―</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, không nên đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của các tỳ khưu trong sạch không có phạm tội khi không có cơ sở, không có nguyên nhân; vị nào đình chỉ thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, một sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp, một sự đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp, hai sự đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp, ba sự đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bốn sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp, bốn sự đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Năm sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp, năm sự đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sáu sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp, sáu sự đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bảy sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp, bảy sự đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tám sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp, tám sự đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chín sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp, chín sự đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mười sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp, mười sự đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là một sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Đây là một sự đình chỉ giới bổn<i>Pātimokkha</i> sai Pháp. Thế nào là một sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ. Đây là một sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là hai sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về hạnh kiểm không có nguyên cớ. Đây là hai sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i>sai Pháp. Thế nào là hai sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn<i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về hạnh kiểm có nguyên cớ. Đây là hai sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là ba sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i>với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ, ―(như trên)― với sự hư hỏng về hạnh kiểm không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về tri kiến không có nguyên cớ. Đây là ba sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp. Thế nào là ba sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ, ―(như trên)― với sự hư hỏng về hạnh kiểm có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về tri kiến có nguyên cớ. Đây là ba sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là bốn sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ, ―(như trên)― với sự hư hỏng về hạnh kiểm không có nguyên cớ, ―(như trên)― với sự hư hỏng về tri kiến không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về nuôi mạng không có nguyên cớ. Đây là bốn sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp. Thế nào là bốn sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ, ―(như trên)― với sự hư hỏng về hạnh kiểm có nguyên cớ, ―(như trên)― với sự hư hỏng về tri kiến có nguyên cớ, ―(như trên)― với sự hư hỏng về nuôi mạng có nguyên cớ. Đây là bốn sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là năm sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với tội <i>pārājika</i> không có nguyên cớ, ―(như trên)― với tội <i>saṅghādisesa</i> không có nguyên cớ, ―(như trên)― với tội <i>pācittiya</i> không có nguyên cớ, ―(như trên)― với tội <i>pāṭidesanīya</i> không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với tội <i>dukkaṭa</i> không có nguyên cớ. Đây là năm sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp. Thế nào là năm sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với tội <i>pārājika</i> có nguyên cớ, ―(như trên)― với tội <i>saṅghādisesa</i> có nguyên cớ, ―(như trên)― với tội <i>pācittiya</i> có nguyên cớ, ―(như trên)― với tội <i>pāṭidesanīya</i> có nguyên cớ, ―(như trên)― với tội <i>dukkaṭa</i>có nguyên cớ. Đây là năm sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là sáu sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về giới chưa làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về giới đã làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về tri kiến chưa làm không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về tri kiến đã làm không có nguyên cớ. Đây là sáu sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp. Thế nào là sáu sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về giới chưa làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về giới đã làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về tri kiến chưa làm có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn<i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về tri kiến đã làm có nguyên cớ. Đây là sáu sự đình chỉ giới bổn<i>Pātimokkha</i> đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là bảy sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với tội <i>pārājika</i> không có nguyên cớ, &#8230; với tội <i>saṅghādisesa</i> không có nguyên cớ, &#8230; với tội <i>thullaccaya</i> không có nguyên cớ, &#8230; với tội <i>pācittiya</i> không có nguyên cớ, &#8230; với tội <i>pāṭidesanīya</i> không có nguyên cớ, &#8230; với tội <i>dukkaṭa</i> không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với tội <i>dubbhāsita</i> không có nguyên cớ. Đây là bảy sự đình chỉ giới bổn<i>Pātimokkha</i> sai Pháp. Thế nào là bảy sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với tội <i>pārājika</i> có nguyên cớ, &#8230; với tội <i>saṅghādisesa</i> có nguyên cớ, &#8230; với tội <i>thullaccaya</i> có nguyên cớ, &#8230; với tội <i>pācittiya</i> có nguyên cớ, &#8230; với tội <i>pāṭidesanīya</i> có nguyên cớ, &#8230; với tội <i>dukkaṭa</i> có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với tội<i>dubbhāsita</i> có nguyên cớ. Đây là bảy sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là tám sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về giới chưa làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về giới đã làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về tri kiến chưa làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về tri kiến đã làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về nuôi mạng chưa làm không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i>với sự hư hỏng về nuôi mạng đã làm không có nguyên cớ. Đây là tám sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp. Thế nào là tám sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về giới chưa làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về giới đã làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về tri kiến chưa làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về tri kiến đã làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về nuôi mạng chưa làm có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về nuôi mạng đã làm có nguyên cớ. Đây là tám sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là chín sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về giới chưa làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về giới đã làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về giới đã làm và chưa làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm và chưa làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về tri kiến chưa làm không có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về tri kiến đã làm không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về tri kiến đã làm và chưa làm không có nguyên cớ. Đây là chín sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i>sai Pháp. Thế nào là chín sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về giới chưa làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về giới đã làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về giới đã làm và chưa làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm và chưa làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về tri kiến chưa làm có nguyên cớ, &#8230; với sự hư hỏng về tri kiến đã làm có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> với sự hư hỏng về tri kiến đã làm và chưa làm có nguyên cớ. Đây là chín sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là mười sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp? Vị phạm tội <i>pārājika</i> không ngồi ở tập thể đó, sự thảo luận về tội <i>pārājika</i> chưa được dứt điểm, vị đã xả bỏ sự học tập không ngồi ở tập thể đó, sự thảo luận về vị đã xả bỏ sự học tập chưa được dứt điểm, vị phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp, vị không bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp, sự thảo luận về việc bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp chưa được dứt điểm, vị không bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới, vị không bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, vị không bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến. Đây là mười sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> sai Pháp. Thế nào là mười sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp? Vị phạm tội <i>pārājika</i> ngồi ở tập thể đó, sự thảo luận về tội <i>pārājika</i> đã được dứt điểm, vị đã xả bỏ sự học tập ngồi ở tập thể đó, sự thảo luận về vị đã xả bỏ sự học tập đã được dứt điểm, vị không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp, vị bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp, sự thảo luận về việc bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp đã được dứt điểm, vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới, vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến. Đây là mười sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i>đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là vị phạm tội <i>pārājika</i> ngồi ở tập thể đó? Này các tỳ khưu, ở đây sự phạm tội<i>pārājika</i> là do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang phạm tội <i>pārājika</i> với những hình thức ấy, với những đặc tính ấy, với những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang phạm tội <i>pārājika</i> nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã phạm tội <i>pārājika</i>!’