ĐỌC HIỂU PALI – BÀI HỌC SỐ 21 – TỲ KHƯU THIỆN HẢO (BHIKKHU VĀYĀMA)

BUỔI HỌC 21: KINH ĐẠI NIỆM XỨ

Thứ Năm, 15-10-2020

 

Mahāsatipaṭṭhānasutta – Đại Kinh Thiết Lập Niệm

1. Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā kurūsu viharati kammāsadhammaṃ nāma kurūnaṃ nigamo. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘bhikkhavo’ti. ‘Bhaddante’ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca –

(Tôi đã nghe như vầy. Một thuở nọ/thời, Thế Tôn trú trong xứ Kuru, có thị trấn thuộc kuru tên là Kammāsadhamma. Ở đấy, Thế Tôn đã gọi các tỳ-khưu ‘Này các tỳ-khưu’. Các vị tỳ-khưu ấy đã đáp lời Thế Tôn rằng: ‘Bạch Ngài’. Thế Tôn đã dạy điều này )

2. ‘Ekāyano ayaṃ, bhikkhave, maggo sattānaṃ visuddhiyā, sokaparidevānaṃ samatikkamāya dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, yadidaṃ cattāro satipaṭṭhānā.

(Này các tỳ-khưu, đây là con đường có một mục đích/nhất hướng cho sự thanh tịnh của chúng sanh, cho việc chế ngự sầu bi, cho sự tiêu tan khổ ưu, cho sự chứng đạt trí tuệ, và cho sự giác ngộ Níp-bàn, tức là bốn sự thiết lập niệm.)

3. ‘Katame cattāro? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.

(Gì là bốn? Ở đây, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu tẩy trừ tham ưu ở đời và sống tuỳ quán thân trong thân (với) nhiệt tâm, tỉnh giác và niệm; vị ấy tẩy trừ tham ưu ở đời và sống tuỳ quán thọ trong các thọ (với) nhiệt tâm, tỉnh giác và niệm; vị ấy tẩy trừ tham ưu ở đời và sống tuỳ quán tâm trong tâm (với) nhiệt tâm, tỉnh giác và niệm; vị ấy tẩy trừ tham ưu ở đời và sống tuỳ quán pháp trong các pháp (với) nhiệt tâm, tỉnh giác và niệm.)

Ngữ vựng:

nigama (nt): thị trấn nhỏ, chợ châu thành

ekāyana = eka + ayana (trut) con đường; mục đích/tiêu, sự dẫn/đi đến

sokaparideva = soka (nt) nỗi đau buồn/sầu khổ + parideva (nt) sự khóc than/than vãn

samatikkama (tt) vượt qua, chế ngự, thắng phục

dukkhadomanassa = dukkha (trut) sự đau khổ (thân) + domanassa (trut) sự u sầu/sầu muộn

atthaṅgama (nt từ aṭṭhaṅgacchati): sự làm biến mất/diệt vong, sự tiêu tan

adhigama (nt từ adhigacchati): sự chứng đắc/đạt được/hiểu biết

sacchikiriya (nut từ sacchikaroti): sự giác ngộ/thấu rõ/chứng thực

satipaṭṭhāna = sati (nut) sự nhận ra/ghi nhớ, niệm + paṭṭhāna (trut từ paṭṭhahati) sự trình bày/nêu ra/dựng lên/thiết lập/bắt đầu

kāyānupassī = kāya (nt) nhóm, đống, khối tập hợp, thân thể + anupassin (tt từ anupassati) quan sát, thấy rõ, tuỳ quán

ātāpī (tt): hăng hái, mạnh liệt, tích cực, có nhiệt huyết/tâm

sampajāna (tt): lưu tâm, chú ý, thận trọng, tỉnh giác

satiman (tt từ sati): lưu tâm, chú ý, nhận ra, có niệm

vineyya (bbqkpt của vineti): sau khi tẩy trừ/xoá bỏ/tiêu diệt

abhijjhādomanassa = abhijjhā (nut)  sự tham lam/thèm khát + domanassa

vedanā (nut): cảm giác/thọ

citta (trut): tâm thức, sự nhận biết

dhamma (nt): pháp, pháp hữu vi

Kāyānupassanā ānāpānapabbaṃ

(Thân tuỳ quán, phần Hơi thở vào – ra)

4. ‘Kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati? Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. So satova assasati, satova passasati. Dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto ‘dīghaṃ passasāmī’ti pajānāti. Rassaṃ vā assasanto ‘rassaṃ assasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto ‘rassaṃ passasāmī’ti pajānāti. ‘Sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati. ‘Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati.

(Và lại nữa, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu sống tuỳ quán thân trong thân như thế nào? Ở đây, này các tỳ-khưu, khi đến khu rừng hoặc đến gốc cây hoặc đến ngôi nhà trống, vị tỳ-khưu ngồi xuống, sau khi ngồi kiết già, giữ thân ngay thẳng, và khiến niệm khởi sanh trước mặt. Vị ấy biết rõ khi thở vào, biết rõ khi thở ra. Khi đang thở vào dài/chậm, vị ấy biết rõ: ‘Ta thở vào dài/chậm’; khi thở ra dài/chậm, vị ấy biết rõ: ‘Ta thở ra dài/chậm’. Khi đang thở vào ngắn/nhanh, vị ấy biết rõ: ‘Ta thở vào ngắn/nhanh’; khi thở ra ngắn/nhanh, vị ấy biết rõ: ‘Ta thở ra ngắn/nhanh’. Vi ấy tập: ‘Cảm nghiệm toàn thân (hơi thở), ta sẽ thở vào’; vị ấy tập: ‘Cảm nghiệm toàn thân (hơi thở), ta sẽ thở ra’. Vị ấy tập: ‘Khi đang làm lắng dịu pháp hữu vi của thân (hơi thở), ta sẽ thở vào’; Vị ấy tập: ‘Khi đang làm lắng dịu pháp hữu vi của thân (hơi thở), ta sẽ thở ra’.)

5. ‘Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho bhamakāro vā bhamakārantevāsī vā dīghaṃ vā añchanto ‘dīghaṃ añchāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā añchanto ‘rassaṃ añchāmī’ti pajānāti evameva kho, bhikkhave, bhikkhu dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto ‘dīghaṃ passasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā assasanto ‘rassaṃ assasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto ‘rassaṃ passasāmī’ti pajānāti. ‘Sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati, ‘Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati. 

Iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati. ‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

Ānāpānapabbaṃ niṭṭhitaṃ. 

(Này các tỳ-khưu, cũng giống như người thợ tiện hoặc đệ tử người thợ tiện thiện xảo, khi đang quay dài, biết rõ: ‘Ta đang quay dài’; hoặc khi đang quay ngắn, biết rõ: ‘Ta đang quay ngắn’. Cũng vậy, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu khi đang thở vào dài/chậm, vị ấy biết rõ: ‘Ta thở vào dài/chậm’; khi thở ra dài/chậm, vị ấy biết rõ: ‘Ta thở ra dài/chậm’. Khi đang thở vào ngắn/nhanh, vị ấy biết rõ: ‘Ta thở vào ngắn/nhanh’; khi thở ra ngắn/nhanh, vị ấy biết rõ: ‘Ta thở ra ngắn/nhanh’. Vi ấy tập: ‘Cảm nghiệm toàn thân (hơi thở), ta sẽ thở vào’; vị ấy tập: ‘Cảm nghiệm toàn thân (hơi thở), ta sẽ thở ra’. Vị ấy tập: ‘Khi đang làm lắng dịu pháp hữu vi của thân (hơi thở), ta sẽ thở vào’; Vị ấy tập: ‘Khi đang làm lắng dịu pháp hữu vi của thân (hơi thở), ta sẽ thở ra’.

Như vậy, vị ấy sống tuỳ quán thân trên thân ở trong (của mình), hoặc sống tuỳ quán thân trên thân ở ngoài (của chúng sanh khác), hoặc sống quán thân trên thân ở cả trong lẫn ngoài (của mình và chúng sanh khác). Hoặc vị ấy sống tuỳ quán các pháp sanh khởi trong thân, hoặc sống tuỳ quán các pháp hoại diệt trong thân, hoặc sống tuỳ quán các pháp sanh khởi và hoại diệt trong thân. Hoặc vị ấy có niệm là: ‘Có thân đây’ được an trú đến mức chỉ còn tuệ và niệm, và vị ấy không y cứ, không bám chấp bất cứ thứ gì trên đời. Này các tỳ-khưu, cùng (với cách) như vậy, vị tỳ-khưu sống tuỳ quán thân trên thân.

(Dứt phần Hơi thở vào – ra.)

Ngữ vựng:

ānāpānapabba = ānāpāna (trut) sự/hơi thở vào và ra + pabba (trut) phần, đoạn

pallaṅka (nt): sự ngồi kiết già

ābhujati (ā+bhuj+a+ti): uốn cong, gấp lại

uju (tt): thẳng đứng, ngay thẳng

paṇidhāya (bbqkpt của paṇidahati): sau khi mong muốn/có ý định về

parimukha (tt): phía trước, trước mặt

upaṭṭhapeti (đt nguyên nhân của upaṭṭhahati): khiến cho hiện hữu/có mặt

satova = sata (qkpt của sarati) nhớ, biết rõ, lưu tâm + eva

assasati (ā+sas+a+ti): thở vào

passasati (pa+sas+a+ti): thở ra

pajānāti (pa+ñā+nā+ti): hiểu biết, phân biệt

sabbakāyapaṭisaṃvedī = sabba + kāya + paṭisaṃvedin (tt từ paṭisaṃvedeti) cảm nghiệm, kinh qua  

sikkhati (√sikkh+a+ti): học tập, tự rèn/huấn luyện 

passambhayaṃ (htpt của pasambhati): đang làm yên tịnh/lắng dịu

kāyasaṅkhāra (pháp có điều kiện/do duyên bởi hơi thở) = kāya + saṅkhāra (trut) pháp hữu vi/có điều kiện

seyyathāpi = seyyathā (trat) giống như + pi

dakkha (tt): khéo léo, thiện xảo, thông minh

bhamakāra (nt): thợ tiện

bhamakārantevāsī = bhamakāra +antevāsī (nt) đệ tử, học trò

añchanta (htpt của añchati): khi đang mở máy tiện

añchāti (√añch+a+ti): kéo/quay/chạy máy tiện

evameva (bbt): theo cách này, cũng vậy

ajjhattaṃ (trt): bên trong cá nhân, nội tại, chủ quan

bahiddhā (trt): ở phía/bên ngoài

samudaya (nt): sự sanh/khởi lên, nguồn gốc

vaya (nt): sự diệt/già nua/biến mất

paccupaṭṭhita (qkpt của paccupaṭṭhāti): có mặt, hiện có

ñāṇamatta = ñāṇa + mattā (nut) chừng mực, giới hạn 

paṭissatimattā = paṭissati (nut) sự ghi nhớ/nhận ra, niệm + mattā

anissita = na +nissita (qkpt của nissayati) nương tựa, y cứ

upādiyati (upa+ā+dā+ya+ti): bám chấp, ái luyến

Kāyānupassanā iriyāpathapabbaṃ

(Thân tuỳ quán, phần Oai nghi)

6. ‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu gacchanto vā ‘gacchāmī’ti pajānāti, ṭhito vā ‘ṭhitomhī’ti pajānāti, nisinno vā ‘nisinnomhī’ti pajānāti, sayāno vā ‘sayānomhī’ti pajānāti, yathā yathā vā panassa kāyo paṇihito hoti, tathā tathā naṃ pajānāti. 

Iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati. ‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

(Và lại nữa, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu khi đang đi biết rõ ‘Tôi đang đi’, hoặc khi đang đứng biết rõ ‘Tôi đang/thì đứng’, hoặc khi đang ngồi biết rõ ‘Tôi đang/thì ngồi’, hoặc khi đang nằm biết rõ ‘Tôi đang/thì nằm’, hoặc thân của vị ấy được điều khiển như thế nào, biết rõ như thế ấy.

Như vậy, vị ấy sống tuỳ quán thân trên thân ở trong (của mình), hoặc sống tuỳ quán thân trên thân ở ngoài (của chúng sanh khác), hoặc sống quán thân trên thân ở cả trong lẫn ngoài (của mình và chúng sanh khác). Hoặc vị ấy sống tuỳ quán các pháp sanh khởi trong thân, hoặc sống tuỳ quán các pháp hoại diệt trong thân, hoặc sống tuỳ quán các pháp sanh khởi và hoại diệt trong thân. Hoặc vị ấy có niệm là: ‘Có thân đây’ được an trú đến mức chỉ còn tuệ và niệm, và vị ấy không y cứ, không bám chấp bất cứ thứ gì trên đời. Này các tỳ-khưu, cùng (với cách) như vậy, vị tỳ-khưu sống tuỳ quán thân trên thân.)

Iriyāpathapabbaṃ niṭṭhitaṃ. (Dứt phần Oai nghi.)

Kāyānupassanā sampajānapabbaṃ

(Thân tuỳ quán, phần Có tỉnh giác)

7. ‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti. 

Iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati. ‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

(Và lại nữa, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu là người có tỉnh giác khi đi tới và đi lui, là người có tỉnh giác khi nhìn trước và ngó sau, là người có tỉnh giác khi co tay và duỗi tay, là người có tỉnh giác khi đắp y và mang y (2 lớp) và bát; là người có tỉnh giác khi ăn, uống, nhai, nếm; là người có tỉnh giác khi đại tiện và tiểu tiện; là người có tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức dậy, im lặng.

Như vậy, vị ấy sống tuỳ quán thân trên thân ở trong (của mình), hoặc sống tuỳ quán thân trên thân ở ngoài (của chúng sanh khác), hoặc sống quán thân trên thân ở cả trong lẫn ngoài (của mình và chúng sanh khác). Hoặc vị ấy sống tuỳ quán các pháp sanh khởi trong thân, hoặc sống tuỳ quán các pháp hoại diệt trong thân, hoặc sống tuỳ quán các pháp sanh khởi và hoại diệt trong thân. Hoặc vị ấy có niệm là: ‘Có thân đây’ được an trú đến mức chỉ còn tuệ và niệm, và vị ấy không y cứ, không bám chấp bất cứ thứ gì trên đời. Này các tỳ-khưu, cùng (với cách) như vậy, vị tỳ-khưu sống tuỳ quán thân trên thân.)

Sampajānapabbaṃ niṭṭhitaṃ. (Dứt phần Có tỉnh giác.)

Kāyānupassanā paṭikūla-manasikārapabbaṃ

(Thân tuỳ quán, phần Tác ý/suy xét vật nhờm gớm)

8. ‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ uddhaṃ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṃ pūraṃ nānappakārassa asucino paccavekkhati – ‘atthi imasmiṃ kāye kesā lomā nakhā dantā taco, maṃsaṃ nhāru aṭṭhi aṭṭhimiñjaṃ vakkaṃ, hadayaṃ yakanaṃ kilomakaṃ pihakaṃ papphāsaṃ, antaṃ antaguṇaṃ udariyaṃ karīsaṃ, pittaṃ semhaṃ pubbo lohitaṃ sedo medo, assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā mutta’nti.

(Và lại nữa, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu quán chiếu chỉ thân này từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh tóc trở xuống, được da bao quanh (với) đầy đủ các đồ dơ bẩn/bất tịnh khác nhau: ‘Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da; thịt, gân, xương, tuỷ, thận; tim, gan, màng phổi, lá lách, phổi; ruột già, ruột non, bao tử với vật thực chưa tiêu hoá, phân, (não = matthaluṅga); mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ; nước mắt, chất nhầy, nước miếng, nước mũi, nước nhớt ở khớp xương/hoạt dịch, nước tiểu’.)

9. ‘Seyyathāpi, bhikkhave, ubhatomukhā putoḷi pūrā nānāvihitassa dhaññassa, seyyathidaṃ sālīnaṃ vīhīnaṃ muggānaṃ māsānaṃ tilānaṃ taṇḍulānaṃ. Tamenaṃ cakkhumā puriso muñcitvā paccavekkheyya – ‘ime sālī, ime vīhī ime muggā ime māsā ime tilā ime taṇḍulā’ti. Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ uddhaṃ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṃ pūraṃ nānappakārassa asucino paccavekkhati – ‘atthi imasmiṃ kāye kesā lomā…pe… mutta’nti. 

Iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati. ‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

(Này các tỳ-khưu, cũng như cái túi có hai miệng chứa nhiều loại ngũ cốc khác nhau như là gạo Sāli, lúa, đậu tây, đậu, mè, gạo trắng. Rồi người có mắt sáng mở nó ra và suy xét rằng: ‘Đây là gạo Sāli, đây là lúa, đây là đậu tây, đây là đậu, đây là mè, đây là gạo trắng.’ Cũng vậy, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu quán chiếu chỉ thân này từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh tóc trở xuống, được da bao quanh (với) đầy đủ các đồ dơ bẩn/bất tịnh khác nhau: ‘Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da; thịt, gân, xương, tuỷ, thận; tim, gan, màng phổi, lá lách, phổi; ruột già, ruột non, bao tử với vật thực chưa tiêu hoá, phân, (não = matthaluṅga); mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ; nước mắt, chất nhầy, nước miếng, nước mũi, nước nhớt ở khớp xương/hoạt dịch, nước tiểu’.

Như vậy, vị ấy sống tuỳ quán thân trên thân ở trong (của mình), hoặc sống tuỳ quán thân trên thân ở ngoài (của chúng sanh khác), hoặc sống quán thân trên thân ở cả trong lẫn ngoài (của mình và chúng sanh khác). Hoặc vị ấy sống tuỳ quán các pháp sanh khởi trong thân, hoặc sống tuỳ quán các pháp hoại diệt trong thân, hoặc sống tuỳ quán các pháp sanh khởi và hoại diệt trong thân. Hoặc vị ấy có niệm là: ‘Có thân đây’ được an trú đến mức chỉ còn tuệ và niệm, và vị ấy không y cứ, không bám chấp bất cứ thứ gì trên đời. Này các tỳ-khưu, cùng (với cách) như vậy, vị tỳ-khưu sống tuỳ quán thân trên thân.)

Paṭikūlamanasikārapabbaṃ niṭṭhitaṃ. (Dứt phần tác ý/suy xét vật nhờm gớm.)

Kāyānupassanā dhātumanasikārapabbaṃ

(Thân tuỳ quán, phần Tác ý/suy xét về giới/nguyên tố)

10. ‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ yathāṭhitaṃ yathāpaṇihitaṃ dhātuso paccavekkhati – ‘atthi imasmiṃ kāye pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti.

(Và lại nữa, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu quán chiếu chỉ thân này dù được đặt như thế nào, sắp xếp như thế nào, cũng nằm trong các nguyên tố như vầy: ‘Trong thân này, có địa giới/nguyên tố giãn nở, thuỷ giới/nguyên tố kết dính, hoả giới/nguyên tố nhiệt độ, và phong giới/nguyên tố chuyển động’.)

11. ‘Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā gāviṃ vadhitvā catumahāpathe bilaso vibhajitvā nisinno assa, evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ yathāṭhitaṃ yathāpaṇihitaṃ dhātuso paccavekkhati – ‘atthi imasmiṃ kāye pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti. 

Iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati. ‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

(Này các tỳ-khưu, cũng giống như người đồ tể hoặc đệ tử người đồ tể thiện xảo, sau khi giết thịt con bò cái, ngồi chia từng phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu quán chiếu chỉ thân này dù được đặt như thế nào, sắp xếp như thế nào, cũng nằm trong các nguyên tố như vầy: ‘Trong thân này, có địa giới/nguyên tố giãn nở, thuỷ giới/nguyên tố kết dính, hoả giới/nguyên tố nhiệt độ, và phong giới/nguyên tố chuyển động’.

