ĐẠO ĐỨC, SỰ TẬP TRUNG VÀ TRÍ TUỆ – MORALITY, CONCENTRATION AND WISDOM (SONG NGỮ)

Morality, Concentration and Wisdom – Đạo đức (giới), Sự tập trung (định) và Trí tuệ (tuệ)

The universal Dhamma taught by the Buddha spread during his life–time without any opposition and for about four hundred years after the Buddha.

Dhamma phổ quát do Đức Phật truyền bá trong suốt cuộc đời của mình mà không có bất kỳ sự chống đối nào và trong (sửa: cho đến) khoảng bốn trăm năm sau thời Đức Phật. 

Had he called his teachings “Buddhist Dhamma” instead of just “Dhamma,” it would have turned into a sect 

Nếu ông gọi giáo lý của mình là “giáo pháp Phật giáo” thay vì chỉ là “Giáo pháp”, thì nó sẽ biến thành một giáo phái.

Every sect has its own philosophy, festivals, ceremonies, rites and rituals. Sectarians call these their religion. On account of these differences they look down upon the religions of others, abuse each other, and fight among themselves. Such differences based on religion and caste leads to antagonism and conflict in society. People understood that the Buddha taught a universal Dhamma which unites all. As a result, the teachings of the Buddha began to spread without any opposition.

Mỗi giáo phái có (những) triết lý, lễ hội, nghi lễ, nghi lễ và nghi thức riêng. Các thành viên giáo phái gọi đây là tôn giáo của họ. Vì những khác biệt này, họ xem thường tôn giáo của người khác, sỉ nhục lẫn nhau và chiến đấu với nhau. Sự khác biệt như vậy dựa trên tôn giáo và đẳng cấp dẫn đến sự đối kháng và xung đột trong xã hội. Mọi người hiểu rằng Đức Phật đã dạy một Dhamma phổ quát hợp nhất tất cả. Do đó, giáo lý của Đức Phật bắt đầu lan rộng mà không gặp phải sự phản đối nào.

The Buddha himself practiced morality, concentration and wisdom, became free from the cycle of birth and death and became the perfectly Enlightened One and taught the Noble Eight-fold Path consisting of morality, concentration, and wisdom to the people. These are the elements of Dhamma appreciated by all. They do not exclusively belong to one particular sect.

Chính Đức Phật đã thực hành giới, định và tuệ, thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử và trở thành Đấng giác ngộ hoàn hảo và dạy Con đường Bát chánh đạo bao gồm giới, định và tuệ cho mọi người. Đây là những yếu tố của Dhamma được đánh giá cao bởi tất cả. Những yếu tố này không thuộc riêng về một giáo phái cụ thể nào.

Morality: Đạo đức (giới)

Avoid any vocal or physical action that harm others and disturb their peace and harmony. This teaching of the Buddha was accepted by all. As far as morality is concerned, the Buddha taught us to observe precepts with a pure mind. This is because all vocal and physical actions originate in the mind. Therefore, if we purify the mind, our actions will become pure and wholesome.

Tránh bất kỳ hành động bằng giọng nói hoặc thể chất (nào có thể) gây tổn hại cho người khác và làm xáo trộn an vui và hòa hợp của họ. Giáo lý này của Đức Phật đã được tất cả mọi người chấp nhận. Đến chừng mức mà đạo đức (giới) được quan tâm (Sửa: Khi nói về đạo đức), Đức Phật dạy chúng ta quan sát (sửa: tuân thủ) giới luật bằng một tâm thanh tịnh. Điều này là do tất cả các hành động bằng giọng nói và thể chất (đều) bắt nguồn từ tâm trí. Do đó, nếu chúng ta thanh lọc tâm trí, hành động của chúng ta sẽ trở nên thuần khiết và lành mạnh.

Concentration: Sự tập trung (định)

Repetition of a sacred mantra or the name of a deity can help to concentrate the mind and to develop mental calm and purity to some extent. However, this does not eradicate the roots of mental defilements, which remain suppressed. The Buddha taught right concentration of mind, which led to eradication of these mental defilements.

Sự lặp lại của một câu thần chú linh thiêng hoặc tên của một vị thần có thể giúp tập trung tâm trí và phát triển sự bình tĩnh và tinh khiết của tinh thần đến một mức độ nào đó. Tuy nhiên, điều này không xóa bỏ gốc rễ của (những) phiền não (ẩn sâu bên trong tâm), cái mà vẫn bị nén lại (bỏ) . Đức Phật đã dạy (về) sự tập trung đúng của tâm (chánh định), dẫn đến (sửa: điều có thể giúp ta) diệt trừ những phiền não này.

Wisdom: Trí tuệ (tuệ)

Acquired wisdom is wisdom gained by reading or listening to Dhamma discourses. Intellectual wisdom is gained by reflecting on what one had read or heard. However, real wisdom is gained by direct experience. We gain direct wisdom by direct personal experience.

Trí tuệ có được (sửa: huân tập) là trí tuệ có được bằng cách đọc hoặc nghe các bài giảng về Dhamma. Tuệ tư duy (sửa: trí tuệ duy lý) có được bằng cách phản ánh (sửa: đúc kết lại) những gì người ta đã đọc hoặc nghe. Tuy nhiên, Trí tuệ thực sự có được bằng (sự) kinh nghiệm trực tiếp. Chúng ta có được trí tuệ trực tiếp bằng kinh nghiệm cá nhân trực tiếp.

The Buddha, the super-scientist of the spiritual world, discovered and taught the way to purify the mind. Like a true scientist, he experimented to know the truth of mind and matter by dividing and analysing them as also by experiencing how the two work. He also discovered how defilements arise in the mind and how they can be eliminated by practicing Vipassana and developing equanimity. So long as defilements are not completely destroyed, one is not liberated from them. However, one is free from defilements to the extent one has destroyed them.

Đức Phật, nhà khoa học siêu hạng của thế giới tâm linh, đã khám phá và dạy cách thanh lọc tâm trí. Giống như một nhà khoa học thực thụ, ông đã thử nghiệm để biết sự thật của tâm trí và vật chất bằng cách phân chia (sửa: bóc tách) và phân tích chúng cũng bằng cách trải nghiệm cách hai điều đó vận hành. Ông cũng khám phá ra làm thế nào phiền não phát sinh trong tâm trí và làm thế nào chúng có thể được loại bỏ bằng cách thực hành Vipassana và phát triển sự bình tâm. Chừng nào phiền não chưa bị tiêu diệt hoàn toàn, người ta không được giải thoát khỏi chúng. Tuy nhiên, người ta không bị phiền não đến mức độ người ta đã tiêu diệt chúng. (Sửa: Ngược lại, càng diệt trừ được nhiều phiền não chừng nào, người ta càng được tự do chừng nấy.)

People gradually began to accept this scientific and benevolent teaching and were greatly benefited. Thus it spread without any difficulty. Four hundred years after the Buddha, Emperor Asoka spread this benevolent teaching not only in India but also in many neighbouring countries. Later, the Buddha’s teaching was completely lost in India. Now after 2000 years it has returned to India and has spread to the whole world. I hope the essence of the Buddha’s teaching, Vipassana, lasts for the next two thousand years for the benefit of innumerable beings.

Mọi người dần dần bắt đầu chấp nhận giáo lý (mang tính) khoa học và nhân từ này và được hưởng lợi rất nhiều (sửa: gặt hái được nhiều lợi lạc). Do đó, nó lan rộng mà không gặp khó khăn gì. (Sửa: Từ đó, nó bắt đầu lan tỏa mà không gặp bất cứ trở ngại nào.) Bốn trăm năm sau thời Đức Phật, Hoàng đế Asoka đã truyền bá giáo lý nhân từ này không chỉ ở Ấn Độ mà còn ở nhiều nước láng giềng. Sau đó (Sửa: Sau này), giáo lý Đức Phật đã hoàn toàn bị (sửa: biến) mất ở Ấn Độ. Bây giờ sau 2000 năm, nó đã trở lại Ấn Độ và lan rộng ra toàn thế giới. Tôi hy vọng bản chất (sửa: điều tinh túy nhất) của giáo lý Phật, Vipassana, (sẽ còn) tồn tại trong hai nghìn năm tới vì lợi ích của vô số chúng sanh.

 

Nguồn VRIDhamma.org

Dhamma Nanda

Tổng hợp và chia sẻ các bài viết về Dhamma, đặc biệt là những lợi ích phương pháp thiền Vipassana, phương pháp thiền cổ xưa được Đức Phật Gotama tái phát hiện cách đây hơn 2600 năm, và được Ngài giảng dạy như một liều thuốc chung chữa trị những bệnh chung của nhân loại. Phương pháp không tông phái này nhằm tới việc diệt trừ những bất tịnh tinh thần và đưa đến hạnh phúc cao cả nhất của việc hoàn toàn giải thoát..

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *