<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tứ Niệm Xứ &#8211; Thiền Vipassana Do Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Phương Thuốc Chữa Bệnh Phiền Não Của Chúng Sinh</title>
	<atom:link href="https://thienvipassana.net/tag/tu-niem-xu/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://thienvipassana.net</link>
	<description>Tổng Hợp Chia Sẻ Các Bài Pháp Về Thiền Vipassana (Thiền Tứ Niệm Xứ) Theo Phương Pháp Ngài Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Các Tài Liệu Dhamma, Trợ Duyên Ai Đó Hữu Duyên Được Vững Vàng Trên Con Đường Tu Tập Giải Thoát Khổ, Được An Lạc Thực Sự, Hoà Hợp Thực Sự, Hạnh Phúc Thực Sự. #vipassana #dhamma #goenka #thienvipassana #buddha #phatphap #phatgiao #thiền</description>
	<lastBuildDate>Fri, 14 May 2021 08:37:33 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9.4</generator>

<image>
	<url>https://thienvipassana.net/wp-content/uploads/2020/05/cropped-LOGO-PHÁP-BẢO-ORIGINAL-7-32x32.png</url>
	<title>Tứ Niệm Xứ &#8211; Thiền Vipassana Do Thiền Sư S.N. Goenka Giảng Dạy, Phương Thuốc Chữa Bệnh Phiền Não Của Chúng Sinh</title>
	<link>https://thienvipassana.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>NGÀY THỨ 8: HỎI ĐÁP VỀ TỨ NIỆM XỨ SATIPATTHANA &#8211; THIỀN SƯ S.N. GOENKA</title>
		<link>https://thienvipassana.net/ngay-thu-7-hoi-dap-ve-tu-niem-xu-satipatthana-thien-su-s-n-goenka/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 30 Apr 2020 10:14:11 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TỨ NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI]]></category>
		<category><![CDATA[bốn niệm xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Đại Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Thiền Sư S.N. Goenka]]></category>
		<category><![CDATA[thiền Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ Giảng Giải]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ Satipatthana]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://thienvipassana.net/?p=2698</guid>

					<description><![CDATA[Hỏi và đáp Mỗi lời kinh sẽ trở nên rõ ràng khi bạn thực hành và đạt đến mục tiêu]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: justify;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Hỏi và đáp</strong></span></h2>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mỗi lời kinh sẽ trở nên rõ ràng khi bạn thực hành và đạt đến mục tiêu cuối cùng. Ở giai đoạn này, nhiều câu hỏi cứ tiếp tục đổ tới. Cho dù những câu trả lời của bậc Đạo sư có thỏa mãn được bạn trên phương diện tri thức, song hoài nghi có thể sẽ xói mòn chúng. Bạn chỉ có tưởng tượng, chứ không thấy. Hãy thực hành. Trong mỗi khóa thiền, nếu bạn cứ duy trì việc hành pháp &#8211; <em>dhamma</em>, bạn nghe cũng những bài kinh ấy, cũng những lời kinh ấy, nhưng mỗi lần bạn lại khám phá ra một điều gì đó mới mẻ. Sự hiểu biết đích thực, rõ ràng và không một chút hoài nghi hay lấn cấn, sẽ đến cùng với kinh nghiệm riêng của bạn.</span></p>
<p>https://youtu.be/u4ZnEKf90bE</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Ngài đã đề cập đến việc ghi nhận những trạng thái tâm khác nhau đang sanh khởi. Ngài sẽ đối phó với, chẳng hạn như sân hận hay tưởng tượng như thế nào?</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Ghi nhận sân hận, sợ hãi, tham dục, cái tôi hay bất kỳ loại bất tịnh nào khác không có nghĩa là đọc thầm chúng. Việc ghi nhận có thể giúp bạn tập trung và hiểu biết được đôi chút, nhưng <em>sampajañña</em> (trí tuệ tỉnh giác) bị bỏ quên. Chỉ cần chấp nhận nội dung tâm trí, rằng tâm bạn hiện đang có sân, chẳng hạn &#8211; <em>sadosaṃ vā cittaṃ… pajānāti</em> (tâm có sân tuệ tri có sân) &#8211; và quan sát bất kỳ cảm thọ nổi bật nào, với sự hiểu biết về sự sanh và diệt của nó. Bất kỳ cảm thọ nào có mặt lúc đó cũng sẽ liên hệ với sân.</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Các <em>kalāpas</em> &#8211; tổng hợp sắc hay những hạt hạ nguyên tử &#8211; sanh khởi từ đâu và chúng diệt rồi về đâu? Vì không thể có gì từ không mà có.</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Vũ trụ bắt đầu từ đâu, và nó được tạo ra như thế nào? Đây là sự suy đoán, là cách các triết thuyết nảy sanh. Đức Phật gọi chúng là những câu hỏi không thích đáng. Chúng không liên hệ đến khổ, tập khởi của khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa đến sự diệt khổ. Sự sáng tạo cứ tiếp diễn trong từng sát-na: Các <em>kalāpa</em> được tạo ra, chúng lúc nào cũng sanh và diệt, sanh và diệt, không biết đến sự sanh &#8211; diệt này sẽ dẫn đến khổ đau. Những gì khác ngoài ra là vô nghĩa. Đời người ngắn ngủi và bạn có một công việc lớn lao phải làm là thay đổi lề thói quen của tâm ở mức sâu xa nhất và đạt đến sự giải thoát viên mãn. Đừng phí thời gian của bạn: hãy làm việc, và thực tại do bạn kinh nghiệm sau đó sẽ tiết lộ mọi chuyện.</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Nhân nằm đằng sau sự hiện hữu của thế gian của tâm và vật chất (danh &#8211; sắc) này là gì?</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Vô minh sanh ra các hành (<em>saṅkhāra</em>), và các hành làm tăng trưởng vô minh. Toàn thế gian được tạo ra bởi sự  nuôi dưỡng hỗ tương này, chứ không có gì khác.</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Vậy thì vô minh bắt đầu như thế nào? Nó không thể cùng hiện hữu với tâm từ, trí tuệ và tri kiến chứ.</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Tất nhiên rồi, nhưng điều quan trọng hơn hết vẫn là thấu hiểu được vô minh của sát-na này và để cho sự thanh tịnh đến. Nếu không thì nó sẽ trở thành một vấn đề thuộc phạm vi triết lý, không giúp ích được gì cả.</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Đức Phật có đi thuyết giảng ở ngoài Ấn Độ không, như Miến (Myanmar ) chẳng hạn?</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Không có chứng cứ rõ ràng nào cho thấy rằng Đức Phật đã đi thuyết giảng ngoài vùng Ganga-Jamuna của bắc Ấn Độ.</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Với lòng tôn kính, thưa Ngài, làm sao chúng ta có thể nói được rằng Đức Phật đã tìm ra lại kỹ thuật bị thất truyền này khi bản thân Ngài đã được dạy nó và phát nguyện trước một vị Phật quá khứ?</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Rất nhiều người đã gặp được một vị Phật, phát khởi tín tâm và ước nguyện không chỉ giải thoát tự thân, mà còn mong muốn trở thành một vị Phật Chánh Đẳng Giác (<em>sammā-sambuddha</em>) để giúp giải thoát cho nhiều người khác. Trong khi bày tỏ ước nguyện này vị Phật Chánh Đẳng Giác lúc đó có thể xem xét khả năng tâm linh của họ: hoặc họ đã từng hành trong vô lượng kiếp quá khứ, nếu bây giờ được cho một đề tài Minh sát (<em>vipassanā</em>), chẳng mấy chốc họ sẽ trở thành bậc Alahán; hoặc dù biết rõ điều này (sẽ đắc Alahán) họ vẫn ước nguyện tu tập các pháp balamật (<em>pāramis</em>) của mình cho đến một mức độ cần thiết qua vô lượng kiếp thêm nữa. Nếu sự tình như vậy, họ không chỉ nhận được lời phú chúc mà còn nhận được cả lời tiên đoán về thời gian (sẽ thành Phật) nữa. Vị đạo sĩ, người mà về sau đã tái sinh làm bồtát Gotama (Cồđàm), có khả năng đạt đến giai đoạn của một bậc Alahán lúc đó, nhưng không hành thiền Minh sát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong kiếp cuối cùng của mình, với tăm tối vây quanh, những lời ca tụng rất mực về <em>Vipassanā</em> (Minh sát) vẫn hiện hữu trong Rigveda [3] cổ xưa, nhưng chỉ là những lời đọc tụng suông. Việc thực hành đã thất truyền. Nhờ các balamật quá khứ của mình, Đức Bồtát (Gotama) đã đi vào chiều sâu và khám phá ra nó. Ngài nói: &#8220;<em>pubbe ananusutesu dhammesu cakkhuṃ upadādi</em>&#8221; &#8211; Mắt ta đã mở đối với Pháp mà trước đây ta chưa từng được nghe &#8211; (nhãn sanh). Sau đó Ngài gọi Pháp ấy là <em>purāṇo maggo</em> &#8211; Con đường cổ xưa. Ngài tìm lại được con đường từ lâu đã bị vùi lấp, lãng quên và ban bố nó cho thế gian.</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Liệu một thực thể với các hành &#8211; <em>saṅkhāras</em> &#8211; làm nhân cho tái sinh có được sự chọn lựa nào không về hoàn cảnh (nơi tái sanh), hay điều đó thực sự được quyết định bởi các hành quá khứ?</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Các hành &#8211; <em>saṅkhāra</em> &#8211; quá khứ trách nhiệm cho tái sinh trong những lĩnh vực thấp kém mạnh đến nỗi mà vào thời điểm chết một trong những hành này sẽ khởi lên và tạo ra một sự rung động hòa điệu với sự rung động của một cảnh giới đặc biệt nào đó; theo cách ấy bạn bị hút vào những mức độ khổ sâu hơn. Tuy nhiên, nếu thiền minh sát được thực hành một cách đúng đắn, ngay cả với những hành như vậy sự rung động của <em>vipassanā</em> cũng vẫn mạnh đến độ vào sát-na tâm cuối cùng nó khởi lên và liên kết với một cảnh giới, ở đây thiền minh sát có thể được thực hành, thay vì bị cuốn vào một lĩnh vực thấp kém. Vì thế, theo một cách khác bạn có thể chọn không để rơi xuống (cảnh giới thấp kém).</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Nếu cái &#8220;tôi&#8221; là phi hữu, cái &#8220;tôi&#8221; là một ảo tưởng, vậy &#8220;tôi&#8221; có thể tái sinh như thế nào?</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Không có gì (đi) tái sinh. chỉ có một dòng tương tục của tâm và vật chất (danh và sắc): mỗi sát-na &#8220;<em>saṅkhāra paccayā viññānaṃ</em>&#8221; (hành duyên cho thức). Vào lúc chết lực đẩy của một hành sâu xa đó khiến cho thức &#8211; <em>viññāna</em> &#8211; khởi lên với một thân khác, vậy thôi.</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Nếu phần thưởng dành cho sự thành tựu Niết Bàn là cái chết thể xác, tại sao lại phải thực hành để chết?</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Đó không phải là sự hủy diệt, mà là một nghệ thuật chết kỳ diệu. Đó cũng là một nghệ thuật sống, thoát ra khỏi mọi bất tịnh để sống một đời sống lành mạnh. Khi bạn kinh nghiệm Niết Bàn, đó là một trạng thái giống như chết: các căn không làm việc, nhưng hoàn toàn tỉnh thức bên trong. Hãy kinh nghiệm nó. Tự động câu hỏi được trả lời.</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Người đã giải thoát sẽ sống ở đâu nếu không tái sinh?</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Rất nhiều câu hỏi đại loại như vậy đã được người ta đặt ra với Đức Phật. Điều gì xảy ra với một vị Alahán sau khi chết là điều đã được vị ấy kinh nghiệm trong cuộc sống (vì ngay cả khi còn sống vị Alahán cũng đã thọ hưởng hữu dư Niết Bàn). Kinh nghiệm giai đoạn thứ tư của Niết Bàn (Niết Bàn của bậc Alahán) các vị hiểu được rằng đây là giai đoạn cùng tột, giai đoạn ấy cũng sẽ xảy ra sau khi chết. Điều đó không thể nào giải thích được bằng lời vì nó vượt ngoài tâm và vật chất (danh &#8211; sắc). Một điều gì đó vượt ngoài lĩnh vực cảm quan không thể nào diễn đạt được bằng các giác quan. Một kinh nghiệm thuộc chiều thứ tư làm sao có thể thể hiện trong (không gian) ba chiều được. Có thử mới biết (The proof is in eating the cake).</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Liệu một người giác ngộ có gia đình vẫn có thể có con chứ?</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Dục (nhục dục) đương nhiên sẽ trở nên yếu đi khi bạn thăng tiến, tuy thế bạn vẫn cảm thấy hài lòng và hạnh phúc. Sao lại phải lo về chuyện đó? Cứ đến giai đoạn (giác ngộ) đó đi và câu hỏi sẽ được trả lời.</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Có một thứ tự ưu tiên để liệt kê mười pháp balamật (<em>pāramīs</em>) không?</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Tu tập các balamật ấy là chuyện quan trọng hơn, thứ tự không thành vấn đề.</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Bởi lẽ thiền Minh sát đã được truyền bá rộng khắp, như vậy các vị Tuđàhoàn (<em>sotāpannā</em>), Anahàm (<em>anāgāmī</em>) và Alahán (<em>Arahant</em>) ngày nay có nhiều không?</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Con số những người hành thiền ngày nay chỉ như một giọt nước trong đại dương của hàng tỷ người, và hầu hết còn ở giai đoạn mẫu giáo; cũng có những trường hợp người hành thiền đã kinh nghiệm Niết Bàn, nhưng rất ít.</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Không có ý xúc phạm, thưa Ngài Goenka, Ngài đã giác ngộ viên mãn?</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Tôi không phải là một bậc Alahán, nhưng không hoài nghi chuyện đang trên đạo lộ để trở thành một vị Alahán. Tôi đã bước được nhiều bước hơn tất cả các bạn trên đạo lộ, tôi có đủ khả năng để dạy các bạn. Hãy bước đi trên đạo lộ để đạt đến mục tiêu cuối cùng: điều đó quan trọng hơn là dò xét thầy của bạn!</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Ai là thầy của Ngài Ledi Sayadaw [4]? Ngài thường đề cập đến truyền thống lấy thọ &#8211; <em>vedanā</em> &#8211; làm căn bản, vậy tên của truyền thống này là gì?</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Không có sử liệu ghi chép, nhưng Ledi Sayadaw nói rằng Ngài học kỹ thuật này từ một vị sư ở Mandalay (cố đô Miến Điện). Như vậy, truyền thống (niệm thọ) này tồn tại ngay cả trước thời Ngài Ledi. Trong số rất nhiều những học trò của Ngài, một số cũng đã bắt đầu đi dạy, và xem niệm thọ (<em>vedanā</em>) là quan trọng. Sayet Thet đã dạy cho Sayagyi U Ba Khin, một trong số những vị thiền sư khác, và Sayagyi U Ba Khin cũng có một số học trò hiện đang dạy thiền. Tôi là học trò của Ngài và cũng xem thọ là quan trọng. Truyền thống này chú trọng đến niệm thọ &#8211; <em>vedanā</em>.</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Về vấn đề tụng kinh…</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Tụng kinh là một phần phận sự của vị thiền sư, để tạo ra những rung động tốt, để bảo vệ công việc (thực hành) của các thiền sinh khỏi những rung động xấu từ bên ngoài. Công việc của thiền sinh là thực hành và quan sát, đó là lý do vì sao họ không được yêu cầu phải tụng kinh. Ở một giai đoạn nào đó chúng tôi cũng dạy: giữa mỗi lời (kinh) bạn chánh niệm các cảm thọ với tính chất vô thường &#8211; <em>anicca</em> của nó, và với trí tuệ tỉnh giác &#8211; <em>sampajaññā</em> rất rõ rệt ở mỗi lúc ngưng lại. Đây không phải tụng đọc suông, mà là để tạo ra sự rung động của Pháp (<em>dhamma</em>). Tụng kinh trở thành một phần của việc thiền tỉnh giác (<em>sampajañña</em>) thường xuyên. Nếu không thì, tụng đọc suông, xem ra rất dễ, cũng chỉ là một lễ nghi tôn giáo hay nghi thức tôn giáo.</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Nếu không có cái tôi, phần nào của con người có thể cho ra hay tiếp nhận tâm từ (<em>mettā</em>).</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: <em>Vipassanā</em> đưa bạn đến sự thực cùng tột, nhưng Đức Phật muốn bạn phải biết rõ cả hai sự thực &#8211; cùng tột và bề ngoài. Chẳng hạn như trên phương diện cùng tột cả bức tường này lẫn đầu của tôi đều là những rung động, song ở phương diện bề ngoài chúng là những vật thể cứng. Nếu va chạm, bức tường vẫn sẽ làm bể đầu tôi như thường! Trên phương diện cùng tột hay chân lý tuyệt đối, không có chúng sinh, nhưng bạn vẫn phải từ bỏ những hành động bất thiện &#8211; như sân hận, nóng giận, ác ý và thù nghịch &#8211; bởi vì chúng làm hại bạn. Phát ra từ bi và thiện chí, làm cho tâm bạn tốt hơn, và nó còn giúp cho bạn đạt đến mục tiêu cuối cùng.</span></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>H</strong>: Sự giải thích của Ngài về kinh có vẻ như không đúng hoàn toàn theo nguyên văn. Làm thế nào Ngài biết được sự giải thích của Ngài là đúng với những gì Đức Phật muốn nói?</span></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đ</strong>: Ngôn ngữ đã qua hai mươi lăm thế kỷ, và ý nghĩa của nó cũng thay đổi. Cho dù chúng không đổi chăng nữa, những gì Đức Phật nói bằng kinh nghiệm của Ngài cũng không thể nào hiểu được nếu không có kinh nghiệm đó. Nhiều nhà dịch thuật chưa bao giờ thực hành. Ở đây, chúng ta không chê trách hay chỉ trích những giải thích khác về lời dạy của Đức Phật. Khi bạn thực hành, bạn sẽ hiểu được những gì Đức Phật có ý định muốn nói; và cho đến lúc này bạn phải chấp nhận bất cứ điều gì bạn kinh nghiệm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các bản chú giải được viết khoảng hơn một ngàn năm sau Đức Phật nhập diệt, mặc dù sự khảo cứu của chúng ta phát hiện ra rằng thiền minh sát (<em>vipassanā</em>) trong hình thức thuần khiết của nó đã thất truyền năm trăm năm sau sự nhập diệt của Đức Phật. Các bản chú giải khác được viết trong thời gian 500 năm ấy, nhưng đã bị thất lạc ngoại trừ bản ở Sri Lanka (Tích Lan): các bản chú đó lại được dịch sang Pāḷi, nhưng với sự giải thích riêng của người dịch. Tất nhiên những bản dịch ấy cho chúng ta một bức tranh khá rõ ràng về xã hội Ấn Độ trong thời Đức Phật: bao quát toàn bộ phạm vi bối cảnh xã hội, chính trị, giáo dục, văn hóa, tôn giáo và triết thuyết của nó. Các bản chú giải này luôn luôn làm sáng tỏ những chữ khó hiểu bằng cách đưa ra nhiều từ đồng nghĩa. Tuy thế, trong khi chúng rất ích lợi, song nếu những từ chú giải đưa ra có khác với kinh nghiệm của chúng ta, và nếu  trong những lời dạy của Đức Phật chúng ta tìm thấy một sự giải thích rõ ràng, trực tiếp, lúc đó, không chỉ trích các bản chú giải, chúng ta phải chấp nhận sự giải thích của Đức Phật về kinh nghiệm của chúng ta.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng hạn, có truyền thống xem <em>vedanā</em> (thọ) chỉ là tâm (danh). Thực sự rằng thọ là một danh uẩn và <em>vedanānupassanā</em> &#8211; quán thọ hay niệm thọ &#8211; phải thuộc về tâm. Nhưng trong một vài nơi khác Đức Phật nói về thọ lạc (<em>sukha vedanā</em>) thọ khổ (<em>dukkha vedanā</em>) trên thân, như trong Kinh Niệm Xứ &#8211; <em>Satipaṭṭhāna Sutta</em>, trong khi <em>somanassa vedanā</em> (thọ hỷ) và <em>domanassa vedanā</em> (thọ ưu) được dùng để chỉ tâm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một số bản dịch tiếng Anh về từ <em>sampajañña</em> thường là &#8220;sự hiểu rõ&#8221; (clear comprehension) đã tạo ra rất nhiếu lầm lẫn. Cách dịch này ám chỉ niệm (<em>sati</em>) không có trí tuệ tỉnh giác (<em>sampajañña</em>), tức không có sự hiểu biết với trí tuệ (<em>paññā</em>) hoàn hảo. Trong những lời dạy của Đức Phật, có đoạn &#8220;<em>viditā vedanā uppajjati</em>&#8221; cảm giác cảm thọ đang sanh lên. Niệm đơn thuần như vậy là vừa đủ như một bước khởi đầu: chẳng hạn, một cảm giác ngứa được cảm nhận và người hành thiền gán nhãn (hay niệm ngứa, ngứa), không cần có sự hiểu biết về tính chất vô thường &#8211; <em>anicca</em> &#8211; nhưng đây không phải là <em>sampajañña</em> (trí tuệ tỉnh giác).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tương tự, <em>sati parimukkhaṃ</em> đã được dịch &#8220;giữ niệm trước (mặt)&#8221;. Thế là người ta bắt đầu tưởng tượng niệm hay sự chú ý của họ ở trước mặt, ngoài thân, và kỹ thuật quán thân trong thân (<em>kāye kāyānupassī</em>), quán thọ trong thọ (<em>vedanāsu vedanānupassī</em>) &#8211; đã mất đi. Do đó, khi kinh nghiệm của chúng ta khác với niềm tin của các truyền thống khác chúng ta sẽ tìm sự che chở nơi những lời dạy của Đức Phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8220;Học viện nghiên cứu Thiền Minh sát&#8221; đã được thành lập để nghiên cứu tỉ mỉ tất cả những lời dạy của Đức Phật bằng máy tính; khối lượng kinh điển thật khổng lồ. Thay vì nhớ những trường hợp, chẳng hạn như cách dùng <em>vedanā</em> (thọ) hay <em>sampajāno</em> (trí tuệ tỉnh giác) trong bốn mươi đến năm mươi quyển kinh dày ba, bốn trăm trang mỗi cuốn, các máy đã được dùng để tra tìm cách dùng từ tiện cho việc khảo sát. Nếu những khác nhau là kết quả, chúng ta đành phải chấp nhận, nhưng chúng ta cũng không khăng khăng rằng &#8220;chỉ đây là sự thực&#8221; &#8211; <em>idaṃ saccaṃ</em>. Không có sự chấp thủ ở đây. Từ kinh nghiệm trực tiếp của tôi về những lời dạy của Đức Phật, và từ dòng truyền thừa của các bậc thiền sư này, kể cả những vị đã đạt đến những giai đoạn rất cao, Tôi hiểu kinh nghiệm của họ là giống nhau. Tương tự, hàng ngàn người hành thiền trên thế giới đều có cùng kinh nghiệm như vậy. Do đó, Tôi tin rằng lời dạy này là chính xác và là đường lối của Đức Phật. Nếu còn hoài nghi, hãy thực hành: chỉ có thực hành mới loại trừ được những hoài nghi. Nếu kỹ thuật này không thích hợp với bạn trên phương diện tri kiến, hãy thực hành với kỹ thuật khác, nhưng đừng có pha trộn (kỹ thuật này với kỹ thuật khác), hoặc chạy động chạy tây phí hết thì giờ. Nếu bạn tìm được những kết quả với kỹ thuật này, hãy đi vào sâu hơn và mọi câu hỏi của bạn sẽ được trả lời. Ngay cả khi bạn chỉ học được một ít <em>Pāḷi</em> (ngôn ngữ Đức Phật dùng thuyết giảng kinh), những lời của Đức Phật cũng sẽ trở nên sáng tỏ đúng lúc. Bạn cảm thấy như Ngài đang hướng dẫn bạn. Thay vì những hoạt động tri thức không cần thiết, hay những lý sự và tranh luận, sự kinh nghiệm sẽ làm sáng tỏ hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạn đã đến với một khóa thiền Tứ Niệm Xứ để kinh nghiệm, chứ không phải chỉ để nghe những lời của Đức Phật hay sự giải thích của một vị thầy cá biệt nào. Trước khi tham dự khóa thiền Tứ Niệm Xứ này, các bạn đã dự ba khóa hoặc nhiều hơn rồi; giờ đây hãy tiếp tục đi vào sâu hơn để cho những lời dạy của Đức Phật trở nên sáng tỏ hơn bằng chính kinh nghiệm của bạn. Hãy tự giải thoát mình khỏi các hành (<em>saṅkhāra</em>) và kinh nghiệm sự giải thoát chơn thực. Cầu mong tất cả các bạn cùng đạt đến mục tiêu cuối cùng của sự giải thoát viên mãn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạn đang bước những bước đi đúng trên chánh đạo: dù dài, điều đó không quan trọng. Bước thứ nhất, thứ hai, và bằng cách ấy từng bước một bạn chắc chắn sẽ đạt đến mục tiêu cuối cùng. Cầu mong các bạn hưởng được hạnh phúc chơn thực và sự bình yên của giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cầu mong tất cả chúng sinh được an vui.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8211;ooOoo&#8211;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[1] <em>Appiyehi sampayogo và piyehi vippayogo</em> thường được dịch là oán tắng hội khổ và ái biệt ly khổ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[2] Chi tiết về vấn đề đạo quả và thiền, xem trong &#8220;Con đường thiền chỉ và thiền quán&#8221; để biết rõ hơn. Ở đây, do lối giải thích tóm tắt về bài kinh rất dễ gây hiểu lầm giữa thiền định và sự chứng đắc đạo quả. Tuy nhiên, một điều chắc chắn rằng khi giải thích chánh định (<em>sammā samādhi</em>) Đức Phật muốn nói tới thiền siêu thế sanh cùng với đạo quả (Niết Bàn).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[3] Rigveda &#8211; là một trong ba bộ Vêđà (Rigveda, Yajarveda vā samaveda) gồm những thánh ca dâng thần thánh. ND</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[4] Ledi Sayadaw (1846 &#8211; 1923) một bậc Đại Hiền Trí của Miến Điện. Ngài được xem là người có công trong việc duy trì pháp học lẫn pháp hành đúng theo truyền thống nguyên thủy. Pháp môn niệm thọ mà T.S Goenka hiện đang dạy, nếu truy nguyên ra, chính Ledi Sayadaw là tổ.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h2 style="text-align: justify;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Những đoạn PāḶi trích dẫn trong các bài giảng</strong></span></h2>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Paññatti ṭhapetvā visesena passatī&#8217;ti vipassanā</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ledi Sayadaw, Paramattha Dīpanī</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi đã loại bỏ thực tại bề ngoài, hành giả quan sát thực tại trong thực tánh của nó, đây là <em>vipassanā</em>.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vedanā-samosaraṇā sabbe dhammā</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mūlaka sutta, AN, III, 158</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tất cả pháp phát sinh trong tâm đều kèm theo bởi cảm thọ.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Diṭṭhe diṭṭhamattaṃ bhavissati,</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">sute sutanattaṃ bhavissati</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">mute mutamattaṃ bhavissati,</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">viññate viññātamattaṃ bhavissati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mālukyaputta-Sutta, Saṃyutta-nikāya,</span> <span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Salāyatana Vagga 2, 77</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong cái nghe, chỉ là cái nghe;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong cái ngửi, nếm và đụng, chỉ là ngửi, nếm, đụng;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong nhận thức, sẽ chỉ là sự nhận thức mà thôi.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Yato ca bhikkhu ātāpī sampajaññaṃ na riñcati</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tato so vadanā subbā parijānāti pandito;</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">So vedanā pariññāya diṭṭhe dhamme anāsavo,</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Kāyassa bhedā Dhammaṭṭho, saṅkhyaṃ nopeti vedagū.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Paṭhama-ākāsa sutta, SN,  Salāyatana vagga 2, 212</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi người hành thiền thực hành nhiệt tâm,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không xao lãng trí tuệ tỉnh giác (khả năng hiểu biết toàn diện)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">bậc trí như vậy, liễu tri tất cả thọ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi liễu tri thọ, giải thoát mọi bất tịnh (lậu hoặc)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi thân hoại mạng chung, bậc như vậy, sẽ an trú trong Pháp (<em>Dhama</em>) và đạt đến giai đoạn bất khả tư nghì vượt ngoài thế gian hữu vi (conditioned world)</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sabba kamma jahassa bhikkhuno,</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">dhunamānassa pure kataṃ rajaṃ;</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">amamassa ṭhitassa tādino,</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">attho natthi janaṃ lapetave.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khuddaka-Nikāya, Udāna 3.1.91 &#8211; 92</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vị Tỳ khưu không tạo tác nghiệp mới,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tẩy sạch phiền não cũ khi khởi sanh;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đạt đến giai đoạn (thiền) không còn &#8220;tôi&#8221;, &#8220;của tôi&#8221; (ngã và ngã sở)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với vị ấy nói năng thật vô nghĩa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chỉ chí hướng vào việc thực hành trong yên lặng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Tỷ kheo bỏ mọi nghiệp,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tẩy sạch bụi làm trước,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">An trú, không ngã sở,</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Không cần nói với người)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">UD.21 (TMC)</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Aniccā vata saṅkhārā, uppādavaya-dhammino;</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Upajjitvā nirujjhanti, tesaṃ vūpasamo sukho.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mahāparinibbāna-Sutta, </span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dīgha-nikāya 2.3,221</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các pháp hữu vi thực vô thường</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bản chất sanh, thành, hoại, diệt luôn</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nếu chúng sanh lên liền dập tắt</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự diệt này đem lại an vui.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;" align="right"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn <a href="https://thienvipassana.net/tu-niem-xu-giang-giai/"><strong>Tứ Niệm Xứ Giảng Giải &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</strong></a> &#8211; Tỳ Kheo Pháp Thông biên dịch. Tải cuốn sách file PDF <a href="https://thienvipassana.net/wp-content/uploads/2020/04/Tu-Niem-Xu-Giang-Giai-TK-Phap-Thong-Dich.pdf" target="_blank" rel="noopener noreferrer"><strong>tại đây</strong></a>. </span></p>
</blockquote>
<p>&nbsp;</p>
<h2 align="right"></h2>
<h2 style="text-align: justify;" align="right"><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">AUDIO TOÀN BỘ CUỐN SÁCH TỨ NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI </span></strong></span></h2>
<p style="text-align: justify;" align="right"><iframe src="https://w.soundcloud.com/player/?url=https%3A//api.soundcloud.com/playlists/1042500577&amp;color=%23ffa51a&amp;auto_play=false&amp;hide_related=false&amp;show_comments=false&amp;show_user=true&amp;show_reposts=false&amp;show_teaser=false" width="100%" height="450" frameborder="no" scrolling="no" data-mce-fragment="1"></iframe></p>
<div style="font-size: 10px; color: #cccccc; line-break: anywhere; word-break: normal; overflow: hidden; white-space: nowrap; text-overflow: ellipsis; font-family: Interstate,Lucida Grande,Lucida Sans Unicode,Lucida Sans,Garuda,Verdana,Tahoma,sans-serif; font-weight: 100;"><a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Theravāda" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Theravāda</a> · <a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Tứ Niệm Xứ Giảng Giải - Thiền Sư S.N. Goenka" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada/sets/tu-niem-xu-giang-giai-thien-su-sn-goenka" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Tứ Niệm Xứ Giảng Giải &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</a></div>
<p>&nbsp;</p>
<h2 align="right"></h2>
<h2 style="text-align: justify;" align="right"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">AUDIOS PHÁP THOẠI KHOÁ THIỀN SATI 8 NGÀY DO THIỀN SƯ S.N. GOENKA GIẢNG DẠY</span></strong></h2>
<p><iframe src="https://w.soundcloud.com/player/?url=https%3A//api.soundcloud.com/playlists/1041273376&amp;color=%23ffa51a&amp;auto_play=false&amp;hide_related=false&amp;show_comments=false&amp;show_user=true&amp;show_reposts=false&amp;show_teaser=false" width="100%" height="450" frameborder="no" scrolling="no" data-mce-fragment="1"></iframe></p>
<div style="font-size: 10px; color: #cccccc; line-break: anywhere; word-break: normal; overflow: hidden; white-space: nowrap; text-overflow: ellipsis; font-family: Interstate,Lucida Grande,Lucida Sans Unicode,Lucida Sans,Garuda,Verdana,Tahoma,sans-serif; font-weight: 100;"><a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Theravāda" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Theravāda</a> · <a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Pháp Thoại Khoá Thiền Sati 8 Ngày (T.Việt) - Thiền Sư S.N. Goenka" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada/sets/phap-thoai-khoa-thien-sati-8-ngay-tviet-thien-su-sn-goenka" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Pháp Thoại Khoá Thiền Sati 8 Ngày (T.Việt) &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</a></div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>NGÀY THỨ 7: TỨ NIỆM XỨ SATIPATTHANA &#8211; TỨ THÁNH ĐẾ CATUSACCAPABBAṂ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/ngay-thu-7-tu-niem-xu-satipatthana-tu-thanh-de-catusaccapabba%e1%b9%83/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 30 Apr 2020 10:07:16 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TỨ NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI]]></category>
		<category><![CDATA[bốn niệm xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Đại Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[NGÀY THỨ BẢY]]></category>
		<category><![CDATA[thiền Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ Giảng Giải]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ Satipatthana]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Thánh Đế Catusaccapabbaṃ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://thienvipassana.net/?p=2692</guid>

					<description><![CDATA[NGÀY THỨ BẢY Ngày thứ bảy của khóa thiền Tứ Niệm Xứ đã qua. Chúng ta đi đến phần cuối]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>NGÀY THỨ BẢY</b></span></p>
<div align="justify">
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ngày thứ bảy của khóa thiền Tứ Niệm Xứ đã qua. Chúng ta đi đến phần cuối của bài kinh Đại Niệm Xứ &#8211; <i>Mahāsatipaṭṭhāna Sutta</i>.</span></p>
<p>https://youtu.be/IWVbEIDCKQk</p>
<h2 style="text-align: justify;"><a name="_Toc142517781"></a><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a name="_Toc141427515"></a><span style="font-size: 24pt;"><b>Catusaccapabbaṃ &#8211; Tứ Thánh Đế</b></span><b></b></span></h2>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">dhammesu dhammānupassī viharati catūsu ariyassaccesu</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sống quán pháp trong pháp dưới hình thức Tứ Thánh Đế. Quán pháp được thực hành đối với Tứ Thánh Đế như thế nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8216;idaṃ dukkhaṃ’ti yathābhūtaṃ pajānāti, &#8216;ayaṃ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṃ pajānāti, &#8216;ayaṃ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṃ pajānāti, &#8216;ayaṃ dukkhanirodhagaminī paṭipadā’ti yathā bhūtaṃ pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8220;Đây là khổ&#8221;. &#8220;Đây là sự sanh khởi của khổ&#8221;. &#8220;Đây là sự đoạn diệt của khổ&#8221;. &#8220;Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ&#8221;. Mỗi đế được tuệ tri đúng như nó là (như thực tuệ tri).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong><i>Pajānāti</i></strong> có nghĩa là hiểu biết bằng trí tuệ hay tuệ tri. <strong><i>Yathābhūtaṃ</i> </strong>&#8211; đúng như nó là hay như nó thực sự xảy ra &#8211; có nghĩa là sự kinh nghiệm và hiểu biết trực tiếp, như trong bài pháp đầu tiên Đức Phật đã dạy. Sự kiện khổ xuất phát từ tham ái mọi người đều đã biết. Rằng tham ái phải được đoạn trừ cũng không mới mẻ gì. Mọi người đều khổ, nhưng sự thực đó tự thân nó không làm cho người nào trở thành một bậc thánh được. Khám phá của Đức Phật là làm thế nào để biến nó thành một thánh đế (<i>ariyasacca</i>), một sự thực cao quý, để cho bất kỳ ai kinh nghiệm nó đều trở thành một bậc thánh, một con người thánh thiện, đạt đến ít nhất cũng kinh nghiệm đầu tiên về Niết Bàn, giai đoạn giải thoát thứ nhất &#8211; Tuđàhoàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với mỗi (đế) trong Tứ Thánh Đế có ba phần cần phải làm, tổng cộng có cả thảy mười hai (4 x 3 = 12). Phần thứ nhất của Thánh Đế Thứ nhất &#8211; &#8220;Đây là khổ&#8221; &#8211; mọi người ai cũng hiểu. Phần thứ hai, <i>pariññeyya</i> &#8211; sở biến tri, có nghĩa mọi phương diện của khổ phải được tuệ tri bằng bất cứ cách nào, tức tuệ tri toàn bộ lĩnh vực của khổ. Chữ <i>parijānāti</i> cũng là biến tri hay sự hiểu biết tận tường, ở đây <i>parijānāti</i> được dùng để chỉ sự hiểu biết toàn diện về thọ (<i>vedanā</i>), với trí tuệ tỉnh giác (<i>sampajañña</i>). <i>Parijānāti</i> hay sự hiểu biết tận tường, chỉ đến khi thọ (<i>vedanā</i>) đã được vượt qua. Nếu không, một phần nào đó của lĩnh vực cảm thọ có thể vẫn chưa được khảo sát tỉ mỉ. Tương tự, toàn bộ lĩnh vực của khổ (<i>dukkha</i>) phải được khảo sát tỉ mỉ, cho đến giới hạn của nó. Lúc đó phần thứ ba đến: <i>pariññāta</i> hay liễu tri (sự hiểu biết rốt ráo). &#8220;Toàn bộ lĩnh vực của khổ đã được khảo sát rốt ráo&#8221;. Điều này có nghĩa rằng khổ đã được vượt qua: khổ trở thành một thánh đế &#8211; <i>ariyasacca</i>. Việc tuyên bố đã thấu triệt toàn bộ lĩnh vực của khổ chỉ có thể được thực hiện khi đã vượt qua khổ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trên bề mặt thì có bốn Thánh Đế như vậy, nhưng khi bạn đi vào sâu hơn chúng rút lại chỉ có một, giống như bốn Niệm Xứ &#8211; <i>satipaṭṭhāna</i> vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong><i>Dukkhasamudaya</i></strong>, tập khởi hay nhân sanh của khổ &#8211; đó là, tham ái &#8211; Thánh Đế Thứ hai. Một lần nữa, sự chấp nhận trên phương diện tri thức và sự hiểu biết trên bề mặt về nguyên tắc cơ bản này sống lại từ những lời dạy của các vị Phật trước. Tuy nhiên phần thứ hai của nó là <i>pahātabhaṃ</i>: ái phải được đoạn trừ. Lúc đó đến phần thứ ba, <i>pahīnaṃ</i>: ái đã được đoạn trừ; giai đoạn giải thoát cuối cùng đã được đạt đến. Sự đóng góp của Đức Phật chính là tái lập lại phương diện sâu xa, mà từ lâu nó đã bị biến mất này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tương tự, sự chấp nhận đơn thuần Thánh Đế Thứ ba &#8211; sự diệt khổ (<i>dukkha nirodha</i>) &#8211; do lòng sùng đạo, hay do tính logic là không dủ. Phần thứ hai của nó là <i>sacchikātabbaṃ</i> (tác chứng): sự diệt khổ cần phải được tác chứng hay thực hiện. Giai đoạn thứ ba là <i>sacchikataṃ</i>: sự diệt khổ đã được tác chứng, đã được thực hiện, và vì thế đã hoàn tất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thánh Đế thứ tư về Đạo lộ &#8211; Đạo Diệt Khổ Thánh Đế &#8211; cũng sẽ là vô nghĩa nếu nó chỉ được chấp nhận trên phương diện thuần tri thức. Phần thứ hai của nó là <i>bhāvetabbam</i>: đạo diệt khổ phải được tu tập hay thực hành liên tục cho đến khi hoàn mãn &#8211; <i>bhāvitaṃ</i>. Chỉ khi Ngài đã đi trọn con đường (đạo lộ), chỉ khi Ngài đã hoàn thành cả Bốn Thánh Đế, mỗi Đế theo ba cách vừa kể, Bồtát Gotama (Cồđàm) mới tự gọi mình là một vị Phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lúc đầu năm người bạn (chỉ nhóm Kiều Trần Như, cùng tu khổ hạnh với Đức Phật) mà Ngài thuyết Pháp (<i>Dhamma</i>) thậm chí không thèm nghe Đức Phật. Họ tin rằng sự giải thoát là bất khả nếu không thực hành khổ hạnh (tự hành hạ thân xác đến cực độ). Đức Phật đã trải qua điều này. Ngài đã bỏ đói tấm thân Ngài cho đến khi nó chỉ còn là một bộ xương, yếu đến nỗi không bước nổi đến hai bước. Tuy thế, với việc thực hành tám thiền chứng trước đó của Ngài, Đức Phật thấy rằng những bất tịnh sâu kín trong tâm vẫn còn. Bỏ đói thân xác là một cách luyện tập vô ích, vì thế Ngài từ bỏ nó và bắt đầu thọ dụng trở lại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Để thuyết phục nhóm năm vị Kiều Trần Như Ngài phải nói với họ rằng Ngài đã như thực tuệ tri Tứ Thánh Đế &#8211; <i>yathābhūtaṃ pajānāti</i>: với trí tuệ kinh nghiệm đúng như chúng thực sự xảy ra, chứ không chỉ trên phương diện tri thức hay do lòng sùng đạo. Chỉ lúc đó họ mới bắt đầu lắng nghe Ngài thuyết Pháp.</span></p>
<h3 style="text-align: justify;"><a name="_Toc142517782"></a><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a name="_Toc141427516"></a><span style="font-size: 18pt;"><b>Dukkhasaccam &#8211; Khổ Đế hay sự thực về khổ</b></span><b></b></span></h3>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">dukkhaṃ ariyasaccaṃ</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khổ Thánh Đế bây giờ được mô tả, từ thô đến tế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Jāti pi dukkā, jarāpi dukkhā, (byādhi pi dukkhā,) maraṇaṃ pi dukkhaṃ, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā pi dukkhā, appiyehi sampayogo pi dukkho, piyehi vippayogo pi dukkho, yampicchaṃ na labhati taṃ pi dukkhaṃ, saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây, mỗi sự hiểu biết của khổ (<i>dukkha</i>) được giải thích bằng cách dùng những từ đồng nghĩa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Jāti</i> là sanh (trong bất kỳ cõi nào). <i>Jarā</i> là già, yếu đuối, các căn (mắt, tai,…) kém đi. Byādhi là bệnh hay đau ốm. <i>Maraṇa</i> là chết (từ bất cứ cảnh giới nào), và sự tan rã của các uẩn. <i>Soka</i> là sầu, nỗi u buồn do mất một cái gì đó rất thân, và <i>parideva</i> là bị khấp hay than khóc. <i>Dukkha</i> là sự đau đớn về thể xác và cảm thọ khổ hay khó chịu. <i>Domanassa</i> là ưu hay sự khó chịu trong tâm. <i>Upāyāsa</i> là não hay tuyệt vọng, trạng thái tâm đau khổ theo sau sự mất mát hay bất hạnh. Tất cả những điều này đều là khổ &#8211; <i>dukkha</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây cũng như trong những giải thích ở chỗ khác, chữ <i>dukkha</i> được dùng để chỉ cảm thọ khó chịu hay đau đớn về thân, còn <i>domanassa</i> (xuất phát từ <i>mana</i> &#8211; tâm hay ý) chỉ sự khó chịu về tâm. Nó có thể là một ý nghĩ, một ký ức, hay sự sợ hãi. Tương tự, <i>sukha</i> được dùng để trỏ cảm thọ lạc về thân và <i>somanassa</i> trỏ cảm thọ lạc ở tâm. Trong <i>vedanānupassanā</i> &#8211; thọ quán niệm xứ, các chữ <i>dukkha vedanā</i>, thọ khổ và <i>sukkha vedanā</i>: thọ lạc được dùng, đó là lí do tại sao truyền thống này chú trọng đến các cảm thọ thuộc thân kể như đối tượng thiền.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở một mức độ vi tế hơn &#8220;<i>appiyehi sampayogo</i>&#8221; &#8211; gần vật khó ưa &#8211; như <i>rūpa</i>: một cảnh sắc, màu hay ánh sáng; <i>sadda</i>: âm thanh; <i>gandha</i>: mùi; <i>rasa</i>: vị; <i>phoṭṭhabba</i>:  xúc chạm; hoặc <i>dhamma</i>: một ý nghĩ. &#8220;<i>piyehi vippayogo</i>&#8220;<i>[1]</i> &#8211; xa lìa bất cứ điều gì khả lạc. Chẳng hạn xa lìa những người thân yêu, như bạn bè, và những người trong gia đình, là khổ &#8211; <i>dukkha</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vi tế hơn nữa là &#8220;<i>icchaṃ na labhati</i>&#8220;: không được những gì mình mong ước (cầu bất đắc khổ). Nếu một người nào đó muốn thoát khỏi vòng tử sanh luân hồi, nhưng không đạt đến giai đoạn này, đó là &#8220;<i>na pattabbaṃ</i>&#8220;, không hoàn thành. Đây là khổ. Tương tự, khởi lên ước muốn thoát khỏi già, đau, chết, và muốn thoát khỏi tất cả những ưu sầu trong tâm, đau đớn trong thân, và điều đó đã không hoàn thành, cũng là khổ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tóm lại (<i>saṅkhittena</i>), ở một mức độ còn vi tế hơn nữa, <i>pañcupādānakkhandha</i> &#8211; chấp thủ năm uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức &#8211; là khổ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự chấp nhận Thánh Đế Thứ Nhất (Khổ Đế) do lòng mộ đạo và do tính hợp lý sẽ không giúp ích gì cho bạn: Khổ phải được kinh nghiệm hay tuệ tri đúng như thực (<i>yathābhūtaṃ pajānāti</i>) cho đến giới hạn cuối cùng của nó. Điều này được thực hiện bằng cách hành giới (<i>sīla</i>) và định (<i>samādhi</i>), và với một tâm đã an định bạn quan sát thực tại vi tế &#8211; những vận hành của năm uẩn và sáu căn môn. Đây là toàn bộ tiến trình thực hành Bát Chánh Đạo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Những cảm thọ đau đớn, kiên cứng và căng thẳng ban đầu hiển nhiên là khổ &#8211; dukkha, nhưng chúng phải được quan sát với thái độ xả, bởi vì một sự phản ứng với chúng sẽ làm tăng thêm khổ đau. Nhờ giữ thái độ xả những cảm thọ khổ này được chia chẻ ra, mổ xẻ ra, làm rời ra và tan ra, và cho dù cái đau vẫn còn, một dòng ngầm của những rung động sẽ được cảm giác cùng với nó. Khi bị những sóng lăn tăn này làm cho vỡ tan ra nó dường như không còn là khổ nữa. Ngay cả khi cái khổ này biến đi, chỉ còn lại một dòng chảy của những rung động rất vi tế, làm phát sinh hỷ lạc (<i>pīti</i>), thì điều này vẫn còn trong lĩnh vực của khổ, (<i>dukkha</i>), không có chút lạc nào thực thụ, vì nó là vô thường (<i>anicca</i>), sanh và diệt. Kinh nghiệm đầu tiên về sự hoại diệt &#8211; <i>bhaṅga</i> &#8211; này rất là quan trọng, vì nó giúp bạn hiểu ra sự thực rằng toàn bộ cấu trúc vật chất chỉ là những hạt hạ nguyên tử hay các tổng hợp sắc (<i>kalāpa</i>). Tuy nhiên, nếu nó được xem như sự giải thoát khỏi khổ, thời lãnh vực khổ (<i>dukkha</i>) vẫn chưa được bao quát đầy đủ. Những cảm thọ khó chịu (thọ khổ) sẽ đến trở lại: một phần do bề mặt của các hành (<i>saṅkhāra</i>) quá khứ sâu xa, một phần do oai nghi (tư thế) ngồi, do bệnh hoạn, và những trở ngại khác tương tự như vậy. Mỗi kinh nghiệm khả lạc, vì nó là vô thường, nên có khổ (<i>dukkha</i>) như bản chất cố hữu của nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giai đoạn kế, <i>passaddhi</i> hay an tịnh, không chứa đựng sự khó chịu và có vẻ như không có khổ (<i>dukkha</i>), song vẫn có sự sanh &#8211; diệt (<i>samudaya &#8211; vaya</i>) hiện diện ở đó. Tuy nhiên, <i>sabbe saṅkhārā aniccā</i> (các pháp hữu vi đều vô thường) &#8211; bất cứ pháp nào do điều kiện cấu thành sớm muộn gì cũng phải hoại diệt. Những kinh nghiệm thô vẫn sẽ đến, bởi vì sự an tịnh (<i>passaddhi</i>) này vẫn là một kinh nghiệm thóang qua, còn nằm trong lĩnh vực của tâm và vật chất hay danh và sắc. Toàn bộ lĩnh vực của khổ đều không hoàn toàn. Chỉ khi đã vượt qua đến một giai đoạn bất khả tư nghì, ở đây không có gì sanh hay được tạo ra, mới có thể nói là khổ đã được khám phá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Như vậy sự hiểu biết về khổ ở mức thô không thể nói đã là một Thánh Đế. <i>Pajānāti</i> (biến tri hay sự hiểu biết tận tường) có nghĩa là đang khám phá toàn bộ lĩnh vực khổ với kinh nghiệm trực tiếp. Chỉ khi sự hiểu biết ấy là <i>pariññātaṃ</i>, liễu tri hay sự hiểu biết rốt ráo nó mới thực sự trở thành một Thánh Đế.</span></p>
<h3 style="text-align: justify;"><a name="_Toc142517783"></a><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a name="_Toc141427517"></a><span style="font-size: 18pt;"><b>Samudayasaccaṃ &#8211; Tập Đế hay sự thực về sự sanh khởi của khổ</b></span><b></b></span></h3>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thánh Đế thứ hai là tập khởi của khổ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Yāyaṃ taṇhā ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, seyyathidaṃ, kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là ái (<i>taṇhā</i>); <i>ponobbhavikā</i>, đưa đến (tái sinh) hết đời này sang đời khác; <i>nandī-rāga-saha-gatā</i>, gắn bó với ước muốn dục lạc; <i>tatratatrābhinandinī</i>, đi tìm lạc thú chỗ này, chỗ kia; <i>seyyathīdaṃ</i>, đó là: <i>kāma-taṇhā</i>, dục ái; <i>bhavataṇha</i>: hữu ái và <i>vibhava-taṇhā</i>: phi hữu ái.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Kāma-taṇhā</i> (dục ái) là ham muốn dục lạc. Bất kỳ một ham muốn nhỏ nhoi nào cũng nhanh chóng biến thành ái, và nổi bật nhất là ham muốn về nhục dục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bhava-taṇhā</i> (hữu ái) là ham  muốn sống còn, cho dù thân xác này và toàn thể vũ trụ có luôn luôn bị hoại diệt. Do cái tôi này, do tham ái đối với việc trở thành (hữu) này, các triết lý vốn tán thành sự vĩnh cửu dường như rất hấp dẫn (đối với con người).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Vibhava-taṇhā</i> (phi hữu ái) là sự đối nghịch theo hai cách. Một là muốn cho vòng tử sanh luân hồi này dừng lại, một giai đoạn vốn không thể đạt đến được bởi lòng khao khát hay tham ái bất thường như vậy. Hai là từ chối chấp nhận sự tiếp tục của khổ sau khi chết, trong khi vẫn còn các hành &#8211; <i>saṅkhāra</i>, do sợ hãi quả báo của những nghiệp bất thiện trong đời này. Thực ra triết lý cho rằng: &#8220;Đây là kiếp sống duy nhất&#8221; vẫn có một sự tham ái và chấp thủ không bình thường trong đó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ba ái (<i>taṇhā</i>) này &#8211; dục aí, hữu ái và phi hữu ái đều đưa đến khổ đau.</span></p>
<h4 style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vậy thì ái này sanh khởi ở đâu và trú ở đâu?</span></strong></h4>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Yaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ái sanh khởi (<i>uppajjati</i>) và trú (<i>nivisati</i>) bất cứ chỗ nào có lạc trong thế gian này (<i>loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ</i>). Cả <i>piya</i> (khả ái) và <i>sāta</i> (khả ý) đều có nghĩa là &#8220;thích thú&#8221;, &#8220;vừa lòng&#8221;. Một ý nghĩa của loka là &#8220;thế gian hay cảnh giới sinh tồn&#8221;, song ở đây nó có nghĩa là &#8220;trong cơ cấu của thân&#8221;. Một vị chư thiên tên gọi Rohita có lần đi qua trước cửa tịnh xá nơi Đức Phật đang trú ngụ, và vị này vừa đi vừa hát: <i>Caraiveti, caraiveti</i>, &#8220;Cứ tiếp tục đi, tiếp tục đi&#8221;. Khi được Đức Phật hỏi, Rohita nói ông ta đang đi để khám phá toàn thể thế gian này và rồi sẽ khám phá những gì nằm ngoài thế gian. Đức Phật mỉm cười và giải thích rằng toàn thế gian, nhân (sanh) của thế gian, sự diệt của thế gian và con đường đưa đến sự diệt của thế gian nằm ngay trong tấm thân này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Theo nghĩa đen, <i>luñjati paluñjatīti loko</i> &#8211; thế gian (<i>loka</i>) không ngừng bị hủy diệt. Nó cứ sinh và diệt, sinh và diệt. Đó là toàn bộ lĩnh vực của tâm và vật chất (danh &#8211; sắc), và phải được hiểu trong cơ cấu của thân. Khi bạn trồng hạt giống của một cảnh giới đặc biệt nào đó, bạn sẽ kinh nghiệm nó. Một hành (<i>saṅkhāra</i>) cực bất thiện sẽ đưa đến hoả ngục bên trong, cả đời này lẫn đời sau, khi quả trổ. Trồng hạt giống của cõi trời, bạn cảm thấy hoan lạc; trồng hạt giống của cõi phạm thiên (<i>brāhmic</i>), bạn cảm thấy an tịnh, cả đời này lẫn đời sau. Giai đoạn Niết Bàn, ở đây không có sanh và diệt, cũng phải được kinh nghiệm trong chính thân này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do đó tham ái sanh khởi ở bất cứ nơi đâu lạc được cảm nhận, trong cơ cấu của thân. Bây giờ, chi tiết về nơi ái khởi sanh được (Đức Phật) đưa ra:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cakkhu loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati … sotaṃ …Ghānaṃ … jivhā … Mano loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā upajjati, ettha nivisamānā nivisati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ái khởi sanh và trú tại con mắt (<i>cakkhu</i>) &#8211; được xem là khả lạc và khả ý. Tiến trình như vậy cũng sẽ xảy ra với tai, mũi, lưỡi, thân và ý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rūpa … saddā… gandhā… rasā… phoṭṭhabbā… dhammā… nivisati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bất cứ ở đâu lạc được cảm nhận trong đối tượng, như một cảnh sắc, thinh, hương, vị, xúc hoặc pháp, ái khởi sanh và trú ở đó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cakkhu-viññānaṃ… sota viññānaṃ… Ghānaviññānaṃ… Jivhā-viññānaṃ… kāya-viññānaṃ…  Mano viññānaṃ…  nivisati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ái khởi lên ở bất kỳ thức căn nào trong sáu thức căn &#8211; nhãn thức, nhĩ thức, … hoặc ý thức. Khi mô tả về tâm, thường thì danh uẩn &#8211; thức (<i>viññāṇa</i>), tưởng (<i>saññā</i>), thọ (<i>vedanā</i>) và hành (<i>saṅkhāra</i>) là đủ. Minh sát sâu hơn sẽ tách chúng ra. Tuy nhiên, trước khi đạt đến giai đoạn đó, các hệ thống tư tưởng hay triết lý bắt đầu (nảy sanh) vì, mặc dù việc kinh nghiệm tính chất sanh và diệt là như thế, song người quan sát &#8211; ở đây là thức (<i>viññāṇa</i>) &#8211; dường như vẫn còn, chưa được chia tách hay mổ xẻ ra. Nó được quan niệm như linh hồn thường hằng: <i>je viññāya te āya te viññāya</i> [phàm cái gì là thức (<i>viññāṇa</i>) tức là linh hồn và cái gì là linh hồn tức là thức (<i>viññāṇa</i>)]. Tuy nhiên ở một mức độ thâm sâu hơn nó được tách bạch ra: nhãn thức (<i>cakkhu viññāṇa</i>) không thể nghe được, nhĩ thức (<i>sota viññāṇa</i>) không thể thấy được, bất kỳ thức nào hay tất cả thức đều có thể dừng lại, và khi ý thức (<i>mano-viññāṇa</i>) dừng lại, Niết Bàn được đạt đến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Phật đưa ra thêm những chi tiết</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cakkhu-samphaso …</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cakkhu-samphassajā vedanā…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rūpa-sañcetanā…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rūpa-taṇhā…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rūpa-vitakko…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rūpa-vicāro … nivisati</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Do xúc (<i>samphaso</i>) ở bất kỳ căn môn nào (mắt, tai,…) tham ái cũng sanh khởi và an trú. Do xúc này có thọ (<i>samphassajā vedanā</i>) và ái cũng lại khởi lên và an trú.Tiếp theo sau sự đánh giá của tưởng (<i>saññā</i>) về đối tượng của giác quan hay căn môn, ái khởi lên và an trú. <i>Sañcetanā</i> (ý hành hay phản ứng của tâm) đối với đối tượng là một từ đồng nghĩa của <i>saṅkhāra</i>: ở đây một lần nữa ái khởi sanh và an trú. Như vậy ái khởi sanh và an trú trong mối tương quan với bất kỳ trần cảnh hay đối tượng giác quan nào. Sự dán áp ban đầu của tâm trên đối tượng (<i>vitakko</i> &#8211; tầm) sẽ theo sau. Cuối cùng là tứ (<i>vicāro</i>) hay sự xoay quanh của tư duy trên đối tượng. Trong mỗi trường hợp toàn bộ tiến trình xảy ra ở mỗi trong sáu căn môn đều như vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thánh Đế Thứ hai này được gọi là <i>dukkha-samudaya</i>: tập khởi của khổ. Trong cách hiểu thông thường, thực sự rằng ái (<i>taṇhā</i>) là nhân của khổ. Tuy nhiên, <i>samudaya</i> có nghĩa là &#8220;tập khởi&#8221; hay &#8220;khởi sanh&#8221;, bởi vì khổ (<i>dukkha</i>) khởi sanh cùng một lúc với ái, không có khe hở.</span></p>
<h3 style="text-align: justify;"><a name="_Toc142517784"></a><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a name="_Toc141427518"></a><span style="font-size: 18pt;"><b>Nirodhasaccaṃ &#8211; Diệt đế hay Sự thực về sự diệt khổ</b></span><b></b></span></h3>
<p>https://youtu.be/WuaLW7qtTdo</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thánh Đế Thứ ba là sự đoạn diệt ái để cho nó hoàn toàn không khởi sanh được nữa. &#8220;Đó là sự suy tàn và đoạn diệt hoàn toàn của chính khát ái này, là sự từ bỏ nó và khước từ nó; sự giải thoát khỏi nó, không còn chỗ nào cho nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Yo tassāyesa taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Công việc này được làm ở đâu?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Yaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ái sanh khởi và an trú ở đâu trong thế gian (<i>loke</i>) &#8211; lãnh vực của tâm và vật chất hay danh và sắc &#8211; ở đó nó phải được đoạn trừ (<i>pahīyamānā pahīyati</i>) và đoạn diệt (<i>niujjhamānā nirujjhāti</i>). Như vậy, ái phải được giải quyết và đoạn trừ ở các cửa giác quan &#8211; mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm. Bây giờ, chi tiết được (Đức Phật) đưa ra thêm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cakkhu …sotaṃ… ghānaṃ… jivhā…kāyo… Mano loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rūpa… saddā… gandhā… rāsā… phoṭṭhabbā… dhammā… nirujjhati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cakkhu-viññānaṃ…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cakkhu-samphaso…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cakkhu-samphassajā vedanā…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rūpa-saññā…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rūpa-sañcetanā…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rūpa-taṇhā…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rūpa-vitakko…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rūpa-vicāro… nirujjhati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự diệt phải là hoàn toàn, cả trong các căn môn lẫn những đối tượng liên hệ của chúng. Ở đây cũng vậy, sáu thức (<i>viññāṇa</i>) đi trước xúc và thọ kể như quả của nó. Tiếp theo sau đó là sáu tưởng (<i>saññā</i>), đánh giá cảm thọ. Rồi đến sáu ý hành (<i>sañcetanā</i>), cũng được gọi là <i>saṅkhāra</i> (hành). Ái (<i>taṇhā</i>) tiếp nối theo sau. <i>Vitakko</i> (tầm) là khởi đầu của tư duy trong sự phản ứng với xúc (giữa đối tượng và căn môn), hoặc sự khởi đầu của việc nhớ lại hay suy nghĩ về tương lai, trong quan hệ với xúc. <i>Vitakka</i> (tầm) được theo sau bởi <i>vicāra</i> (tứ), là sự suy nghĩ liên tục, trong quan hệ với đối tượng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là Thánh Đế về sự diệt của khổ (Diệt khổ Thánh Đế). Trong khóa thiền này những phân tích chi tiết, nhỏ nhiệm như vậy ở mức kinh nghiệm là hoàn toàn không thể (thực hiện được), song kinh (<i>sutta</i>) là một lời dạy hoàn chỉnh. Thính chúng nghe kinh hẳn phải là những người đang thực hành trên giai đoạn thứ ba hoặc thứ tư của Niết Bàn, tức từ bậc thánh anahàm (<i>anāgāmī</i>) đến bậc thánh Alahán (<i>Arahant</i>). Ở những giai đoạn rất cao này mỗi chi tiết được tách bạch ra, được phơi bày ra. Bạn hiểu biết từng cảm thọ nhỏ nhiệm khởi lên, nó liên hệ đến một căn môn đặc biệt như thế nào, và với đối tượng của căn môn ấy ra sao. Bạn cũng hiểu được thọ khởi sanh liên hệ đến tưởng (<i>saññā</i>), đến ý hành (<i>sañcetanā</i>) và đến các hành (<i>saṅkhāra</i>) ra sao, và hiểu thọ diệt, liên hệ với pháp này hay pháp khác như thế nào. Ở một giai đoạn rất cao như vậy, mỗi pháp có thể được chia tách ra, và mổ xẻ ra thành từng chi tiết nhỏ nhặt. Bây giờ, và ngay cả ở giai đoạn tuđàhoàn &#8211; <i>sotāpanna</i>, thực tại, dù sâu, cũng không sâu đến mức đó; bởi thế chỉ cần hiểu được ái hay sân có mặt hay không có mặt như kết quả của một cảm thọ nào đó &#8211; cùng với sự hiểu biết tính chất vô thường của nó &#8211; là đủ.</span></p>
<h3 style="text-align: justify;"><a name="_Toc142517785"></a><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a name="_Toc141427519"></a><span style="font-size: 18pt;"><b>Maggasaccaṃ &#8211; Đạo Đế</b></span><b></b></span></h3>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thánh Đế Thứ tư là Con Đường (Đạo) nhằm diệt trừ khổ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ, sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đạo có tám phần. Mỗi phần sau đó lại được giải thích.</span></p>
<h4 style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh kiến (<i>sammādiṭṭhi</i>) là:</span></strong></h4>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dukkhe ñāṇaṃ, dukkhasamudaye ñāṇaṃ, dukkhanirodhe ñāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đó là trí tuệ hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm về khổ, sự khởi sanh của khổ, sự diệt khổ, và đạo lộ hay con đường: <i>yathā-bhūtaṃ pajānāti</i>, như thực tuệ tri hay sự hiểu biết đúng đắn về thực tại như nó thực sự là.</span></p>
<h4 style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh tư duy (<i>sammāsaṅkappo</i>) là:</span></strong></h4>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo, avihiṃsāsaṅkappo.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đó là những tư duy hay suy nghĩ về sự xuất ly, những tư duy vô sân, và những tư duy vô hại.</span></p>
<h4 style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh ngữ (<i>sammāvācā</i>) là:</span></strong></h4>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Musāvādā veramanī, pisuṇāya vācāya veramanī, pharusāya vācāya veramanī, samphappalāpa veramanī.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đó là không nói dối hay nói lời thô ác. Đó là không nói lời vu khống hay chia rẽ. Ở đây cũng cần hiểu rằng điều này phải được như thực tuệ tri &#8211; <i>yathābhūtaṃ pajānāti</i>. Nó phải xảy ra trong cuộc sống của bạn. Nó phải được kinh nghiệm, cùng với sự hiểu biết rằng bạn đang sống một cuộc sống tránh xa sự nói dối, nói thô ác, nói chia rẽ hay nói vu khống. Trừ phi bạn đang hành như vậy, trừ phi điều đó được kinh nghiệm, trừ phi điều đó đang xảy ra trong đời bạn, bằng không nó chẳng phải là chánh (<i>sammā</i>) mà là tà (<i>micchā</i>), chỉ là một trò chơi thuần tri thức hoặc cảm xúc. Tóm lại, chánh ngữ phải là <i>yathābhūta</i> &#8211; như thực.</span></p>
<h4 style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh nghiệp (<i>sammākammanto</i>) là:</span></strong></h4>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Pānātipātā veramanī, adinnādānā veramanī, kāmesumicchācāra veramanī. (không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm).</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đó là tiết chế ở mức thân hành (<i>veramanī</i>) không sát sanh (<i>pānātipātā</i>), trộm cắp (<i>adinnādānā</i>) hoặc tà dâm (<i>kāmesumicchācārā</i>). Điều này cũng phải được kinh nghiệm; nghĩa là nó phải xảy ra trong cuộc sống. Chỉ khi bạn có thể nói rằng bạn đang sống một cuộc sống tránh xa việc sát sanh, trộm cắp và tà dâm, thì đó mới là tuệ tri &#8211; pajānāti, mới là kinh nghiệm đúng như nó thực sự là.</span></p>
<h4 style="text-align: justify;"><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh mạng (<i>sammā-ājīvo</i>) là:</span></strong></span></h4>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ariyasāvako micchā-ājīvaṃ pahāya sammā-ājīvena jīvitaṃ kappeti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đó là ở đâu tà mạng (<i>micchā-ājīvaṃ</i>) được từ bỏ (<i>pahāya</i>), và áp dụng lại cách thức trên: việc kiếm sống bằng những phương tiện lương thiện hay chân chánh phải được kinh nghiệm trong cuộc sống. (Phải hiểu chữ kinh nghiệm ở đây theo nghĩa thực sự xảy ra trong cuộc sống).</span></p>
<h4 style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh tinh tấn (<i>sammāvāyāmo</i>) có bốn:</span></strong></h4>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">…chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đó là để ngăn ngừa những ô nhiễm bất thiện (<i>pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ</i> &#8211; ác bất thiện pháp) chưa khởi sinh (<i>anuppannānaṃ</i>). Đó là để loại trừ những ô nhiễm đã khởi (<i>uppannānaṃ</i>). Đó là để khơi dậy những thiện pháp (<i>kusalānaṃ dhammānaṃ</i>) chưa sanh. Đó là để duy trì, không để cho tàn lụi đi, và để tăng trưởng những thiện pháp đã sanh khởi, cho đạt đến sự sung mãn của nó (<i>bhāvanāya pāripūriyā</i>).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong mỗi trường hợp, người hành thiền &#8220;ra sức nỗ lực (<i>chandaṃ janeti vāyamati</i>), phát khởi nghị lực (<i>viriyaṃ ārabhati</i>), chuyên tâm (<i>cittaṃ paggaṇhāti</i>) và phấn đấu (<i>padahati</i>)&#8221;.</span></p>
<h4 style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh niệm (<i>sammāsati</i>) là:</span></strong></h4>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">kāye kāyānupassī viharati… vedanāsu vedanānupassī viharati… citte cittānupassī viharati… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sống quán thân trong thân … quán thọ trong thọ… quán tâm trong tâm … quán pháp trong pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm để viễn ly tham ưu đối với thế gian (năm uẩn).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bất cứ ở đâu Đức Phật mô tả chánh niệm (<i>sati</i>), Ngài luôn luôn lập lại bốn lĩnh vực thiết lập niệm &#8211; <i>satipaṭṭhāna</i> này. Trong đó yếu tố <i>sampajañña</i> (trí tuệ tỉnh giác) kinh nghiệm các cảm thọ đang sanh và diệt, phải có mặt. Nếu không thì những gì đang được thực hành không phải là chánh niệm &#8211; <i>sammasati</i>, mà đúng hơn đó chỉ là niệm thông thường của một người hát xiếc.</span></p>
<h4 style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chánh định (<i>sammāsamādhi</i>) là việc thực hành bốn bậc thiền:</span></strong></h4>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukham.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṃvedi yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti &#8216;upekkhako satimā sukhavihārī’ti… sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassa domanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsati pārisuddhim…</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">[Ly dục (<i>kāmehi</i>), ly bất thiện pháp (<i>akusalehi dhammehi</i>) (chứng và trú thiền thứ nhất) một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh có tầm có tứ. Diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh không tầm, không tứ, nội tịnh nhất tâm. Ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc thánh gọi là &#8216;xả niệm lạc trú&#8217;. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh].</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong thiền thứ nhất có sự viễn ly các dục (<i>kāmehi</i>) và những ô nhiễm trong tâm (chủ yếu là năm triền cái). Nó có tầm và tứ (<i>savitakkaṃ savicāraṃ</i>): có sự chú tâm (tầm) vào đối tượng thiền cùng với sự nhận biết liên tục về đối tượng ấy (tứ). Có sự viễn ly (<i>vivekajaṃ</i>) và hỷ lạc (<i>pītisukhaṃ</i>) &#8211; tức là có nhiều sự dễ chịu trong tâm (hỷ) và cảm thọ lạc trên thân. Tâm được định. Trong thiền thứ hai, <i>vitakka-vicārānaṃ vūpassamā</i> (diệt tầm và tứ): đối tượng thiền rút dần, và có sự dễ chịu (hay cảm giác lạc) trong tâm và thân. Trong thiền thứ ba, sự dễ chịu trong tâm hay hỷ (<i>pīti</i>) rút xuống; chỉ còn lạc (<i>sukha</i>), một cảm thọ dễ chịu ở thân phát sinh do tâm định. Tuy nhiên, bây giờ <i>sampajāna</i> (trí tuệ tỉnh giác) về thực tại đang sanh và diệt được thêm vào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cần phải hiểu rằng ngay cả trước khi Đức Phật xuất hiện các thiền chứng này đã có mặt ở Ấn Độ. Ngài đã học các thiền thứ bảy (vô sở hữu xứ thiền) và thiền thứ tám (phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền) từ hai vị thầy trước đó của Ngài. Tuy vậy, ở đây chỉ có bốn thiền (sắc giới) được Đức Phật dạy. Lý do là vì trong các bậc thiền (vô sắc) mà Ngài đã học trước đó, yếu tố <i>sampajañña</i> (trí tuệ tỉnh giác) đã bị bỏ quên. Kết quả là, họ chỉ có thể loại trừ những bất tịnh ở sâu hơn một chút nhưng vẫn trên bề mặt. Không có <i>sampajañña</i>, họ không thể đi vào chiều sâu (của tâm) và nhổ những bất tịnh đã ăn rễ sâu xa ở đó ra được. Những bất tịnh này vẫn còn, do những bất tịnh này còn nên dòng hữu phần (dòng duy trì tính liên tục của sự sống) vẫn tiếp tục. Bây giờ, với việc thực hành chỉ bốn bậc thiền (sắc giới), sự sanh và diệt được quan sát trong tam thiền. <i>Sampajañña</i> (trí tuệ tỉnh giác) có mặt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong thiền thứ tư, không còn lạc (<i>sukha</i>) hoặc khổ (<i>dukkha</i>). Hỷ (<i>somanassa</i>) và ưu (<i>domanassa</i>) cũng đã ra đi. Không còn cảm giác dễ chịu (lạc) cũng như khó chịu (khổ) trong tâm. Chỉ có <i>adukkhaṃasukham</i> &#8211; không khổ không lạc hay sự vắng lặng &#8211; còn lại, cùng với <i>upekkhā-sati-pāsisuddhim</i> (xả, niệm và sự thanh tịnh hoàn toàn). <i>Sampajāno</i> (trí tuệ tỉnh giác) bây giờ không được dùng nữa vì đây là giai đoạn Niết Bàn [2]. <i>Sampajañña</i> &#8211; trí tuệ tỉnh giác là đóng góp của Đức Phật cho việc hành thiền thời bấy giờ, có thể nói đó là phương tiện nhờ nó người hành thiền vượt qua toàn bộ lĩnh vực của thân và vật chất hay danh và sắc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là Thánh Đế Thứ tư.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Iti ajjhattaṃ vā dhammesu dhammānupassī viharati… &#8216;atthi dhamma’ti… na ca kiñci loke upādiyati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Những trạm tương tự tiếp tục tái diễn: chánh niệm được thiết lập trong sự thực (rằng) không có gì ngoài pháp (<i>dhamma</i>) và lúc đó cũng không có gì để chấp thủ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tất nhiên sự giải thích này phải được kinh nghiệm và tuệ tri. Chúng ta có thể đọc nó, nhưng chỉ với kinh nghiệm thâm sâu, ý nghĩa của những lời Đức Phật dạy, mới trở nên rõ ràng. Ở giai đoạn Alahán mọi việc sẽ rõ ràng nhờ kinh nghiệm.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h2><a name="_Toc141427520"></a><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Satipaṭṭhānabhāvanānisaṃso &#8211;</i> Những kết quả của việc thực hành Niệm xứ</span></h2>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thực hành theo cách này, một trong hai quả sẽ đạt đến: <i>diṭṭheva dhamme aññā, sati va upādisese anāgāmitā</i> hoặc <i>diṭṭheva dhamme aññā</i> &#8211; đắc sự hiểu biết hay trí tuệ toàn diện của bậc Alahán (thường dịch là chánh trí), hoặc đắc giai đoạn thứ ba của bậc bất lai &#8211; <i>ānāgāmī</i> &#8211; <i>anahàm</i> và điều đó phải mất bảy năm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có người đã thực hành hơn bảy năm hỏi tại sao họ không thành một bậc Alahán. Tuy nhiên, phải nhớ rằng điều kiện cần thiết là <i>evaṃ bhāveyya</i>, tức phải thực hành đích xác như đã mô tả. Đó là <i>sampajaññaṃ na riñcati</i> &#8211; không xao lãng một sát-na tỉnh giác (<i>sampajañña</i>) trong cuộc sống. Giờ đây, bạn đang chuẩn bị cho giai đoạn này, đang tập cảm giác những cảm thọ trong mọi phần ở mức thể chất, và hiểu rõ sự sanh diệt của nó. Khi bạn có thể hành theo cách này, bạn đã được Đức Phật bảo đảm về những kết quả (sẽ gặp).</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hơn nữa, Đức Phật còn nói, không cần đến bảy năm, sáu năm, năm năm, bốn năm, ba năm, và thậm chí xuống còn một năm; rồi bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng… và xuống còn một tháng, nửa tháng, hoặc ngay cả bảy ngày, cũng đủ. Thời gian khác nhau là tuỳ vào sự tích luỹ ở quá khứ, cho dù trí tuệ tỉnh giác (<i>sampajañña</i>) được thực hành trong từng sát-na. Nó có thể là bảy năm, thế nhưng có những trường hợp, hành cùng một kỹ thuật, có người đã kinh nghiệm Niết Bàn sau chỉ một vài phút, giống như vị đạo sĩ từ Bombay đến Savatthi và được Đức Phật dạy chỉ vài lời &#8211; <i>diṭṭhe diṭṭhamattaṃ bhavissati</i> &#8211; trong cái thấy chỉ có cái thấy.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một số người hành thiền khởi sự với việc đi (kinh hành) thậm chí còn niệm thầm &#8220;đi&#8221;, &#8220;ngứa&#8221;, hay bất cứ hoạt động nào họ đang làm. Không có trí tuệ (<i>pañña</i>) nhưng ít ra việc thực hành cũng tập trung được tâm. Những người nặng về tham dục, phải đi vào nghĩa địa &#8211; hoặc ngày nay một phòng mổ xác thí nghiệm &#8211; để quân bình lại tâm trí của họ đến một mức độ nào đó trước khi hành minh sát. Dù điểm khởi đầu là gì, người hành thiền cũng phải kinh nghiệm các cảm thọ đang sanh và diệt. Hiện nay trí tuệ tỉnh giác (<i>sampajañña</i>) của bạn có thể chỉ mới được một vài giây, và rồi quên cả vài phút hoặc thậm chí cả giờ liền. Với việc thực hành liên tục, sau đó bạn sẽ quên tỉnh giác chỉ một thời gian ngắn, không đến một vài sát-na. Giai đoạn tỉnh giác ấy có thể phải mất một thời gian dài, nhưng sau đó giới hạn (thành tựu kết quả) là bảy năm.</span></p>
<p><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài kinh kết thúc với những chữ:</span></strong></p>
<p><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8216;Ekāyano ayaṃ, bhikkhave, maggo sattānaṃ visuddhiyā, sokaparidevānaṃ samatikkamāya, dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya, ñāyassa adhigamāya, nibbāmassa sacchikiriyāya yadidaṃ cattāro satipaṭṭhānā’ti. Iti yaṃ taṃ vuttaṃ, idametaṃ paṭicca vuttaṃ ti.</span></strong></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8220;Chính vì lý do này ta mới nói: &#8220;Đây là con đường độc nhất, này các Tỳ khưu, để tịnh hóa các chúng sinh, (để) vượt qua sầu, bi: diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh đạo (bước đi trên đạo lộ của chân lý), để chứng đắc Niết Bàn: đó là, bốn niệm xứ&#8221;.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Ekāyano maggo</i> (con đường độc nhất) không phải là một lời tuyên bố của bộ phái, mà là một quy luật của tự nhiên. Đạo lộ không chỉ giúp những người tự gọi mình là Phật tử hoặc những người có niềm tin minh xác: nó phải được kinh nghiệm bởi mọi người, thực hành và vượt qua cảm thọ. Dù Đức Phật có xuất hiện hay không, quy luật tự nhiên của vũ trụ vẫn hiện hữu. Trái đất mãi cứ tròn; định luật hấp dẫn luôn có mặt dù Galileo hoặc Newton có khám phá ra nó hay không. Tương tự, sự sanh khởi và sự đoạn trừ của khổ là một quy luật. Cũng như hai phần hydrogen và một phần oxygen sẽ tạo thành nước như thế nào, thì khi chìm đắm trong vô minh, phản ứng lại với tham hoặc sân, khổ đau cũng phát sinh như vậy. Đây không phải là quy luật của đạo Hindu (Ấn giáo), Phật giáo hay Thiên chúa giáo, mà chỉ đơn giản là quy luật (tự nhiên). Tương tự, nếu có chánh niệm và tỉnh giác (<i>sampajañña</i>), hiểu biết toàn bộ sự thực, sẽ có giải thoát, vậy thôi. Sự hiểu biết trên phương diện tri thức chỉ có thể cho bạn niềm cảm hứng và sự hướng dẫn. Tuy nhiên, không có những hiểu biết này, những người thuộc tri kiến khác không thể khám phá và kinh nghiệm được sự thực. Ai đó có thể quả quyết rằng quả đất bằng, hoặc định luật hấp dẫn không hiện hữu, nhưng không có gì có thể thay đổi được điều đó.</span></p>
<p><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Lửa sẽ đốt cháy tay bạn. Sự thực này ai cũng có thể kinh nghiệm. Để tránh nó, hãy giữ tay bạn xa khỏi lửa. Theo cách đích xác như vậy, phản ứng lại các cảm thọ sẽ gây ra khổ đau. Nếu bạn dừng lại việc phản ứng và chỉ quan sát sự sanh và diệt của chúng (cảm thọ), đương nhiên việc thực hành của bạn sẽ dập tắt khổ đau, dập tắt ngọn lửa tham và sân, cũng như nước dập tắt lửa vậy. Đây là <i>Ekāyano maggo</i> &#8211; (con đường độc nhất) &#8211; là quy luật tự nhiên, hay sự thực cho tất cả mọi người.</span></p>
</div>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;" align="right"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn <a href="https://thienvipassana.net/tu-niem-xu-giang-giai/"><strong>Tứ Niệm Xứ Giảng Giải &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</strong></a> &#8211; Tỳ Kheo Pháp Thông biên dịch. Tải cuốn sách file PDF <a href="https://thienvipassana.net/wp-content/uploads/2020/04/Tu-Niem-Xu-Giang-Giai-TK-Phap-Thong-Dich.pdf" target="_blank" rel="noopener noreferrer"><strong>tại đây</strong></a>. </span></p>
</blockquote>
<p>&nbsp;</p>
<h2 align="right"></h2>
<h2 style="text-align: justify;" align="right"><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">AUDIO TOÀN BỘ CUỐN SÁCH TỨ NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI </span></strong></span></h2>
<p style="text-align: justify;" align="right"><iframe src="https://w.soundcloud.com/player/?url=https%3A//api.soundcloud.com/playlists/1042500577&amp;color=%23ffa51a&amp;auto_play=false&amp;hide_related=false&amp;show_comments=false&amp;show_user=true&amp;show_reposts=false&amp;show_teaser=false" width="100%" height="450" frameborder="no" scrolling="no" data-mce-fragment="1"></iframe></p>
<div style="font-size: 10px; color: #cccccc; line-break: anywhere; word-break: normal; overflow: hidden; white-space: nowrap; text-overflow: ellipsis; font-family: Interstate,Lucida Grande,Lucida Sans Unicode,Lucida Sans,Garuda,Verdana,Tahoma,sans-serif; font-weight: 100;"><a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Theravāda" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Theravāda</a> · <a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Tứ Niệm Xứ Giảng Giải - Thiền Sư S.N. Goenka" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada/sets/tu-niem-xu-giang-giai-thien-su-sn-goenka" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Tứ Niệm Xứ Giảng Giải &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</a></div>
<p>&nbsp;</p>
<h2 align="right"></h2>
<h2 style="text-align: justify;" align="right"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">AUDIOS PHÁP THOẠI KHOÁ THIỀN SATI 8 NGÀY DO THIỀN SƯ S.N. GOENKA GIẢNG DẠY</span></strong></h2>
<p><iframe loading="lazy" src="https://w.soundcloud.com/player/?url=https%3A//api.soundcloud.com/playlists/1041273376&amp;color=%23ffa51a&amp;auto_play=false&amp;hide_related=false&amp;show_comments=false&amp;show_user=true&amp;show_reposts=false&amp;show_teaser=false" width="100%" height="450" frameborder="no" scrolling="no" data-mce-fragment="1"></iframe></p>
<div style="font-size: 10px; color: #cccccc; line-break: anywhere; word-break: normal; overflow: hidden; white-space: nowrap; text-overflow: ellipsis; font-family: Interstate,Lucida Grande,Lucida Sans Unicode,Lucida Sans,Garuda,Verdana,Tahoma,sans-serif; font-weight: 100;"><a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Theravāda" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Theravāda</a> · <a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Pháp Thoại Khoá Thiền Sati 8 Ngày (T.Việt) - Thiền Sư S.N. Goenka" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada/sets/phap-thoai-khoa-thien-sati-8-ngay-tviet-thien-su-sn-goenka" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Pháp Thoại Khoá Thiền Sati 8 Ngày (T.Việt) &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</a></div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>NGÀY THỨ 6: TỨ NIỆM XỨ &#8211; QUÁN PHÁP &#8211; CÁC UẨN, 12 XỨ, 7 CHI PHẦN GIÁC NGỘ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/ngay-thu-6-tu-niem-xu-quan-phap-cac-uan-12-xu-7-chi-phan-giac-ngo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 30 Apr 2020 09:54:35 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TỨ NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI]]></category>
		<category><![CDATA[bốn niệm xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Khandhapabbaṃ]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Đại Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[quán pháp]]></category>
		<category><![CDATA[thiền Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ Giảng Giải]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ Satipatthana]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://thienvipassana.net/?p=2685</guid>

					<description><![CDATA[NGÀY THỨ SÁU Ngày thứ sáu của khóa thiền Tứ Niệm Xứ &#8211; Satipaṭṭhāra &#8211; đã qua. Chúng ta tiếp]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>NGÀY THỨ SÁU</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ngày thứ sáu của khóa thiền Tứ Niệm Xứ &#8211; <i>Satipaṭṭhāra</i> &#8211; đã qua. Chúng ta tiếp tục <strong>quán pháp &#8211; <i>Dhammānupassanā</i>.</strong> <i>Dhamma</i> (Pháp) là những nội dung tâm trí và bản chất của chúng, là quy luật phổ quát của tự nhiên. Đức Phật, một con người đã giác ngộ, không màng đến việc thiết lập một bộ phái hay một tôn giáo. Sau khi đã khám phá ra sự thực tối hậu ở mức thâm sâu nhất, Đức Phật dạy quy luật này để giúp mọi người hiểu được thực tại và chấm dứt khổ đau của họ, bất kể bộ phái, cộng đồng, xứ sở, màu da hay giới tính của họ là gì.</span></p>
<p>https://youtu.be/x04XQ6jnti4</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Toàn thể vũ trụ, hữu tình và vô tình, mọi người và mọi vật, đều bị quy luật (tự nhiên) này chi phối. Có hay không có (sự xuất hiện của) Đức Phật, quy luật này vẫn chi phối sự tác động qua lại bất biến giữa tâm và thân, giữa những dòng chảy, dòng cắt và dòng ngầm (của tâm thức) đang diễn tiến trong mỗi cá nhân. Tuy thế người ta vẫn tiếp tục chơi những trò chơi trên bề mặt của tâm, vẫn tiếp tục tự dối mình trong tăm tối vô minh và làm tăng trưởng khổ đau của họ bằng những hệ luỵ do chính họ tạo ra.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h2 style="text-align: justify;"><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Khandhapabbaṃ</i> &#8211; Các uẩn</span></strong></span></h2>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dhammesu dhammānupassī viharati pañcasu upādānakkhandhesu</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">(Sống quán pháp trong các pháp dưới hình thức năm thủ uẩn)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Khandha</i> có nghĩa là một tập hợp, hay một đống của cái gì đó. Chúng ta được gọi là những con người. Đây là một sự thực bề ngoài hay sự thực chế định: nhưng ở mức sâu hơn, mọi cá nhân &#8211; Tôi, anh, nó &#8211; chỉ là năm uẩn (<i>pañca khandhā</i>). Đức Phật muốn bạn đi vào chiều sâu của thực tại này, ở đây bạn không còn phân biệt hay xác nhận (con người) theo danh tánh, ở đây tất cả chỉ là năm uẩn thuần túy mà thôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong năm uẩn, một là vô số các hạt hạ nguyên tử hay tổng hợp sắc &#8211; <i>kalāpa</i>, kết hợp lại với nhau kể như phần vật chất (sắc). Tâm được chia làm bốn uẩn khác: thức (<i>viññāṇa</i>); tưởng (<i>saññā</i>); thọ (<i>vedanā</i>); và hành hay phản ứng (<i>saṅkhāra</i>). Khi năm uẩn này kết hợp lại thì được gọi là một thực thể, một cá nhân. Ở mức cùng tột chúng chỉ là năm uẩn và toàn bộ tiến trình minh sát (<i>vipassanā</i>), toàn bộ tiến trình niệm xứ (<i>satipaṭṭhāna</i>) là để kinh nghiệm sự thực này. Bằng không thì ảo tưởng xem đó như là &#8220;Tôi&#8221;, &#8220;của tôi&#8221;, hay &#8220;tự ngã của tôi&#8221; với bất kỳ uẩn nào hay cả năm uẩn này &#8211; vốn là vô minh &#8211; sẽ tạo ra tham ái và chấp thủ, dẫn đến khổ đau cùng cực. Đây không phải là một tín điều cần phải được chấp nhận do lòng sùng đạo, chỉ vì một bậc giác ngộ đã nói như thế, cũng không phải là một triết lý phải được chấp nhận trên phương diện tri thức vì tính hợp lý và lôgic của Nó. Đây là một sự thực cần phải được kinh nghiệm và thực chứng ở đúng mức trong cơ cấu của thân. Khi sự thực này trở nên rõ ràng, lề thói quen ở tận sâu trong tâm thay đổi, và sự giải thoát được đạt đến. Đây là <i>Dhamma</i> (pháp).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Upādāna</i> là chấp thủ. Thủ này phát triển đối với năm uẩn kể như đối tượng của nó; hoặc có thể nói năm uẩn được sanh ra và kết hợp lại với nhau do thủ &#8211; <i>upādāna</i> &#8211; vì thế chúng được gọi là năm thủ uẩn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một lần nữa, người hành thiền quán pháp trong pháp (<i>Dhamma</i>), ở đây là năm uẩn. Người hành thiền thực hành như thế nào đối với năm uẩn?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">… &#8216;iti rūpaṃ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là sắc, đây là sự sanh khởi của sắc, đây là sự hoại diệt của sắc: tất cả điều này phải được kinh nghiệm. <i>Rūpa</i> có nghĩa là sắc hay vật chất, <i>samudaya</i> là sự sanh khởi, <i>atthaṅgamo</i>là sự hoại diệt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">iti vedanā, iti vedanāya samudayo, iti vedanāya atthaṅgamo;</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">iti saññā, iti saññāya samudayo, iti saññāya atthaṅgamo;</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">iti saṅkhārā, iti saṅkhārānaṃ samudayo, iti saṅkhārānaṃ atthaṅgamo;</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">iti viññāṇaṃ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là thọ, đây là sự sanh khởi của thọ, đây là sự hoại diệt của thọ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là tưởng, đây là sự sanh khởi của tưởng, đây là sự hoại diệt của tưởng;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là hành, đây là sự sanh khởi của hành, đây là sự hoại diệt của hành;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là thức, đây là sự sanh khởi của thức, đây là sự hoại diệt của thức;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi các danh uẩn &#8211; thọ, tưởng, hành, thức &#8211; đã được thực nghiệm, toàn tiến trình của những gì đang xảy ra bên trong (tự thân) cũng được thực chứng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Iti ajjhattaṃ vā dhammesu dhammānupassī viharati, … &#8216;attha dhamma’ti….</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các trạm tương tự tiếp nối theo sau, bên trong, bên ngoài, cả bên trong lẫn bên ngoài. Rồi &#8220;<i>atthi dhamma’ti</i>&#8221; &#8211; &#8220;Ô, đây là Pháp (<i>dhamma</i>)&#8221;. Chánh niệm được thiết lập trong hiện thực rằng năm uẩn này tất cả đều có mặt. Ở một giai đoạn quan sát hay quán cao hơn (hành giả) chỉ thấy danh và sắc, không có gì khác nữa &#8211; không có &#8220;tôi&#8221;, &#8220;của tôi&#8221; hay &#8220;tự ngã của tôi&#8221;.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở mức quy ước, bề ngoài, những từ &#8220;tôi&#8221; và &#8220;bạn&#8221; phải được dùng, nhưng ở mức tối hậu, đích thực chỉ có năm uẩn. Tương tự, vì mục đích quy ước, chúng ta gọi những vật kết hợp lại với nhau là một chiếc xe, nhưng nếu chúng ta tháo rời và tách riêng nó ra thành từng phần, bộ phận nào là cái xe? ruột xe? bánh xe? chỗ ngồi? động cơ? bình điện? khung (xe)? Thực chất một chiếc xe chỉ là những bộ phận khác nhau kết hợp lại mà thôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tương tự, thứ hai, ba, tư, năm, sáu, bảy và chủ nhật khi kết hợp lại với nhau thì làm thành một tuần; ba mươi ngày hợp lại thành một tháng; và mười hai tháng hợp lại thành một năm, cũng chỉ vì những mục đích quy ước. Thiền minh sát (<i>vipassanā</i>) chia tách, mổ xẻ, làm rời ra và quan sát thực tại đúng như nó là. Lúc ấy chấp thủ ra đi. Các uẩn còn lại, tiếp tục sanh và diệt, nhưng chúng (bây giờ) chỉ là các uẩn thuần túy, vì thủ &#8211; <i>upādāna</i> đã ra đi. Đây là pháp (<i>dhamma</i>) của các uẩn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cũng như trước, đến đây &#8220;chỉ có&#8221; <i>mattā</i>&#8221; trí tuệ, chỉ có tri kiến, chỉ có sự quan sát. Cho đến mức độ này (<i>yāvadeva</i>) không có người tri, không có người biết, hoặc người kinh nghiệm. Rồi, anissita ca viharati: không có gì để nương tựa vì không còn tham ái; không còn chấp thủ.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h2 style="text-align: justify;"><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Āyatanapabbaṃ &#8211; Các căn xứ (12 xứ)</span></strong></span></h2>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">dhammesu dhammānupassī viharati chasu ajjhattikabāhiresu āyatanesu</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sống quán pháp trong pháp dưới hình thức sáu nội &#8211; ngoại xứ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Āyatana</i> là sáu căn hay sáu môn: nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, và ý môn. Cả sáu môn này đều ở bên trong (<i>ajjhatta</i>) vì chúng nằm trên hay trong thân. Các đối tượng của chúng nằm ở bên ngoài (<i>bāhiresu</i>): đối với con mắt (nhãn), đối tượng là một cảnh sắc, mầu, hình dáng, hay ánh sáng; đối với lỗ tai, âm thanh; đối với mũi, mùi; đối với lưỡi, vị; đối với thân, vật xúc chạm; đối với ý hay tâm, một ý nghĩ, cảm xúc, ảo tưởng hay mơ mộng. Mặc dù gọi là các căn xứ bên ngoài (ngoại xứ), song chỉ khi tiếp xúc với các căn xứ bên trong (nội xứ), trên cơ cấu của thân, chúng mới trở thành những đối tượng. Đối với một người mù bẩm sinh không có thế giới của màu sắc, ánh sáng, hình dạng hay tướng trạng và do đó không cách nào hiểu được thế giới ấy. Sáu nội xứ và sáu ngoại xứ tạo thành mười hai xứ tất cả, và ngoại xứ chỉ thực sự hiện hữu đối với chúng ta khi nó tiếp xúc với căn môn tương ứng của nó.</span></p>
<h3 style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Công việc thực hành với sáu nội ngoại xứ như thế nào?</span></strong></h3>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">cakkhuṃ ca pajānāti, rūpe ca pajānāti, yañca tadubbhayaṃ paṭicca uppajjati saṃyojanaṃ tañca pajānāti …</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sự thực của con mắt hay nhãn căn (môn) &#8211; <i>cakkhu</i> &#8211; và đối tượng của nó hay sắc (<i>rūpa</i>) phải được tuệ tri (<i>pajānāti</i>). <i>Yañca tadubhayaṃ paticca</i>, với căn bản của hai xứ này (tức con mắt và sắc), do sự tiếp xúc của chúng, <i>uppajjati saṃyojanaṃ</i> &#8211; một kết sử (trói buộc) khởi lên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">yathā ca anuppannassa saṃyojanasa uppādo hoti tañca pajānāti…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người hành thiền làm việc với kiết sử (<i>saṃyojana</i>) hiện đã khởi lên ấy: <i>saṃyojanasso uppādo hoti yañca pajānāti</i>. Sự thực là với mỗi xúc chạm đều có một sự rung động hay cảm thọ (<i>vedanā</i>), <i>phassa-paccayā vedanā</i> &#8211; xúc duyên thọ. Tưởng (<i>saññā</i>) bắt đầu đánh giá: đàn ông, đàn bà; đẹp, xấu; dễ chịu, khó chịu. Với sự đánh giá này thọ (<i>vedanā</i>) trở thành lạc hay khổ, và lập tức hành (<i>saṅkhāra</i>), phần phản ứng của tâm, bắt đầu phát ra tham ái hay sân hận. Như vậy toàn bộ tiến trình của sự trói buộc (kiết sử) này khởi động và sinh sôi nảy nở.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Việc thực hành quán pháp đối với sáu căn môn nằm trong ranh giới của tâm và vật chất (danh &#8211; sắc). Đó là công việc phân tích và tuệ tri liên tục mọi sự xảy ra (trong thân &#8211; tâm) như thế nào. Nếu bạn không hay biết điều gì bạn sẽ thắt những thắt nút mới và làm tăng trưởng thêm hết trói buộc này đến trói buộc khác mà thôi. Khi bạn không phản ứng, vì bạn đã kinh nghiệm và quan sát sự trói buộc bằng trí tuệ, nó sẽ suy yếu đi. Lề thói quen của phản ứng bắt đầu thay đổi. Những trói buộc (kiết sử) cũ có thể trồi lên bề mặt: <i>yathā ca anuppannassa saṃyojanassa uppādo hoti tañca pajānāti</i>. Bạn quan sát sự sanh (<i>uppāda</i>) của kiết sử (<i>saṃyojana</i>) trước đây chưa sanh (<i>anuppanna</i>)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">…yathā ca uppannassa saṃyojanassa pahānaṃ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahānassa saṃyojanassa āyatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi bạn quan sát, các kiết sử lần lượt bị đoạn trừ: <i>yathā ca uppannassa saṃyojannassa pahānaṃ ho ti tañca pajānāti</i>. Khi tất cả các kiết sử đã trồi lên bề mặt và diệt chúng không còn sanh khởi trở lại (<i>āyatiṃ anuppādo</i>). Giai đoạn vượt qua kiết sử, giải thoát hoàn toàn, đã đạt đến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có ba loại đoạn trừ. Ngay cả khi bạn chỉ giữ giới (<i>sīla</i>), do ở bề mặt của tâm bạn không phản ứng thái quá với tham hoặc sân, đã có sự đoạn trừ nhất thời những kiết sử của bạn. Khi bạn đi vào sâu hơn với năng lực định (<i>samādhi</i>); sự đoạn trừ sẽ được nhiều hơn: gốc rễ (các kiết sử) đã lung lay. Và khi bạn hành minh sát (<i>vipassanā</i>) những gốc rễ này được tuyệt trừ ở mức sâu nhất của tâm &#8211; <i>pahānaṃ</i>. Chẳng hạn, một người khát nước tìm đến uống nước nơi một cái hồ phủ đầy rong rêu trên mặt. Để tạm thời uống được, họ phải dùng tay vét đám rong rêu qua một bên tạo thành một vùng nhỏ. Nhưng sau đó đám rong rêu sẽ phủ kín vùng nhỏ ấy lại. Đây là sự đoạn trừ nhất thời. Đây là giới &#8211; <i>sīla</i>. Để được quyền sử dụng lâu hơn, bốn cây cọc có lưới giăng phải được dựng lên để ngăn chặn đám rong lại. Đây là định (<i>samādhi</i>), khi nó đi vào sâu hơn, sẽ vét sạch một vùng tương đối lớn, song gốc rễ vẫn còn. Tuệ (<i>pañā</i>) loại trừ tất cả để cho không một phân tử (rong rêu) nào còn lại. Đây là sự đoạn trừ (<i>pahāna</i>) đích thực ở mức căn để, và là những gì muốn nói tới ở đây: <i>yathā ca pahānassa saṃyojanassa āyatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti</i>. Sự đoạn trừ hoàn toàn hay sự trừ tuyệt các kiết sử (<i>saṃyojanas</i>) được tuệ tri; chúng không thể nào sanh khởi (<i>auppādo</i>) trở lại. Đây là giai đoạn Alahán, sự giải thoát hoàn toàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">sotañca pajānāti, sadde ca pajānāti, yañca tadubhayaṃ paṭicca uppajjati saṃyojanaṃ tañca pajānāti …</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tương tự, nhĩ căn (lỗ tai), âm thanh và sự trói buộc hay kiết sử khởi lên do chúng (tai và âm thanh) được quan sát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">… yathā ca anuppannassa saṃyojanassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa saṃyojanassa pahāhaṃ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahānassa saṃyojanassa āyatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi xả phát triển, những kiết sử này trước đây chưa từng khởi lên trên bề mặt nay đã khởi và được đoạn trừ. Điều này cũng được quan sát (<i>pajānāti</i>).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ghānañca pajānāti, gandhe ca pajānāti …</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Jivhañca pajānāti, rase ca pajānāti …</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Kāyañca pajānāti, phoṭṭhable ca pajānāti …</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Manañca pajānāti, dhamme ca pajānāti … āyatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti …</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tương tự thực tại của mũi và mùi, lưỡi và vị, thân và bất cứ vật xúc chạm nào, và thực tại của tâm (ý) và những nội dung tâm trí hay pháp (<i>dhamme</i>) phải được quan sát (<i>pajānāti</i>). Trong mỗi trường hợp, những kiết sử sẽ khởi lên, bị đoạn trừ, và không khởi lên trở lại. Trong mỗi trường hợp, giai đoạn giải thoát viên mãn của một vị thánh Alahán không chỉ được chấp nhận một cách thuần túy trên phương diện triết lý, mà phải được kinh nghiệm, được thân chứng: <i>pajānāti</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Iti ajjhattaṃ vā dhammesu dhammānupassā viharati … &#8216;atthi dhammā’ti … na ca kiñci loke upādiyati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cũng tiến trình như trước tiếp nối theo sau. &#8220;Đây là pháp &#8211; <i>dhamma</i>&#8220;. Tất cả sáu căn môn và đối tượng của chúng chỉ là pháp (<i>dhamma</i>) thuần túy không có &#8220;tôi&#8221;, &#8220;của tôi&#8221;, &#8220;nó&#8221; hay cá nhân nào ở đó. Chia chẻ, mổ xẻ, làm rời ra, và làm tan ra, phân tích mỗi căn môn riêng biệt, cá nhân trở thành chỉ một khối, một tiến trình, một sự vận hành tương tác của tất cả các xứ (<i>āyatana</i>) kết hợp lại với nhau. Với sự hiểu biết tri thức thuần túy, vô minh sẽ ngăn không cho chứng kiến (tuệ tri) pháp này, tiến trình  này, và ngăn không cho thoát khỏi trói buộc này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Việc thực hành dẫn qua những trạm tương tự đến mục tiêu cuối cùng.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<h2 style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bojjhaṅgapabbaṃ</i> &#8211; Các chi phần giác ngộ</span></strong></h2>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">dhammesu dhammānupassī viharati sattasu bojjahṅgesu.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sống quán pháp trong pháp dưới hình thức thất giác chi (7 chi phần giác ngộ).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Bojjhaṅga</i> là bảy chi phần của sự giác ngộ hay bảy phẩm chất phải được phát triển (tu tập) để đạt đến mục tiêu cuối cùng.</span></p>
<p>https://youtu.be/jWAVx8jyLVA</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tâm tự nó rất thanh tịnh: thức &#8211; <i>viññāna</i> &#8211; rất là thanh tịnh, nhưng do các hành (<i>saṅkhāra</i>) quá khứ, làm duyên cho tưởng (<i>saññā</i>)  luôn luôn đưa ra những đánh giá sai lầm, và khi thọ (<i>vedanā</i>) sanh thì hết hành này đến hành (<i>saṅkhāra</i>) khác lại được tạo ra. Do toàn bộ tiến trình này, tâm mất đi tính chất thanh tịnh tự nhiên của nó và trở nên rất kích động. Các chi phần giác ngộ (<i>bojjhaṅga</i>) sẽ phục hồi lại sự thanh tịnh này: khi các chi phần giác ngộ được quan sát như một thực tại, chúng sẽ tăng trưởng để trở nên hoàn hảo và khi mỗi chi phần được hoàn hảo, sự giác ngộ sẽ hoàn hảo. Đây là toàn bộ tiến trình <i>vipassanā</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chi phần giác ngộ hay giác chi thứ nhất là niệm (<i>sati</i>). Không có niệm, các bước khác trên đạo lộ không thể thực hiện được. Niệm (<i>sati</i>), sự quan sát thực tại một cách khách quan, là yếu tố quan trọng nhất bởi vì nó phải có mặt liên tục từ sátna này đến sátna khác cùng với mọi giác chi khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thứ hai là trạch pháp &#8211; <i>dhamma-vicaya</i>. Trong ngôn ngữ Pāḷi chữ <i>caya</i> hay <i>cayana</i> có nghĩa là &#8220;hợp nhất&#8221; hay &#8220;kết hợp&#8221;. Sự thực bề ngoài, kiên cứng, hợp nhất, tạo ra quá nhiều ảo tưởng và lầm lạc: mọi quyết định và hành động của con người đều sai lầm. <i>Vicaya</i> hay <i>vicayana</i> nghĩa là chia chẻ ra, mổ xẻ ra, làm rời ra, tách bạch ra, như thiền minh sát muốn bạn phải làm. Mới đầu <i>dhamma-vicaya</i> là sự hiểu biết thuộc tri thức. Thân được phân tích chỉ như bốn yếu tố (tứ đại), với không có cái &#8220;tôi&#8221; nào ở đó. Tâm chỉ là bốn (danh) uẩn. Sáu căn môn và những đối tượng tương ứng của chúng, sự xúc chạm và tiến trình sinh sôi nảy nở được quan sát. Tính minh bạch trên phương diện tri thức có được này sẽ cho hành giả sự hướng dẫn để bắt đầu thực hành minh sát (<i>vipassanā</i>) và nghiên cứu sự thực ở mức đích thực.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giác chi thứ ba là tinh tấn &#8211; <i>viriya</i>, giống như chánh tinh tấn &#8211; <i>sammā vāyāmo</i> trong Bát Thánh Đạo. Trong thiền minh sát nỗ lực lớn được đòi hỏi, song nỗ lực không phải để phản ứng, không phải để cho các pháp cứ việc xảy ra (mà không quan sát). Cho dù bạn đã từng chiến thắng trong cả ngàn cuộc chiến chống lại cả ngàn người, cuộc chiến không phản ứng trong nội tâm này còn khó khăn hơn nhiều vì thói quen cũ của bạn là phải làm một cái gì đó, phải phản ứng. Đừng lao vào cuộc chiến như ngài Ānanda &#8211; &#8220;Ta phải trở thành một bậc Alahán&#8221;, &#8220;Ta phải&#8221; đoạn trừ những bất tịnh của ta &#8211; nếu bạn làm thế, tâm trở nên mất thăng bằng. Cực đoan khác là không làm việc, không quan sát hoàn toàn, cứ để cho mọi việc xảy ra. Để cho mọi việc xảy ra, nhưng cũng phải biết thực tại đúng như nó là. Cần phải có một mức độ căng thẳng tối thiểu nào đó: quá nhiều, hay không (căng thẳng) hoàn toàn, sẽ không hiệu quả. Chẳng hạn, để khoan một cái lỗ trên một viên ngọc quý, một sức ép nào đó là cần thiết, nhưng sức ép quá nhiều sẽ làm bể nó. Đó là trung đạo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tinh tấn &#8211; <i>viriya</i> là chỉ để quan sát, tuệ tri tính chất vô thường của sanh &#8211; diệt: thực hành mà không phản ứng. Sự giải thoát được thực hiện bởi pháp (<i>dhamma</i>), bởi quy luật tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi bạn duy trì liên tục việc thực hành với niệm (<i>sati</i>) trạch pháp (<i>dhamma-vicaya</i>) và tinh tấn (<i>viriya</i>), phiền não ra đi, đồng thời hỷ (<i>pīti</i>) sẽ đến và tăng trưởng; <i>pīti</i> ở đây là cảm thọ lạc trong thân, một trạng thái sung sướng và hạnh phúc. Bạn phải cẩn thận. Nếu bạn sanh tâm chấp trước vào trạng thái an lạc phát sinh do cái dòng chảy tự do của những rung động vi tế ở khắp toàn thân này, nếu bạn chờ đợi nó và dính mắc vào nó, thời đó không còn là một giác chi (<i>bojjhaṅga</i>) nữa. Nếu sự hiểu biết về tính chất vô thường (<i>anicca</i>) còn lại &#8211; tức bạn biết rằng đây vẫn là lãnh vực của tâm (danh) và vật chất (sắc) &#8211; lãnh vực của sanh và diệt &#8211; thì phiền não ra đi, và pīti hay hỷ phát triển để trở thành một chi phần của sự giác ngộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi hết đợt sóng này đến đợt sóng khác của cảm thọ lạc này đổ đến và được quan sát, giai đoạn quan trọng của <i>passaddhi</i>, sự an tịnh sâu lắng xuất hiện. Bây giờ ngay cả một âm thanh nhỏ nhiệm cũng là một quấy động lớn. Ngay cả hơi thở vốn đã trở thành giống như một sợi dây tinh tế,tạo thành một vòng xoay ngược vi tế ở lối vào lỗ mũi, cũng là một sự quấy rối. Tâm vô cùng bình an, yên lặng, thanh tịnh. Một lần nữa sự nguy hiểm lại đến: cảm giác sai lầm cho rằng sự bình an sâu lắng, chưa từng kinh nghiệm trước đây, là giải thoát. Cũng như hỷ (<i>pīti</i>) có thể trở thành một trói buộc nếu không dùng đúng như thế nào, ở đây tịnh (<i>passaddhi</i>) cũng có thể trở thành một trói buộc hay kiết sử y như vậy. Đó chỉ là một quán trọ giữa đường; mục tiêu cuối cùng vẫn còn xa lắm. Bạn có thể kiểm tra bằng cách mở mắt, hay lắng nghe, để thấy rằng sáu căn vẫn còn hoạt động. Bạn vẫn còn trong lĩnh vực của sinh và diệt. Bạn chưa vượt qua được lĩnh vực của tâm và vật chất hay danh và sắc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Mặc dù ở giai đoạn cao này rất khó nắm bắt, song một sự dao động vi tế vẫn còn, và cảm thọ này được gọi là <i>adukkhaṃasukhaṃ</i> (bất khổ, bất lạc hay xả thọ). Trong hỷ (<i>pīti</i>) nó là lạc hay cảm giác dễ chịu; giờ đây nó chỉ là sự bình yên, mà cái nguy nằm ở chỗ vô thường (<i>anicca</i>) không còn được kinh nghiệm nữa. Xả ly ái đối với cảm thọ lạc hoặc xả ly sân đối với cảm thọ khổ còn dễ dàng hơn xả ly cái cảm giác bình yên này. Phải rất chú ý: với một cái tâm sắc bén, cảm giác những dao động vi tế, kiểm tra sáu căn, và duy trì sự hiểu biết rằng kinh nghiệm này vẫn là vô thường (<i>anicca</i>).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Luôn có một câu hỏi được đặt ra về cảm thọ trung tính. Đức Phật không có ý định nói tới cảm thọ ở bề mặt, lúc ban đầu vốn là bất lạc bất khổ. Thọ đó hoàn toàn khác. Nó liên quan đến tham và sân vì người ta cảm thấy chán nó, mất sự thích thú với nó, và muốn một cái gì khác hơn. Kinh nghiệm của họ đã trở nên cũ kỹ tẻ nhạt. Họ muốn một cái gì đó khác hơn và mới hơn, một cái gì mà họ không có. Đây là lề thói quen cũ của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với những người từ các bộ phái khác, những cộng đồng khác, xứ sở, tôn giáo, tín ngưỡng, và tín điều khác đã đến sông Hằng (Ganges) minh sát này để dập tắt cơn khát của họ, để chấm dứt vô minh và khổ đau của họ. Ngay cả khi cái cấu trúc tâm &#8211; vật lý hay danh và sắc này được họ chấp nhận như đang sanh và diệt (vô thường) và không cốt lõi (vô ngã), song do bối cảnh (xã hội) của họ cái cảm thọ trung tính, sâu lắng này lại tạo cho họ một ảo tưởng về sự bất diệt và vì thế trở thành một trói buộc (kiết sử). Đối với một người mà đức tin truyền thống của họ đặt nơi linh hồn thường hằng, <i>pasaddhi</i> (tịnh) dường như là cái (linh hồn) ấy. Đối với người khác đặt niềm tin nơi một đấng sáng tạo vĩnh cửu sống bên trong chúng ta, nó dường như là đấng sáng tạo không đổi đó. Đây là một ảo tưởng nguy hiểm. Khảo sát toàn diện trạng thái <i>passaddhi</i> (an tịnh) này, khảo sát toàn diện kinh nghiệm yên tĩnh sâu lắng này. Nếu như bạn duy trì chánh niệm đối với sự dao động rất vi tế đang sanh diệt ấy, lúc đó nó sẽ trở thành một giác chi (<i>bojjhaṅga</i>) và cho bạn sức mạnh để tiến tới thêm. Kinh nghiệm của bạn sẽ tăng trưởng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Giác chi kế tiếp là <i>samādhi</i> &#8211; hay định giác chi. Trước khi Đức Phật trở thành một vị Phật, cũng như ngày nay có các loại định (<i>samādhi</i>) khác nhau. Khi tám thiền chứng (<i>jhāna</i>) được đạt đến, có một điều nguy hiểm là hành giả cảm giác như rằng mục tiêu (giải thoát) đã đạt đến, song đây chỉ là định thế gian (<i>lokiya samādhi</i>), đưa đến sự xoay vần hết kiếp sống này đến kiếp sống khác, hết cảnh giới này đến cảnh giới khác (luân hồi trong tam giới). Chánh định (<i>sammā-samādhi</i>) đưa chúng ta ra khỏi mọi cảnh giới và đến chỗ giải thoát viên mãn khỏi ràng buộc của sanh và tử, và khỏi mọi loại khổ đau. Nó được thực hành với trí tuệ tỉnh giác (<i>sapajañña</i>), với chánh niệm về các hiện tượng tâm &#8211; vật lý hay danh &#8211; sắc và sự thực chứng tính chất sanh diệt của nó. Lúc đó <i>samādhi</i> (định) trở thành định siêu thế (<i>lokuttara</i>). Khi thiền siêu thế được đạt đến, quả của Niết Bàn cũng đồng thời được đạt đến. Với định (<i>samādhi</i>), theo từng bậc, hành giả đạt đến quả tuđàhoàn (<i>sotāpanna</i>), tưđàhàm (<i>sakadāgāmī</i>), anahàm (<i>anāgāmī</i>), và Alahán (<i>arahant</i>). Định, khi đó trở thành định giác chi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Upekkhā</i>hay xả là giác chi thứ bảy. Giống như niệm (<i>sati</i>), nó phải có mặt từ đầu cho đến cuối, ở mỗi bước (tu tập thất giác chi). Nói chung bất cứ giác chi nào được quan sát, niệm và xả phải luôn luôn có mặt ở đó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một cái tâm thanh tịnh phải có cả bảy giác chi này. Những bất tịnh, khi được quan sát, sẽ trồi lên bề mặt và bị đoạn trừ; song các chi phần giác ngộ này, khi được quan sát, từng giác chi một, cũng trồi lên bề mặt, được phát triển, tăng trưởng và trở thành sung mãn. Phần này như vậy đã giải thích làm thế nào mục tiêu cuối cùng của sự giác ngộ viên mãn được đạt đến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">santaṃ vā ajjhattaṃ satisambojjhaṅgaṃ &#8216;atthi me ajjhattaṃ satisambojjhaṅgo’ti pajānāti, asantaṃ vā ajjhataṃ satisambojjhaṅgaṃ&#8217;natthi me ajjhataṃ satisambojjhaṅgo’ti pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi niệm (<i>sati</i>) giác chi có mặt (<i>santaṃ</i>) người hành thiền tuệ tri (<i>pajānāti</i>) &#8211; <i>&#8216;Atthi me ajjhattaṃ…&#8217;</i> (&#8220;lúc này niệm có mặt trong ta&#8221;) Khi nó không có mặt (<i>asantaṃ</i>) người hành thiền cũng chấp nhận thực tại này &#8211; <i>&#8216;Natthi me ajjhattaṃ …&#8217;</i> (&#8220;lúc này niệm không có mặt trong ta&#8221;).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">yathā ca anuppannassa satisambojjhaṅgassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa satisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūrī hoti tañca pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tất cả các chi phần giác ngộ của niệm (<i>sati</i>) ở quá khứ giờ đây sẽ trợ giúp. Lúc này chúng (những niệm giác chi ấy) sẽ trồi lên bề mặt (<i>anuppannassa uppādo hoti</i>) và người hành thiền tuệ tri (<i>tañca pajānāti</i>). Sau khi đã khởi lên liên tục (<i>uppannasa</i>) các niệm giác chi ấy được tuệ tri và tăng trưởng cho đến khi chúng trở nên hoàn hảo &#8211; tức được đạt đến một cách trọn vẹn sung mãn (<i>bhāvanāya pāripūrī</i>).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">santaṃ vā ajjhattaṃ dhamma vicaya sambojjhaṅgaṃ…bhāvanāya pāripūrī hoti tañca pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tương tự, trạch pháp hay nghiên cứu phân tích về sự thực &#8211; <i>dhamma-vicaya</i>, được tuệ tri là có mặt hay không có mặt. Trạch pháp giác chi quá khứ, trước đây chưa từng khởi lên, đã liên tục khởi lên từ sâu thẳm của tâm và được quan sát: nó sẽ phát triển đến sự hoàn hảo và đạt đến mục tiêu cuối cùng. Tất cả điều này được tuệ tri.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">…vīriyasambojjhaṅgaṃ…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">…pītisambojjhaṅgaṃ…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">…passaddhisambojjhaṅgaṃ…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">…samādhisambojjhaṅgaṃ…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Santaṃ vā ajjhattaṃ upekkjāsambojjhaṅgaṃ …bhāvanāya pāripūrī hoti tañca pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các chi phần giác ngộ tinh tấn (<i>vīriya</i>), hỷ (<i>pīti</i> &#8211; sự đê mê, sung sướng trong lúc cảm giác thọ lạc trong thân), tịnh (<i>passaddhi</i>), định (<i>samādhi</i>) và xả (<i>upekkhā</i>) được tuệ tri theo cùng cách (như trên) và phát triển hay tu tập cho đến sự viên mãn (<i>pāripūrī</i>).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Iti ajjhattaṃ vā dhammesu dhammānupassī viharati … &#8216;atthi dhammesu&#8217;ti … na ca kiñci loke upādiyati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Các pháp (<i>dhamma</i>) được quan sát bên trong, bên ngoài, và cả bên trong lẫn bên ngoài; sự sanh, sự diệt, và cả sanh lẫn diệt. Người hành thiền thấy rõ, &#8220;Đây là các pháp&#8221; và chánh niệm được thiết lập với thực tại này. Không có gì để nắm bắt hay chấp thủ. Như vậy, quán pháp &#8211; <i>dhammānupassanā</i> đã được thực hành.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;" align="right"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn <a href="https://thienvipassana.net/tu-niem-xu-giang-giai/"><strong>Tứ Niệm Xứ Giảng Giải &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</strong></a> &#8211; Tỳ Kheo Pháp Thông biên dịch. Tải cuốn sách file PDF <a href="https://thienvipassana.net/wp-content/uploads/2020/04/Tu-Niem-Xu-Giang-Giai-TK-Phap-Thong-Dich.pdf" target="_blank" rel="noopener noreferrer"><strong>tại đây</strong></a>. </span></p>
</blockquote>
<p>&nbsp;</p>
<h2 align="right"></h2>
<h2 style="text-align: justify;" align="right"><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">AUDIO TOÀN BỘ CUỐN SÁCH TỨ NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI </span></strong></span></h2>
<p style="text-align: justify;" align="right"><iframe loading="lazy" src="https://w.soundcloud.com/player/?url=https%3A//api.soundcloud.com/playlists/1042500577&amp;color=%23ffa51a&amp;auto_play=false&amp;hide_related=false&amp;show_comments=false&amp;show_user=true&amp;show_reposts=false&amp;show_teaser=false" width="100%" height="450" frameborder="no" scrolling="no" data-mce-fragment="1"></iframe></p>
<div style="font-size: 10px; color: #cccccc; line-break: anywhere; word-break: normal; overflow: hidden; white-space: nowrap; text-overflow: ellipsis; font-family: Interstate,Lucida Grande,Lucida Sans Unicode,Lucida Sans,Garuda,Verdana,Tahoma,sans-serif; font-weight: 100;"><a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Theravāda" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Theravāda</a> · <a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Tứ Niệm Xứ Giảng Giải - Thiền Sư S.N. Goenka" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada/sets/tu-niem-xu-giang-giai-thien-su-sn-goenka" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Tứ Niệm Xứ Giảng Giải &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</a></div>
<p>&nbsp;</p>
<h2 align="right"></h2>
<h2 style="text-align: justify;" align="right"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">AUDIOS PHÁP THOẠI KHOÁ THIỀN SATI 8 NGÀY DO THIỀN SƯ S.N. GOENKA GIẢNG DẠY</span></strong></h2>
<p><iframe loading="lazy" src="https://w.soundcloud.com/player/?url=https%3A//api.soundcloud.com/playlists/1041273376&amp;color=%23ffa51a&amp;auto_play=false&amp;hide_related=false&amp;show_comments=false&amp;show_user=true&amp;show_reposts=false&amp;show_teaser=false" width="100%" height="450" frameborder="no" scrolling="no" data-mce-fragment="1"></iframe></p>
<div style="font-size: 10px; color: #cccccc; line-break: anywhere; word-break: normal; overflow: hidden; white-space: nowrap; text-overflow: ellipsis; font-family: Interstate,Lucida Grande,Lucida Sans Unicode,Lucida Sans,Garuda,Verdana,Tahoma,sans-serif; font-weight: 100;"><a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Theravāda" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Theravāda</a> · <a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Pháp Thoại Khoá Thiền Sati 8 Ngày (T.Việt) - Thiền Sư S.N. Goenka" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada/sets/phap-thoai-khoa-thien-sati-8-ngay-tviet-thien-su-sn-goenka" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Pháp Thoại Khoá Thiền Sati 8 Ngày (T.Việt) &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</a></div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>NGÀY THỨ 5: TỨ NIỆM XỨ SATIPATTHANA &#8211; QUÁN PHÁP DHAMMĀNUPASSANĀ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/ngay-thu-5-tu-niem-xu-satipatthana-quan-phap-dhammanupassana/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 30 Apr 2020 09:48:04 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TỨ NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI]]></category>
		<category><![CDATA[bốn niệm xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Dhamma]]></category>
		<category><![CDATA[Dhammānupassanā]]></category>
		<category><![CDATA[dhammesu dhammānupassi viharati]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[thiền Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ Giảng Giải]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ Satipatthana]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://thienvipassana.net/?p=2679</guid>

					<description><![CDATA[Dhammānupassanā &#8211; Quán Pháp (Quan sát các nội dung tâm trí) dhammesu dhammānupassi viharati Sống quán pháp trong các pháp.]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: justify;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dhammānupassanā &#8211; Quán Pháp (Quan sát các nội dung tâm trí)</span></h2>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">dhammesu dhammānupassi viharati</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sống quán pháp trong các pháp. </span><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cũng giống như quán thân (<i>kāyanupassanā</i>) sẽ được xem là chưa hoàn chỉnh nếu không quán thọ (<i>vedanānupassanā</i>) thế nào thì quán tâm (<i>cittānupassanā</i>) cũng sẽ chưa hoàn chỉnh nếu không quán pháp (<i>dhammānupassanā</i>) như vậy. Để cảm giác được tâm và thân, một điều gì đó phải phát sinh trên tâm và thân, nếu không thì việc thực hành chỉ là sự tưởng tượng. Do đó tâm chỉ có thể được kinh nghiệm khi có điều gì phát sinh và diệt ở đó, chẳng hạn như tham (<i>rāga</i>), sân (<i>dosa</i>), hoặc si (<i>moha</i>).</span></p>
<p>https://youtu.be/R27gOkHV3bc</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Những gì tâm chứa đựng là <i>dhamma</i> (pháp).</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nhiều từ Đức Phật dùng rất khó dịch, bởi vì chúng không có những tương đương trong các ngôn ngữ khác. Trong số đó, từ <i>Dhamma</i> là khó nhất. Tầm ý nghĩa của pháp rất rộng lớn. Nghĩa gốc của nó là <i>dhāreti’ti dhammo</i>: cái được chứa đựng. Đó là những gì được chứa đựng trong tâm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Theo một nghĩa khác, pháp trở thành tính chất hay đặc tính của bất cứ những gì phát sinh trong tâm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Attano sabhāvaṃ attano lakkhaṇaṃ dhāreti&#8217;ti dhammo.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Dhamma</i> ở đây là tự tính (seft nature), đặc tính riêng được chứa đựng (trong nó).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đôi khi trong cách diễn đạt ở Ấn Độ ngày nay, người ta nói rằng pháp (<i>dhamma</i>) của lửa là đốt cháy. Đốt cháy là đặc tính của lửa, nếu không thì nó không phải là lửa. Pháp (<i>dhamma</i>) của nước đá là làm cho mát, nếu không nó không phải là nước đá. Tương tự, tham ái (<i>rāga</i>) chứa đựng pháp (<i>dhamma</i>) riêng hoặc đặc tính riêng của nó, đặc tính ấy là để tạo ra sự kích động và khổ đau. Pháp của từ ái và bi mẫn là an tịnh, hòa hợp và bình yên. Như vậy, pháp trở thành bản chất hay tính chất của một vật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau một vài thế kỷ, từ Pháp (<i>dhamma</i>) hay bản chất, đã chia thành thiện (<i>kusala</i>) và bất thiện (<i>akusala</i>), nói đến quả của nó. Những bất tịnh chứa trong tâm &#8211; như nóng giận, sân hận, thù hận, dục vọng, sợ hãi, tự kỷ, vốn cho quả bất thiện &#8211; được gọi là <i>akusala</i> (bất thiện). Những phẩm chất đáng khen của một người và những phẩm chất đem lại một cuộc sống tốt đẹp hơn &#8211; như lòng bi mẫn, thiện chí và vị tha phục vụ &#8211; được gọi là <i>kusala</i> (thiện). Như vậy, trong văn chương cổ chúng ta thấy <i>Dhamma</i> đã chia thành &#8220;tịnh&#8221; và &#8220;bất tịnh&#8221; rồi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dần dần, <i>akusala</i> (bất thiện) trở thành <i>adhamma</i> &#8211; phi pháp hoặc <i>pāpa</i> &#8211; ác pháp hay tội, những gì khiến cho phải xoay lăn trong đau khổ. Khi đó, <i>Dhamma</i> (pháp) được dùng để chỉ bất cứ điều gì thuộc về thiện, chứa đựng trong một người, vốn đưa đến giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ý nghĩa của Pháp (<i>dhamma</i>) tiếp tục được mở rộng ra. Theo đó, Pháp bắt đầu được hiểu như kết quả của việc quan sát một nội dung tâm trí &#8211; chẳng hạn những gì xảy ra như kết quả của sân hận hay kết quả của lòng bi mẫn &#8211; quy luật của nhân và quả hay quy luật của tự nhiên. Do đó, <i>dhamma</i> có thể là bất cứ những gì được chứa đựng trong tâm, hay đặc tính của cái được chứa đựng, hay quy luật của tự nhiên &#8211; đó là, quy luật của vũ trụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người hành thiền quán pháp như thế nào?</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Nīvaraṇapabbaṃ &#8211; Các triền cái</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">dhammesu dhammānupassī viharati pañcasu nīvaranesu</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sống quán pháp trong các pháp dưới hình thức năm triền cái.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Nīvaraṇa</i> có nghĩa là &#8220;bức màn&#8221; hay &#8220;vật che phủ&#8221;, tức cái ngăn không cho thấy thực tại. Trong những khóa thiền mười ngày chúng tôi thường nói về năm triền cái này như năm kẻ thù: tham, sân, hôn trầm, trạo cử, và nghi. Xin nêu ra một ví dụ. Vào cái thời không có gương soi, người ta thường nhìn hình ảnh phản chiếu của mặt mình trong một lu nước trong có đủ ánh sáng. Nếu như nước đó dơ bẩn, có màu, hay xao động, bạn không thể thấy hình ảnh trung thực của mình được. Tương tự, năm triền cái (<i>nīvaraṇa</i>) này là những kẻ thù đối với tiến bộ của bạn trên con đường quan sát thực tại bởi vì chúng làm méo mó hay ngăn không cho bạn thấy thực tại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây cũng vậy, không liên quan đến sự tưởng tượng: pháp (<i>dhamma</i>) phải được kinh nghiệm trực tiếp trong các pháp (<i>dhammesu</i>). Nó cũng không liên quan đến bất kỳ sự suy tưởng nào. Vậy những triền cái này được quán như thế nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">santaṃ vā ajjhattaṃ kāmacchandaṃ &#8216;atthi me ajjhattaṃ kāmacchando’ti pajānāti,</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">asantaṃ vā ajjhattaṃ kāmacchandaṃ &#8216;nathi me ajjhattaṃ kāmacchando’ti pajānāti</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi một khát khao dục lạc hay tham dục (<i>kāmacchanda</i>) có mặt ở trong tâm, điều này chỉ cần chấp nhận. Chỉ có chánh niệm về sự kiện này. Khi tham dục không có mặt, điều này được tuệ tri: chỉ chánh niệm về thực tại đúng như nó là; từ sátna này sang sátna khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">yathā ca anuppannassa kāmacchandassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa kāmacchanda pahānaṃ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa kāmacchandassa ayatiṃ anuppādo hoti tañca pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rồi những tham dục (<i>kāmacchandas</i>) vốn nằm sâu bên trong ấy trước đây chưa trồi lên (<i>anuppanna</i>) nay trồi lên (<i>uppāda</i>). Điều này cũng cần hiểu rõ hay tuệ tri (<i>pajānāti</i>). Các pháp sanh, không sớm thì muộn sẽ diệt, <i>samudayavaya</i>; tương tự tham ái này sanh và sẽ diệt. Khi hết lớp này đến lớp khác sanh lên và được quan sát, chúng sẽ bị đoạn trừ (<i>pahāna</i>). Các lớp (tham dục) đã bị đoạn trừ (<i>pahāna</i>) không còn khởi lên trở lại (<i>āyatiṃ anuppādo</i>). Tất cả sự kiện này chỉ được quan sát và tuệ tri (<i>pajānāti</i>) đúng như nó là.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi tất cả tham dục tích luỹ đã bị đoạn trừ, sự giải thoát viên mãn được đạt đến. Thói quen phát ra tham ái đã chấm dứt, và giờ đây không một hành (<i>saṅkhāra</i>) nào như vậy có thể được tạo thêm nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">santaṃ vā ajjhattaṃ byāpādaṃ …</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">santaṃ vā ajjhattaṃ thinamiddhaṃ …</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">santaṃ vā ajjhattaṃ uddhaccakukkuccam …</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">santaṃ vā ajjhattaṃ vicikicchaṃ … tañca pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cũng theo cách ấy, người hành thiền tuệ tri sân (<i>byāpādaṃ</i>) có mặt hay không có mặt. Toàn bộ tiến trình minh sát (<i>vipassanā</i>) được mô tả trong những đoạn này. Bất cứ sân tùy miên nào (sân ngủ sâu trong tâm thức), giống như ngọn núi lửa ngủ ngầm bên trong phát sinh. Sự kiện này cũng được quan sát và đoạn trừ. Nếu lề thói quen này không hoàn toàn thay đổi, các hành (<i>saṇkhāra</i>) thuộc sân hận cùng loại sẽ phát sinh trở lại. Khi tất cả đã đã được đoạn trừ tận gốc rễ, không sân nào có thể trở lại. Đây là mục tiêu cuối cùng. Đối với một vị Alahán, việc phát ra tâm tham hay sân mới là điều không thể có.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tương tự, hôn trầm &#8211; thụy miên hay trạng thái buồn ngủ của tâm và thân (<i>thīna &#8211; middha</i>); trạo cử, hối quá hay sự giao động không yên (<i>uddhaca-kukkucca</i>) và hòai nghi, do dự (<i>vicikicchā</i>) được đoạn trừ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hiển nhiên rằng mọi Pháp (<i>dhamma</i>), hay bất cứ điều gì phát sinh trong tâm &#8211; ngay cả một ý tưởng thóang qua &#8211; cũng bắt đầu chảy cùng với một cảm thọ trong thân: <i>vedanā samosaraṇā sabbe dhammā</i> (tất cả pháp phát sinh trong tâm đều kèm theo bởi cảm thọ). Quy luật tự nhiên này được Đức Phật thực chứng chứ không phải tạo ra nó. Bất cứ điều gì phát sinh, dù đó là sân hận, tham dục hay một trạng thái tâm nào khác &#8211; nếu cảm thọ được quan sát thì người hành thiền đang đam làm việc đúng. Bằng không, đó chỉ là một trò chơi của tri thức. Ở trên bề mặt sân hận có thể đã ra đi, nhưng tận sâu bên trong cảm thọ vẫn còn, và tâm tiếp tục phản ứng lại cảm thọ ấy với sân hận mà người hành thiền thậm chí không biết được. Do đó, đối với truyền thống (thiền niệm thọ) này, cảm thọ trong thân không thể bị bỏ quên. Những lời dạy của Đức Phật đã quá rõ ràng: <i>sampajaññaṃ na riñcati</i>. Mỗi sátna phải là (<i>sátna</i>) chánh niệm về cảm thọ đang sanh diệt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dù bạn đang thực hành bất cứ phần nào của quán thân, hay quán thọ, hay quán tâm hay quán pháp, nếu không có sự tuệ tri tính chất sanh &#8211; diệt của cảm thọ, bạn chẳng thể nào đi vào cũng như đoạn trừ những bất tịnh đã tích luỹ ở tận sâu trong tâm. Việc thực hành của bạn sẽ chỉ là một trò chơi trên bề mặt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Những trạm tương tự tiếp nối theo sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Iti ajjhattaṃ vā dhammesu dhammānupassī viharati …&#8217;atthi dhammā’ti … na ca kiñci loke upādiyati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Quan sát bên trong và trên bề mặt, rồi quán sự sanh và diệt, giai đoạn <i>&#8216;atthi dhammā’ti</i>(đây là Pháp, hay có pháp đây), đã đạt đến: không tốt cũng không xấu, không của tôi cũng không của anh, (pháp) chỉ là quy luật của tự nhiên, chỉ là những nội dung tâm trí và tính chất của chúng thuần túy mà thôi. Những trạm y như trước diễn tiến theo nhau cho đến khi không còn gì để chấp thủ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi tham ái đã khởi, bạn không thể đẩy nó ra với sân hận; nếu không bạn sẽ phát ra một hành (<i>saṅkhāra</i>) thuộc sân hận mới. Nếu bạn chỉ chấp nhận rằng có tham ái trong tâm, và quan sát nó, lúc đó phản ứng, vốn là bản chất của tham ái, sẽ không sanh sôi nảy nở được. Nó sẽ yếu đi và biến mất. Bất cứ bất tịnh nào trong tâm cũng được quan sát như thế. Ngay cả việc thực hành quán thân bất tịnh, như trong những đoạn mở đầu của phần <i>kāyanupassanā</i> (quán thân), cũng đã được Đức Phật giới thiệu chỉ như một bước đầu để mang người hành thiền vào trong đạo lộ chân chính mà thôi. Một khi việc minh sát (<i>vipassanā</i>) đã khởi sự, phải không còn ác cảm hay tâm sân đối với tấm thân xấu xí này nữa; lúc đó thân chỉ được quan sát đúng như nó là với trí tuệ (thấy rõ) sự sanh và diệt &#8211; <i>yathābhūta-ñāṇa-dassanaṃ</i>. Chữ ñāṇa (trí), như trong <i>pajānāti</i> (tuệ tri), chỉ là chánh niệm hợp với sự hiểu biết về tính chất vô thường (anicca). Bất cứ cái gì sanh dù tốt hay xấu, tịnh hay bất tịnh &#8211; cũng chỉ có sự quan sát, không cố gắng ngăn chặn hay đẩy nó ra. Đây là đạo lộ chân chánh đi đến mục tiêu cuối cùng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đạo lộ dù dài, nhưng nó khởi sự với bước chân đầu tiên. Đừng thối chí nếu như mục tiêu cuối cùng còn xa xăm vạn dặm. Trên đạo lộ (giải thoát) này không có nỗ lực nào uổng phí cả. Bất cứ nỗ lực nào bạn bỏ ra đều đem lại cho bạn sự lợi ích. Bạn đã khởi sự bước đi trên đạo lộ chân chánh hướng đến mục tiêu cuối cùng. Từng bước, từng bước một, khi bạn càng lúc càng đến gần hơn, chắc chắn bạn sẽ đạt đến mục tiêu cuối cùng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cầu mong các bạn giữ vững từng bước, từng bước đi trên đạo lộ này. Hãy tận dụng thời gian và phương tiện. Hiểu rõ những lời dạy trực tiếp của Đức Phật, khai thác triệt để kỹ thuật tuyệt diệu này. Cho đến mức có thể hãy cố đừng quên tỉnh giác (<i>sampajaññā</i>) trong bất kỳ tình huống nào. Ngoại trừ lúc ngủ say, còn ra hãy cố gắng chánh niệm với trí tuệ tỉnh giác trong mọi hoạt động của thân, vì sự tốt đẹp, sự lợi ích và giải thoát của bạn. Cầu mong tất cả các bạn được giải thoát khỏi mọi ách phước, mọi khổ đau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cầu mong tất cả chúng sinh được an vui.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;" align="right"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn <a href="https://thienvipassana.net/tu-niem-xu-giang-giai/"><strong>Tứ Niệm Xứ Giảng Giải &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</strong></a> &#8211; Tỳ Kheo Pháp Thông biên dịch. Tải cuốn sách file PDF <a href="https://thienvipassana.net/wp-content/uploads/2020/04/Tu-Niem-Xu-Giang-Giai-TK-Phap-Thong-Dich.pdf" target="_blank" rel="noopener noreferrer"><strong>tại đây</strong></a>. </span></p>
</blockquote>
<p>&nbsp;</p>
<h2 align="right"></h2>
<h2 style="text-align: justify;" align="right"><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">AUDIO TOÀN BỘ CUỐN SÁCH TỨ NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI </span></strong></span></h2>
<p style="text-align: justify;" align="right"><iframe loading="lazy" src="https://w.soundcloud.com/player/?url=https%3A//api.soundcloud.com/playlists/1042500577&amp;color=%23ffa51a&amp;auto_play=false&amp;hide_related=false&amp;show_comments=false&amp;show_user=true&amp;show_reposts=false&amp;show_teaser=false" width="100%" height="450" frameborder="no" scrolling="no" data-mce-fragment="1"></iframe></p>
<div style="font-size: 10px; color: #cccccc; line-break: anywhere; word-break: normal; overflow: hidden; white-space: nowrap; text-overflow: ellipsis; font-family: Interstate,Lucida Grande,Lucida Sans Unicode,Lucida Sans,Garuda,Verdana,Tahoma,sans-serif; font-weight: 100;"><a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Theravāda" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Theravāda</a> · <a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Tứ Niệm Xứ Giảng Giải - Thiền Sư S.N. Goenka" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada/sets/tu-niem-xu-giang-giai-thien-su-sn-goenka" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Tứ Niệm Xứ Giảng Giải &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</a></div>
<p>&nbsp;</p>
<h2 align="right"></h2>
<h2 style="text-align: justify;" align="right"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">AUDIOS PHÁP THOẠI KHOÁ THIỀN SATI 8 NGÀY DO THIỀN SƯ S.N. GOENKA GIẢNG DẠY</span></strong></h2>
<p><iframe loading="lazy" src="https://w.soundcloud.com/player/?url=https%3A//api.soundcloud.com/playlists/1041273376&amp;color=%23ffa51a&amp;auto_play=false&amp;hide_related=false&amp;show_comments=false&amp;show_user=true&amp;show_reposts=false&amp;show_teaser=false" width="100%" height="450" frameborder="no" scrolling="no" data-mce-fragment="1"></iframe></p>
<div style="font-size: 10px; color: #cccccc; line-break: anywhere; word-break: normal; overflow: hidden; white-space: nowrap; text-overflow: ellipsis; font-family: Interstate,Lucida Grande,Lucida Sans Unicode,Lucida Sans,Garuda,Verdana,Tahoma,sans-serif; font-weight: 100;"><a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Theravāda" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Theravāda</a> · <a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Pháp Thoại Khoá Thiền Sati 8 Ngày (T.Việt) - Thiền Sư S.N. Goenka" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada/sets/phap-thoai-khoa-thien-sati-8-ngay-tviet-thien-su-sn-goenka" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Pháp Thoại Khoá Thiền Sati 8 Ngày (T.Việt) &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</a></div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>NGÀY THỨ 5: TỨ NIỆM XỨ SATIPATTHANA &#8211; QUÁN TÂM CITTANUPASSANA</title>
		<link>https://thienvipassana.net/ngay-thu-5-tu-niem-xu-quan-tam-cittanupassana/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 30 Apr 2020 09:42:21 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TỨ NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI]]></category>
		<category><![CDATA[bốn niệm xứ]]></category>
		<category><![CDATA[cittānūpassanā]]></category>
		<category><![CDATA[citte cittānupassī viharati]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[quán tâm]]></category>
		<category><![CDATA[thiền Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ Giảng Giải]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ Satipatthana]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://thienvipassana.net/?p=2672</guid>

					<description><![CDATA[Cittānupassanā &#8211; Quán tâm citte cittānupassī viharati Người hành thiền thực hành quán tâm trong tâm như thế nào? &#8220;Trong]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: justify;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Cittānupassanā &#8211; Quán tâm</b></span></h2>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">citte cittānupassī viharati</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người hành thiền thực hành quán tâm trong tâm như thế nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8220;Trong tâm&#8221; (<i>citte</i>) có nghĩa là bằng kinh nghiệm trực tiếp, như &#8220;trong thân&#8221; và &#8220;trong thọ&#8221; vậy. Để tránh bất kỳ một sự tưởng tượng nào có thể có về tâm thì một điều gì đó phải xảy ra trong tâm bởi vì khi một điều gì xảy ra và rồi diệt, nó có thể được cảm giác như một cảm thọ.</span></p>
<p>https://youtu.be/LmYC9FLiYn0</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sarāgaṃ vā cittaṃ &#8216;sarāgaṃ cittaṃ’ti pajānāti, vītarāgaṃ vā cittaṃ &#8216;vītarāgaṃ cittaṃ’ti pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><i>Sarāgaṃ</i> nghĩa là với tham hay có tham, <i>sa-rāga</i>. Nếu tham ái đã khởi lên trong tâm, tham ái này chỉ được quan sát. Khi nó diệt, và tâm thoát khỏi hay không có tham ái (<i>vīta-rāgaṃ</i>) điều này cũng chỉ được quan sát, tham ái sanh lên và diệt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sadosaṃ vā cittaṃ … vītadosaṃ vā cittaṃ &#8216;vitadosaṃ cittaṃ’ti pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Samohaṃ vā cittaṃ &#8216;samohaṃ cittaṃ’ti pajānāti, vītamohaṃ vā cittaṃ &#8216;vītamohaṃ cittaṃ’ti pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thực tại của một cái tâm có hay không có sân (<i>dosa</i>) được quan sát và khi sân diệt tâm thoát khỏi nó. Tương tự moha (si, ảo tưởng, lầm lẫn, vô minh) được quan sát: khi si diệt tâm thoát khỏi nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Saṅkhittaṃ vā cittaṃ … vikkhittaṃ vā cittaṃ …</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">mahaggataṃ vā cittaṃ … amahaggataṃ vā cittaṃ …</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">sa­-uttaraṃ vā cittaṃ … anuttaraṃ vā cittaṃ …</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">samāhitaṃ vā cittaṃ … asamāhitaṃ vā cittaṃ …</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">vimuttaṃ vā cittaṃ … avimuttaṃ vā cittaṃ &#8216;avimuttaṃ cittaṃ’ti pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Dù cho tâm được tập trung và thâu nhiếp (<i>saṅkhitta</i>) hay tán loạn (<i>vikkhitta</i>) điều này chỉ được quan sát và chấp nhận. Trong các bậc thiền sâu hơn khi tâm được mở rộng ra, bằng cách dùng sự tưởng tượng, đến một vùng không giới hạn, nó được gọi là đại hành tâm (<i>mahaggata</i>). Dù đại hành hay không đại hành &#8211; tâm cũng chỉ được quan sát đúng như nó là. <i>Sa-uttara</i> nghĩa là có những tâm cao thượng hơn, hoặc có những phạm vi cho sự phát triển. <i>Anuttara</i> là khi không có gì cao hơn (vô thượng): tâm đã đạt đến giai đoạn cao tột nhất. Điều này cũng được quan sát. Dù tâm có định (<i>samādhita</i>) hay không có định cũng được quan sát. Dù tâm được giải thoát (<i>vimutta</i>) hay trong trói buộc cũng được quan sát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Iti ajjhattaṃ vā…bahiddhā vā…ajjhattabahiddhā vā citte cittānupassī viharati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cũng những trạm tương tự tiếp theo sau. Tâm được quan sát bên trong và bên ngoài. Ở đây một lần nữa, truyền thống này không chấp nhận <i>bahiddha</i> như tâm của một người khác. Tất nhiên ở một giai đoạn thanh tịnh cao hơn người hành thiền phát triển năng lực thần thông có thể đọc được tâm của người khác, song đây không phải là trạm cuối cùng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tâm bên trong (<i>ajjhattaṃ</i>) là tâm đang kinh nghiệm một điều gì đó trong cơ cấu của thân. Tâm được xem như bên ngoài khi nó kinh nghiệm một đối tượng từ bên ngoài, tức là khi nó cảm nhận một âm thanh tiếp xúc với tai, một hình thể với mắt, một mùi với mũi, một vị với lưỡi, một cái gì đó xúc chạm với thân, hoặc một tư duy về điều gì ở bên ngoài. Tuy nhiên toàn bộ tiến trình vẫn nằm trong cơ cấu của thân. Tâm tự nó luôn luôn ở trong thân, ngay cả khi đối tượng của nó là ở bên ngoài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sau đó hành giả kinh nghiệm sự sanh &#8211; diệt và đạt đến giai đoạn <i>&#8216;atthi cittam’</i>: chỉ có thức (<i>viññāṇa</i>), chỉ có tâm, không có &#8220;Tôi&#8221; hay &#8220;tâm của tôi&#8221;. Niệm được thiết lập theo cách này. Rồi chỉ có trí tuệ hay chỉ có sự hiểu biết thuần túy, chỉ có sự quan sát thuần túy. Không có gì để xác nhận hay để nắm giữ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8216;atthi cittaṃ’ti … na ca kiñci loke upādiyati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Người hành thiền Minh sát (<i>vipassanā</i>) hiểu vì sao và khi nào chỉ thuần có chánh niệm, chỉ thuần có sự nhận thức vận hành. Không có tiến trình sinh sôi nảy nở của khổ. Hãy nhớ lại những lời Đức Phật đã nói với vị đạo sĩ già, người đã đi suốt chặng đường xa từ Bombay đến Sāvatthi để gặp Đức Phật. Những lời này là đủ: <i>diṭṭhe diṭṭhamattaṃ bhavissati…</i> &#8220;Trong cái thấy chỉ có cái thấy&#8221;, không có gì ngoài nó, vì không có sự đánh giá hay phản ứng ở đây. &#8220;Nghe chỉ là nghe, ngửi chỉ là ngửi, nếm chỉ là nếm, xúc chạm chỉ là xúc chạm, và <i>…viññāte viññātamattaṃ…</i> nhận thức chỉ là nhận thức&#8221;. Dĩ nhiên để đạt đến giai đoạn cao này phải có thời gian. Nhưng nó phải đạt đến để kinh nghiệm Niết Bàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Việc thực hành là để hiểu tiến trình này. Tất cả các giác quan hay căn môn đều ở trên thân, vì thế thân là trung tâm. Có một sự xúc chạm với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân hoặc tâm. Thức (<i>viññāṇa</i>) nhận biết rằng có một cái gì đó đã xảy ra. Rồi tưởng (<i>saññā</i>) đánh giá nó là tốt hoặc xấu, và thọ trở thành lạc hay khổ. Hành (<i>saṅkhāra</i>) phản ứng lại, và mối ràng buộc đã trở nên rất mạnh. Việc thực hành là để làm yếu đi hành (<i>saṅkhāra</i>) và tưởng (<i>saññā</i>) đồng thời làm cho thức (<i>viññāṇa</i>) mạnh thêm, cho đến khi không có cái gì khác ngoài trí hiểu biết và chánh niệm thuần túy &#8211; <i>yāvadeva ñaṇamattāya paṭissati-mattāya</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Phật, trước khi giác ngộ, đã hành tám thiền chứng. Thiền thứ tám gọi là <i>nevasaññāsaññāyatana</i> &#8211; phi tưởng phi phi tưởng &#8211; trong thiền này, tưởng (<i>saññā</i>) không thể nói là có hiện hữu hay không hiện hữu. Mặc dù tưởng đã trở nên rất yếu, nó vẫn hiện hữu, vì thế Đức Phật vẫn chưa tự gọi mình là một bậc giải thoát. Sử dụng minh sát (<i>vipassanā</i>) ngài phát triển các thiền siêu thế (<i>lokuttara jhānas</i>), dẫn đến Niết Bàn, và đã giới thiệu &#8220;thiền thứ chín&#8221;, mà Ngài gọi là &#8220;diệt thọ tưởng&#8221; (<i>saññā-vedayita-nirodha</i>). Ở đây tưởng (<i>saññā</i>) và thọ (<i>vedanā</i>) dừng hẳn. Bao lâu tưởng còn vận hành, dù yếu ớt, nó vẫn sẽ tạo ra một phản ứng &#8211; <i>saṅkhāra</i>. Để kinh nghiệm được giai đoạn thức (<i>viññāṇa</i>) chỉ là thức, tưởng phải hoàn toàn đoạn diệt.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;" align="right"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn <a href="https://thienvipassana.net/tu-niem-xu-giang-giai/"><strong>Tứ Niệm Xứ Giảng Giải &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</strong></a> &#8211; Tỳ Kheo Pháp Thông biên dịch. Tải cuốn sách file PDF <a href="https://thienvipassana.net/wp-content/uploads/2020/04/Tu-Niem-Xu-Giang-Giai-TK-Phap-Thong-Dich.pdf" target="_blank" rel="noopener noreferrer"><strong>tại đây</strong></a>. </span></p>
</blockquote>
<p>&nbsp;</p>
<h2 align="right"></h2>
<h2 style="text-align: justify;" align="right"><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">AUDIO TOÀN BỘ CUỐN SÁCH TỨ NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI </span></strong></span></h2>
<p style="text-align: justify;" align="right"><iframe loading="lazy" src="https://w.soundcloud.com/player/?url=https%3A//api.soundcloud.com/playlists/1042500577&amp;color=%23ffa51a&amp;auto_play=false&amp;hide_related=false&amp;show_comments=false&amp;show_user=true&amp;show_reposts=false&amp;show_teaser=false" width="100%" height="450" frameborder="no" scrolling="no" data-mce-fragment="1"></iframe></p>
<div style="font-size: 10px; color: #cccccc; line-break: anywhere; word-break: normal; overflow: hidden; white-space: nowrap; text-overflow: ellipsis; font-family: Interstate,Lucida Grande,Lucida Sans Unicode,Lucida Sans,Garuda,Verdana,Tahoma,sans-serif; font-weight: 100;"><a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Theravāda" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Theravāda</a> · <a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Tứ Niệm Xứ Giảng Giải - Thiền Sư S.N. Goenka" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada/sets/tu-niem-xu-giang-giai-thien-su-sn-goenka" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Tứ Niệm Xứ Giảng Giải &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</a></div>
<p>&nbsp;</p>
<h2 align="right"></h2>
<h2 style="text-align: justify;" align="right"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">AUDIOS PHÁP THOẠI KHOÁ THIỀN SATI 8 NGÀY DO THIỀN SƯ S.N. GOENKA GIẢNG DẠY</span></strong></h2>
<p><iframe loading="lazy" src="https://w.soundcloud.com/player/?url=https%3A//api.soundcloud.com/playlists/1041273376&amp;color=%23ffa51a&amp;auto_play=false&amp;hide_related=false&amp;show_comments=false&amp;show_user=true&amp;show_reposts=false&amp;show_teaser=false" width="100%" height="450" frameborder="no" scrolling="no" data-mce-fragment="1"></iframe></p>
<div style="font-size: 10px; color: #cccccc; line-break: anywhere; word-break: normal; overflow: hidden; white-space: nowrap; text-overflow: ellipsis; font-family: Interstate,Lucida Grande,Lucida Sans Unicode,Lucida Sans,Garuda,Verdana,Tahoma,sans-serif; font-weight: 100;"><a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Theravāda" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Theravāda</a> · <a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Pháp Thoại Khoá Thiền Sati 8 Ngày (T.Việt) - Thiền Sư S.N. Goenka" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada/sets/phap-thoai-khoa-thien-sati-8-ngay-tviet-thien-su-sn-goenka" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Pháp Thoại Khoá Thiền Sati 8 Ngày (T.Việt) &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</a></div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>NGÀY THỨ 5: TỨ NIỆM XỨ SATIPATTHANA &#8211; QUÁN CÁC CẢM THỌ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/ngay-thu-5-tu-niem-xu-quan-cac-cam-tho/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 30 Apr 2020 09:39:51 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TỨ NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI]]></category>
		<category><![CDATA[anupassanā]]></category>
		<category><![CDATA[bốn niệm xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[NGÀY THỨ NĂM]]></category>
		<category><![CDATA[saṭtipaṭṭhāna]]></category>
		<category><![CDATA[thiền Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ Giảng Giải]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ Satipatthana]]></category>
		<category><![CDATA[vedanānupassanā]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://thienvipassana.net/?p=2670</guid>

					<description><![CDATA[NGÀY THỨ NĂM Ngày thứ năm của khóa thiền Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna) đã qua. Chúng ta đã đi hết]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;" align="center"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>NGÀY THỨ NĂM</b><b></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ngày thứ năm của khóa thiền Tứ Niệm Xứ (<i>Satipaṭṭhāna</i>) đã qua. Chúng ta đã đi hết phần quán thân &#8211; <i>kāyānupassanā</i>.</span></p>
<p>https://youtu.be/L2jl3MXlbp8</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Quán thân sẽ không hoàn tất nếu không quán thọ &#8211; <i>vedanānupassanā</i>, bởi vì &#8220;tùy quán&#8221; &#8211; <i>anupassanā</i> có nghĩa là thể nghiệm liên tục sự thực, điều này hàm ý phải cảm giác được thân. Thực sự ra vedanā hay thọ là trọng tâm trong cả bốn niệm xứ &#8211; <i>saṭtipaṭṭhāna</i>. Tâm và Pháp hay các nội dung tâm trí cũng phải được cảm nhận. Không cảm nhận được, việc thực hành chẳng qua chỉ là trò chơi của tri thức. Truyền thống này nhấn mạnh đến thọ vì nó cho chúng ta một sự hiểu biết cụ thể về tính chất vô thường &#8211; anicca, của sanh và diệt &#8211; <i>samudaya</i>, <i>vaya</i>. Sự hiểu biết ở mức cảm thọ này là tuyệt đối quan trọng vì không có nó sẽ không có tỉnh giác &#8211; <i>sampajañña</i>. Không có <i>sampajañña</i> sẽ không có trí tuệ &#8211; <i>paññā</i>. Không có trí tuệ sẽ không có minh sát &#8211; <i>vipassanā</i>. Không có minh sát sẽ không có Niệm xứ &#8211; <i>satipaṭṭhāna</i>, và cũng không có sự giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Có thể dùng bất kỳ đối tượng của sự tập trung nào để đạt đến định sâu. Chẳng hạn hơi thở vô &#8211; ra, như đã giới thiệu ở đoạn đầu của phần niệm hơi thở &#8211; <i>Ānāpāna</i>, có thể được dùng để đạt đến sự an chỉ của sơ thiền (<i>jhāna</i>), rồi an chỉ của nhị thiền, tam thiền và tứ thiền. Cùng với niệm hơi thở, cảm thọ cũng được cảm nhận là điều hoàn toàn khả dĩ; nhưng nếu không tuệ tri tính chất sanh &#8211; diệt của nó, đó không phải là minh sát &#8211; <i>vipassanā</i>. Rồi từ thiền thứ năm đến thiền thứ tám (các bậc thiền vô sắc) thân đã bị quên đi. Các thiền này chỉ làm việc với tâm, và do đó sự tưởng tượng được sử dụng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trước khi đạt đến giác ngộ, Đức Phật đã học thiền thứ bảy (vô sở hữu xứ thiền) và thiền thứ tám (phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền) từ <i>Āḷāra kālāma</i> và <i>Uddaka Rāmaputta</i> và chắc chắn ở các thiền chứng này ngài đã có được sự thanh tịnh rất nhiều. Tuy nhiên ngài vẫn thấy còn những bất tịnh ăn rễ sâu xa ở bên trong, những bất tịnh mà ngài gọi là phiền não tùy miên hay phiền não ngủ ngầm <i>anusaya kilesa</i>. <i>Saya</i> có nghĩa là ngủ. <i>Anu</i> chỉ ra rằng chúng (phiền não) đi theo với tâm từ kiếp này sang kiếp khác. Tựa như những ngọn núi lửa đang ngủ chúng có thể phun lên bất cứ lúc nào, và một trong những tùy miên phiền não ấy luôn luôn khởi lên vào lúc chết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Những phiền não còn lại cũng tiếp tục đi theo vào đời sống kế. Vì lý do này, mặc dù ngài đã hoàn thiện tám thiền chứng, Đức Phật vẫn không chấp nhận là mình đã giải thoát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hành hạ thân xác (khổ hạnh) cũng không đem lại kết quả. Ngài tiếp tục khảo sát. Từ niệm hơi thở ngài bắt đầu quan sát cảm thọ, và từ đây ngài có được sự hiểu biết về tính chất sanh &#8211; diệt. Chiếc chìa khóa đi đến giải thoát đã được tìm ra. Các bậc thiền mà ngài đã hành trước đây bây giờ có minh sát &#8211; <i>vipassanā</i>, cộng thêm vào. Trước đây các bậc thiền này được gọi là <i>lokiya jhānas</i> &#8211; các thiền hiệp thế bởi vì chúng vẫn còn đưa đến một sanh hữu mới và vì thế còn phải xoay lăn trong thế gian &#8211; <i>loka</i>, còn luân chuyển trong các cảnh giới của vũ trụ. Giờ đây chúng được gọi là <i>lokuttara jhānas</i> &#8211; các thiền siêu thế, vì với sự kinh nghiệm tính chất sanh &#8211; diệt này chúng sẽ cho quả Niết Bàn, vượt ra ngoài thế gian &#8211; <i>loka</i>. Đây là sự đóng góp vô song của Đức Phật cho nhân loại, và nó được đạt đến với cảm thọ &#8211; <i>vedanā</i>, đó là lý do vì sao thọ lại rất quan trọng đối với chúng ta.</span></p>
<h2 style="text-align: justify;"><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>Vedanānupassanā &#8211; Quán các cảm thọ</b></span></h2>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><strong><i>Vedanāsu vedanānupassī viharati</i></strong> &#8211; sống quán thọ trong các cảm thọ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thọ được quán hay quan sát trong các cảm thọ như thế nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ở đây không dính líu gì đến sự tưởng tượng, vì điều đó chẳng khác gì người hành thiền đứng ở bên ngoài và đang khảo sát các cảm xúc của mình vậy. Không có ai đứng ở ngoài cả. Bạn phải tự mình kinh nghiệm trực tiếp. Đối với quán thân (<i>kāya</i>) và sau đó quán tâm (<i>citta</i>) và pháp (<i>dhamma</i>) cũng áp dụng như vậy. Việc quan sát phải không có bất kỳ một sự tách rời nào giữa người quan sát và (hành động) quan sát, hoặc không có một sự tưởng tượng về bất kỳ một người khảo sát ở bên ngoài nào cả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">…sukhaṃ vā vedanaṃ vedayamāno &#8216;sukhaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Kinh nghiệm hay cảm giác một cảm thọ lạc (<i>sukhaṃ vedanaṃ vedayamāno</i>) người hành thiền tuệ tri (<i>pajānāti</i>) đây như là sự cảm giác về một cảm thọ lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">…dukkhaṃ vā vedanaṃ vedayamāno &#8216;dukkhaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti; adukkhamasukhaṃ vā vedanaṃ vedayamāno &#8216;adukkhamasukhaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đối với cảm thọ khổ (<i>dukkha vedanā</i>), như đau đớn; và cảm thọ trung tính hay không khổ không lạc (<i>adukkhamasukha vedanā</i>) cũng áp dụng như vậy. Những chữ <i>sukha</i> (lạc hay dễ chịu) và <i>dukkha</i> (khổ hay khó chịu) nói đến những cảm thọ về thân. Đối với những cảm xúc tâm lý dễ chịu (lạc) hay khó chịu (khổ), Đức Phật dùng <i>somanassa</i> (hỷ) và <i>domanassa</i>(ưu). <i>Sukha</i> và <i>dukkha vedanā</i> vì thế nói đến cảm thọ trên thân. Mặc dù thân tự nó không thể cảm giác (lạc, khổ), mà chúng được cảm giác bởi một phần của tâm; tuy thế thân vẫn là nền tảng (phát sinh cảm thọ).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sāmisaṃ vā sukhaṃ vedanaṃ vedayamāno &#8216;sāmisaṃ sukhaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti; nirāmisaṃ vā sukhaṃ vedanaṃ vedayamāno &#8216;nirāmisaṃ sukhaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một cảm thọ lạc được tuệ tri hay hiểu đúng như đang đi kèm với tham ái (<i>sāmisa</i>) hay không đi kèm với tham ái (<i>nirāmisa</i>). Ở Ấn Độ ngày nay chữ <i>nirāmisa</i> có nghĩa là thực phẩm chay và <i>sāmisa</i> có nghĩa là thực phẩm không phải chay (tức mặn). Song ở đây, ý nghĩa của chúng lại là thanh tịnh hay bất tịnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một cảm thọ lạc phát sinh do hành thiền minh sát đúng, nếu nó được quan sát không có tham ái hoặc chấp thủ, sẽ dẫn đến sự thanh tịnh. Cũng cảm thọ lạc, có thể bắt gặp do dính líu đến dục lạc, nếu nó được phản ứng với ái và thủ, hay với một cố gắng muốn làm tăng trưởng nó, là bất thiện và sẽ dẫn đến bất tịnh. Cảm thọ này sẽ dẫn đến sự luân chuyển trong khổ đau. Theo nghĩa này, một cảm thọ lạc có thể là tịnh hay bất tịnh. Một cảm thọ đi kèm với tham ái (<i>sāmisa</i>) chỉ cần quan sát, nhờ thế sự phản ứng sẽ yếu đi và dừng lại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một cảm thọ không đi kèm với tham ái (<i>nirāmisa</i>), đối với cảm thọ ấy chỉ có thái độ xả, và không phản ứng, cũng chỉ cần quan sát. Tất nhiên theo quy luật, khả năng quan sát khách quan này sẽ tăng trưởng. Bạn không phải làm gì cả. <i>Pajānāti</i> (tuệ tri) là sự quan sát thuần túy, dựa trên trí tuệ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sāmisaṃ vā dukkhaṃ vedanaṃ …nirāmisaṃ vā dukkhaṃ vedanaṃ… pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Sāmisaṃ vā adukkhamasukhaṃ vedanaṃ… nirāmisaṃ vā adukkhamasukhaṃ vedanaṃ vedayamāno &#8216;niramisaṃ adukkhamasukhaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tương tự, thọ khổ (<i>dukkha vedanaṃ</i>) được kinh nghiệm là bất tịnh do có hay không có sự phản ứng với nó. Thọ ấy cũng chỉ được quan sát, tuệ tri và chấp nhận đúng như nó là. Đối với thọ không khổ không lạc hay trung tính cũng hiểu theo cách như vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Iti ajjhattaṃ vā vedanāsu vedanānupassī viharati,bahiddhā vā vedanāsu vedanānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā vedanāsu vedanānupassī viharati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Cũng như trong mỗi đoạn, những trạm tương tự giờ đây được nối tiếp theo sau. Các cảm thọ được cảm giác ở bên trong và trên bề mặt của thân, và rồi cảm giác cả bên trong lẫn bề mặt cùng một lúc ở khắp toàn bộ cấu trúc vật lý (thân).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Truyền thống khác giải thích <i>ajjhattaṃ</i> này là sự cảm giác trên thân mình, <i>bahiddha</i> là cảm giác trên thân người khác, còn <i>ajjhatta-bahiddhā</i> là lúc thì cảm giác trên thân mình và lúc thì cảm giác trên thân người khác. Như trước, truyền thống (thiền) của chúng ta không chấp nhận điều này. Người hành thiền đang hành thiền một mình, hoặc trong rừng, hoặc dưới một gốc cây, hay trong một căn phòng. Người ta lý luận rằng, khi đi khất thực vị sư gặp những người khác và có cơ hội cảm giác hơi thở và cảm thọ của họ này. Tuy nhiên, phải nhớ rằng khi đi ra ngoài mắt của người hành thiền nghiêm túc luôn luôn ngó xuống (<i>okkhitta-cakkhu</i>) và quá lắm họ cũng chỉ thấy được chân của người khác khi họ đi mà thôi: vì thế sự giải thích này dường như không hợp lý. Dĩ nhiên, ở một giai đoạn rất cao của sự quan sát người hành thiền cũng sẽ rất nhạy cảm đối với các cảm thọ của người khác, với những rung động của môi trường chung quanh và của những vật hữu tình và vô tình khác. Có thể hiểu ý nghĩa của đoạn kinh theo cách này cũng được. Ngoài ra thì để thực hành trên hơi thở hay cảm thọ của người khác là điều không thể làm được. Bởi thế tốt hơn hết hãy xem <i>ajjhattaṃ</i>như &#8220;bên trong&#8221; và <i>bahiddhā</i> như &#8220;trên bề mặt của thân bạn&#8221;.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">…Samudayadhammānupassī … vayadhammānupassī … samudayavajadhammānupassī vā vedanāsu viharati…</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trạm này và những trạm sau, được thấy ở mỗi đoạn kinh, rất là quan trọng. Người hành thiền phải trải qua những trạm ấy. Sự sanh khởi của thọ, sự diệt của thọ, và sự sanh và diệt tức thời của thọ phải được cảm giác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">…&#8217;atthi vedanā’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong phần quán thân &#8211; <i>kāyānupassanā</i> &#8211; giai đoạn <i>&#8216;atthi kāyo’ti</i> – “ đây là thân ” xảy đến khi thân trở thành chỉ thuần một khối các hạt hạ nguyên tử hay <i>kalapas</i> (tổng hợp sắc), không có sự đánh giá hay phán xét; tưởng (<i>saññā</i>) không còn nhận thức nó (thân) như người hay thú, giống đực hay giống cái, đẹp hay xấu nữa. Thân chỉ là thân, không có sự phân biệt nào cả. Tương tự, thọ &#8211; <i>vedanā</i> &#8211; giờ đây được thấy chỉ như thọ, không lạc cũng không khổ. Không có sự phán xét, không có sự đánh giá, không có tưởng tri (<i>saññā</i>). Niệm lúc này được thiết lập về thọ kể như các cảm thọ. Sau đó các trạm tương tự cũng diễn ra cho đến mục tiêu cuối cùng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vai trò của thọ &#8211; <i>vedanā</i> được xem là khám phá vĩ đại của Đức Phật cho nhân loại. Nó là giao lộ quan trọng từ đó hai con đường khởi sự: hoặc <i>dukkha-samudaya-gāminī</i> <i>paṭipadā</i> &#8211; khổ tập đạo, con đường trong đó khổ đau được tạo ra liên tục, hoặc <i>dukkha-nirodha gāminī paṭidanā</i> &#8211; khổ diệt đạo, con đường trong đó khổ đau hoàn toàn bị diệt trừ. Ngài đã khám phá ra rằng mọi phản ứng, mọi hành (<i>saṅkhāra</i>) chỉ có thể phát sinh với việc cảm giác một cảm thọ &#8211; dù cho đó là lạc, khổ hay bất khổ bất lạc thọ. Ở mức thâm sâu tâm luôn luôn phản ứng lại với cảm thọ ở khắp toàn thân, trong từng phân tử, bất cứ chỗ nào có sự sống. Trừ phi thọ &#8211; <i>vedanā</i> &#8211; được kinh nghiệm, bằng không bất kỳ sự giái thoát nào khỏi tham ái hay sân hận cũng chỉ là ở bề mặt của tâm. Đó chẳng qua là ảo tưởng về sự không phản ứng mà thôi bởi vì nó chỉ liên quan đến các đối tượng bên ngoài, đến ngoại trần &#8211; sắc, thinh, hương, vị, xúc. Cái bị bỏ quên là thực tại về phản ứng của bạn bởi vì mỗi xúc chạm của đối tượng với một căn môn chắc chắn phải tạo ra một cảm thọ trên thân, có thể đó là lạc, khổ hay trung tính. Điều này đã bị bỏ quên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bạn phải đi vào chiều sâu, nơi mà bạn cảm giác các cảm thọ và vẫn chưa phản ứng đó. Chỉ khi bạn chánh niệm về các cảm thọ và giữ thái độ xả đối với chúng, bạn mới có thể thay đổi được lề thói quen của tâm ở mức thâm sâu nhất. Các hành &#8211; <i>saṅkhāra</i> ăn rễ sâu xa giống như những đường khắc trên đá do búa và đục tạo ra vậy &#8211; các phiền não tùy miên (<i>anusaya kilesa</i>) này lúc đó có thể trồi lên và diệt. Ngược lại tiến trình sinh sôi nảy nở (của tùy miên phiền não) sẽ tiếp tục. Do đó, thọ (<i>vedanā</i>) đóng một vai trò rất quan trọng trong niệm xứ &#8211; <i>sati paṭṭhāna</i>.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;" align="right"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn <a href="https://thienvipassana.net/tu-niem-xu-giang-giai/"><strong>Tứ Niệm Xứ Giảng Giải &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</strong></a> &#8211; Tỳ Kheo Pháp Thông biên dịch. Tải cuốn sách file PDF <a href="https://thienvipassana.net/wp-content/uploads/2020/04/Tu-Niem-Xu-Giang-Giai-TK-Phap-Thong-Dich.pdf" target="_blank" rel="noopener noreferrer"><strong>tại đây</strong></a>. </span></p>
</blockquote>
<p>&nbsp;</p>
<h2 align="right"></h2>
<h2 style="text-align: justify;" align="right"><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">AUDIO TOÀN BỘ CUỐN SÁCH TỨ NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI </span></strong></span></h2>
<p style="text-align: justify;" align="right"><iframe loading="lazy" src="https://w.soundcloud.com/player/?url=https%3A//api.soundcloud.com/playlists/1042500577&amp;color=%23ffa51a&amp;auto_play=false&amp;hide_related=false&amp;show_comments=false&amp;show_user=true&amp;show_reposts=false&amp;show_teaser=false" width="100%" height="450" frameborder="no" scrolling="no" data-mce-fragment="1"></iframe></p>
<div style="font-size: 10px; color: #cccccc; line-break: anywhere; word-break: normal; overflow: hidden; white-space: nowrap; text-overflow: ellipsis; font-family: Interstate,Lucida Grande,Lucida Sans Unicode,Lucida Sans,Garuda,Verdana,Tahoma,sans-serif; font-weight: 100;"><a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Theravāda" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Theravāda</a> · <a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Tứ Niệm Xứ Giảng Giải - Thiền Sư S.N. Goenka" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada/sets/tu-niem-xu-giang-giai-thien-su-sn-goenka" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Tứ Niệm Xứ Giảng Giải &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</a></div>
<p>&nbsp;</p>
<h2 align="right"></h2>
<h2 style="text-align: justify;" align="right"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">AUDIOS PHÁP THOẠI KHOÁ THIỀN SATI 8 NGÀY DO THIỀN SƯ S.N. GOENKA GIẢNG DẠY</span></strong></h2>
<p><iframe loading="lazy" src="https://w.soundcloud.com/player/?url=https%3A//api.soundcloud.com/playlists/1041273376&amp;color=%23ffa51a&amp;auto_play=false&amp;hide_related=false&amp;show_comments=false&amp;show_user=true&amp;show_reposts=false&amp;show_teaser=false" width="100%" height="450" frameborder="no" scrolling="no" data-mce-fragment="1"></iframe></p>
<div style="font-size: 10px; color: #cccccc; line-break: anywhere; word-break: normal; overflow: hidden; white-space: nowrap; text-overflow: ellipsis; font-family: Interstate,Lucida Grande,Lucida Sans Unicode,Lucida Sans,Garuda,Verdana,Tahoma,sans-serif; font-weight: 100;"><a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Theravāda" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Theravāda</a> · <a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Pháp Thoại Khoá Thiền Sati 8 Ngày (T.Việt) - Thiền Sư S.N. Goenka" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada/sets/phap-thoai-khoa-thien-sati-8-ngay-tviet-thien-su-sn-goenka" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Pháp Thoại Khoá Thiền Sati 8 Ngày (T.Việt) &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</a></div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>NGÀY THỨ 2 &#8211; TÊN BÀI KINH MAHA SATIPATTHANA SUTTA &#038; GIỚI THIỆU LỊCH SỬ</title>
		<link>https://thienvipassana.net/ngay-thu-2-ten-bai-kinh-maha-satipatthana-sutta-gioi-thieu-lich-su/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 30 Apr 2020 09:22:25 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TỨ NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI]]></category>
		<category><![CDATA[Dhamma]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Mahā-satipaṭṭhāna Sutta]]></category>
		<category><![CDATA[satipaṭṭhāna]]></category>
		<category><![CDATA[thiền Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ]]></category>
		<category><![CDATA[Tứ Niệm Xứ Giảng Giải]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://thienvipassana.net/?p=2660</guid>

					<description><![CDATA[NGÀY THỨ HAI Ngày thứ hai của khóa thiền Tứ Niệm Xứ &#8211; satipaṭṭhāna đã qua. Chiều nay chúng ta]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: justify;" align="center"><a name="2"></a><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><b>NGÀY THỨ HAI</b></span></h2>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ngày thứ hai của khóa thiền Tứ Niệm Xứ &#8211; <i>satipaṭṭhāna</i> đã qua. Chiều nay chúng ta sẽ bắt đầu nghiên cứu bài kinh <i>satipaṭṭhāna</i> để hiểu nó trong liên hệ với pháp hành thực sự.</span></p>
<p>https://youtu.be/SvHQpLDgtqQ</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tên bài kinh là <i>Mahā-satipaṭṭhāna Sutta</i>. <i>Sutta</i> có nghĩa là bài giảng hay bài kinh. Mahā là lớn, và quả thực có một bài kinh khác về <i>satipaṭṭhāna [2]</i> nhưng ngắn hơn. Tuy nhiên, bài kinh giới thiệu ở đây đề cập chi tiết đến nhiều chủ đề hơn và vì thế nó được gọi là <i>mahā</i> &#8211; lớn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Chúng ta đã biết, <i>sati</i> là niệm hay sự nhận biết. Đó là một năng lực rất quan trọng của Pháp (<i>dhamma</i>), như đã nói ngày hôm qua. Niệm là một trong ngũ căn hay quyền &#8211; <i>indriyas </i>cần phải được phát triển. Nó còn là một trong các lực (<i>balas</i>) hay sức mạnh phải được tu tập để làm chủ Pháp. Niệm cũng là một trong thất giác chi &#8211; <i>bojjhaṅgas</i>, các chi phần của sự giác ngộ. <i>Sammā-sati</i> hay chánh niệm là một phần của Bát chánh đạo. Nghĩa đen của nó, như ngày nay người ta thường dùng ở Ấn Độ là &#8220;ký ức&#8221; hay &#8220;sự hồi tưởng&#8221; &#8211; <i>smṛti</i>. Thiền minh sát (<i>vipassanā</i>) không liên hệ đến ký ức thuộc quá khứ, mà bạn phải luôn luôn ghi nhớ đối tượng thiền, đối tượng này là thực tại thuộc tâm và vật chất hay danh và sắc trong cấu trúc của chính thân bạn. Vì thế, ý nghĩa đúng đắn của niệm hay <i>sati</i> là sự nhận biết, và sự nhận biết này phải là về thực tại của sát-na này đúng như nó là, về thực tại hiện tiền, chứ không phải quá khứ hay tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">&#8220;<i>Paṭṭhāna</i>&#8221; nghĩa là kiến lập hay thiết lập. &#8220;<i>Pa</i>&#8221; là một cách rộng rãi, nó bao gồm yếu tố trí tuệ, <i>paññā</i>. Niệm không chỉ đơn thuần nhận biết sự thực của tâm và vật chất (danh và sắc), mà cũng còn nhận biết về bản chất của sự thực này nữa; nó sanh và diệt như thế nào; nó là nguồn gốc của khổ ra sao; vì sao nó không phải là &#8220;tôi&#8221; và vô ngã (không có thực thể). Kinh nghiệm trực tiếp đòi hỏi phải có. Đây không phải là sự hiểu biết thuần tri thức về một sự thực bề ngoài (sự thực chế định). Niệm được thiết lập với trí tuệ, vốn là sự hiểu biết về thực chất của thực tại. Chính vì vậy nó mới có tên là <i>Mahā-satipaṭṭhāna Sutta</i> (Đại niệm xứ kinh).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài kinh mở đầu bằng:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Evaṃ me sutaṃ</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tôi nghe như vầy &#8211; hay điều này đã được tôi nghe:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Những lời này dĩ nhiên không phải là những lời của Đức Phật. Có một lịch sử nằm đằng sau chúng, mà những hành giả minh sát cần phải biết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi Đức Phật nhập diệt ở tuổi 80, các vị đệ tử của Ngài có mặt lúc đó đều là các bậc Alahán, đã giải thoát viên mãn, hiểu rằng mọi người, Đức Phật hay phàm nhân cũng thế, đều phải chết. Đây là quy luật tự nhiên. Trong khi những vị đệ tử khác chưa tu tập Pháp (<i>dhamma</i>) đến mức này (tức đến quả vị Alahán) cảm thấy rất buồn, thậm chí có vị còn khóc lóc thảm thiết. Tuy nhiên có một người, một vị sư, tuổi đã già nhưng không có trí tuệ, không cùng quan điểm với các vị sư kia. Ông cảm thấy rất vui rằng ông già (chỉ Đức Phật) đã chết: giờ đây họ thoát khỏi sự kềm thúc của Ngài và có thể làm những gì họ thích. Suy cho cùng chính lời của Đức Phật là: <i>Attā hi attano nātho</i> &#8211; &#8220;ta là chủ nhân của ta&#8221;, hay &#8220;ta là nơi nương tựa của ta&#8221;, cơ mà. Sự việc này cho thấy rằng những thành phần gia nhập Tăng đoàn (<i>saṅgha</i>) có những người không quan tâm đến Pháp (<i>dhamma</i>). Họ đến chỉ vì địa vị, vì muốn sống một cuộc sống phong lưu sung túc, được ăn uống đầy đủ và được kính trọng hơn ở những nơi khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuy nhiên tôi cảm thấy rất biết ơn vị sư (già) này. Vì sao? Khi Ngài Đại Ca Diếp (<i>MahāKassapa</i>), một vị sư trưởng rất trí tuệ, một bậc Alahán, đã giải thoát viên mãn và là một trong những vị đệ tử quan trọng nhất của Đức Phật, nghe được những lời này, Ngài quyết định bảo tồn những lời dạy chân thực của Đức Phật để chống lại những sự xuyên tạc trong tương lai bởi những phần tử như vậy. Chúng ta biết, trong bốn mươi lăm năm, cả ngày lẫn đêm, Đức Phật đã giảng dạy Pháp (<i>dhamma</i>), họa hoằn lắm mới nghỉ được hai hoặc ba tiếng ban đêm, và ngay cả sự nghỉ ngơi đó cũng không phải ngủ nghỉ bình thường mà với niệm và xả, với trí tuệ. Đức Phật đã thuyết giảng 82.000 pháp môn, các vị đệ tử Alahán của Ngài thuyết 2.000 pháp môn khác. Tổng cộng có 84.000 pháp môn. Ngài Ca Diếp nghĩ rằng những người khác, giống như vị sư già này, trong tương lai sẽ trích dẫn sai lời dạy của Đức Phật, thay thế những lời của họ vào đó và loại bỏ những giới luật thiết yếu ra. Do đó, Ngài quyết định triệu tập một cuộc hội nghị gồm 500 vị trưởng lão Tỳ khưu, các bậc Alahán đã chính mắt chứng kiến lời dạy của Đức Phật, để đọc tụng, sưu tập và xác nhận những lời dạy đúng đắn của Ngài. Tất nhiên có thể chỉ một vài vị đã làm điều này, song để gây ấn tượng cho mọi người và để bảo đảm sự đồng thuận mà ngài đã triệu tập 500 vị ngay sau khi Đức Phật nhập diệt. Các vị đã cùng nhau trùng tuyên từng lời của Đức Phật và chính thức xác nhận tính xác thực của nó.</span></p>
<h3 style="text-align: justify;"><a name="_Toc142517758"></a><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a name="_Toc141427492"></a><span style="font-size: 18pt;"><b>Ānanda</b></span><b></b></span></h3>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ānanda được tiến cử đến Tôn giả Ca Diếp như thành viên thứ 500 của cuộc đại hội này. Ānanda sanh cùng ngày với Đức Phật Gotama, là anh em họ với ngài và đã trải qua thời thơ ấu của mình với Ngài. Khi Đức Phật chứng đắc giác ngộ, Ānanda là một trong những thành viên trong gia tộc đã từ bỏ đời sống gia chủ để xuất gia theo ngài. Khi con số những người đi theo càng đông, công việc (giảng dạy) cũng tăng lên, Đức Phật cần phải có một người thị giả (hầu cận bên ngài). Một số vị đã đến, nhưng với những động cơ khác. Người thì với hy vọng sẽ được bí mật chứng kiến những phép lạ, mặc dù Đức Phật ngăn cấm việc thi triển thần thông trước công chúng. Người thì mong nghe được những câu đối đáp về một số vấn đề triết lý mà bình thường ngài không trả lời trước công chúng. Những người như vậy không thể ở lại lâu, và họ đã ra đi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Khi Đức Phật năm mươi lăm tuổi, nhu cầu phải có một người thị giả ổn định đã được ngài chấp nhận. Nhiều vị sư cao niên rất muốn được hầu hạ ngài, nhưng ngài vẫn thích chọn Ānanda hơn. Tuy thế Ānanda vẫn giữ yên lặng. Cuối cùng Ānanda thực lòng thỉnh cầu Đức Phật chấp nhận một số điều khoản. Có bảy hoặc tám điều gì đó, rất lành mạnh, và Đức Phật đã chấp nhận tất cả. Một điều trong đó là nếu khi nào Đức Phật thuyết pháp mà Ānanda không có mặt ở đó, Đức Phật phải lập lại bài pháp ấy cho ngài khi trở về. Như vậy ngài đã nghe được mọi bài pháp trong suốt hai mươi lăm năm cuối đời của Đức Phật. Tất nhiên ngài cũng nghe được cả những bài pháp trước thời gian đó. Ānanda có một khả năng ghi nhớ kỳ diệu do việc thực hành của vị ấy và cũng do những phẩm hạnh tốt ở quá khứ. Nếu được nghe điều gì một lần, ngài có thể lập lại nó bất kỳ lúc nào, đúng từng chữ một, giống như một chiếc máy vi tính hay máy thu băng ngày nay vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Ānanda đã phục vụ Đức Phật suốt hai mươi lăm năm. Tôn giả sống rất gần với Đức Phật và là một người thị giả đắc lực của ngài, thế nhưng tôn giả vẫn chưa phải là một bậc Alahán, bậc đã giải thoát viên mãn. Tôn giả chỉ là một vị thánh Nhập lưu &#8211; <i>sotāpanna</i>, đã đạt đến tầng giải thoát thứ nhất sau khi thực chứng Niết Bàn lần đầu tiên. Vượt qua đó là giai đoạn Tư-đà-hàm (<i>Sakadāgāmī</i>), rồi A-na-hàm (<i>Anāgāmī</i>), và A-la-hán (<i>Arahant</i>). Từ điều này chúng ta cần phải hiểu rằng Đức Phật không thể giải thoát cho ai được cả. Ānanda biết Pháp (<i>dhamma</i>) rất rõ: có thể nói hàng ngàn người do tôn giả dạy đều là bậc Alahán, tuy thế tôn giả vẫn tiếp tục phục vụ Đức Phật, không có thời gian để tự mình thăng tiến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Vì thế ngài Ca Diếp (<i>Kassapa</i>) đi đến tôn giả, nói rằng bây giờ Đức Phật đã diệt độ rồi, Ānanda có nhiều thời gian (rảnh rỗi), và là một bậc thầy, Ānanda biết kỹ thuật (minh sát) rất rõ. Ngài Ca Diếp yêu cầu tôn giả hãy thực hành để trở thành một bậc Alahán và tham dự cuộc kết tập kinh điển vì tôn giả sẽ là một nhân vật rất cao quý ở đó. Ānanda hoan hỷ chấp nhận; tôn giả hứa sẽ hành trong vài ngày để trở thành một bậc Alahán, và tham gia cùng mọi người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tôn giả bắt đầu thực hành rất nhiệt tình, nhắm đến việc trở thành một bậc Alahán. Là một bậc thầy tôn giả thường khuyên người khác không nên để phát triển cái tôi hay bản ngã, vì đó là một chướng ngại rất nguy hiểm. Thường thì người thầy, khi thực hành, bao giờ cũng quên những lời mình dạy, và đây là những gì đã xảy ra với Ānanda. Mục đích của tôn giả là &#8211; &#8220;Ta phải trở thành một bậc Alahán&#8221; và thế là tôn giả chẳng tiến bộ được chút nào cả. <i>MahāKassapa</i> (Ca-Diếp) đi đến và nói với tôn giả rằng cuộc kết tập sẽ bắt đầu vào ngày mai; nếu cần sẽ không có tôn giả. Nếu Ānanda không thành một bậc Alahán đại hội sẽ cử người khác. Tôn giả lại cố sức hành cả đêm &#8211; &#8220;Ta phải trở thành một bậc Alahán&#8221;. Đêm đã qua và mặt trời ló rạng. Kiệt quệ vì công việc (thực hành minh sát), tôn giả quyết định đi nghỉ. Tôn giả không than khóc, đó là một phẩm chất tốt của tôn giả. Giờ đây tôn giả không nhắm đến việc trở thành một bậc Alahán nữa. Tôn giả chỉ chấp nhận sự kiện rằng tôn giả không phải là một bậc Alahán, tôn giả chỉ là một vị Nhập Lưu (<i>sotāpanna</i>). Tựa như một hành giả tốt, duy trì chánh niệm trên các cảm thọ đang sanh và diệt, tôn giả nằm xuống nghỉ. Tâm trí tôn giả giờ đây không còn nghĩ đến tương lai, mà chuyên chú vào thực tại của sát-na hiện tiền. Trước khi đầu chạm gối, tôn giả trở thành một bậc Alahán.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đó là trung đạo. Với sự lơi lỏng quá mức bạn chẳng thành tựu được gì. Còn với nỗ lực quá mức tâm sẽ mất thăng bằng. Ānanda tham dự cuộc kết tập.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bây giờ, Ānanda được hỏi chính xác những gì Đức Phật đã nói, và tất cả những lời dạy (của Đức Phật) đều được sưu tập lại, rồi chia làm ba nhóm gọi là <i>Tipiṭaka</i> hay Tam Tạng. &#8220;<i>Ti</i>&#8221; có nghĩa là ba.<i> Piṭaka</i> thường gọi là cái giỏ, mặc dù nó cũng nói đến kinh điển. Thứ nhất là Kinh Tạng &#8211; <i>Sutta Piṭaka</i>, những bài giảng có tính chất đại chúng. Thứ hai là Luật Tạng &#8211; <i>Vinaya Piṭaka</i>, những bài giảng dành cho các vị Tỳ khưu và Tỳ khưu ni về luật và giới (<i>Sīla</i>). Đối với những gia chủ, ngũ giới được xem là vừa đủ, song đối với các vị sư và tu nữ có hơn 200 <i>sīla</i> (giới), đó là lý do vì sao vị sư già bất đồng quan điểm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Thứ ba là Vi diệu Tạng &#8211; <i>Abhidhamma piṭaka</i>, giáo Pháp cao siêu, những sự thực sâu xa hơn về các quy luật của tự nhiên mà đối với người bình thường không dễ hiểu tí nào. Đó là một nghiên cứu phân tích về toàn bộ lĩnh vực của tâm và vật chất (danh và sắc) với đầy đủ chi tiết về thực tại gắn liền sắc (<i>rūpa</i>), tâm (<i>citta</i>) và các tâm sở hay nội dung tâm trí (<i>cetasikas</i>). Vi diệu pháp (<i>abhidhamma</i>) giải thích đầy đủ cách chúng tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào, cách danh và sắc kích thích sự sanh khởi của tự thân và sự sanh khởi của nhau ra sao, nó cũng giải thích những mối quan hệ liên kết, những dòng, và những dòng cắt (hoạt động của tâm) tận sâu bên trong. Tất cả những điều này trở nên rõ ràng, dĩ nhiên không chỉ do đọc Vi diệu pháp, mà do hành thâm Vipassanā (thiền minh sát). Ānanda được đại hội yêu cầu trùng tuyên Kinh (<i>Suttas</i>) và Vi diệu pháp (<i>abhidhamma</i>), trong khi một vị Alahán khác, tinh thông giới luật, tôn giả Upāli (Ưubali), được yêu cầu trùng tuyên Luật Tạng (<i>Vinaya</i>).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài kinh <i>Satipaṭṭhāna</i> này nằm trong Kinh Tạng (<i>Sutta-piṭaka</i>) Ānanda bắt đầu với <i>Evaṃ me sutaṃ</i>, &#8220;Điều này tôi nghe&#8221; hay &#8220;Tôi nghe như vầy&#8221;, bởi vì tôn giả đã trực tiếp nghe điều đó từ Đức Phật. Tôn giả cũng đưa ra lời giải thích về bối cảnh thuyết kinh. &#8220;Một thời Đức Thế Tôn đang sống (<i>viharati</i>) giữa những người dân Kurūs tại Kammāssadhammaṃ, một thị tứ của dân chúng Kurū&#8221;. Chữ <i>viharati</i> thường được người Ấn dùng để trỏ những người đã giác ngộ hay những người đang thực hành Pháp (<i>dhamma</i>). Kurū lúc đó là một trong mười sáu tiểu quốc ở bắc Ấn, ngày nay gọi là Haryana, một nơi gần Đềly (Delhi) và Punjab. Đức Phật gọi các vị Tỳ khưu (<i>Bhikkhus</i>), đó là những hành giả (nói chung) có mặt ở đó, và nói.</span></p>
<h3 style="text-align: justify;"><a name="_Toc142517759"></a><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;"><a name="_Toc141427493"></a><span style="font-size: 18pt;"><b>Kurū</b></span><b></b></span></h3>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Phật thuyết kinh này ở Kurū vì một lý do. Không riêng gì Đức Phật mà những người khác cũng đánh giá cao người dân xứ Kurū này. Trong một truyền thống Ấn Độ khác, sách <i>Bhagavad Gita [3]</i> bắt đầu với những lời: <i>Dhammarkṣhetre, Kurukṣhetre</i>, nghĩa là trong &#8220;lĩnh vực của Pháp (<i>dhamma</i>), lĩnh vực của Kurū&#8221;. Ở một bài kinh khác Đức Phật giải thích những người Kurūs đã sống một cuộc đời giới hạnh, từ vua chúa đến thứ dân như thế nào. Điều này hoàn toàn lạ thường, và những gì bây giờ người ta gọi là <i>sīla</i> <i>dhamma</i> (giới &#8211; pháp) thì hồi đó gọi là <i>Kurū-dhamma</i> (Kurū pháp). Vì Giới hay đạo đức là bản chất của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Trong một kiếp quá khứ của Đức Phật, thời đó Bồ tát (<i>Bodhisatta</i>) là người cai trị xứ Kurū. Kaliṅga, một tiểu quốc khác bây giờ gọi là Orissa, lâm vào cảnh hạn hán và đói kém hết năm này đến năm khác. Người ta tin rằng những nạn đói như vậy xảy ra khi con người không còn sống một cuộc sống giới hạnh. Những vị bô lão xứ Kalinga khuyên đức vua nên thọ trì ngũ giới, để tất cả thần dân của ngài bắt chước theo, và giữ ngũ giới như vậy. Điều quan trọng là giới phải được thọ nhận từ một người hoàn hảo trong giới hay giữ giới trong sạch. Về điều này họ đề nghị đức vua nên xin giới nơi vua xứ Kurū, một con người hoàn hảo, mọi thần dân của ông đều sống một cuộc sống giới hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Hai sứ giả Bàlamôn được phái đi. Họ tâu với vua Kurū toàn bộ câu chuyện và thỉnh cầu ông viết những giới điều (ngũ giới) trên một tấm bảng đá: thay mặt vua họ sẽ đọc to những giới ấy, và mọi người dân xứ Kaliṅga sẽ bắt đầu thực hành theo và như vậy thoát khỏi đại hạn. Đức vua xứ Kurū từ chối. Mặc dù ông đang sống một cuộc sống hoàn hảo về giới, song ông cảm thấy mình đã phạm một sai lầm nhỏ. Vua gởi họ đến mẫu hậu của mình. Bà cũng nói là bà đã phạm một lỗi nhỏ. Vì thế đoàn sứ giả lại được gởi tới chánh cung hoàng hậu; và tương tự, lần lượt họ đến bào đệ của vua, đến quan thừa tướng, quan thủ khố, thương nhân, thậm chí xuống đến người đánh xe (ngựa) và người gác cổng. Tất cả đều nói họ đã phạm một lầm lỗi nhỏ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Tuy vậy những lầm lỗi này không có gì quan trọng cả. Chẳng hạn, đức vua trong lúc chứng tỏ tài nghệ bắn cung của mình, đã bắn một mũi tên. Mũi tên ấy rơi xuồng hồ, và không nổi lên. Có lẽ nó đã xuyên qua một con cá. Không biết điều này có thực là vậy hay không, vẫn còn là mối hòai nghi. Người dân Kurū là người rất cẩn trọng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Một nền tảng giới luật là rất quan trọng. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian giữa một vị Phật này và một vị Phật khác xuất hiện (rất dài, không tính được), các phần khác của Pháp &#8211; <i>dhamma</i> bị thất truyền, và đây là những gì đã xảy ra. Thực sự Pháp mà một vị Phật tuyên thuyết là hoàn hảo và thanh tịnh &#8211; <i>kevalaparipuṇṇaṃ</i> (đầy đủ và hoàn chỉnh), <i>kevalaparisudhaṃ</i> &#8211; (trọn vẹn và thanh tịnh) &#8211; không có gì phải thêm vào hoặc lấy ra. Khi thời gian qua đi những phần quan trọng của Pháp lạc mất. Trí tuệ (<i>paññā</i>), phần khó nhất, biến mất trước tiên: chỉ tuệ thế gian còn lại. Rồi định thanh tịnh, thuần khiết mất: những tưởng tượng còn lại, song chánh niệm về thực tại không còn. Giới còn lại, trong khi những bước khác thất lạc, nó bị cường điệu quá mức và bị mở rộng ra đến những cực đoan khiến cho tâm trở nên mất thăng bằng. Điều này đã xảy ra ở Ấn Độ ngày nay: người ta trở nên quá mất quân bình trong việc thực hành định (<i>samādhi</i>) và tuệ (<i>paññā</i>) đúng đắn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đức Phật luôn luôn lên án <i>sīla-vata-parāmāsa</i> &#8211; chấp thủ giới. Ở đây chữ <i>vata</i> nghĩa là lời thề nguyện, hay phát nguyện, <i>parāmasa</i> là chấp thủ. Không có định (<i>samādhi</i>) hoặc tuệ (<i>paññā</i>) đích thực, người ta liền phát nguyện (<i>vata</i>); và quay qua mở rộng chỉ một giới (<i>sīla</i>), nghĩ rằng nó sẽ giải thoát cho họ. Thực sự thì không có gì sai với giới (<i>sīla</i>) hoặc phát nguyện (<i>vata</i>), cả hai đều quan trọng. Chẳng hạn, phát nguyện không ăn chiều sẽ trợ giúp cho thiền của bạn, hoặc nguyện nhịn ăn một ngày để giữ cho bạn sức khoẻ. Nhưng khi nó được mở rộng ra thành cực đoan thì người ta nhịn ăn đến cả tháng, chỉ để chứng tỏ cái Pháp (nhịn ăn) của họ, và điểm cốt yếu, hay mục đích không thấy đâu nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Đây là tình trạng đã xảy ra ở Kurū lúc đó. Giới của họ rất tốt, nhưng đã bị mở rộng ra thành cực đoan. Mặc dù điều đó sai, song giữ giới (<i>sīla</i>) chắc chắn vẫn tốt hơn nhiều so với không giữ giới. Những gì họ thiếu trong Pháp (<i>dhamma</i>), có thể tìm được bằng kỹ thuật (minh sát) này. Bởi thế, bài kinh không nói về giới (<i>sīla</i>) nữa, vì căn bản vững chắc này đã có sẵn ở đó rồi. Với một căn bản tốt như vậy, người dân Kurū chắc chắn sẽ hiểu những chi tiết của kỹ thuật này rõ hơn. Do đó, Đức Phật mới thuyết kinh này ở Kurū.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Rồi Ngài (Đức Phật) gọi các vị Tỳ khưu (<i>bhikkhu</i>). Trong ngôn ngữ thông thường của Ấn Độ, <i>bhikkhu</i> có nghĩa là một vị sư (Tỳ khưu), một vị samôn, nhưng trong hầu hết những lời dạy của Đức Phật thì bhikkhu lại có nghĩa là bất kỳ người nào đang thực hành giáo pháp. Do đó, chữ bhikkhu ở đây ngụ ý một người hành thiền, một hành giả, dù đó là nam hay nữ cư sĩ, hoặc một vị sư hay tu nữ.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify;" align="right"><span style="font-size: 14pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">Bài viết trích từ cuốn <a href="https://thienvipassana.net/tu-niem-xu-giang-giai/"><strong>Tứ Niệm Xứ Giảng Giải &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</strong></a> &#8211; Tỳ Kheo Pháp Thông biên dịch. Tải cuốn sách file PDF <a href="https://thienvipassana.net/wp-content/uploads/2020/04/Tu-Niem-Xu-Giang-Giai-TK-Phap-Thong-Dich.pdf" target="_blank" rel="noopener noreferrer"><strong>tại đây</strong></a>. </span></p>
</blockquote>
<p>&nbsp;</p>
<h2 align="right"></h2>
<h2 style="text-align: justify;" align="right"><span style="font-size: 18pt;"><strong><span style="font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">AUDIO TOÀN BỘ CUỐN SÁCH TỨ NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI </span></strong></span></h2>
<p style="text-align: justify;" align="right"><iframe loading="lazy" src="https://w.soundcloud.com/player/?url=https%3A//api.soundcloud.com/playlists/1042500577&amp;color=%23ffa51a&amp;auto_play=false&amp;hide_related=false&amp;show_comments=false&amp;show_user=true&amp;show_reposts=false&amp;show_teaser=false" width="100%" height="450" frameborder="no" scrolling="no" data-mce-fragment="1"></iframe></p>
<div style="font-size: 10px; color: #cccccc; line-break: anywhere; word-break: normal; overflow: hidden; white-space: nowrap; text-overflow: ellipsis; font-family: Interstate,Lucida Grande,Lucida Sans Unicode,Lucida Sans,Garuda,Verdana,Tahoma,sans-serif; font-weight: 100;"><a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Theravāda" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Theravāda</a> · <a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Tứ Niệm Xứ Giảng Giải - Thiền Sư S.N. Goenka" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada/sets/tu-niem-xu-giang-giai-thien-su-sn-goenka" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Tứ Niệm Xứ Giảng Giải &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</a></div>
<p>&nbsp;</p>
<h2 align="right"></h2>
<h2 style="text-align: justify;" align="right"><strong><span style="font-size: 18pt; font-family: tahoma, arial, helvetica, sans-serif;">AUDIOS PHÁP THOẠI KHOÁ THIỀN SATI 8 NGÀY DO THIỀN SƯ S.N. GOENKA GIẢNG DẠY</span></strong></h2>
<p><iframe loading="lazy" src="https://w.soundcloud.com/player/?url=https%3A//api.soundcloud.com/playlists/1041273376&amp;color=%23ffa51a&amp;auto_play=false&amp;hide_related=false&amp;show_comments=false&amp;show_user=true&amp;show_reposts=false&amp;show_teaser=false" width="100%" height="450" frameborder="no" scrolling="no" data-mce-fragment="1"></iframe></p>
<div style="font-size: 10px; color: #cccccc; line-break: anywhere; word-break: normal; overflow: hidden; white-space: nowrap; text-overflow: ellipsis; font-family: Interstate,Lucida Grande,Lucida Sans Unicode,Lucida Sans,Garuda,Verdana,Tahoma,sans-serif; font-weight: 100;"><a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Theravāda" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Theravāda</a> · <a style="color: #cccccc; text-decoration: none;" title="Pháp Thoại Khoá Thiền Sati 8 Ngày (T.Việt) - Thiền Sư S.N. Goenka" href="https://soundcloud.com/phatgiaontheravada/sets/phap-thoai-khoa-thien-sati-8-ngay-tviet-thien-su-sn-goenka" target="_blank" rel="noopener noreferrer nofollow">Pháp Thoại Khoá Thiền Sati 8 Ngày (T.Việt) &#8211; Thiền Sư S.N. Goenka</a></div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