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu đang phạm tội <i>pārājika</i> và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã phạm tội <i>pārājika</i>!’ nhưng chính vị tỳ khưu (phạm tội) ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, tôi đã phạm tội <i>pārājika</i>!’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, với điều đã được nghe ấy, với điều đã được thấy ấy, với điều đã nghi ngờ ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày <i>Uposatha</i> là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) đã phạm tội <i>pārājika</i>, tôi đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của vị ấy, giới bổn <i>Pātimokkha</i> không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> là đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> của vị tỳ khưu đã bị đình chỉ, (nếu) tập thể giải tán do sự nguy hiểm nào đó trong mười sự nguy hiểm là sự nguy hiểm từ đức vua, sự nguy hiểm vì trộm cướp, sự nguy hiểm vì hỏa hoạn, sự nguy hiểm vì nước ngập, sự nguy hiểm vì loài người, sự nguy hiểm vì phi nhân, sự nguy hiểm vì thú dữ, sự nguy hiểm vì rắn, sự nguy hiểm vì mạng sống, sự nguy hiểm vì Phạm hạnh, này các tỳ khưu, tại trú xứ ấy hoặc trú xứ nào khác, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, vị tỳ khưu (nguyên cáo) nếu muốn có thể nêu lên giữa hội chúng rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về tội <i>pārājika</i> của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên quyết định sự việc này.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được, thì vào ngày<i> Uposatha</i> là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về tội <i>pārājika</i> của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Tôi đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của vị ấy, giới bổn <i>Pātimokkha</i> không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> là đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là vị đã xả bỏ sự học tập ngồi ở tập thể đó? Này các tỳ khưu, ở đây sự học tập được vị tỳ khưu xả bỏ do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang xả bỏ sự học tập với những hình thức ấy, với những đặc tính ấy, với những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang xả bỏ sự học tập nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã xả bỏ sự học tập!’ Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang xả bỏ sự học tập và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã xả bỏ sự học tập!’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, tôi đã xả bỏ sự học tập!’ này các tỳ khưu, với điều đã được nghe ấy, với điều đã được thấy ấy, với điều đã nghi ngờ ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày<i> Uposatha</i> là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) đã xả bỏ sự học tập, tôi đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của vị ấy, giới bổn <i>Pātimokkha</i> không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> là đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> của vị tỳ khưu đã bị đình chỉ, (nếu) tập thể giải tán do sự nguy hiểm nào đó trong mười sự nguy hiểm là sự nguy hiểm từ đức vua, ―(như trên)― hoặc sự nguy hiểm vì Phạm hạnh, này các tỳ khưu, tại trú xứ ấy hoặc trú xứ nào khác, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, vị tỳ khưu (nguyên cáo) nếu muốn có thể nêu lên giữa hội chúng rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc xả bỏ sự học tập của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên quyết định sự việc này.’ Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được, thì vào ngày <i>Uposatha</i> là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc xả bỏ sự học tập của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Tôi đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của vị ấy, giới bổn<i>Pātimokkha</i> không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> là đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là vị không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp? Này các tỳ khưu, ở đây việc không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp của vị tỳ khưu là do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, thì vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp với những hình thức ấy, với những đặc tính ấy, với những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp!’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp!’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, tôi không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp!’ này các tỳ khưu, với điều đã được nghe ấy, với điều đã được thấy ấy, với điều đã nghi ngờ ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày <i>Uposatha</i> là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp, tôi đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của vị ấy, giới bổn <i>Pātimokkha</i>không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> là đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là vị bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp? Này các tỳ khưu, ở đây việc bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp là do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp với những hình thức ấy, với những đặc tính ấy, với những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp!’ Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp!’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, tôi bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp!’ Này các tỳ khưu, với điều đã được nghe ấy, với điều đã được thấy ấy, với điều đã nghi ngờ ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày <i>Uposatha</i> là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp, tôi đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của vị ấy, giới bổn <i>Pātimokkha</i> không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> là đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi giới bổn <i>Pātimokkha</i> của vị tỳ khưu đã bị đình chỉ, (nếu) tập thể giải tán do sự nguy hiểm nào đó trong mười sự nguy hiểm là sự nguy hiểm từ đức vua, ―(như trên)― hoặc sự nguy hiểm vì Phạm hạnh. Này các tỳ khưu, tại trú xứ ấy hoặc trú xứ nào khác, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, vị tỳ khưu (nguyên cáo) nếu muốn có thể nêu lên giữa hội chúng rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên quyết định sự việc ấy.’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu sự việc ấy có thể đạt được như vậy, sự việc ấy như thế là tốt đẹp. Nếu không thể đạt được, thì vào ngày<i> Uposatha</i> là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Tôi đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của vị ấy, giới bổn <i>Pātimokkha</i> không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn<i>Pātimokkha</i> là đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu là bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới do những hình thức ấy, do những đặc tính ấy, do những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới!’ Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới!’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, tôi bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới!’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, với điều đã được nghe ấy, với điều đã được thấy ấy, với điều đã nghi ngờ ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày<i> Uposatha</i> là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới, tôi đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của vị ấy, giới bổn <i>Pātimokkha</i> không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> là đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu là bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm do những hình thức ấy, do những đặc tính ấy, do những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm!’ Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm!’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, tôi bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm!’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, với điều đã được nghe ấy, với điều đã được thấy ấy, với điều đã nghi ngờ ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày<i> Uposatha</i> là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, tôi đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của vị ấy, giới bổn <i>Pātimokkha</i> không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> là đúng Pháp.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào là vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến do những hình thức ấy, do những đặc tính ấy, do những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến!’ Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến!’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, tôi bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến!’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, với điều đã được nghe ấy, với điều đã được thấy ấy, với điều đã nghi ngờ ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày<i> Uposatha</i> là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến, tôi đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> của vị ấy, giới bổn <i>Pātimokkha</i> không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> là đúng Pháp. Đây là mười sự đình chỉ giới bổn <i>Pātimokkha</i> đúng Pháp.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Tụng phẩm thứ nhất</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] Tòa nhà này được xây dựng bởi mẹ của Migāra, tức là nữ cư sĩ Visākhā (ND).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Người phạm tội mà che giấu (vật đã được che đậy) thì sẽ tiếp tục phạm tội (mưa rơi nhiều), còn người đã phạm tội mà sám hối (vật đã được mở ra) thì sẽ không tiếp tục phạm tội nữa (VinA. vi, 1287; UdA. 306; ThagA. ii, 188). Câu kệ này cũng được thấy ở <i>Theragāthāpāḷi &#8211; Trưởng Lão Kệ</i>, câu kệ 447, TTPV tập 31, trang 131; <i>Udānapāḷi &#8211; Cảm Hứng Ngữ</i>, <em>Soṇavagga</em>, <em>Uposathasuttaṃ</em>, TTPV tập 28, trang 239.</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG PHẬN SỰ: PHẬN SỰ ĐỐI VỚI HỌC TRÒ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-viii/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 01:01:42 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=11660</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II Chương Phận Sự Phận sự đối với học trò Vào lúc bấy giờ, các vị thầy dạy]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;"><strong>Tiểu Phẩm II</strong></span></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Chương Phận Sự</strong></span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Phận sự đối với học trò</strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị thầy dạy học không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người học trò. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các vị thầy dạy học lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người học trò?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các vị thầy dạy học không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người học trò, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự đối với các người học trò cho các vị thầy dạy học, các vị thầy dạy học đối với các người học trò nên thực hành như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học nên thực hành phận sự đúng đắn đối với người học trò. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này:</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, thầy dạy học nên quan tâm đến người học trò, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự vấn hỏi, bằng sự giáo huấn, bằng sự giảng dạy. Nếu thầy dạy học có bình bát và người học trò không có bình bát, thầy dạy học nên cho bình bát đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để bình bát có thể phát sanh đến học trò?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy dạy học có y và người học trò không có y, thầy dạy học nên cho y đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y có thể phát sanh đến học trò?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy dạy học có vật dụng và người học trò không có vật dụng, thầy dạy học nên cho vật dụng đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến học trò?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người học trò bị bệnh, (vị thầy dạy học) nên thức dậy vào lúc sáng sớm. Nên trao gỗ chà răng. Nên trao nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi người học trò đã uống cháo xong, nên cho nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi người học trò đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người học trò có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trao cho. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. (Nghĩ rằng): ‘Đến lúc vị ấy sắp trở về,’ nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, nên rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây), nên nhận lại y lót trong (mặc lúc đi).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Trong khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): ‘Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.’ Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đã gấp lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu có đồ ăn khất thực và người học trò có ý muốn thọ dụng thì nên trao nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý người học trò về nước uống. Khi người học trò ăn xong nên trao nước (rửa). Nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn bình bát ở chỗ nắng. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống. Khi người học trò đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy. Nếu người học trò có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu (người học trò) có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng. Nếu người học trò có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi đến, trao ghế ngồi của nhà tắm hơi, nhận lấy y, rồi để ở một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho người học trò. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho người học trò. Khi đã tắm xong nên đi ra (khỏi nước) trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của người học trò. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý người học trò về nước uống. Ở trú xá nào người học trò cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc. ―(như trên)― Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu sự bực bội sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người học trò bị phạm tội nặng xứng đáng hình phạt <i>parivāsa</i>, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt <i>parivāsa</i> cho học trò?’ Nếu người học trò xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể đưa học trò về lại (hình phạt) ban đầu?’ Nếu người học trò xứng đáng hình phạt <i>mānatta</i>, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt <i>mānatta</i> cho học trò?’ Nếu người học trò xứng đáng sự giải tội, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho học trò?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu hội chúng có ý định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người học trò, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với học trò, hoặc đổi thành nhẹ hơn?’ Khi hội chúng đã thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người học trò, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để học trò có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu y của người học trò cần phải giặt, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên giặt như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của học trò được giặt?’ Nếu y của học trò cần phải may, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên may như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của học trò được may?’ Nếu thuốc nhuộm của người học trò cần phải nấu, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên nấu như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của học trò được nấu?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu y của người học trò cần phải nhuộm, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên nhuộm như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của học trò được nhuộm?’ Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng. Nếu người học trò bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là phận sự đối với các người học trò của các vị thầy dạy học. Các vị thầy dạy học đối với các người học trò nên thực hành như thế.” </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Chương Phận Sự là thứ tám</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Trong chương này có năm mươi lăm sự việc</b>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tóm lược chương này</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Có mang dép, và che dù, trùm đầu, đội y, nước uống, với sự không đảnh lễ, không hỏi (về chỗ ngụ), con rắn, các vị hiền thiện phàn nàn</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị đã cởi (dép), (hạ) dù, ở vai, và không vội vã trong khi đi đến, đã đặt y và bát xuống, và (chỗ ngồi) thích hợp, (các việc) đã được hỏi</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Nên xối nước, với vị đã rửa, (lau) giày dép với khăn khô, rồi ướt, vị trưởng thượng, vị mới tu, nên hỏi, (phòng) đã có người ở, và khu vực đi khất thực</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Các vị Thánh Hữu Học, nhà tiêu, nước uống, nước rửa, cây gậy chống, điều qui định từ nơi ấy, giờ giấc, (chờ) trong chốc lát, rác bẩn, nên đem ra ngoài thảm trải nền</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Khung giường, nệm gối, giường, ghế, và ống nhổ, tấm ván kê, tấm màn che, các hốc kẹt, màu đỏ, màu đen, (nền) không được thực hiện</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Rác, và tấm thảm trải nền, khung giường, giường và ghế, nệm gối, vật lót ngồi, ống nhổ, và tấm ván kê đầu</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Y và bình bát, và mặt đất, mép y phía bên kia, phần gấp lại ở bên này, từ hướng đông, và từ hướng tây, từ hướng bắc, rồi từ hướng nam</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Và khi lạnh khi nóng, ban ngày, ban đêm, căn phòng, cổng ra vào, phòng hội họp, nhà đốt lửa, và phận sự ở các nhà vệ sinh</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Nước uống, nước rửa, và hũ nước cho các việc súc miệng, phận sự đã được bậc Vô Song quy định, các điều này (nên được thực hành) bởi các vị vãng lai</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Không chịu (sắp xếp) chỗ ngồi, không nước, không đón tiếp, và không nước uống, không đảnh lễ, không sắp xếp (chỗ ngụ), và các vị hiền thiện phàn nàn</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Chỗ ngồi cho vị thâm niên, và nước rửa, sau khi đi ra đón tiếp, và nước uống, (nên lau) đôi dép, (phơi) ở một góc, nên đảnh lễ và nên sắp xếp (chỗ ngụ)</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Đã có người ở, khu vực đi khất thực, và vị Thánh Hữu Học, chỗ nước uống và nước rửa, cây gậy chống, điều quy định, giờ giấc, đối với vị mới tu, về vị vẫn ngồi</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Nên cho đảnh lễ, nên chỉ rõ, tương tợ như đường lối dưới đây, phận sự đã được vị Hướng Dẫn Đoàn Xe chỉ dạy, các điều này (nên được thực hành) bởi các vị thường trú</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị xuất hành, đồ gỗ, và các đồ đất nung, sau khi mở ra, không được thông báo, các vật bị mất, và không được bảo vệ, và các vị hiền thiện phàn nàn</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Sau khi thu xếp, sau khi đóng cửa, sau khi thông báo rồi nên ra đi, vị tỳ khưu, hoặc sa di, hoặc người phụ việc chùa, hoặc cư sĩ.</i></span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ở trên các hòn đá, và nên thu xếp thành đống, và nên đóng cửa, hoặc vị có nỗ lực, hoặc (thực hiện) sự nỗ lực, và tương tợ y như thế ở chỗ không dột</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Toàn bộ đều bị dột, (nên mang) vào làng, và tương tợ y như thế ở ngoài trời (nghĩ rằng): ‘Có lẽ các thứ này sẽ còn được tồn tại,’ phận sự (nên được thực hành) bởi vị tỳ khưu xuất hành</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Các vị không nói lời tùy hỷ, bởi vị trưởng lão, sau khi để ở lại, với bốn hay năm vị, bị mắc tiêu, đã bị ngất xỉu, các điều này là các phận sự trong các việc nói lời tùy hỷ</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Các vị nhóm Lục Sư mặc y luộm thuộm, và lại còn trùm y luộm thuộm, không đúng quy cách, và sau khi tách ra, chen vào (chỗ) các vị trưởng lão</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Và (đuổi) các vị mới tu, (trải ra) y hai lớp, và các vị hiền thiện phàn nàn, sau khi quấn che ba vòng tròn, dây thắt lưng, với nếp gấp, dây buộc</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Không tách ra, được che kín, khéo thu thúc, với mắt nhìn xuống, bị vén hở ra, với tiếng cười vang, âm thanh (giọng nói), và còn thêm ba sự đung đưa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Chống nạnh, trùm đầu, nhón gót, được che kín, khéo thu thúc, với mắt nhìn xuống, bị vén hở ra, tiếng cười vang, giọng nói nhỏ nhẹ, ba sự đung đưa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Chống nạnh, trùm đầu, ôm đầu gối, việc chen vào, ở chỗ ngồi, sau khi trải ra, nước, sau khi hạ thấp xuống, không nên làm văng nước</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vật chứa nước rửa, ở xung quanh, y hai lớp, và khi (được dâng) cơm, nên thọ lãnh, xúp, với thức ăn ngon, cho tất cả, và ngang miệng (bát)</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Nghiêm trang, và có sự chú tâm ở bình bát, và theo tuần tự, với lượng xúp, không vun thành đống, che lấp, yêu cầu, với ý định tìm lỗi</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>(Vắt cơm) lớn, tròn đều, cửa miệng, trọn bàn tay, không nói chuyện, đưa thức ăn liên tục, việc cắn (từng chút), phồng má, vung rảy tay, sự làm rơi đổ cơm</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Và luôn cả việc le lưỡi, tiếng chép chép, và với tiếng rột rột, liếm tay, vét bình bát, liếm môi, có dính thức ăn, về việc thọ lãnh</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Không (thọ nhận) nước rửa cho đến khi tất cả (đã ăn xong), sau khi hạ thấp, không nên làm văng, vật chứa nước rửa, ở xung quanh, y hai lớp, sau khi hạ thấp, và ở mặt đất</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>(Nước) có lẫn cơm, trong khi đi trở về, được che kín đáo, sự nhón gót, đây là phận sự ở nhà ăn đã được quy định bởi bậc Pháp Vương</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Mặc y phục luộm thuộm, không đúng quy cách, sau khi không suy xét, và vội vã, xa, gần, lâu, mau, tương tợ y như thế là vị đi khất thực</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Với sự che kín rồi nên đi, khéo thu thúc, với mắt nhìn xuống, bị vén hở ra, với tiếng cười vang, âm thanh (giọng nói), và còn thêm ba sự đung đưa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Chống nạnh, trùm đầu, nhón gót, sau khi không suy xét, và vội vã, xa, gần, lâu, mau, sự đụng đến, cái muỗng</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Hoặc cái đĩa, và thỉnh đứng lại, sau khi vén y lên, sau khi mở ra, nên thọ lãnh, không nên nhìn, về các món xúp, điều ấy cũng tương tợ y như thế</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị tỳ khưu, nên che đậy bằng y saṅghāṭi, được che kín rồi mới nên đi, khéo thu thúc, với mắt nhìn xuống, bị vén hở ra, và tiếng cười vang</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Với giọng nói nhỏ nhẹ, ba sự đung đưa, chống nạnh, trùm đầu, nhón gót, (về) trước tiên, chỗ ngồi, chậu đựng đồ thừa, nước uống, nước rửa, (vị) về sau, (nếu) muốn, có thể ăn, có thể đổ xuống, nên xếp lại cất đi</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Có thể dọn dẹp, nên quét, hết nước, trống trơn, nên đem (nước) lại, về dấu hiệu bằng tay, (không) nên nói ra lời, và phận sự về việc khất thực</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Nước uống, nước rửa, ngọn lửa, vật tạo lửa, sao, phương hướng, và bọn trộm cướp, ‘tất cả đều không có,’ sau khi đánh đập, vai mang bình bát, y, từ nơi ấy</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Giờ đây, sau khi mang ở vai, đều đặn ba vòng tròn, giống như phận sự của vị đi khất thực, phương thức cho các vị sống ở rừng cũng thế</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vai mang bình bát, y (đội) ở đầu, sau khi mang (dép) vào, và nước uống, nước rửa, ngọn lửa, vật tạo lửa, và luôn cả gậy chống</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ngôi sao, hoặc toàn bộ khu vực, nên rành rẽ về các phương hướng, các điều này là phận sự cho các vị ngụ ở rừng đã được quy định bởi bậc Tối Thượng của Chúng Sanh</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ở ngoài trời, các vị đã bị lấm bụi, và các vị hiền thiện phàn nàn, nếu trú xá có rác bẩn, trước tiên là y và bình bát</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Nệm gối, giường, ghế, và ống nhổ, tấm ván kê đầu, lỗ thông gió và các hốc kẹt, màu đỏ, màu đen, và (nền) chưa được thực hiện</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Rác rến, gần các vị tỳ khưu, (gần) sàng tọa, (gần) trú xá và nước uống, gần nước rửa, ngược chiều gió, và ở mái hiên</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Phía dưới gió, thảm trải nền, khung giường, và giường, ghế, nệm, vật lót ngồi, ống nhổ, và tấm ván kê đầu</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Y và bình bát, và mặt đất, mép y phía bên kia, phần gấp lại ở bên này, từ hướng đông, và từ hướng tây, từ hướng bắc, rồi từ hướng nam</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Và khi lạnh khi nóng, ban ngày, ban đêm, và căn phòng, cổng ra vào, và phòng hội họp, nhà đốt lửa, nhà vệ sinh, và nước uống</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Hũ nước súc miệng, và vị thâm niên, việc đọc tụng, các câu hỏi, việc học bài, (việc giảng) Pháp, nên thổi tắt ngọn đèn, không nên mở ra, cũng không nên đóng lại</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Khi đối đầu với vị thâm niên thì nên xoay lại, không nên va chạm dù là bằng chéo y, đấng Đại Hùng đã quy định điều ấy là phận sự ở các nơi cư ngụ</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Các vị trong khi bị cản trở, (đóng) cửa ra vào, đã bị ngất xỉu, các vị hiền thiện phàn nàn, nên đổ tro, nhà tắm hơi, và bục nền xung quanh tương tợ y như thế</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Căn phòng, cổng, gian phòng lớn, bột tắm, đất sét, máng nước, khuôn mặt, ở phía trước, không (chen vào) các vị trưởng lão, không nên (xua đuổi) các vị mới tu, nếu có nỗ lực</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>(Tắm) ở phía trước, ở phía trên, đường đi, bị lầy lội, (máng) đất sét, ghế ngồi, sau khi tắt lửa, nên đi ra, các điều này là phận sự ở các nhà tắm hơi</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vị không rửa sạch, theo thâm niên, theo thứ tự, và với sự vội vã, đã vén y lên, việc rặn, gỗ (chà răng), việc đại tiện, việc tiểu tiện, việc khạc nhổ</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bị sần sùi, hố phân, với sự vội vã, đã vén y lên, tiếng chép chép, với (nước) chừa lại, vị ở bên ngoài, và ở bên trong, nên tằng hắng, giây phơi, và sự không hấp tấp</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Với sự vội vã, sau khi vén y lên, về việc rặn, gỗ (chà răng), việc đại tiện, việc tiểu tiện, việc khạc nhổ, (khúc cây chùi) bị sần sùi, hố phân, bệ nhà vệ sinh</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Với sự không vội vã, đã vén y lên, ở sàn rửa, tiếng chép chép, không nên chừa lại (nước), nên che kín, bị dơ, với thùng đựng</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Nhà vệ sinh, bục nền xung quanh, và căn phòng, cổng, và nước để rửa ráy, các điều này là phận sự ở nhà vệ sinh</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Đôi dép, gỗ chà răng, và nước súc miệng, chỗ ngồi, cháo, nước, sau khi rửa, nên thu xếp, rác bẩn, và vào làng</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Y lót trong, dây thắt lưng, có nếp gấp, bình bát còn đẫm nước, vị thị giả, và luôn cả ba vòng, (mặc y nội) tròn đều, dây thắt lưng</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Có nếp gấp, sau khi rửa, vị (Sa-môn) hầu cận, không quá xa, nên nhận lấy, khi đang nói, tội vi phạm, sau khi đi về trước tiên, chỗ ngồi</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sau khi đi ra đón, y lót trong, nên phơi nắng, để luôn, vết gấp, ở phần đã gấp lại, để thọ thực, nên đem lại</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Nước uống, nước rửa, chỗ thấp, trong chốc lát, và không nên để luôn, y và bình bát, và mặt đất, mép y phía bên kia, phần gấp lại ở bên này</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Nên thu xếp, và nên dọn dẹp, rác bẩn, và (có ý muốn) tắm, (nước) lạnh, (nước) nóng, nhà tắm hơi, bột tắm, đất sét, từ phía sau lưng</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Và ghế ngồi, y, bột tắm, đất sét, nếu có nỗ lực, khuôn mặt, phía trước, (chen vào) các vị trưởng lão, và (xua đuổi) các vị mới tu, và việc kỳ cọ, nên rời khỏi</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ở phía trước, lúc ở trong nước, khi đã tắm, sau khi quấn y lại, (lau khô) thầy tế độ, và y lót trong, y hai lớp, ghế (nhà tắm hơi), và với chỗ ngồi</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ lau chân, nước uống, việc đọc tụng, việc hỏi đạo, rác bẩn, nên khéo làm sạch sẽ, trước tiên là y và bình bát</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vật lót ngồi, tấm trải nằm, nệm và các gối, giường, ghế, khung giường, ống nhổ, và tấm ván kê đầu</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>(Tấm trải) nền nhà, mạng nhện, lỗ thông gió, màu đỏ, màu đen, không được thực hiện, tấm trải nền, khung giường, giường, ghế, gối</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vật lót ngồi và tấm trải nằm, ống nhổ, tấm ván kê đầu, y và bình bát, từ hướng đông, và luôn cả từ hướng tây, từ hướng bắc, rồi từ hướng nam</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Và khi lạnh khi nóng, ban ngày, ban đêm, và căn phòng, cổng ra vào, phòng hội họp, và nhà đốt lửa, nhà vệ sinh, nước uống, nước rửa</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Việc súc miệng, sự bực bội, nỗi nghi hoặc, tà kiến, và tội nặng, từ đầu, hình phạt mànatta, việc giải tội, (hành sự) khiển trách, chỉ dạy</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>(Hành sự) xua đuổi, hòa giải, và treo tội, nếu đã được thực hiện, nên giặt, nên thể hiện, và việc nhuộm, nên nhuộm, việc trộn đều</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Và bình bát, và luôn cả y nữa, và vật dụng, việc cạo (tóc), việc kỳ cọ, việc hầu hạ, Sa-môn hầu cận, đồ khất thực, sự đi vào</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Không mộ địa, và luôn cả hướng (khác), cho đến trọn đời nên phục vụ, việc này (nên được thực hành) bởi người đệ tử, các điều này là phận sự đối với các vị thầy tế độ</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Sự giáo huấn, giảng dạy, đọc tụng, vấn hỏi, bình bát, và y, vật dụng, và vị bị bệnh, không nên là vị Sa-môn hầu cận</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Các phận sự nào đối với các vị thầy tế độ thì cũng như vậy đối với các vị thầy dạy học, các phận sự đối với các người đệ tử thì tương tợ y như thế đối với người học trò</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Các phận sự dành cho các vị vãng lai, và dành cho các vị thường trú nữa, các vị xuất hành, các vị nói lời tùy hỷ ở nơi thọ thực, và về vị đi khất thực</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Phận sự dành cho các vị ngụ ở rừng, và luôn cả ở các nơi cư ngụ, ở nhà tắm hơi, các nhà vệ sinh, các vị thầy tế độ, đối với người đệ tử</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Phận sự đối với các vị thầy dạy học, tương tợ y như thế đối với người học trò, có mười chín sự việc đã được nói đến ở mười sáu phần</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Trong khi không làm tròn phận sự thì không đầy đủ về giới, vị có giới không trong sạch, có tuệ kém, không có được nhất tâm</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Với tâm bị xáo trộn, không trụ một điểm, không nhìn thấy Pháp một cách đúng đắn, trong khi không nhìn thấy Chánh Pháp, không hoàn toàn thoát khỏi khổ đau</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Trong khi làm đầy đủ phận sự, thì cũng làm đầy đủ về giới, là vị có giới thanh tịnh, có tuệ, đạt được luôn cả nhất tâm</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Tâm không bị xáo trộn, trụ một điểm, nhìn thấy rõ Pháp một cách đúng đắn, trong khi bản thân nhìn thấy Chánh Pháp, vị ấy hoàn toàn thoát khỏi khổ đau</i>.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Chính vì điều ấy, người con trai sáng suốt của đấng Chiến Thắng, nên làm đầy đủ phận sự, lời giáo huấn của đức Phật tối thượng, từ đó hãy đi đến Niết Bàn</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a href="http://tamtangpaliviet.net/VHoc/07/07_04.html#_ftnref1" name="_ftn1" rel="nofollow noopener" target="_blank">[1]</a> Là vòng bụng ở lỗ rún và hai đầu gối. Xem điều học <em>sekhiya</em> thứ nhất (TTPV 02, trang 488-489).</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong><a href="https://theravada.vn/app" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID &amp; IOS)</a></strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG PHẬN SỰ: PHẬN SỰ ĐỐI VỚI THẦY DẠY HỌC</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-phan-su-phan-su-doi-voi-de-tu-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 00:55:49 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=59728</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II Chương Phận Sự Phận sự đối với thầy dạy học Vào lúc bấy giờ, các người học]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;"><strong>Tiểu Phẩm II</strong></span></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Chương Phận Sự</strong></span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Phận sự đối với thầy dạy học</strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các người học trò không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy dạy học. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: ­- “Vì sao các người học trò lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy dạy học?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ­</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các người học trò không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy dạy học, có đúng không vậy?” &#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự đối với các vị thầy dạy học cho các người học trò, các người học trò đối với các vị thầy dạy học nên thực hành như thế.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, người học trò nên thực hành phận sự đúng đắn đối với vị thầy dạy học. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên thức dậy vào lúc sáng sớm, cởi dép ra, đắp thượng y một bên vai, rồi nên dâng gỗ chà răng, nên dâng nước súc miệng, nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi thầy đã uống cháo xong, nên dâng nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi thầy dạy học đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy dạy học có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi dâng lên. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. Nếu thầy dạy học muốn có vị Sa-môn hầu cận, vị ấy nên mặc y nội tròn đều với sự che phủ ba vòng tròn, buộc dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trùm lên, thắt lại dây buộc, rửa bình bát và cầm lấy, rồi làm vị Sa-môn hầu cận cho thầy dạy học. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy bình bát được (vị thầy) hoán đổi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi thầy dạy học đang nói, không nên cắt ngang lời nói nửa chừng. Khi thầy dạy học có khả năng phạm tội lúc đang nói thì nên ngăn lại. Khi quay trở về, nên đi về trước tiên và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, nên rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây), nên nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Trong khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): ‘Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.’ Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đã gấp lại.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu có đồ ăn khất thực và thầy dạy học có ý muốn thọ dụng thì nên dâng nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý thầy dạy học về nước uống. Khi thầy ăn xong nên dâng nước (rửa), nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn bình bát ở chỗ nắng. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi thầy dạy học đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy dạy học có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu (thầy dạy học) có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng. Nếu thầy dạy học có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi rồi đi đến từ phía sau lưng và trao ghế ngồi của nhà tắm hơi cho thầy dạy học, nên nhận lấy y, và để ở một bên, nên trao bột tắm, nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho thầy dạy học. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho thầy dạy học. Khi đã tắm xong nên đi ra (khỏi nước) trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của thầy dạy học. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý thầy dạy học về nước uống. Nếu có ý muốn thỉnh (thầy) đọc tụng, nên thỉnh (thầy) đọc tụng. Nếu có ý muốn hỏi đạo, thì có thể hỏi đạo.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở trú xá nào thầy dạy học cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu ở trú xá có mạng nhện, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rải rắc với nước rồi quét (nghĩ rằng): ‘Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.’ Nên gom rác lại rồi đem đổ bỏ ở một góc.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây).</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và đồ trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm. Nếu phòng có rác bẩn, nên quét phòng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác bẩn, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác bẩn, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu sự bực bội sanh khởi ở thầy dạy học, người học trò nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở thầy dạy học, người học trò nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu tà kiến sanh khởi ở thầy dạy học, người học trò nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu thầy dạy học bị phạm tội nặng xứng đáng hình phạt <i>parivāsa</i>, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt <i>parivāsa</i> cho thầy dạy học?’</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy dạy học xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể đưa thầy dạy học về lại (hình phạt) ban đầu?’ Nếu thầy dạy học xứng đáng hình phạt <i>mānatta</i>, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt <i>mānatta</i> cho thầy dạy học?’ Nếu thầy dạy học xứng đáng sự giải tội, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho thầy dạy học?’ Nếu hội chúng có ý định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với thầy dạy học, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với thầy dạy học, hoặc đổi thành nhẹ hơn?’ Khi hội chúng đã thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với vị thầy dạy học, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thầy dạy học có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?’</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu y của thầy dạy học cần phải giặt, người học trò nên giặt hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy dạy học được giặt?’ Nếu y của thầy dạy học cần phải may, người học trò nên may hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy dạy học được may?’ Nếu thuốc nhuộm của thầy dạy học cần phải nấu, người học trò nên nấu hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy dạy học được nấu?’ Nếu y của thầy dạy học cần phải nhuộm, người học trò nên nhuộm hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy dạy học được nhuộm?’ Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không có phép của thầy dạy học, không nên cho bình bát đến người khác. Không nên thọ lãnh bình bát của người khác. Không nên cho y đến người khác. Không nên thọ lãnh y của người khác. Không nên cho vật dụng đến người khác. Không nên thọ lãnh vật dụng của người khác. Không nên cạo tóc cho người khác. Không nên bảo người khác cạo tóc. Không nên kỳ cọ người khác. Không nên bảo người khác kỳ cọ. Không nên hầu hạ người khác. Không nên bảo người khác hầu hạ. Không nên làm vị Sa-môn hầu cận cho người khác. Không nên nhận người khác làm vị Sa-môn hầu cận. Không nên mang đồ ăn khất thực lại dùm người khác. Không nên nhờ người khác mang dùm đồ ăn khất thực lại.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chưa xin phép thầy dạy học không nên đi vào làng, không nên đi đến mộ địa, không nên bỏ đi hướng khác. Nếu thầy dạy học bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là phận sự đối với các vị thầy dạy học của các người học trò, các người học trò đối với các vị thầy dạy học nên thực hành như thế.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG PHẬN SỰ: PHẬN SỰ ĐỐI VỚI ĐỆ TỬ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-phan-su-phan-su-doi-voi-de-tu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 00:53:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=59726</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II Chương Phận Sự Phận sự đối với đệ tử  Vào lúc bấy giờ, các vị thầy tế]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;"><strong>Tiểu Phẩm II</strong></span></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Chương Phận Sự</strong></span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Phận sự đối với đệ tử </strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các vị thầy tế độ không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người đệ tử. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các vị thầy tế độ lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người đệ tử?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các vị thầy tế độ không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người đệ tử, có đúng không vậy?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự đối với các người đệ tử cho các vị thầy tế độ, các vị thầy tế độ đối với các người đệ tử nên thực hành như thế.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ nên thực hành phận sự đúng đắn đối với người đệ tử. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, thầy tế độ nên quan tâm đến người đệ tử, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự vấn hỏi, bằng sự giáo huấn, bằng sự giảng dạy. Nếu thầy tế độ có bình bát và người đệ tử không có bình bát, thầy tế độ nên cho bình bát đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để bình bát có thể phát sanh đến đệ tử?’ Nếu thầy tế độ có y và người đệ tử không có y, thầy tế độ nên cho y đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y có thể phát sanh đến đệ tử?’ Nếu thầy tế độ có vật dụng và người đệ tử không có vật dụng, thầy tế độ nên cho vật dụng đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến đệ tử?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người đệ tử bị bệnh, (vị thầy tế độ) nên thức dậy vào lúc sáng sớm. Nên trao gỗ chà răng. Nên trao nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi người đệ tử đã uống cháo xong, nên trao nước (rửa), nên nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi người đệ tử đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người đệ tử có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trao cho. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. (Nghĩ rằng): ‘Đến lúc vị ấy sắp trở về,’ nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, nên rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây), nên nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Trong khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): ‘Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.’ Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đã gấp lại.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu có đồ ăn khất thực và người đệ tử có ý muốn thọ dụng thì nên trao nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý người đệ tử về nước uống. Khi người đệ tử ăn xong nên trao nước (rửa). Nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn bình bát ở chỗ nắng. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống. Khi người đệ tử đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người đệ tử có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng. Nếu người đệ tử có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm. Nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi đến, trao ghế ngồi của nhà tắm hơi, nhận lấy y, rồi nên đem để ở một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho người đệ tử. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho người đệ tử. Khi đã tắm xong nên đi ra (khỏi nước) trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của người đệ tử. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý người đệ tử về nước uống. Ở trú xá nào người đệ tử cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực thì (vị thầy) nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y và bình bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc. ―(như trên)― Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng. Nếu sự bực bội sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người đệ tử bị phạm tội nặng xứng đáng hình phạt parivāsa, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt parivāsa cho đệ tử?’ Nếu người đệ tử xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể đưa đệ tử về lại (hình phạt) ban đầu?’ Nếu người đệ tử xứng đáng hình phạt mānatta, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt mānatta cho đệ tử?’ Nếu người đệ tử xứng đáng sự giải tội, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho đệ tử?’</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu hội chúng có ý định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người đệ tử, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với đệ tử, hoặc đổi thành nhẹ hơn?’ Khi hội chúng đã thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người đệ tử, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để đệ tử có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?’</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu y của người đệ tử cần phải giặt, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên giặt như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của đệ tử được giặt?’ Nếu y của người đệ tử cần phải may, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên may như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của đệ tử được may?’ Nếu thuốc nhuộm của người đệ tử cần phải nấu, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên nấu như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của đệ tử được nấu?’ Nếu y của người đệ tử cần phải nhuộm, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên nhuộm như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của đệ tử được nhuộm?’ Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng. Nếu người đệ tử bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là phận sự đối với các người đệ tử của các vị thầy tế độ. Các vị thầy tế độ đối với các người đệ tử nên thực hành như thế.” </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Dứt tụng phẩm thứ nhì</b>.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG PHẬN SỰ: PHẬN SỰ ĐỐI VỚI THẦY TẾ ĐỘ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-phan-su-phan-su-doi-voi-thay-te-do/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 00:51:31 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=59724</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II Chương Phận Sự Phận sự đối với thầy tế độ Vào lúc bấy giờ, các người đệ]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;"><strong>Tiểu Phẩm II</strong></span></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Chương Phận Sự</strong></span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Phận sự đối với thầy tế độ</strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các người đệ tử không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các người đệ tử lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các người đệ tử không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ, có đúng không vậy?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, vì sao các người đệ tử lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.” Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự đối với các vị thầy tế độ cho các người đệ tử, đối với các vị thầy tế độ các người đệ tử nên thực hành như thế.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, người đệ tử nên thực hành phận sự đúng đắn đối với vị thầy tế độ. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên thức dậy vào lúc sáng sớm, cởi dép ra, đắp thượng y một bên vai, rồi nên dâng gỗ chà răng. Nên dâng nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi thầy đã uống cháo xong, nên dâng nước, nên nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi thầy tế độ đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy tế độ có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi dâng lên. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. Nếu thầy tế độ muốn có vị Sa-môn hầu cận, (người đệ tử) nên mặc y nội tròn đều với sự che phủ ba vòng tròn, buộc dây thắt lưng, gấp y hai lớp thành nếp rồi đắp lên, thắt lại dây buộc, rửa bình bát và cầm lấy, rồi làm vị Sa-môn hầu cận cho thầy tế độ. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy bình bát được (vị thầy) hoán đổi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi thầy tế độ đang nói, không nên cắt ngang lời nói nửa chừng. Khi thầy tế độ có khả năng phạm tội lúc đang nói thì nên ngăn lại. Khi quay trở về, nên đi về trước tiên và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, nên rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây), nên nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Trong khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): ‘Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.’ Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đã gấp lại.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu có đồ ăn khất thực và thầy tế độ có ý muốn thọ dụng thì nên dâng nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý thầy tế độ về nước uống. Khi thầy ăn xong nên dâng nước (rửa), nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn bình bát ở chỗ nắng. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi thầy tế độ đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy tế độ có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng. Nếu thầy tế độ có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi rồi đi đến từ phía sau lưng và trao ghế ngồi của nhà tắm hơi cho thầy tế độ, nên nhận lấy y và để ở một bên. Nên trao bột tắm, nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Khi đã tắm xong nên đi ra (khỏi nước) trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của thầy tế độ. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý thầy tế độ về nước uống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu có ý muốn thỉnh (thầy) đọc tụng, nên thỉnh (thầy) đọc tụng. Nếu có ý muốn hỏi đạo, thì có thể hỏi đạo. Ở trú xá nào thầy tế độ cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu ở trú xá có mạng nhện, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che. Nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu phần nền không được thực hiện, nên rải rắc với nước rồi quét (nghĩ rằng): ‘Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.’ Nên gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu phòng có rác bẩn, nên quét phòng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác bẩn, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác bẩn, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn, nên quét nhà vệ sinh.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu sự bực bội sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu tà kiến sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu thầy tế độ bị phạm tội nặng xứng đáng hình phạt <i>parivāsa</i>, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt <i>parivāsa</i> cho thầy tế độ?’</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu thầy tế độ xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể đưa thầy tế độ về lại (hình phạt) ban đầu?’ Nếu thầy tế độ xứng đáng hình phạt <i>mānatta</i>, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt <i>mānatta</i> cho thầy tế độ?’ Nếu thầy tế độ xứng đáng sự giải tội, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho thầy tế độ?’ Nếu hội chúng có ý định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với thầy tế độ, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với thầy tế độ, hoặc đổi thành nhẹ hơn?’ Khi hội chúng đã thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với thầy tế độ, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thầy tế độ có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?’</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu y của thầy tế độ cần phải giặt, người đệ tử nên giặt hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy tế độ được giặt?’ Nếu y của thầy tế độ cần phải may, người đệ tử nên may hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy tế độ được may?’ Nếu thuốc nhuộm của thầy tế độ cần phải nấu, người đệ tử nên nấu hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy tế độ được nấu?’ Nếu y của thầy tế độ cần phải nhuộm, người đệ tử nên nhuộm hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy tế độ được nhuộm?’ Trong khi nhuộm y, nên nhuộm bằng cách đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không có phép của thầy tế độ, không nên cho bình bát đến người khác, không nên thọ lãnh bình bát của người khác, không nên cho y đến người khác, không nên thọ lãnh y của người khác, không nên cho vật dụng đến người khác, không nên thọ lãnh vật dụng của người khác, không nên cạo tóc cho người khác, không nên bảo người khác cạo tóc, không nên kỳ cọ người khác, không nên bảo người khác kỳ cọ, không nên hầu hạ người khác, không nên bảo người khác hầu hạ, không nên làm vị Sa-môn hầu cận cho người khác, không nên nhận người khác làm vị Sa-môn hầu cận, không nên mang đồ ăn khất thực lại dùm người khác, không nên nhờ người khác mang dùm đồ ăn khất thực lại.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chưa xin phép thầy tế độ không nên đi vào làng, không nên đi đến mộ địa, không nên bỏ đi hướng khác. Nếu thầy tế độ bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời, nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là phận sự đối với các vị thầy tế độ của các người đệ tử, các người đệ tử đối với các vị thầy tế độ nên thực hành như thế.” </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG PHẬN SỰ: PHẬN SỰ Ở NHÀ VỆ SINH</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-phan-su-phan-su-o-nha-ve-sinh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 00:48:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=59721</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II Chương Phận Sự Phận sự ở nhà vệ sinh  Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;"><strong>Tiểu Phẩm II</strong></span></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Chương Phận Sự</strong></span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Phận sự ở nhà vệ sinh </strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ dòng dõi Bà-la-môn đại tiện xong không muốn rửa sạch (nghĩ rằng): “Ai lại đụng đến đồ hôi hám hạ tiện này?” Có con giun đũa đã dính ở hậu môn của vị ấy. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này đại đức, có phải đại đức đại tiện xong mà không rửa sạch?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các đại đức, đúng vậy.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các tỳ khưu nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao vị tỳ khưu đại tiện xong lại không rửa sạch?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này tỳ khưu, nghe nói ngươi đại tiện xong lại không rửa sạch, có đúng không vậy?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, sau khi đại tiện xong nếu có nước không nên không rửa sạch; vị nào không rửa sạch thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi đại tiện ở nhà vệ sinh theo thứ tự thâm niên. Các tỳ khưu mới tu đi đến trước tiên bị mắc tiêu vẫn chờ đợi. Trong lúc kiềm chế việc đại tiện, các vị ấy bị ngất xỉu ngã xuống. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói ―(như trên)― có đúng không vậy?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, việc đại tiện ở nhà vệ sinh không nên thực hành theo thứ tự thâm niên; vị nào thực hành thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện việc đại tiện theo thứ tự đi đến.”</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đi vào nhà vệ sinh vô cùng vội vã, vén y lên rồi đi vào, đại tiện rặn thành tiếng, đại tiện trong lúc nhai gỗ chà răng, đại tiện ra ngoài máng đựng phân, tiểu tiện ra ngoài máng nước tiểu, khạc nhổ vào máng nước tiểu, chùi bằng khúc cây chùi bị sần sùi, làm rơi khúc cây chùi vào hố phân, đi ra vô cùng vội vã, vén y lên rồi đi ra, rửa ráy có làm tiếng chắt lưỡi, chừa lại nước ở trong gáo múc nước rửa. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại đi vào nhà vệ sinh vô cùng vội vã, ―(như trên)― chừa lại nước ở trong gáo múc nước rửa?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)―</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này tỳ khưu, nghe nói ―(như trên)― có đúng không vậy?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự ở nhà vệ sinh cho các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nhà vệ sinh nên thực hành như thế.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị đi đến nhà vệ sinh, đứng ở bên ngoài, nên tằng hắng. Vị ngồi bên trong cũng nên tằng hắng. Nên máng y lên sào treo y hoặc dây phơi y rồi nên đi vào nhà vệ sinh một cách cẩn thận không hấp tấp. Không nên đi vào quá vội vã. Không nên vén y (nội) lên rồi đi vào. Khi đã đứng trên bệ nhà vệ sinh mới nên kéo y (nội) lên. Không nên đại tiện rặn thành tiếng. Không nên đại tiện trong lúc nhai gỗ chà răng. Không nên đại tiện ra ngoài máng đựng phân. Không nên tiểu tiện ra ngoài máng nước tiểu. Không nên khạc nhổ vào máng nước tiểu. Không nên chùi với khúc cây chùi bị sần sùi. Không nên làm rơi khúc cây chùi vào hố phân. Khi còn đứng trên bệ nhà vệ sinh, nên che lại kín đáo. Không nên đi ra vô cùng vội vã. Không nên vén y (nội) lên rồi đi ra. Khi đã đứng ở sàn rửa mới nên vén y lên. Không nên rửa ráy có làm tiếng chắt lưỡi. Không nên chừa lại nước ở trong gáo múc nước rửa. Khi còn đứng ở sàn rửa, nên che lại kín đáo. Nếu nhà vệ sinh bị dơ nên rửa sạch. Nếu thùng đựng đồ chùi bị đầy, nên đổ bỏ các khúc cây chùi. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn nên quét nhà vệ sinh. Nếu bục nền xung quanh có rác bẩn nên quét bục nền xung quanh. Nếu căn phòng có rác bẩn nên quét căn phòng. Nếu cổng có rác bẩn nên quét cổng. Nếu lu nước rửa không có nước, nên đổ nước vào lu nước rửa.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là phận sự ở nhà vệ sinh của các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nhà vệ sinh nên thực hành như thế.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG PHẬN SỰ: PHẬN SỰ Ở NHÀ TẮM HƠI</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-phan-su-phan-su-o-nha-tam-hoi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 00:45:15 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=59719</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II Chương Phận Sự Phận sự ở nhà tắm hơi  Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;"><strong>Tiểu Phẩm II</strong></span></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Chương Phận Sự</strong></span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Phận sự ở nhà tắm hơi </strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư ở trong nhà tắm hơi trong khi bị cản trở bởi các tỳ khưu trưởng lão, do không kính trọng nên đem lại nhiều củi, đốt lửa, đóng cửa ra vào, và ngồi xuống ở cửa ra vào. Các tỳ khưu bị hành hạ bởi sức nóng, không mở cửa được, nên bị ngất xỉu ngã xuống. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: &#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư ở trong nhà tắm hơi trong khi bị cản trở bởi các tỳ khưu trưởng lão, do không kính trọng nên đem lại nhiều củi, đốt lửa, đóng cửa ra vào, và ngồi xuống ở cửa ra vào khiến các tỳ khưu bị hành hạ bởi sức nóng, không mở cửa được, nên bị ngất xỉu ngã xuống?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư ở trong nhà tắm hơi trong khi bị cản trở bởi các tỳ khưu trưởng lão, do không kính trọng nên đem lại nhiều củi, đốt lửa, đóng cửa ra vào, và ngồi xuống ở cửa ra vào khiến các tỳ khưu bị hành hạ bởi sức nóng, không mở cửa được, nên bị ngất xỉu ngã xuống, có đúng không vậy?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Này các tỳ khưu, ở trong nhà tắm hơi trong khi bị cản trở bởi các tỳ khưu trưởng lão, do không kính trọng không nên đem lại nhiều củi và đốt lửa; vị nào đốt thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. Này các tỳ khưu, không nên đóng cửa ra vào rồi ngồi xuống ở cửa ra vào; vị nào ngồi thì phạm tội <i>dukkaṭa</i>. </span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự ở nhà tắm hơi cho các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nhà tắm hơi nên thực hành như thế.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị nào đi vào nhà tắm hơi trước tiên, nếu tro tích lũy nhiều (vị ấy) nên đem tro đi đổ. Nếu nhà tắm hơi có rác bẩn, nên quét nhà tắm hơi. Nếu bục nền xung quanh có rác bẩn, nên quét bục nền xung quanh. Nếu căn phòng có rác bẩn nên quét căn phòng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu gian phòng lớn của nhà tắm hơi có rác bẩn, nên quét gian phòng lớn của nhà tắm hơi. Nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét, nên đổ nước vào máng nước. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi, nếu có nỗ lực nên kỳ cọ cho các tỳ khưu trưởng lão. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi ra khỏi nhà tắm hơi. Ở trong nước, nếu có nỗ lực nên kỳ cọ cho các tỳ khưu trưởng lão. Không nên tắm ở phía trước, không nên tắm ở phía trên các tỳ khưu trưởng lão. Vị đã tắm xong trong khi đi ra (khỏi nước) nên nhường đường cho vị đi xuống. Vị nào rời nhà tắm hơi cuối cùng, nếu nhà tắm hơi bị lầy lội nên rửa sạch, nên rửa sạch máng đất sét, nên dọn dẹp ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên dập tắt lửa, nên đóng cửa, rồi đi ra.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là phận sự ở nhà tắm hơi của các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nhà tắm hơi nên thực hành như thế.”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIỂU PHẨM II &#8211; CHƯƠNG PHẬN SỰ: PHẬN SỰ Ở NƠI CƯ NGỤ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/tieu-pham-ii-chuong-phan-su-phan-su-o-noi-cu-ngu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2020 00:42:12 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TAM TẠNG (TIẾNG VIỆT)]]></category>
		<category><![CDATA[TẠNG LUẬT]]></category>
		<category><![CDATA[TIỂU PHẨM II]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu Phẩm II]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://theravada.vn/?p=59717</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Phẩm II Chương Phận Sự Phận sự ở nơi cư ngụ Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 18pt;"><strong>Tiểu Phẩm II</strong></span></h2>
<h3><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Chương Phận Sự</strong></span></h3>
<h4><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif; font-size: 14pt;"><strong>Phận sự ở nơi cư ngụ</strong></span></h4>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang may y ở ngoài trời. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã đập giũ sàng tọa ngược chiều gió ở trước mái hiên. Các vị tỳ khưu đã bị lấm bụi. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại đập giũ sàng tọa ngược chiều gió ở trước mái hiên khiến các tỳ khưu bị lấm bụi?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. &#8211; “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư đập giũ sàng tọa ngược chiều gió ở trước mái hiên khiến các tỳ khưu bị lấm bụi, có đúng không vậy?”</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: &#8211; “Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự ở nơi cư ngụ cho các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nơi cư ngụ nên thực hành như thế.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị (tỳ khưu) cư ngụ trong trú xá nào, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nên làm sạch sẽ nếu có nỗ lực. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu ở trú xá có mạng nhện, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che. Nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu phần nền không được thực hiện, nên rải rắc với nước rồi quét (nghĩ rằng): ‘Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.’ Nên gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc. Không nên đập giũ sàng tọa ở gần các tỳ khưu. Không nên đập giũ sàng tọa ở gần các trú xá. Không nên đập giũ sàng tọa ở gần nước uống. Không nên đập giũ sàng tọa ở gần nước rửa. Không nên đập giũ sàng tọa ngược chiều gió ở trước mái hiên. Nên đập giũ sàng tọa ở phía dưới gió.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi phơi nắng tấm trải nền ở một góc, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu phòng có rác bẩn, nên quét phòng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác bẩn, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác bẩn, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên lại đem nước uống. Nếu nước rửa không có, nên đem lại nước rửa. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu cư ngụ trong trú xá với vị thâm niên, khi chưa xin phép vị thâm niên không nên đọc tụng, không nên đưa ra các câu hỏi, không nên học bài, không nên giảng Pháp, không nên thắp đèn, không nên thổi tắt đèn, không nên mở cửa sổ, không nên đóng cửa sổ. Nếu đi kinh hành cùng với vị thâm niên trên cùng một đường kinh hành, khi đối đầu với vị thâm niên thì nên xoay lại và không nên va chạm vị thâm niên dù là bằng chéo y hai lớp.</span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Này các tỳ khưu, đây là phận sự ở nơi cư ngụ của các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nơi cư ngụ nên thực hành như thế.” </span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">*****</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