Như vậy, vị ấy sống tuỳ quán thân trên thân ở trong (của mình), hoặc sống tuỳ quán thân trên thân ở ngoài (của chúng sanh khác), hoặc sống quán thân trên thân ở cả trong lẫn ngoài (của mình và chúng sanh khác). Hoặc vị ấy sống tuỳ quán các pháp sanh khởi trong thân, hoặc sống tuỳ quán các pháp hoại diệt trong thân, hoặc sống tuỳ quán các pháp sanh khởi và hoại diệt trong thân. Hoặc vị ấy có niệm là: ‘Có thân đây’ được an trú đến mức chỉ còn tuệ và niệm, và vị ấy không y cứ, không bám chấp bất cứ thứ gì trên đời. Này các tỳ-khưu, cùng (với cách) như vậy, vị tỳ-khưu sống tuỳ quán thân trên thân.)

Dhātumanasikārapabbaṃ niṭṭhitaṃ. (Dứt phần Tác ý/suy xét về giới/nguyên tố.)

Ngữ vựng:

atthi (√as+a+ti): thì, là, có

iriyāpathapabba = iriyā (nut) tư thế, oai nghi + patha (nt) cách thức + pabba

puna caparaṃ (thng): và lại nữa, lại nữa

gacchanta (htpt của gacchati): đang đi

ṭhita (htpt của tiṭṭhati): đang đứng

nisinna (htpt của nisīdati): đang ngồi

sayāna (htpt của sayati): đang nằm/ngủ

yathā… tathā (trt): như thế nào… như vậy/thế ấy

paṇihita (qkpt của paṇidahati): được áp dụng/điều khiển/hướng đi

sampajānapabba = sampajāna (tt) chú ý, quan tâm, tỉnh giác 

abhikkanta (qkpt của abhikkamati): đi tới, đến gần 

paṭikkanta (qkpt của paṭikkamati): đi lùi, quay lại

sampajānakārī (tt): (người) có tỉnh giác

ālokita (qkpt của āloketi): nhìn tới/phía trước

vilokita (qkpt của viloketi): nhìn lui/phía sau

samiñjita (qkpt của samiñjati): co tay lại

pasārita (qkpt của pasāreti): duỗi/đưa thẳng tay ra

saṅghāṭipattacīvaradhāraṇa =saṅghaṭi (nut) y tăng-già-lê, y 2 lớp + patta (nt) cái bát + cīvara (trut) y phục + dhāraṇa (trut) sự mặc/đội/mang

asita (qkpt của asati): ăn 

pīta (qkpt của pivati): uống 

khāyita (qkpt của khāyati): nhai 

sāyita (qkpt của sāyati): nếm

uccārapassāvakamma = uccāra (nt từ uccāreti) phân + passāva (nt từ passavati) nước tiểu + kamma (trut) sự làm/tạo tác

gata (qkpt của gacchati): đi 

ṭhita (qkpt của tiṭṭhati): đứng 

nisinna (qkpt của nisīdati): ngồi

sutta (qkpt của supati): nằm

jāgarita (qkpt của jāgarati): thức/tỉnh giấc 

bhāsita (qkpt của bhāsati): nói 

tuṇhībhāva  (qkpt của tuṇhībhavati): im lặng

uddhaṃ (trt): phía/ở trên

pādatala (trut): lòng bàn chân 

adho (trt): phía/ở dưới

kesamatthakā = kesa (nt) tóc + matthaka (nt) cái đầu, đỉnh, chóp

tacapariyantaṃ = taca (nt) da + pariyanta (tt) được bao bọc/vây quanh/giới hạn bởi

pūra (tt): đầy, đầy đủ 

nānappakāra (tt): nhiều loại khác nhau

asuci (nt): sự/vật dơ bẩn/bất tịnh

paccavekkhati (pati+ava+ikkh+a+ti): suy xét, quán chiếu, phản khán

kesa (nt): tóc

loma (trut): lông 

nakha (nt & trut): móng 

danta (trut): răng 

taca (nt): da

maṃsa (trut): thịt 

nhāru (nt): gân 

aṭṭhi (trut): xương

aṭṭhimiñjaṃ = aṭṭhi + miñja (trut) tuỷ

vakka (trut): thận, cật

hadaya (trut): tim

yakana (trut): gan 

kilomaka (trut): màng phổi 

pihaka (trut): lá lách, tì

papphāsa (trut): phổi

anta (trut): ruột già 

antaguṇa (trut): ruột non

udariya (trut): vật thực mới/chưa tiêu hoá 

karīsa (trut): phân

pitta (trut): mật 

semha (trut): đàm, đờm dãi 

pubba (nt): mủ 

lohita (trut): máu

seda (nt): mồ hôi

meda (nt): mỡ, chất béo (thể rắn) (fat)

assu (trut): nước mắt

vasā (nut): mỡ, chất nhầy (thể bán rắn/gel) (grease)

kheḷa (nt): nước miếng

siṅghāṇikā (nut): nước mũi

lasikā (nut): nước nhớt/dầu (thể lỏng) ở khớp xương

mutta (trut): nước tiểu

paṭikūlamanasikārapabba = paṭikūla = paṭikkūla (tt) đáng ghét, ghê tởm + manasikāra (nt) sự chú ý/cân nhắc/suy xét/tạo thành ý nghĩ/tác ý + pabba

ubhatomukhā = ubhato (trt) hai phần/phía + mukha (trut) miệng, mặt

putoḷi (nut): túi, bao

nānāvihita = nānā (bbt) khác nhau+vihita (qkpt của vidahati) được sắp xếp/chuẩn bị

dhañña (trut): ngũ cốc

sāli (nt): một loại gạo

vīhi (nt): lúa

mugga (nt): đậu tây

māsa (nt): đậu

tila (nt, trut): hạt mè

taṇḍula (trut): gạo trắng/đã bóc vỏ

muñcati (√muc+ṃ-a+ti):  được giải thoát/thoát khỏi

dhātumanasikārapabba = dhātu (nut) yếu/nguyên tố, giới + manasikāra + patha

yathā (trt): như, giống như, liên quan đến

dhātuso (trt): trong các giới/yếu tố

pathavī (nut): đất, (triết học) sự giãn nở

āpa, āpo (trut): nước, (triết học) sự kết dính

teja, tejo (trut): lửa, (triết học) nhiệt, sức nóng

vāya, vāyo (trut): gió, (triết học) sự chuyển động

goghātaka (nt): người đồ tể/hàng thịt

gāvī (nut): con bò cái

vadhati (√vadh+a+ti): giết, giết thịt

catumahāpatha (nt): ngã tư đường

bilaso (trt): trong các phần/mảnh (bila: trut, phần, miếng, mảnh)

vibhajati (vi+bhaj+a+ti): chia, phân ra/bổ/phát

 

Nhóm tổ chức lớp Đọc hiểu Pāḷi
—————————————
Email: dochieupali@gmail.com
FB: www.facebook.com/groups/dochieupali
Zalo: https://zalo.me/g/tswjmg798
Tổng hợp tài liệu: Đọc Hiểu Pali – Tổng Hợp Link & Tài Liệu Bài Học – Tỳ Khưu Thiện Hảo (BHIKKHU VĀYĀMA)

* Tài liệu này để các học viên trong lớp Đọc Hiểu Pali do Sư Thiện Hảo hướng dẫn tham khảo. Do sự thỉnh mời của một số quý vị thiền sinh mong muốn học tiếng Pali, đây là lớp đầu tiên Sư Thiện Hảo giảng dạy online, và tài liệu này không tránh khỏi có những chỗ chưa hoàn thiện, thậm chí có những chỗ sai ngoài ý muốn. Chúng tôi kính mong quý vị hoan hỷ góp ý để tài liệu và lớp học được hoàn thiện tốt hơn. Nguyện Dhamma được trường tồn và đem lại lợi lạc cho phần đông.

 

Các bài viết trong sách

Dhamma Nanda

Tổng hợp và chia sẻ các bài viết về Dhamma, đặc biệt là những lợi ích phương pháp thiền Vipassana, phương pháp thiền cổ xưa được Đức Phật Gotama tái phát hiện cách đây hơn 2600 năm, và được Ngài giảng dạy như một liều thuốc chung chữa trị những bệnh chung của nhân loại. Phương pháp không tông phái này nhằm tới việc diệt trừ những bất tịnh tinh thần và đưa đến hạnh phúc cao cả nhất của việc hoàn toàn giải thoát..

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *